Áp dụng hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
Nhằm thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chế độ, trật tự xã hội, Nhà nước ta dùng nhiều biện pháp vừa có tính thuyết phục, vừa có tính cưỡng chế để đấu tranh với những hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm. Căn cứ vào mức độ nguy hiểm cho xã hội mà nhà nước sử dụng những biện pháp tương ứng như biện pháp dân sự, biện pháp hành chính hoặc biện pháp hình sự. Từ khi giành được chính quyền về tay nhân dân đến nay, căn cứ vào từng thời kỳ của cách mạng, Nhà nước ta có chính sách hình sự tương ứng thông qua việc quy định những hình phạt tương ứng bảo đảm hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm [25, tr.1]. Hình phạt là chế định quan trọng của Luật hình sự. Hình phạt là trách nhiệm pháp lý mà người phạm tội phải gánh chịu đối với những hành vi phạm tội, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả tội phạm mà mình gây ra, thể hiện sự lên án và trừng trị của Nhà nước đối với người phạm tội.
Hoạt động xét xử các vụ án hình sự của TAND là một giai đoạn trong toàn bộ quá trình tố tụng hình sự. Khác với hoạt động xét xử các loại án khác như án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, xét xử hình sự của Tòa án là một giai đoạn chuyển tiếp sau các giai đoạn điều tra, truy tố. Hoạt động áp dụng hình phạt được thực hiện trong giai đoạn xét xử, được thực hiện để quyết định những chế tài hình sự mà người phạm tội phải gánh chịu. Áp dụng hình phạt đúng đắn góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền thực sự của dân, do dân, vì dân, cần phải xây dựng Tòa án thực sự là cơ quan bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của công dân trước nguy cơ bị xâm hại trái pháp luật của các cá nhân, tổ chức, cũng như từ chính các cơ quan tiến hành tố tụng, góp phần duy trì trật tự xã hội và tạo môi trường ổn định, lành mạnh, thuận lợi cho cuộc sống người dân, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.
Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam có nhiều diễn biến phức tạp, số vụ án hình sự và bị cáo phạm tội ngày càng gia tăng, tính chất, mức độ và hậu quả của tội phạm ngày càng nghiêm trọng, hành vi phạm tội ngày càng tinh vi và xảo quyệt hơn. Trước tình hình đó, nhiệm vụ đặt ra cho các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và TAND thành phố Tam Kỳ nói riêng hết sức nặng nề trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. TAND thành phố Tam Kỳ trong những năm qua đã không ngừng nâng cao chất lượng xét xử, trong đó đặt biệt chú trọng đến hoạt động áp dụng hình phạt. Việc áp dụng hình phạt trong xét xử sơ thẩm của TAND thành phố Tam Kỳ cơ bản đúng các quy định của pháp luật, mức hình phạt được áp dụng cho từng bị cáo phù hợp với từng tính chất, hành vi phạm tội và hậu quả gây ra, đã thể hiện được sự nghiêm minh, công bằng của pháp luật, đặc biệt đã tăng cường tính giáo dục người phạm tội, phòng ngừa chung cho xã hội, góp phần quan trọng vào việc giữ vững an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, hoạt động áp dụng hình phạt trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND thành phố Tam Kỳ vẫn còn những tồn tại, hạn chế, đó là: Áp dụng loại hình phạt chưa phù hợp với tính chất, mức độ, nhân thân của người phạm tội; Áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự không đúng dẫn đến áp dụng loại hình phạt không phù hợp hoặc xử quá nhẹ hay quá nặng; Cho hưởng án treo không phù hợp hoặc không đủ điều kiện; xử dưới khung hình phạt không đúng quy định của pháp luật; quyết định hình phạt đối với người chưa đủ 18 tuổi phạm tội không đúng; quyết định hình phạt bổ sung còn tùy tiện, chưa phù hợp với thực tế…
Do vậy, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động áp dụng hình phạt có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động áp dụng và xây dựng pháp luật. Một mặt, góp phần làm phong phú và hoàn thiện lý luận về áp dụng hình phạt, mặt khác góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động áp dụng hình phạt trong thực tiễn xét xử, hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về áp dụng hình phạt cũng như hướng dẫn áp dụng pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Mặc dù đề tài áp dụng hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống về đề tài này gắn với thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam. Chính vì thế tác giả đã chọn đề tài: “Áp dụng hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài Luận văn Thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở làm rõ, phân tích những vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt, thực tiễn áp dụng hình phạt tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam từ năm 2012 đến năm 2016, luận văn đề xuất các giải pháp bảo đảm áp dụng hình phạt của TAND thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, tác giả đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
– Phân tích khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của áp dụng hình phạt; chủ thể, nội dung và các hình thức áp dụng hình phạt; các nhân tố xã hội tác động đến áp dụng hình phạt.
– Phân tích những vụ án cụ thể trong thực tiễn xét xử tại TAND thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam từ năm 2012 đến năm 2016 trong hoạt động áp dụng hình phạt để tìm ra những ưu điểm, hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của những hạn chế, vướng mắc đó trong hoạt động áp dụng hình phạt từ thực tiễn xét xử tại TAND thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
– Phân tích, lập luận những yêu cầu đối với hoạt động áp dụng hình phạt và đưa ra những giải pháp đảm bảo áp dụng đúng hình phạt trên địa bàn nói trên.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn lấy các quan điểm khoa học của khoa học luật hình sự và của lý luận áp dụng hình phạt, các quy phạm pháp luật hình sự Việt Nam, thực tiễn áp dụng hình phạt trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam từ năm 2012 đến năm 2016 để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài luận văn được nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự, số liệu phục vụ nghiên cứu đề tài được thu thập từ hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của TAND thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong 5 năm gần đây (từ năm 2012 đến năm 2016).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Tác giả luận văn lấy phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về bảo vệ quyền con người, về tội phạm, về hình phạt, về phòng chống tội phạm… làm phương pháp luận nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Để hoàn thành đề tài, tác giả còn sử dụng một trong tổng thể các phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp lịch sử cụ thể, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp nghiên cứu án điển hình,.v.v…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về áp dụng hình phạt thông qua thực tiễn xét xử ở địa bàn cấp huyện- thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam, vì vậy góp phần làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận về áp dụng hình phạt trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, nâng cao nhận thức của những người trực tiếp làm công tác xét xử của TAND. Kết quả nghiên cứu của luận văn làm phong phú thêm cơ sở khoa học về áp dụng hình phạt trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu của tiến trình cải cách tư pháp, đáp ứng đòi hỏi xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao trình độ lý luận của tác giả để áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn công tác; là tài liệu tham khảo có giá trị nhất định trong việc nghiên cứu và giảng dạy môn luật hình sự và tố tụng hình sự; tạo cơ sở cho việc thống nhất trong nhận thức về áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ án hình sự đạt hiệu quả, đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật hình sự.
Ngoài mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về áp dụng hình phạt.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng hình phạt tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam từ năm 2012 đến năm 2016.
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng hình phạt.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của áp dụng hình phạt
- 1.1.1. Khái niệm áp dụng hình phạt
Áp dụng hình phạt là một hình thức thực hiện pháp luật trong giai đoạn xét xử do Tòa án thông qua HĐXX là những người được Nhà nước trao quyền tuân thủ những quy định của pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự để xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án; trên cơ sở đó lựa chọn các hình phạt được quy định trong BLHS phù hợp và tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự để quyết định mức hình phạt cụ thể trong bản án, quyết định đối với người, pháp nhân thương mại phạm tội.
- 1.1.2. Đặc điểm của áp dụng hình phạt
Thứ nhất, áp dụng hình phạt trong xét xử các vụ án hình sự là hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước do TAND tiến hành mà trực tiếp là HĐXX.
Thứ hai, hoạt động áp dụng hình phạt được thực hiện duy nhất tại phiên tòa thông qua việc xem xét, đánh giá chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ để đưa ra chế tài hình sự đối với bị cáo.
Thứ ba, hoạt động áp dụng hình phạt trong quá trình xét xử các vụ án hình sự của Tòa án được tiến hành theo một thủ tục tố tụng chặt chẽ.
Thứ tư, kết quả áp dụng hình phạt khi đã có hiệu lực pháp luật, có tính bắt buộc thực hiện, được bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước.
- 1.1.3. Ý nghĩa của áp dụng hình phạt
Áp dụng hình phạt của Tòa án có ý nghĩa quan trọng trong việc xử lý người phạm tội. Tòa án là cơ quan trực tiếp nhân danh Nhà nước xử lý người phạm tội, buộc họ phải chịu trách nhiệm pháp lý bằng một bản án quy kết tội danh và quyết định hình phạt buộc người phạm tội phải chấp hành. Ngoài ra, áp dụng hình phạt trong hoạt động xét xử hình sự của Tòa án có ý nghĩa rất quan trọng trong việc góp phần phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật; nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân.
Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định thì áp dụng hình phạt trong xét xử các vụ án hình sự là hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước do Tòa án tiến hành mà trực tiếp là HĐXX. Chủ thể áp dụng hình phạt là TAND thông qua HĐXX, đây là cơ quan được thành lập theo quy định của Hiến pháp, hoạt động mang tính đặc thù theo một trình tự pháp lý chặt chẽ.
Hoạt động áp dụng hình phạt của Tòa án là giai đoạn tố tụng độc lập, khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
- 1.2.2. Nội dung của áp dụng hình phạt
Áp dụng hình phạt trong xét xử các vụ án hình sự của TAND là quá trình cá biệt hóa các quy phạm pháp luật hình sự đối với hành vi phạm tội. Quá trình đó bao gồm những nội dung chính là quyết định hình phạt (quyết định hình phạt chính, hình phạt bổ sung), tổng hợp hình phạt (đối với trường hợp người bị kết án phạm nhiều tội), miễn hình phạt, áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất khung hình phạt bị truy tố, xét xử, áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Hình phạt chính là hình phạt được áp dụng chính cho một tội phạm và được tuyên độc lập. Đối với mỗi tội phạm, Tòa án chỉ có thể tuyên một hình phạt chính.
- 1.2.3. Hình thức của áp dụng hình phạt
Một là, văn bản áp dụng pháp luật do những cơ quan (nhà chức trách, tổ chức) có thẩm quyền ban hành và được bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước.
Hai là, văn bản áp dụng pháp luật có tính chất cá biệt, chỉ áp dụng một lần đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể trong những trường hợp xác định.
Ba là, văn bản áp dụng pháp luật phải hợp pháp và phù hợp với thực tế. Nó phải phù hợp với luật và dựa trên những quy phạm pháp luật cụ thể, nếu không phù hợp thì văn bản áp dụng pháp luật sẽ bị đình chỉ hoặc hủy bỏ.
Bốn là, văn bản áp dụng pháp luật được thể hiện trong những hình thức pháp lý xác định như: bản án, quyết định, lệnh.
Năm là, văn bản áp dụng pháp luật là một yếu tố của sự kiện pháp lý phức tạp, thiếu nó nhiều quy phạm pháp luật không thể thực hiện được.
Tóm lại, hình thức tập trung nhất của áp dụng hình phạt là HĐXX ban hành bản án liên quan đến việc giải quyết vụ án, quyết định hình phạt áp dụng đối với bị cáo phạm tội. Và với một dạng đặc thù của hình thức áp dụng pháp luật, để thực hiện tốt, tuân thủ đúng hình thức áp dụng hình phạt, buộc chủ thể áp dụng hình phạt phải tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và các quy định liên quan.

CHƯƠNG 2
THỰC TIỄN ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TẠI THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM TỪ NĂM 2012 ĐẾN NĂM 2016
Thực trạng áp dụng hình phạt như phân tích được thể hiện ở bảng dưới đây:
Bảng 2.1: Kết quả áp dụng hình phạt
| Năm | Hình phạt chính | Hình phạt bổ sung | Miễn TNHS | Miễn hình phạt | ||||
| Vụ | Bị cáo | Vụ | Bị cáo | Vụ | Bị cáo | Vụ | Bị cáo | |
| 2012 | 92 | 117 | 8 | 10 | 0 | 0 | 0 | 0 |
| 2013 | 104 | 149 | 19 | 25 | 0 | 0 | 0 | 0 |
| 2014 | 83 | 132 | 23 | 29 | 0 | 0 | 0 | 0 |
| 2015 | 115 | 161 | 15 | 22 | 0 | 0 | 0 | 0 |
| 2016 | 131 | 190 | 21 | 25 | 7 | 22 | 0 | 0 |
| Tổng cộng | 525 | 749 | 86 | 111 | 7 | 22 | 0 | 0 |
(Nguồn: Văn phòng TAND thành phố Tam Kỳ)
Bảng 2.2: Kết quả áp dụng hình phạt chính
| Năm | Tổng số bị cáo | Cảnh cáo | Phạt tiền | Cải tạo không giam giữ | Trục xuất | Tù có thời hạn | |||||
| Bị cáo | Tỷ lệ % | Bị cáo | Tỷ lệ % | Bị cáo | Tỷ lệ % | Bị cáo | Tỷ lệ % | Bị cáo | Tỷ lệ % | ||
| 2012 | 117 | 0 | 0 | 1 | 0,85 | 3 | 2,56 | 0 | 0 | 113 | 96,58 |
| 2013 | 149 | 0 | 0 | 5 | 3,35 | 0 | 0 | 0 | 0 | 144 | 96,6 |
| 2014 | 132 | 0 | 0 | 4 | 3,03 | 1 | 0,75 | 0 | 0 | 127 | 96,2 |
| 2015 | 161 | 0 | 0 | 5 | 3,10 | 0 | 0 | 0 | 0 | 156 | 96,8 |
| 2016 | 190 | 0 | 0 | 33 | 17,36 | 15 | 7,89 | 0 | 0 | 142 | 74,7 |
| Tổng cộng | 749 | 0 | 0 | 48 | 6,40 | 19 | 2,53 | 0 | 0 | 682 | 91,05 |
(Nguồn: Văn phòng TAND thành phố Tam Kỳ)
- 2.2.1. Thực trạng áp dụng hình phạt theo khoản cơ bản
Thực tiễn xét xử ở TAND thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn 2012 – 2016 cho thấy, tỷ lệ các bị cáo bị áp dụng hình phạt theo khoản cơ bản chiếm từ 29,54% đến 61,58%, tập trung vào các trường hợp phạm tội theo khoản 1 của điều luật về một tội phạm độc lập.
- 2.2.2. Thực trạng áp dụng hình phạt theo khoản tăng nặng
Tại TAND thành phố Tam Kỳ trong giai đoạn 2012 – 2016, mỗi năm có trên 50% số bị cáo bị xét xử, quyết định hình phạt theo khoản tăng nặng. Tổng số bị cáo xét xử theo khoản tăng nặng trong 5 năm chiếm 52% tổng số bị cáo bị xét xử. Tỷ số trong bảng thống kê cho thấy số bị cáo bị áp dụng hình phạt theo khoản tăng nặng nhiều gấp gần 2 lần số vụ án, thực tế này phản ánh tính phức tạp của các vụ án liên quan, mà trong đó, các vụ án đa phần có đồng phạm, tình tiết định khung tăng nặng được áp dụng nhiều nhất là “phạm tội có tổ chức”, “nhiều người gây thương tích cho một người”, “phạm tội nhiều lần’’….
- 2.2.3. Thực trạng áp dụng hình phạt trong trường hợp đặc biệt
Diễn biến tình hình tội phạm trong thời gian qua tại thành phố Tam Kỳ qua công tác xét xử của TAND thành phố cho thấy, số lượng bị cáo phạm nhiều tội bị xét xử chiếm tỷ lệ thấp, dao động từ 1% đến 5% trên một năm, có năm không có trường hợp nào phạm nhiều tội. Số liệu thống kê 3 năm gần đây cho thấy (2014 – 2016), số bị cáo phạm nhiều tội giảm hẳn so với 02 năm trước (2012- 2013). Chất lượng quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội không phát sinh vấn đề gì lớn tại đơn vị, với bản chất và yêu cầu của việc quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, trên thực tế thiên về phương pháp xử lý hơn là tổng hợp, nghiên cứu, cân nhắc, đánh giá. Phần quyết định hình phạt trong các bản án liên quan trên cho đến hiện nay không phát sinh tồn tại, thiếu sót gì.
- 2.2.4. Thực trạng áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Kết quả số liệu cho thấy, tỷ lệ số bị cáo dưới 18 tuổi hằng năm bị đưa ra xét xử không nhiều, chiếm trên dưới 10% tổng số bị cáo bị xét xử, trong đó năm ít nhất là 2015 với gần 5% và năm nhiều nhất là 2012 với hơn 15%. Vấn đề cần quan tâm trong việc quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không chỉ dừng lại ở mức hình phạt mà chủ yếu là việc lựa chọn loại hình phạt phù hợp, vừa đúng pháp luật, đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm, vừa đảm bảo nguyên tắc xét xử đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của pháp luật Nhà nước ta và yêu cầu chung của quốc tế.
- 2.2.5. Thực trạng áp dụng hình phạt nhẹ hơn theo quy định của Bộ luật
Trên thực tế, kết quả xét xử tại TAND thành phố Tam Kỳ theo như bảng số liệu cho thấy, trong giai đoạn 2012 – 2016, mỗi năm có khoảng từ 35% đến 40% số bị cáo được xem xét, quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS. So sánh giữa các năm, mức độ tăng, giảm của kết quả này không cao. Nhìn chung, trong quá trình xét xử các vụ án hình sự, HĐXX đã tuân thủ các qui định của BLHS và văn bản hướng dẫn hiện hành, đối chiếu các qui định của pháp luật với tình tiết vụ án, xem xét, cân nhắc, áp dụng các căn cứ pháp luật làm cơ sở để ấn định mức hình phạt cho các bị cáo đúng người, đúng tội, đảm bảo yêu cầu về đấu tranh, phòng, chống tội phạm, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị tại địa phương. Khi áp dụng Điều 47 BLHS năm 1999 (Điều 54 BLHS năm 2015) để chuyển khung hình phạt, phần lớn các bản án của TAND thành phố Tam Kỳ đã đánh giá, phân tích, xác định rõ các tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 (khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015); nhận định điều kiện chấp nhận hay không chấp nhận áp dụng Điều 47 BLHS năm 1999 (Điều 54 BLHS năm 2015) để chuyển khung hình phạt; tính toán cẩn trọng để lượng hình cho các bị cáo sao cho phù hợp với tính chất vụ án, vai trò và nhân thân của người phạm tội, nhất là việc vừa chuyển khung hình phạt, sử dụng nguyên tắc ấn định mức hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (Điều 91 BLHS năm 2015), vừa xem xét trường hợp phạm tội chưa đạt hay chuẩn bị phạm tội (Điều 57 BLHS năm 2015).
Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự ở TAND thành phố Tam Kỳ trong giai đoạn 2012 – 2016 theo bảng thống kê trên đây cho thấy có rất ít trường hợp bị cáo bị áp dụng hình phạt bổ sung. Một phần là do nguyên tắc cơ bản của việc áp dụng hình phạt bổ sung là phụ thuộc vào điều luật quy định về một tội phạm cụ thể của BLHS, chỉ tội phạm nào điều luật quy định có cho phép áp dụng hình phạt bổ sung thì Tòa án mới quyết định áp dụng.
Thực tiễn xét xử tại TAND thành phố Tam Kỳ, việc áp dụng hình phạt bổ sung tập trung nhiều vào các trường hợp bị cáo phạm vào các loại tội liên quan đến tệ nạn xã hội như ma túy, đánh bạc.
Trong 05 năm qua (2012- 2016) tại TAND thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam không có trường hợp nào miễn hình phạt.
Trên cơ sở bảng số liệu cho thấy, số lượng bị cáo được xem xét cho hưởng án treo không nhiều, dao động mỗi năm từ 5% đến 15% tổng số bị cáo bị xét xử, trong đó, năm có số lượng bị cáo được cho hưởng án treo ít nhất là chiếm tỷ lệ 4.54%, năm có số lượng bị cáo được cho hưởng án treo nhiều nhất là chiếm tỷ lệ 16,77%. Kết quả áp dụng án treo tại TAND thành phố Tam Kỳ trong những năm qua là đúng pháp luật, vừa thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật nhà nước ta, vừa tạo điều kiện tốt nhất cho những người phạm tội lần đầu có cơ hội khắc phục lỗi lầm, được gia đình, địa phương quản lý, giáo dục, sớm trở thành công dân tốt.
– Về quyết định hình phạt chính, hình phạt bổ sung: Thiếu thống nhất trong việc áp dụng mức hình phạt, loại hình phạt.
– Về quyết định hình phạt ở khoản cơ bản và khoản tăng nặng: Dạng thứ nhất là việc bị cáo không được xem xét, áp dụng đúng, đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, dẫn đến việc HĐXX quyết định mức hình phạt quá cao hoặc quá thấp trong khung hình phạt bị xét xử, gây ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bị cáo. Dạng thứ hai là trường hợp bị cáo đủ điều kiện để áp dụng mức hình phạt dưới khung nhưng HĐXX không quyết định mức hình phạt của bị cáo dưới khung hình phạt của BLHS, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bị cáo, nhất là các bị cáo được xem xét, áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
– Về quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS: Tình tiết giảm nhẹ càng khó nhận diện, khó xác định bao nhiêu thì thực tiễn xét xử càng phát sinh sai sót bấy nhiêu. Dưới đây là một số ví dụ cụ thể:
- 2.6.2. Những hạn chế, vi phạm trong việc ấn định mức hình phạt khi áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999 (Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015) để chuyển khung hình phạt
Trong thực tiễn xét xử, các thành viên HĐXX đa phần chỉ quan tâm đến việc chuyển khung hình phạt mà ít quan tâm đến việc định mức hình phạt sao cho phù hợp với điều luật được áp dụng. Nên sau khi thống kê, rà soát các bản án đã xét xử, chúng tôi nhận thấy sai sót trong áp dụng Điều 47 BLHS năm 1999 nhiều nhất thuộc vào công đoạn này.
2.6.3. Nguyên nhân của những thiết sót, sai lầm trên
Một là, các qui định tại BLHS năm 1999, nhất là các Điều 46, 47, 48 (Điều 51, 52, 54 BLHS năm 2015) và từng tội danh cụ thể còn nhiều điểm vướng mắc chưa được hướng dẫn áp dụng thống nhất.
Hai là, HĐXX các cấp vẫn còn tâm lý phụ thuộc nhiều vào mức án do đại diện Viện kiểm sát đề xuất; vai trò điều hành của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong một số trường hợp là thiếu bản lĩnh, năng lực nghiệp vụ chưa đáp ứng.
Ba là, qui định “Có thể” chuyển khung hình phạt của Điều 47 BLHS năm 1999 trên thực tiễn đã phát sinh tính tùy tiện trong áp dụng.
Bốn là,vị trí, vai trò của TAND trong hệ thống các cơ quan Nhà nước chưa được nhận thức đúng, đầy đủ nên cơ chế quản lý, phân bổ ngân sách hoạt động còn nhiều bất cập.
Năm là,việc đào tạo nguồn Thẩm phán để bổ nhiệm vẫn chưa đảm bảo chất lượng.

BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG HÌNH PHẠT
3.1.2. Yêu cầu xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
3.1.3. Yêu cầu của cải cách tư pháp
3.2.1. Giải pháp pháp luật
– Luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLHS năm 2015 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2018, so với BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) thì có rất nhiều nội dung mới. Để Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015 được thi hành hiệu quả trên thực tế, nhất là phục vụ tốt việc điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự, TAND tối cao và các cơ quan liên quan cần sớm tổ chức các lớp tập huấn những quy định mới của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung; tập trung vào việc tập huấn những nội dung mới mang tính cơ bản liên quan đến các quy định về cấu thành tội phạm mới, liên quan đến phần áp dụng hình phạt, nhằm trực tiếp phục vụ kịp thời công tác xét xử các vụ án hình sự, tránh để xảy ra tình trạng áp dụng pháp luật chậm, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Ngoài ra, thông tin về những điểm mới của BLHS cũng cần được phổ biến đến các tổ chức, cá nhân trong xã hội bằng nhiều hình thức khác nhau để nâng cao hiểu biết pháp luật của người dân, tạo sự nhận thức pháp luật tốt, góp phần hạn chế vi phạm pháp luật hình sự.
– Rất nhiều quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015 quy định giao thẩm quyền hướng dẫn cho các cơ quan có thẩm quyền, trong đó có TAND tối cao. Do vậy, để BLHS mới sớm đi vào cuộc sống, các chế định mới sớm được áp dụng thì ngoài việc tổ chức tập huấn, TAND tối cao và các cơ quan được giao nhiệm vụ phải sớm thực hiện việc hướng dẫn các quy định của BLHS, tạo cơ sở pháp lý vững chắc, rõ ràng, đảm bảo sự áp dụng thống nhất pháp luật trên toàn lãnh thổ, vì sự công bằng, vì lợi ích của người dân.
– Những quy định mới của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) sắp có hiệu lực pháp luật, trong đó có nhiều quy định có sự thay đổi lớn, khi áp dụng các quy định này vào thực tế sẽ dẫn đến một số quy định liên quan về nội dung, thủ tục, điều kiện pháp lý của quan hệ pháp luật thuộc một số lĩnh vực bị lạc hậu, không kịp thời sửa chữa sẽ tác động ngược lại tính hiệu lực của các quy định mới. Do vậy, cần tiếp tục có cơ chế rà soát, kiểm tra các quy định của pháp luật hiện hành không còn phù hợp với các quy định mới để sớm hủy bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung.
– Áp dụng pháp luật nói chung, áp dụng hình phạt nói riêng trong thực tiễn công tác giải quyết, xét xử các vụ án hình sự đặt ra yêu cầu cao và thường xuyên về tính thống nhất và sát với thực tiễn xã hội. Tuy nhiên, do đặc điểm, tình hình xã hội, con người mỗi địa phương có nhiều khác nhau, yêu cầu phòng, chống tội phạm ở mỗi địa phương có khác nhau nên tính thống nhất trong áp dụng hình phạt tại địa phương nói chung, tại mỗi TAND cấp huyện nói riêng còn nhiều vấn đề phải bàn. Có thể nói đây là vấn đề đáng chú ý nhất bên cạnh tình trạng xét xử oan sai, bỏ lọt tội phạm hiện nay. Do vậy, TAND địa phương và TAND tối cao cần có kế hoạch dài hạn, thường xuyên về tổng kết thực tiễn áp dụng hình phạt, qua đó xác định được những mặt làm được, những nội dung tồn tại, thiếu sót, những vấn đề vướng mắc, phức tạp để đề ra giải pháp, phương hướng khắc phục, sửa chữa các tồn tại, thiếu sót để tạo sự thống nhất cao trong quyết định hình phạt, nhất là phục vụ cho kết quả xét xử của mỗi Tòa án địa phương; qua đó, tạo cơ sở thực tiễn vững chắc để đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của BLHS và pháp luật liên quan về phần quyết định hình phạt, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các vụ án hình sự, giảm đến mức thấp nhất việc xét xử oan người không có tội, bỏ lọt tội phạm.
3.2.2. Giải pháp nâng cao ý thức xã hội, ý thức pháp luật của nhân dân, trong đó có người áp dụng hình phạt
Nước ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, vì vậy việc tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật, từng bước nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của người dân trong giai đoạn hiện nay là một việc rất quan trọng.
Để xây dựng, nâng cao ý thức pháp luật có rất nhiều biện pháp trực tiếp cũng như gián tiếp tác động đến nhận thức và xử sự của người dân. Tuy nhiên, trong số rất nhiều biện pháp đó thì hoạt động tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật được coi là biện pháp có vai trò đặc biệt quan trọng. Với nhiều hình thức, phương tiện phong phú và đa dạng hoạt động tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật đã góp phần quan trong vào việc nâng cao ý thức pháp luật cho người dân. Trong tình hình hiện nay, nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là cần phải có các phương thức tác động làm thay đổi cách nghĩ, cách nhìn của nhân dân đối với pháp luật. Người dân thường chỉ quan tâm tới pháp luật khi bản thân họ phải rơi vào những tình thế, sự việc miễn cưỡng, lợi ích bị xâm hại… Bởi vậy, khi tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cần giải thích, phân tích cho người dân hiểu được rằng, pháp luật không chỉ bao gồm các quy định cưỡng chế, thực thi pháp luật, biện pháp giải quyết tranh chấp mà pháp luật còn bao gồm các quy định bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, khuyến khích sự giao dịch lành mạnh giữa các thành viên trong xã hội vì sự phát triển và bảo đảm trật tự ổn định.
Để đảm bảo áp dụng đúng hình phạt, thì việc nâng cao ý thức xã hội, ý thức pháp luật cho người áp dụng hình phạt đóng vai trò hết sức quan trọng. Do vậy, cần đảm bảo kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nhất là các quy định pháp luật mới có hiệu lực để Thẩm phán, cán bộ có chức danh tư pháp khác kịp thời cập nhật các quy định của pháp luật, nâng cao trình độ nghiệp vụ, đảm bảo sự chủ động trong việc đối chiếu tình tiết vụ án với quy định của pháp luật trong áp dụng hình phạt, để bản án của Tòa án đạt mục tiêu đúng người, đúng tội, đúng pháp luật;
3.2.3. Các giải pháp khác:
Để hoạt động áp dụng hình phạt đúng thì yếu tố con người, tổ chức bộ máy có vai trò rất quan trọng. Yếu tố con người luôn quan trọng trong bất kỳ một hoạt động nào, vì vậy, để hoạt động áp dụng hình phạt được chính xác, phụ thuộc rất nhiều vào chủ thể áp dụng hình phạt. Hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nói chung và áp dụng hình phạt nói riêng cần phải có những Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân có văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có ý thức pháp luật, phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với công việc và hiểu biết một cách đúng đắn về các quy định của pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, lợi ích của nhân dân.
Năng lực chuyên môn của chủ thể áp dụng hình phạt là một trong những điều kiện quan trọng hàng đầu cho hoạt động áp dụng hình phạt được chính xác. Để có được năng lực chuyên môn vững vàng, chủ thể áp dụng hình phạt phải được đào tạo cơ bản, ít nhất phải có trình độ cử nhân luật hoặc tương đương trở lên, nhưng không dừng lại ở kiến thức đã học trong các trường đại học mà còn phải thường xuyên trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, cập nhật văn bản, học tập, tích lũy kinh nghiệm để nâng cao trình độ của mình. Năng lực chuyên môn là yếu tố ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình áp dụng hình phạt vì đó là một hoạt động tư duy có tính logic chặt chẽ nhưng đồng thời là hoạt động trí tuệ có tính sáng tạo, bởi lẽ: Khi xây dựng các cấu thành tội phạm cụ thể, nhà làm luật không thể liệt kê tất cả các yếu tố, các dấu hiệu của tất cả các loại tội phạm mà chỉ nêu những dấu hiệu cần và đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong mỗi cấu thành tội phạm cụ thể. Thế nhưng, trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, các hành vi phạm tội xảy ra rất đa dạng. Ngay cả đối với một loại tội phạm cụ thể, các vụ án cũng rất khác nhau về những tình tiết cũng như việc đánh giá chứng cứ. Nếu như chủ thể định áp dụng hình phạt là người có đạo đức tốt, nhiệt tình trong công tác nhưng không có chuyên môn vững vàng thì việc áp dụng hình phạt sẽ gặp nhiều khó khăn, thiếu chính xác. Chỉ trên cơ sở có kiến thức chuyên môn vững vàng, chủ thể áp dụng hình phạt mới có thể độc lập trong quan điểm, dám bảo vệ quan điểm của mình khi xét xử, không bị chi phối bởi quan điểm của cấp trên, của đồng nghiệp hoặc của các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác. Tuy nhiên, áp dụng pháp luật hình sự nói chung và áp dụng hình phạt nói riêng là một hoạt động thực tiễn rất đa dạng nên việc trao đổi về chuyên môn nghiệp vụ với đồng nghiệp, với cấp trên cũng là điều cần thiết, để tham khảo, kiểm tra quan điểm của mình.
Ngoài việc nắm vững các yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ, chủ thể áp dụng hình phạt cũng phải biết vận dụng một cách linh hoạt trên cơ sở các quy định của pháp luật chứ không rập khuôn một cách máy móc. Từ thực tiễn đa dạng của tội phạm, các văn bản pháp luật cũng thường xuyên có sự sửa đổi, bổ sung hoàn thiện, theo sát diễn biễn của tình hình tội phạm để đáp ứng được yêu cầu của hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm. Do vậy, chủ thể áp dụng hình phạt cần phải thường xuyên cập nhật văn bản thì hoạt động áp dụng hình phạt mới đảm bảm sự chính xác. Thực tiễn xét xử tại thành phố Tam Kỳ cho thấy vẫn có vụ án bị hủy, bị sửa do khi có sự thay đổi chính sách pháp luật hình sự nhưng một số Thẩm phán không chú ý cập nhật văn bản hoặc hiểu một cách máy móc. Ngoài yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của chủ thể áp dụng hình phạt cũng là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo cho việc áp dụng hình phạt được chính xác. Nếu như năng lực chuyên môn là điều kiện cần thì đạo đức nghề nghiệp là điều kiện đủ của việc áp dụng hình phạt chính xác. Hai điều kiện này bổ sung cho nhau, giúp cho chủ thể áp dụng hình phạt có cơ sở, nền tảng trong quá trình áp dụng pháp luật hình sự để áp dụng hình phạt đúng. Việc nhận thức được tính công bằng là một yếu tố trong niềm tin nội tâm của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân trong việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự. Từ sự nhận thức này họ sẽ hiểu được ý nghĩa chính trị – xã hội, đạo đức của các quy phạm pháp luật hình sự, đánh giá đúng đắn hành vi phạm tội của những người cụ thể, lựa chọn phương án tối ưu về mặt pháp luật, đạo đức trong khi quyết định các biện pháp xử lý.
Theo chúng tôi, giải pháp căn bản của việc nâng cao trình độ của chủ thể áp dụng hình phạt là:
Một là, thường xuyên cập nhật các văn bản pháp luật, các hướng dẫn áp dụng pháp luật – nhất là khi có sự thay đổi về chính sách hình sự cho Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân. Các cơ quan chức năng cần thường xuyên tổ chức tập huấn khi có văn bản mới được ban hành. Việc nâng cao trình độ không chỉ dừng lại ở các kiến thức pháp luật nói chung mà còn bao gồm cả kiến thức lý luận chính trị, đạo đức nghề nghiệp và các kiến thức khoa học thuộc nhiều ngành khoa học khác nhau.
Hai là, việc bổ nhiệm Thẩm phán cần ưu tiên những người được đào tạo cơ bản, có nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn, có phẩm chất đạo đức tốt. Cần phải có các chương trình đào tạo, đào tạo lại đối với đội ngũ Thẩm phán. Cần khuyến khích, tạo điều kiện về thời gian và vật chất cho Thẩm phán được học ở bậc học cao hơn. Quá trình thi, tuyển chọn Thẩm phán theo Luật Tổ chức TAND mới sửa đổi, bổ sung năm 2014 phải được tiến hành một cách nghiêm túc, công bằng. Cần lựa chọn, giới thiệu để bầu làm Hội thẩm nhân dân đối với những người có trình độ pháp lý, đã và đang làm các công việc liên quan đến pháp luật mới đảm bảo cho Hội thẩm phát huy được vai trò của mình khi xét xử các vụ án hình sự.
Ba là, chủ thể áp dụng hình phạt cũng phải có môi trường cũng như cơ chế làm việc thuận lợi bảo đảm tính độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, không bị chi phối bởi quan điểm cấp trên hoặc của đồng nghiệp mới có thể phát huy được năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp của mình trong việc áp dụng hình phạt khi xét xử.
Hoạt động áp dụng hình phạt có đúng hay không tùy thuộc không chỉ yếu tố con người định tội danh nói trong luận văn là Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân mà còn tùy thuộc vào yếu tố người khác cũng tham gia vào quá trình tố tụng hình sự như Điều tra viên, Kiểm sát viên là những con người tiến hành áp dụng pháp luật ở những giai đoạn tố tụng hình sự khác nhau mà nói chính xác hơn là việc áp dụng pháp luật của họ hướng vào và phục vụ cho việc áp dụng hình phạt của Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân. Bởi vậy nâng cao năng lực, khả năng, trình độ, ý thức xã hội, ý thức pháp luật, kinh nghiệm, trách nhiệm của Điều tra viên, Kiểm sát viên được coi là một trong những giải pháp không thể thiếu đối với việc bảo đảm áp dụng hình phạt đúng.
Để việc áp dụng hình phạt chính xác thì phải không chịu sự tác động của môi trường xã hội và môi trường pháp luật khi xét xử. Bởi vậy, xét về môi trường xã hội và môi trường pháp luật, phải làm sao để Thẩm phán và Hội thẩm được “độc lập và tuân theo pháp luật khi xét xử”, ít chịu (hoặc tốt nhất là không) sự tác động tiêu cực từ bên ngoài, để có thể áp dụng hình phạt chính xác. Do vậy, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức xã hội, ý thức pháp luật, lối sống theo pháp luật của nhân dân cũng là giải pháp không được xem nhẹ. Ở đây, vai trò của truyền thông, của dư luận xã hội, của kiểm tra, thanh tra ngành, chuyên ngành, của giám sát xã hội là rất to lớn, bởi xét đến cùng các hoạt động này góp phần tạo nên môi trường xã hội, môi trường pháp luật lành mạnh vốn là tiền đề, điều kiện không thể thiếu cho hoạt động áp dụng hình phạt khi xét xử.
– Triển khai xây dựng đề án về đạo tạo chuyên gia đầu ngành về pháp luật và nghiệp vụ Tòa án. Đa dạng hóa các hình thức đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với từng loại đối tượng công chức. Phối hợp với các trung tâm đào tạo để xây dựng cơ chế đào tạo nguồn cán bộ cho các Tòa án vùng sâu, vùng xa. Chú trọng chất lượng cán bộ về tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất chính trị ngày từ khâu tuyển dụng; Phối hợp với cấp ủy Đảng các địa phương và các tổ chức chính trị xã hội để lựa chọn, điều động, luân chuyển các cán bộ có trình độ về công tác tại các Tòa án.
– Sớm đổi mới chế độ chính sách cho cán bộ, Thẩm phán, nhất là sửa đổi hệ thống thang, bảng lương của cán bộ, công chức Tòa án cho phù hợp với đặc thù nghề nghiệp. Tăng cường cơ sở vật chất, máy móc thiết bị, nâng cấp trụ sở làm việc, đảm bảo an ninh, an toàn, nghiêm túc của công tác xét xử. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của Tòa án; tiếp tục thực hiện việc đổi mới thủ tục hành chính tư pháp tại Tòa án theo hướng công khai, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả, một mặt nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân khi có công việc cần giải quyết tại Tòa án, nhưng cũng đồng thời nhằm công khai hóa hoạt động của Tòa án, qua đó tăng cường sự giám sát của nhân dân đối với cán bộ, công chức trong hệ thống TAND.
KẾT LUẬN
Qua việc thực hiện Luận văn, bằng việc làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, chủ thể, nội dung, hình thức của áp dụng hình phạt và các nhân tố xã hội tác động đến áp dụng hình phạt cũng như thực tiễn áp dụng hình phạt tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam cho phép tác giả đi đến kết luận:
Áp dụng hình phạt là một hình thức cụ thể của hoạt động áp dụng pháp luật nói chung, đó là hoạt động thực tiễn của cơ quan Tòa án thông qua HĐXX được thực hiện tại phiên tòa để xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, truy tố được thẩm tra công khai tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, và những người tham gia tố tụng khác nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án. Trên cơ sở đó lựa chọn các loại hình phạt được quy định trong BLHS phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và hậu quả mà tội phạm gây ra; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo để ban hành bản án tuyên bố cá nhân hay pháp nhân thương mại phạm tội và loại hình phạt phải chịu với tội phạm đã thực hiện.
Áp dụng đúng hình phạt có ý nghĩa rất lớn về chính trị, đạo đức và pháp luật, không chỉ là cơ sở để đạt được mục đích của hình phạt cũng như nâng cao hiệu quả của hình phạt mà còn tạo nên sự nghiêm minh và công bằng của pháp luật đối với người, pháp nhân thương mại phạm tội; tạo niềm tin cho tổ chức, cá nhân vào cơ quan Tòa án nói riêng và nền Tư pháp nói chung; góp phần củng cố pháp chế XHCN, giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội; tạo tiền đề cho phát triển kinh tế, xã hội.
Khi áp dụng hình phạt, chủ thể áp dụng hình phạt ngoài việc tuân thủ các quy định của BLHS đối với hành vi phạm tội đã thực hiện, nắm vững các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật cụ thể, chỉ ra các điểm, khoản của điều luật tương ứng được quy định tại phần các tội phạm, còn phải nắm vững các quy định đặc thù tại các điều luật tương ứng quy định về hình phạt trong BLHS.
Để tăng cường áp dụng hình phạt đúng, cần phải bảo đảm hai yêu cầu cơ bản: Hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự và nâng cao trình độ cho chủ thể áp dụng hình phạt. Những điều kiện, giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật hình sự được nêu trong Luận văn – theo chúng tôi là một trong những đảm bảo cho việc áp dụng hình phạt được chính xác, giúp cho việc nhận thức thống nhất các quy định của pháp luật trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự.
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý luận về hoạt động áp dụng hình phạt của pháp luật hình sự Việt Nam. Về mặt thực tiễn, những nội dung nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy, đào tạo Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân; góp phần nâng cao hiệu quả, vai trò của TAND trong hoạt động áp dụng hình phạt ngày càng tốt hơn trong thời gian tới.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 6\LUAT HINH SU VA TO TUNG HINH SU\DINH TAN LONG\SAU BAO VE


