Âm nhạc trong Hát Bả trạo ở Hội An – Quảng Nam
1. Lý do chọn đề tài.
Việt Nam – một đất nước có đầy đủ những yếu tố địa lý, cảnh quan thiên nhiên hài hòa, ruộng đồng, sông núi, biển cả,… Khúc ruột miền Trung có “sơn thủy hữu tình”, mặt nhìn ra biển Đông, lưng dựa vào dãy Trường Sơn, ở giữa là dải đồng bằng hẹp. Điều đó nói lên văn hóa miền Trung đa dạng, hội tụ đầy đủ các yếu tố, các hình thái của văn hóa người Việt (miền Núi, miền Đồng bằng và miền Biển). Âm nhạc dân gian là nguồn văn hóa tinh thần luôn gắn liền với đời sống cộng đồng người dân nơi đây, là nguồn sữa ngọt ngào quanh năm nuôi dưỡng họ để vượt qua cuộc sống khó khăn, cơ cực, để chống chọi với thiên tai khắc nghiệt luôn đe dọa trên mảnh đất này.
Trong khuynh hướng hội nhập và phát triển toàn cầu như hiện nay, đất nước ta đang đứng trước những thách thức lớn về nhiều mặt, đặc biệt từ khi chính thức bước ra giữa một thị trường rộng lớn WTO([1]). Trong đó, việc bảo vệ và phát triển nền văn hóa mang bản sắc của dân tộc nói chung, âm nhạc dân gian cổ truyền nói riêng đang là mối trăn trở lớn cho những người làm công tác gìn giữ, bảo tồn, phát huy vốn giá trị âm nhạc truyền thống của dân tộc.
Hát Bả trạo là nét đẹp truyền thống văn hóa gắn liền trong đời sống sinh hoạt cộng đồng ngư dân Hội An, trong đó có sự tổng hợp nhiều yếu tố mang bản sắc địa phương như: Ngữ điệu, thơ văn, sân khấu, tâm linh, tín ngưỡng, phong tục, vũ trụ quan, cách ứng xử với thiên nhiên, thể hiện lối sống và kinh nghiệm, ước mơ nguyện vọng của ngư dân Hội An làm nghề đi biển. Đó là một loại hình nghệ thuật dân gian đã được kế tục, lưu truyền, bảo tồn sống trong kho tàng những di sản văn hóa phi vật thể mà các lớp cha anh của ngư dân Hội An – Quảng Nam đã để lại cho đời sau. Nghệ thuật nói chung và âm nhạc nói riêng đã làm nên phần hồn, nét tinh túy, sự độc đáo trong Hát Bả trạo – Cầu ngư ở Hội An mà chúng ta cần tìm hiểu, khám phá, nghiên cứu để thấy hết giá trị đích thực về âm nhạc của nó.
Hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian này cũng còn có ở một số địa phương khác, những nơi có cư dân làm nghề đánh cá trên biển. Tuy nhiên, Hát Bả trạo ở Hội An – Quảng Nam có những nét đặc sắc, độc đáo và không trùng lặp với các địa phương khác trên cả nước.
Mặc dầu, Hát Bả trạo ở Hội An – Quảng Nam đã có nhiều hoạt động biểu diễn, nhiều hình thức giới thiệu, quảng bá qua các phương tiện thông tin (báo chí, bài viết trên các diễn đàn văn hóa dân gian, v.v…) nhưng, để bảo tồn một cách khoa học, tổng thể hơn thì cần có thêm những công trình nghiên cứu cụ thể, sâu sắc và bao quát do loại hình này đã và đang có nguy cơ mai một hoặc không còn giữ được giá trị nguyên gốc của nó.
Là người con được sinh ra và lớn lên trên vùng đất nặng nghĩa nặng tình xứ Quảng (Quảng Nam – Đà Nẵng cũ), tôi rất tự hào về truyền thống cách mạng và truyền thống văn hóa của quê hương mình. Hát Bả trạo là một loại hình diễn xướng độc đáo phổ biến ở miền biển Quảng Nam nói chung và Hội An nói riêng mà chính bản thân tôi đã được xem, được nghe và thấm nhuần những câu hát, làn điệu của loại hình âm nhạc dân gian tổng hợp này.
Dựa vào những nguồn tư liệu (văn bản, băng đĩa, tranh ảnh…) mà bản thân tôi đã tự sưu tầm, có được, kết hợp với tư liệu của Viện Nghiên cứu Âm nhạc Huế qua quá trình tiến hành phục dựng loại hình sinh hoạt âm nhạc dân gian này([2]) và đây chính lại là quê hương của tôi nên việc tiếp cận các nguồn tư liệu, đặc biệt là tư liệu sống từ những nghệ nhân là thuận lợi.
Căn cứ vào những lý do và điều kiện đã nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: “Âm nhạc trong Hát Bả trạo ở Hội An – Quảng Nam” làm nội dung nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ của mình.

2. Lịch sử nghiên cứu của đề tài.
Từ trước đến nay đã có những tác giả, những bài viết, những công trình nghiên cứu đề cập đến tục thờ cúng cá Ông và Hát Bả trạo, có thể kể đến một số tài liệu sau:
– GS. Trần Quốc Vượng trong sách “Cơ sở văn hóa Việt Nam” đã đề cập đến tục Thờ, Cúng cá Ông của người Chăm trong phần II “Đặc điểm của vùng văn hóa Trung bộ” (trang 248, 249) của bài “Vùng văn hoá miền Trung”.
– Nhà nghiên cứu văn hoá dân gian Trần Văn An trong sách “Di sản Văn hoá văn nghệ dân gian ở Hội An”, phần IX “Diễn xướng” (trang 282, 283) của chương VI cũng đã nhận xét khá chi tiết về văn hoá Thờ, Cúng Cá Ông và Hát Bả trạo – Cầu ngư ở Hội An.
– Bài viết của Phùng Tấn Đông trong “Mùa lễ hội về văn hoá miền biển” năm 1998 cũng đã đề cập đến Hát Bả trạo – Cầu ngư ở Hội An([3]).
– Bài viết về tín ngưỡng: “…Tục thờ cúng cá Ông do cư dân Việt tiếp thu của dân tộc Chăm. Quá trình phát triển và được Việt hóa và phủ lên màu sắc Phật giáo, Nho giáo phù hợp với cấu trúc đa nguyên….” (Nguyễn Đức Minh – 10 năm tạp chí Văn hóa Quảng Nam, Sở VHTT Quảng Nam xuất bản tháng 01/2007).
– Tài liệu “Phong tục- Tập quán – Lễ hội Quảng Nam” đã đề cập về Hát rước Linh Ông về Bến giác chứa đậm sắc thái của tín ngưỡng Phật giáo, cũng như thể hiện sự linh thiêng của cá Ông trong bài văn tế “Nam Hải Ngọc Lân Tôn thần” (Tạp chí Văn hóa Quảng Nam, tháng 9/2004, trang 197)
– Buổi thảo luận của giáo sư Trần Ngọc Thêm và tiến sĩ Huỳnh Quốc Thắng trên truyền hình về văn hóa lễ hội nghinh Ông và tục thờ cúng Cá Ông([4]).
– Trương Đình Quang (2011), “Hát Bả trạo – Hò đưa linh”, Nxb Văn hóa Dân tộc. trong công trình này tác giả đã đề cập đến những vấn đề về Bả trạo như: Nguồn gốc của Hát Bả trạo; Nghi lễ buổi Hát Bả trạo; Sự khác biệt giữa Hát Bả trạo (chèo đưa linh) với Hát chèo Nghi lễ buổi Hát Bả trạo,v.v…
– Trương Đình Quang (2005), “Men rượu Hồng Đào”, Nxb Đà Nẵng đã đề cập đến Hò đưa linh – Bả trạo (trang 284) bằng góc nhìn văn hóa tâm linh qua nội dung lời ca, v.v…
Nhìn chung, mỗi bài viết, mỗi đề tài, mỗi cuộc thảo luận đều đưa ra cách nhìn nhận ở mức độ khác nhau, nhiều khía cạnh riêng biệt về Hát Bả trạo và tục thờ cúng cá Ông. Mặc dầu các công trình nghiên cứu đều chưa đề cập chuyên sâu tới lĩnh vực âm nhạc nhưng đó chính là những cơ sở lý luận vững chắc cho sự triển khai đề tài này của chúng tôi. Nói cách khác, đề tài của chúng tôi là một hướng đi mới tiếp tục bồi đắp thêm cho thành quả của những người đi trước.
3. Mục tiêu nghiên cứu.
Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng đến những mục tiêu nghiên cứu sau:
– Yếu tố tâm linh trong Hát Bả trạo.
– Những đặc điểm nghệ thuật âm nhạc và thơ văn, cũng như các hình thức diễn xướng dân gian Hát Bả trạo ở Hội An – Quảng Nam.
4. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu.
– Phạm vi nghiên cứu: Những làn điệu có trong 4 kịch bản Hát Bả trạo đã và đang được lưu truyền ở Hội An, Quảng Nam, trong đó, chủ yếu là các làn điệu trong kịch bản chèo Ông.
– Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa tâm linh, không gian diễn xướng và hệ thống các làn điệu trong Hát Bả trạo.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Thuộc thể loại nghiên cứu lý thuyết, để thực hiện các nhiệm vụ của đề tài đặt ra, luận văn sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp;
+ Phương pháp điền dã;
+ Phương pháp phỏng vấn;
+ Phương pháp so sánh;
+ Phương pháp thống kê, mô tả;
6. Đóng góp của đề tài.
Nếu kết quả nghiên cứu của luận văn được công nhận, đề tài sẽ có những đóng góp:
– Về mặt lý luận: Tổng kết để nêu lên những đặc điểm trên các phương diện nghệ thuật âm nhạc như: Hệ thống làn điệu; các yếu tố cấu thành giai điệu như: Thang âm, âm điệu, tiết tấu, nhịp điệu; nhạc đàn cùng các yếu tố thẩm mỹ trong âm nhạc và thơ văn.
– Về mặt thực tiễn: Đề tài góp phần vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị âm nhạc của các làn điệu, cũng như những giá trị nghệ thuật tổng hợp có trong màn diễn xướng Hát Bả trạo ở Hội An bằng hình thức văn bản; khẳng định rõ và đánh giá một cách khoa học về những giá trị văn hóa, âm nhạc và thơ văn của Hát Bả trạo trong đời sống tinh thần của ngư dân ở Hội An – Quảng Nam.
7. Bố cục của luận văn.
- Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần Nội dung của luận văn được kết cấu theo hai chương.
Chương I: Hát Bả trạo ở Hội An, Quảng Nam; Những vấn đề về thơ văn và hình thức diễn xướng
Chương II: Đặc điểm âm nhạc
Chương 1
HÁT BẢ TRẠO Ở HỘI AN, QUẢNG NAM; NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ THƠ VĂN VÀ HÌNH THỨC DIỄN XƯỚNG
1.1. Hát Bả trạo ở Hội An.
1.1.1. Giới thiệu khái quát về vùng đất và con người Hội An.
1.1.1.1. Địa lý tự nhiên.
Hội An nằm bên bờ Bắc hạ lưu sông Thu Bồn, là vùng cửa sông – ven biển và là nơi hội tụ của các con sông lớn của xứ Quảng: sông Thu Bồn – Vu Gia theo trục Đông – Tây, sông Trường Giang theo trục Nam – Bắc, sông Cổ Cò theo trục ngang Bắc – Nam. Đặc điểm về vị trí địa lý, cấu trúc địa chất và lịch sử làm cho khí tượng – thủy văn, địa hình, địa mạo của Hội An khá phong phú và đa dạng.
1.1.1.2. Địa lý hành chính – dân cư.
Thành phố Hội An gồm 9 phường: Minh An, Sơn Phong, Cẩm Phô, Tân An, Thanh Hà, Cẩm Châu, Cẩm An, Cửa Đại, Cẩm Nam và 4 xã: Cẩm Thanh, Cẩm Kim, Cẩm Hà, Tân Hiệp (cụm đảo Cù Lao Chàm). Có nhiều cơ quan, đơn vị, trường học trực thuộc tỉnh và Trung ương đóng trụ sở tại Hội An.
1.1.1.3. Những giá trị truyền thống.
Diễn trình lịch sử hình thành và phát triển của đô thị – thương cảng Hội An đã có ý nghĩa quyết định đến diện mạo di sản văn hóa Hội An khá đa dạng, phong phú và đậm bản sắc đặc trưng.
Có thể nói hiếm có nơi nào tập trung mật độ di tích dày đặc như ở Hội An với hơn 1.350 di tích, trong đó có 1.273 di tích kiến trúc nghệ thuật thuộc các công trình dân dụng (nhà ở, cầu, giếng, chợ), công trình tín ngưỡng (đình, chùa, lăng – miếu, hội quán, nhà thờ tộc) và công trình đặc thù (mộ). Mỗi loại hình kiến trúc đều có những đặc điểm, sắc thái riêng và đều góp phần tăng thêm tính phong phú, đa dạng văn hóa của đô thị cổ Hội An.
Ở Hội An gần như quanh năm bốn mùa đều diễn ra các lễ hội văn hóa truyền thống. Đó là các lễ hội của cư dân sông nước như lễ hội cầu ngư – tế Cá Ông – đua thuyền; của cư dân thương nghiệp như lễ hội vía Tài Thần, Thiên Hậu Thánh Mẫu, Bổn Đầu Công, Lục Tánh Vương Gia; của cư dân nông nghiệp như Tết Nguyên Đán, Tết Nguyên Tiêu, Tết Trung Thu, Lễ Cầu Bông, Long Chu, Xô Cộ…
Cùng với những nét đặc sắc về lịch sử – văn hóa, mảnh đất và con người Hội An còn đậm đà truyền thống yêu nước và cách mạng.
(Những thông tin trên được chúng tôi tham khảo tại những tài liệu số 3, 9, 11, 22, 35, 41, 42 ở phần danh mục Tài liệu tham khảo)
1.1.2. Vài nét về tục thờ cúng cá Ông và Hát Bả trạo – Cầu ngư.
1.1.2.1. Đôi điều về tên gọi.
Về tên gọi, có một số ý kiến đặt cho loại hình diễn xướng này với cái tên là “Hò” Bả trạo, tuy nhiên, trong luận văn này chúng tôi dùng tên gọi là “Hát Bả trạo” xuất phát từ lý do:
+ Đây là một loại hình sân khấu dân gian tổng hợp, bao gồm ca, múa, nghi lễ, phần nhạc đệm,….một hình thức gần giống như nghệ thuật sân khấu Tuồng (Hát Bộ, Hát Bội v.v…).
+ Một màn diễn với kịch bản có đầy đủ các lối “Hát – Nói”, có vai thoại, có lớp, lang, có Phần mở đầu, Phần kịch tính, Phần kết,…giống như trong kịch bản nghệ thuật Tuồng. Không những vậy, trong Hát Bả trạo còn có những làn điệu dân ca như Lý, Hò.
1.1.2.2. Tục thờ cúng Cá Ông và qui trình của lễ hội Nghinh Ông.
– Tục thờ cúng Cá Ông.
Tục thờ cúng Cá Ông([5]) của ngư dân vùng biển nước ta đã có từ lâu đời. Suốt một dải bờ biển dài từ miền Trung (từ Đèo Ngang) trở vào cho đến tận Kiên Giang, nơi nào cũng có tục thờ Cá Ông và hằng năm đều tổ chức lễ hội nghinh Ông.
Hằng năm vào mùa biển động([6]) hay có cá Ông luỵ([7]), ngư dân đi biển người nào phát hiện Ông luỵ đầu tiên người đó coi như là Trưởng Nam – với ý nghĩa là coi cá Ông là cha – mẹ. Theo lời kể của những nghệ nhân và ngư dân vùng biển Hội An thì, người Trưởng Nam phải bịt khăn đỏ, chịu 100 ngày tang. Theo Gs Trần Ngọc Thêm: Trong tâm thức người dân, ngoài việc cá Ông được tôn xưng như một nhân thần, thì Cá Ông còn đóng vai trò như một vị thần phò hộ cho họ đánh bắt được nhiều hải sản; “Mỗi khi mà ngư dân trong một thời gian dài không đánh được cá, họ đem rượu rưới lên mộ của cá Ông và cầu khấn, sau đó hứng lấy những giọt rượu đó rồi rưới lên lưới của mình để cầu mong thần Ngư Ông phù hộ đánh được nhiều tôm cá“[38].
Mỗi làng chài xóm lưới nào họ cũng đều lập lăng, miếu riêng để thờ vị thần Nam Hải và Ông Ngư. Hằng năm ngư dân vùng biển miền Trung chọn ngày 10/3 âm lịch (trước đây là ngày 15/6 âm lịch) làm lễ tế Ông Nam Hải và mở hội Cầu Ngư.
– Qui trình của lễ hội nghinh Ông.
Gồm có 5 giai đoạn: Lễ nghinh Ông, nghinh Ông, lễ cúng Tiền Hiền – Hậu Hiền, lễ Chánh Tế, lễ Cầu Ngư: Đây là giai đoạn diễn ra phần Hát Bả trạo. Chính vì vậy, trong luận văn này chúng tôi gọi bằng hai ý nghĩa ghép là “Hát Bả trạo- Cầu Ngư” là vậy.
1.2. Nghệ thuật thơ văn.
1.2.1. Nội dung văn học.
Hát Bả trạo không những là một hình thức giải trí dân gian đơn thuần, mà nó còn là một sinh hoạt mang tính tâm linh, tín ngưỡng của ngư dân Hội An. Lời ca được viết trong kịch bản Hát Bả trạo như một triết lý chứa một giá trị nhân văn cao cả, nó như một hương ước để truyền tụng lại cho con cháu thế hệ sau những giá trị văn hóa tinh thần đầy ý nghĩa, một giáo lý nhân văn sâu sắc mà cần phải bảo quản, gìn giữ.
Với sự cấu thành rất logich giữa các thể thơ, kịch bản Hát Bả trạo là một chỉnh thể thống nhất. Sự đa dạng các thể thơ kéo theo sự phong phú về làn điệu đã làm cho kịch bản trở nên hoàn thiện cả về giá trị nội dung lẫn giá trị nghệ thuật.
Sự lồng ghép, đan xen giữa các ngôn ngữ gốc Hán, gốc Nôm, nhiều nhất là tiếng Việt (quốc ngữ) trong kịch bản một cách khéo léo đã tạo nên sự thống nhất cao về kết cấu nội dung vở diễn.
Nội dung ngôn ngữ dùng trong các lối hát gắn kết chặt chẽ tạo thành một vở diễn mang tính logích cao. Trong lời văn thì mang đầy những câu cầu siêu, cầu hồn, tán dương, ca ngợi công đức vị nhân thần “Ngư Ông”.
1.2.2. Thể thơ.
– Thể thơ Lục bát (6/8) được dùng nhiều nhất trong tất cả các lối “Hát – Nói” như, trong Hát Nam, Bắt bài vãn, Lý, Kéo neo nhịp lơi, Kéo neo nhịp một (thể thơ 6/8). Ngoài ra, còn có các thể loại thơ khác như; thể 5, 7, 8 chữ, song thất lục bát.
1.3. Hình thức diễn xướng.
1.3.1. Không gian diễn xướng và chức năng thực hành xã hội.
1.3.1.1. Không gian diễn xướng.
– Trước lăng Cá Ông: Hát Bả trạo được diễn xướng chủ yếu trước Lăng thờ cúng Cá Ông. Ở Hội An có lăng “Tứ Chánh Vạn”, đây là lăng thờ cúng Cá Ông lớn nhất Hội An. Tất cả các vạn chài, xóm lưới nào cũng đều qui tụ về đây cúng bái, biểu diễn Hát Bả trạo.
– Hát trong đám ma: Giống như hình thức hò đưa linh, để đưa những linh hồn người đã khuất về miền cực lạc. Những nhà có điều kiện cũng thường mời đội Hát Bả trạo về hát trong lễ tang của gia đình.
– Ngày nay, Hát Bả trạo cũng được đưa vào biểu diễn ở đài liệt sĩ, hay hát vào những dịp Tết Nguyên tiêu (ngày 15/1 âm lịch), ngày Bác Hồ về thăm làng cá (ngày 31/tháng 3) theo sự tổ chức hoạt động văn hóa của chính quyền địa phương.
– Ngoài ra, Hát Bả trạo còn được biểu diễn để phục vụ du lịch, các dịp lễ hội văn hóa của địa phương như: Tiết thanh minh, ngày hội văn hóa miền biển, v.v…
1.3.1.2. Chức năng thực hành xã hội.
Hát Bả trạo là một nghi thức tín ngưỡng, để ngư dân gửi gắm niềm tin vào sức mạnh và quyền lực của thế giới siêu nhiên, và có thể xem như một chiếc cầu nối giữa đấng thần linh với thế giới trần tục. Những lời ca, giai điệu như thể hiện lời cầu mong cho sự bình yên trước cảnh mênh mông trời biển, bão tố rập rình, đồng thời thể hiện những mơ ước về sự phồn thực (được nuôi dưỡng tự bao đời) trong cuộc sống mưu sinh của những người làm biển. Như vậy, nghệ thuật Hát Bả trạo hướng tới hai mục đích là: “Tạ Ơn” và “Cầu Xin”.
Ngoài ra, Hát Bả trạo – Cầu Ngư cũng có những vai trò, chức năng xã hội khác là tạo được không khí đồng cảm, cộng cảm giữa những người cùng cảnh mưu sinh bằng nghề biển.
Có thể nói rằng, Hát Bả trạo – Cầu Ngư là một loại hình nghệ thuật âm nhạc độc đáo, một hình thức văn hoá tổng hợp mang đậm truyền thống tốt đẹp (Uống nước nhớ nguồn) của dân tộc; chứa đựng tính giáo dục nhân văn rất cao (Đền ơn đáp nghĩa); mang ý nghĩa xã hội tốt đẹp (Củng cố cộng đồng) và siết chặt mối liên hệ cuộc sống giữa con người với con người trong vạn, làng, góp phần xây dựng sự đoàn kết cộng đồng.
1.3.2. Động tác trình diễn, trang phục và các đạo cụ trong quá trình diễn xướng.
1.3.2.1. Động tác trình diễn.
Như đã nêu trên, “Hát Bả trạo” có nghĩa là vừa hát vừa thể hiện động tác chèo thuyền. Đúng vậy, đây là một màn diễn tái hiện lại quá trình lao động, đánh bắt của một phương thức sinh hoạt nghề biển. Đó là loại hình thể hiện cùng lúc hai hình thức diễn (có động tác) cộng với xướng (hát – nói).
Chi tiết của động tác là tái diễn lại quá trình chèo thuyền, kéo neo, các động tác ấy luôn gắn chặt trong suốt vở diễn để làm nhịp điệu cho các lối hát.
Ví dụ như lúc vừa hát vừa kéo neo thì cả tổng và trạo đều trong tư thế quì, đồng thời vừa hát vừa thể hiện động tác kéo neo rất rập ràng và mạnh mẽ. Ở làn điệu này thể hiện hình ảnh lao động rất rõ nét, biểu hiện tinh thần đoàn kết cao của một tập thể lao động. v.v…
Chèo thuyền, là động tác giữ vai trò chủ đạo trong cuộc hát, từ nhẹ nhàng, khoan thai như Hát Nam, Thán, Nói lối vãn,… đến mạnh mẽ, dứt khoát, nhịp nhặt như Bắt bài lệnh, Tẩu mã, Phú lăn, Hò kéo neo.
1.3.2.2. Trang phục.
Có 5 nhân vật chính tham gia quá trình diễn xướng Hát Bả trạo. Đó là các nhân vật: Tổng Tiền, Tổng Hậu, Tổng Lái, Tổng Thương và các con trạo. Mỗi nhân vật có một trang phục riêng.
1.3.2.3. Đạo cụ.
Có 2 đạo cụ thường dùng trong quá trình diễn xướng. Đó là mái chèo và gàu tát nước.
1.4. Kịch bản.
Một màn diễn với kịch bản có đầy đủ các lối “Hát – Nói”, có vai thoại, có lớp, lang, có phần mở đầu, phần giữa và phần kết, trong đó còn có những làn điệu dân ca như Lý, Hò.
Trong kịch bản, ngoài Việt ngữ còn có Hán ngữ cũng được sử dụng trộn lẫn, xen kẽ trong các lối hát, nói.
Thể thơ cũng được sử dụng khá đa dạng như thể lục bát, song thất lục bát, thể 4, 5, 6,7…chữ.
Làn điệu được sử dụng rất phong phú như: Tán, Kệ giống tên gọi trong âm nhạc Phật giáo; Hát Nam, Thán, Xướng, Ngâm, Tẩu mã…trong nghệ thuật sân khấu Tuồng; Hò kéo neo, Lý trong dân ca.
Có 4 kịch bản, mỗi kịch bản có một nội dung riêng, phù hợp cho từng môi trường diễn xướng nhất định. Chèo Ông, Chèo Cô hồn, Chèo Liệt sĩ([8]), Chèo Đám ma.
- Tiểu kết chương I
Thành Phố Hội An nằm bên bờ sông Thu Bồn. Nơi đây xưa kia đã có một thời nổi tiếng với tên gọi Faifoo mà các thương nhân Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Ðào Nha, Italia v.v.. đã biết đến từ thế kỷ 16, 17. Từ thời đó, thương cảng Hội An đã thịnh vượng, là trung tâm buôn bán lớn của vùng Đông Nam Á, một trong những trạm đỗ chính của thương thuyền vùng Viễn Ðông. Cho đến nay, Hội An là một đô thị cổ có nhiều di sản văn hóa có giá trị vẫn còn được bảo lưu bền bỉ như một bảo tàng sống.
Ngoài những giá trị văn hoá qua kiến trúc đa dạng, Hội An còn lưu giữ một nền tảng văn hoá phi vật thể khá đồ sộ như: Phong tục tập quán, sinh hoạt tín ngưỡng, nghệ thuật dân gian, lễ hội văn hoá đang được bảo tồn và phát huy cùng với cảnh quan thiên nhiên thơ mộng, các làng nghề truyền thống, các món ăn đặc sản, v.v…
Hát Bả trạo là nhu cầu văn hóa mang yếu tố tín ngưỡng tâm linh của ngư dân Hội An, nó đã gắn chặt trong đời sống tinh thần của những người làm nghề đi biển trên mảnh đất này từ bao đời. Đây là một nghi thức tín ngưỡng, để ngư dân gửi gắm niềm tin vào sức mạnh và quyền lực của thế giới siêu nhiên, và có thể xem như một chiếc cầu nối giữa đấng thần linh với thế giới trần tục; là một loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian chứa đựng những giá trị nghệ thuật độc đáo, trong đó có những giá trị thơ văn, âm nhạc và nghệ thuật trình diễn.
Nội dung lời ca của Hát Bả trạo chứa đựng ý nghĩa cầu siêu, cầu hồn, ca ngợi công đức vị nhân thần Nam Hải, thể hiện lời cầu mong cho sự bình yên trước cảnh mênh mông trời biển, bão tố rập rình, đồng thời thể hiện những mơ ước về sự phồn thực (được nuôi dưỡng tự bao đời) trong cuộc sống mưu sinh của những người làm nghề đi biển.
Thể thơ được sử dụng chủ yếu là thể lục bát, song thất lục bát, thể bảy chữ…
Không gian diễn xướng chủ yếu trước Lăng thờ cúng Cá Ông. Ngoài ra, với nhu cầu xã hội, không gian diễn xướng Hát Bả trạo ngày nay còn được mở rộng phạm vi biểu diễn ở đài liệt sĩ, biểu diễn để phục vụ du lịch, v.v…
Có thể nói rằng, với hai ý nghĩa và vai trò chính là: “Tạ Ơn” và “Cầu Xin”, Hát Bả trạo – Cầu ngư đã có một sức sống bền vững cho đến tận ngày nay.
Chương 2
ĐẶC ĐIỂM ÂM NHẠC
2.1. Hệ thống làn điệu.
Căn cứ vào đặc điểm của lối hát, có thể chia hệ thống làn điệu Hát Bả trạo thành 3 nhóm sau:
– Các làn điệu có tên gọi giống trong âm nhạc Phật giáo.
– Các làn điệu có tên gọi giống trong âm nhạc Hát Bộ([9])
– Các làn điệu dân ca được sử dụng trong vở diễn.
2.1.1. Các làn điệu có tên gọi giống trong âm nhạc Phật giáo.
2.1.1.1. Làn điệu “Tán”.
Trong kịch bản Hát Bả trạo ở Hội An, làn điệu Tán chỉ xuất hiện một lần duy nhất ở đầu vở diễn. Đây cũng là lời tán dương, cầu cúng thần thánh, đức phật, thần Nam Hải,…đầu tiên trước khi diễn ra đối với một cuộc hát trước lăng, mộ Ngư Ông.
Giai điệu của Tán chậm rãi, mang màu sắc cúng bái tâm linh, cao độ phụ thuộc chủ yếu vào vần điệu của câu Tán. Âm nhạc của mỗi câu Tán được tách riêng độc lập, không liên quan đến câu trước và sau nó, sau mỗi câu Tán thường có phần rung hơi bằng hư từ “ư” như đang thể hiện lời cầu khẩn.
2.1.1.2. Làn điệu “Kệ”
Lời ca của làn điệu Kệ sử dụng trong Hát Bả trạo ở Hội An cũng được lấy hoàn toàn giống với lời Kệ trong kinh Phật.
Câu Kệ do Tổng Thương hát tiết tấu thường không ổn định, nhịp điệu chậm. Màu sắc âm nhạc của Kệ gần giống với Tán.
So với phần xướng của Tổng Thương (nhịp điệu không ổn định) thì phần xô tiếp nối của tập thể Trạo, nhịp điệu rất đều, chậm, dứt khoát, mỗi phách là một nhịp chèo (tay đưa lên + chân bước lên hoặc ngược lại).
Nếu như các sư sãi, khi Kệ có nhạc cụ mõ làm nhiệm vụ tiết tấu, thì trong Hát Bả trạo lại có phách([10]) và động tác chèo thuyền của con Trạo dẫn dắt tiết tấu, nhịp điệu cho phần hát này, cũng như cả vở diễn.
2.1.2. Các làn điệu có tên gọi giống trong âm nhạc Hát Bộ.
2.1.2.1. Lối “Hát nói”.
– Kẻ.
Đây là một lối hát nói không thể hiện thành giai điệu âm nhạc rõ ràng về cao độ mà chỉ nhấn mạnh vào từng âm, chậm rãi và chỉ chú ý đến sắc thái ngữ điệu từng câu chữ. Lối hát này thường dùng trong đoạn độc thoại của nhân vật, xen kẽ với các lối hát khác.
– Nói Vãn.
Đây là một lối hát nói mang chút ít tính giai điệu, nhịp điệu khá tự do, âm vực khá hẹp. Giai điệu ở lối nói này đơn giản, dao động ở quãng âm hẹp. Lối hát này thường dùng trong độc thoại, tính chất bi ai, than vãn, cầu xin, cầu khấn,….
– Nói Dựng.
Cũng gần giống với Nói Kẻ, lối nói này cũng nhấn mạnh vào từng âm và chỉ chú ý đến sắc thái ngữ điệu từng câu chữ. Nhịp điệu thì co giãn tuỳ theo cách hát mỗi nhân vật. Khác với Nói Kẻ và Nói Vãn, Nói Dựng mang màu sắc sáng sủa, thể hiện tinh thần khẳng khái, xưng hô mang tính quyền uy,…của nhân vật.
2.1.2.2. Các lối “Hát – Xướng”.
– Xướng.
Câu Xướng thường được dùng ngôn ngữ gốc Hán Nôm và mỗi câu Xướng thường được lồng xen kẻ với lối nói Kẻ để tạo sự đối thoại nội tâm trong cùng một nhân vật. Cái hay ở đây là sự kịch tính được thể hiện tinh tế ngay trong chính nội tâm của nhân vật thông qua màn độc thoại trên các lối hát – nói.
Tính chất âm nhạc của Xướng trong sáng, mạnh mẽ, khí khái. Tuyến giai điệu của xướng thường ở âm vực cao, ít dao động, có những quãng nhảy xa nhưng cũng chỉ giới hạn trong một quãng tám. Xướng thường mang một sắc thái trang nghiêm, đỉnh đạt…nhưng trong Hát Bả trạo ở Hội An, Xướng lại mền mại, uyển chuyển hơn trong tuyến giai điệu âm nhạc, vì một phần đây là loại hình văn hóa âm nhạc dân gian.
– Ngâm.
Trong Hát Bả trạo, lối hát Ngâm được thể hiện bởi vai diễn tổng Thương. Với vai trò mang nhiều giai thoại, tổng Thương là nhân vật di nhất thể hiện đa dạng những tình tiết bi hài trong màn diễn.
Ngâm sử dụng đan xen với một đoạn nói Kẻ “trong lúc vừa câu cá vừa uống rượu”, là không gian yên bình, thể hiện tinh thần lạc quan sâu lắng nhất của tổng Thương. Đây cũng là tình tiết mang một giá trị nhân văn sâu sắc, sự đa dạng về sắc thái tình cảm trong nội dung kịch bản, cũng như sự độc đáo, riêng biệt trong Hát Bả trạo ở Hội An.
Nhịp điệu của Ngâm chậm rãi, nhẹ nhàng, thư thái thể hiện tính tao nhã như các bật thi nhân xưa. Nét nhấn và rung vào các hư từ “ừ, ơ, ớ,…” đã tạo nên nét độc đáo riêng cho làn điệu Ngâm.
– Thán.
Thán: tức là than vãn, cầu xin, lời tâm sự một mình về những nỗi lòng sâu kín.
Lời ca được dùng lẫn lộn giữa ngôn ngữ gốc Hán Nôm và Quốc Ngữ.
Giai điệu của Thán buồn man mác, nhẹ nhàng, chứa đựng yếu tố tình cảm nội tâm sâu sắc. Sắc thái tình cảm của Thán gần giống như giai điệu Ngâm, nhưng tính chất giai điệu của Thán phong phú, mềm mại và hơi buồn hơn Ngâm.
– Tẩu Mã.
Là một dạng đặc biệt sinh ra từ hát Khách([11]) trong nghệ thuật sân khấu Tuồng. Tẩu Mã trong Hát Bả trạo được hát với nhịp độ nhanh hơn, vì thường được dùng khi có tình tiết thuyền gặp nạn, trước lúc lâm nguy khi phát hiện có hiện tượng dông bão sắp ập đến. Tính chất âm nhạc trong sáng, mạnh mẻ, thể hiện tinh thần khẩn cấp, hoảng sợ của nhân vật.
Lời ca trong Tẩu Mã thuộc thể thơ bảy chữ, câu chữ vừa là ngôn ngữ gốc Hán Nôm, vừa là Quốc Ngữ.
Tẩu Mã là làn điệu mở đầu cho yếu tố kịch tính trong vở diễn.
Nhịp độ của lối hát này tương đối nhanh và dằn mạnh vào từng âm để thể hiện tinh thần khẩn cấp, kêu gọi.
Lối hát này được đối thoại xen kẽ với nói lối Kẻ do một mình nhân vật tổng Thương đảm nhiệm (một câu Tẩu Mã rồi đến một câu nói Kẻ).
– Phú lăn.
Phú Lăn([12]) trong Hát Bả trạo ở Hội An được hát lúc tâm trạng hoảng hốt, bối rối,…của tổng Thương.
Lời ca của Phú Lăn không theo một niêm luật thơ cố định, ngôn ngữ chủ yếu gốc Hán Nôm.
Sau làn điệu Tẩu Mã độc thoại của tổng Thương, Phú Lăn là làn điệu được dùng đối thoại giữa tổng Thương và tổng Lái, cuộc hỏi – đáp giữa hai Tổng khi thuyền đã lâm nguy.
– Hát Nam.
Hát Nam trong Hát Bả trạo không hoàn toàn giống Hát Nam trong Hát Bộ, vì nó mang một dáng dấp hoàn toàn mới, đa dạng hơn.
+ Nếu như trong Hát Bộ, “câu Nam” được nối và “xuống Nam” sau một câu Nói lối([13]), thì trong Hát Bả trạo được hát riêng rẽ từng trổ nhạc theo thể thơ Lục Bát hoặc Song Thất.
+ Một điều đặc biệt là “Hát Nam” trong Hát Bả trạo ở Hội An đa phần được hát như một thể loại Hò. Ví dụ sau một câu Hát Nam thì có con trạo hò theo.
+ Hát Nam đôi khi cũng được hát xen kẽ với các lối hát khác.
– Hát Nam thường về âm gốc, chữ thơ cuối cùng mang “dấu huyền” nhưng đôi khi Hát Nam lại về âm quãng 5 trên, chữ thơ cuối cùng “không dấu”.
Âm nhạc trong Hát Bả trạo ở Hội An – Quảng Nam
Âm nhạc trong Hát Bả trạo ở Hội An – Quảng Nam
Âm nhạc trong Hát Bả trạo ở Hội An – Quảng Nam
F:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2015\LUAN VAN (Hoang Dinh Phuong)\LUAN VAN HOANG DINH PHUONG\Luan van tom tat


