Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của hệ thuật ngữ khoa học giáo dục

Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của hệ thuật ngữ khoa học giáo dục

Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của hệ thuật ngữ khoa học giáo dục

1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Cùng với sự phát triển của giáo dục, không thể không đề cập đến sự phát triển của ngôn ngữ ở Việt Nam, đặc biệt là sự phát triển của thuật ngữ giáo dục trong tiếng Việt.

Tuy nhiên, hiện nay dường như chưa có đề tài nào nghiên cứu về đặc điểm ngôn ngữ của thuật ngữ khoa học giáo dục. Chính vì vậy, luận văn này sẽ đi sâu tìm hiểu về đặc điểm của thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt, qua đó góp phần vào quá trình xây dựng, chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ này nói riêng và hệ thống thuật ngữ tiếng Việt nói chung, thúc đẩy sự phát triển của giáo dục, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Với tính cấp thiết trên, chúng tôi chọn và nghiên cứu đề tài “Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của hệ thuật ngữ khoa học giáo dục”.

2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

3.1. Chúng tôi miêu tả đặc điểm của thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt gồm đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa.

3.2. Khái quát hóa những lí luận chung về đặc điểm của thuật ngữ khoa học giáo dục qua đó có những đề xuất, những phương hướng, cách thức xây dựng, cũng như những định hướng để chuẩn hóa hệ thuật ngữ khoa học này.

4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt, xét trên hai bình diện nghiên cứu sau: đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ đi vào nghiên cứu đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa của thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt trên các khía cạnh: cấu trúc thuật ngữ khoa học giáo dục là từ, thuật ngữ khoa học giáo dục là cụm từ; lí do định danh và phương thức định danh của thuật ngữ khoa học giáo dục.

5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN TƯ LIỆU

5.1 Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp miêu tả dùng để miêu tả các con đường hình thành thuật ngữ, các mô hình cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa của thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt.

– Thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp nhằm xác định và phân tích đơn vị cơ sở cấu tạo thuật ngữ, thủ pháp này được áp dụng để tìm hiểu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ.

– Thủ pháp thống kê nhằm xác định số liệu thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt.

5.2. Nguồn tư liệu

Luận văn nghiên cứu các thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt có trong cuốn “Từ điển giáo dục học” của Nhà xuất bản Khoa học và Kĩ thuật (2015) do Bùi Hiển chủ biên, các thuật ngữ có trong các Luật: Luật giáo dục năm 2005, Luật dạy nghề năm 2006, Luật giáo dục Đại học năm 2012, Luật giáo dục Nghề nghiệp năm 2014.

6. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

– Luận văn có thể cung cấp một bức tranh cơ bản về thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt.

– Góp phần bổ sung, mở rộng những vấn đề về thuật ngữ học trên cơ sở ngữ liệu thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt.

– Luận văn có thể là tài liệu tham khảo có ích cho đội ngũ các thầy cô giáo làm công việc giảng dạy tại các trường học ở các cấp học; cho đội ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý giáo dục tại các đơn vị hành chính cấp phường, quận, thành phố.

7. BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm:

Chương 1. Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài.

Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt

Chương 3: Đặc điểm định danh của thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CÓ LIÊN QUAN

1.1. Một số vấn đề về từ và cụm từ tiếng Việt

1.1.1. Từ tiếng Việt

1.1.1.1. Các quan niệm khác nhau về từ trong tiếng Việt

1.1.1.2. Đặc điểm ngữ pháp của từ tiếng Việt

1.1.2. Cụm từ trong tiếng Việt

1.1.2.1. Khái niệm cụm từ:

1.1.2.2. Các loại cụm từ:

1.1.2.3. Đặc điểm của cụm từ chính phụ

1.2. Những vấn đề về thuật ngữ

1.2.1 Đặc điểm của từ vựng chuyên ngành

Thuộc khối từ vựng chuyên ngành là tất cả các đơn vị từ vựng biểu thị hoạt động chuyên môn nghề nghiệp của con người.

1.2.2. Khái niệm thuật ngữ

1.2.2.1. Định nghĩa thuật ngữ gắn với chức năng

Định nghĩa thuật ngữ gắn với chức năng là xu hướng của các nhà khoa học người Nga như: N.P.Kuzkin, G.O. Vinokur, V.V.Vinogradov…. Theo N.P.Kuzkin “…Nếu như từ thông thường, từ phi chuyên môn tương ứng với đối tượng thông dụng thì từ của vốn thuật ngữ lại tương ứng với đối tượng chuyên môn mà chỉ có một số lượng hạn hẹp các chuyên gia biết đến” [dẫn theo 42, tr.29]. V.V.Vinôgrađốp thì cho rằng “Trước hết từ thực hiện chức năng định danh, nghĩa là hoặc nó là phương tiện biểu thị, lúc đó nó chỉ là một kí hiệu giản đơn, hoặc nó là phương tiện của định nghĩa logic, lúc đó nó là thuật ngữ khoa học” [dẫn theo 39, tr.29].

Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của hệ thuật ngữ khoa học giáo dục
Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của hệ thuật ngữ khoa học giáo dục

1.2.2.2. Định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm

Ở Việt Nam, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về thuật ngữ gắn với khái niệm như Nguyễn Văn Tu, Lưu Vân Lăng, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp.

Trong luận văn này, chúng tôi tiếp thu định nghĩa thuật ngữ trong cuốn Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học của Nguyễn Thiện Giáp khi nghiên cứu thuật ngữ khoa học giáo dục: “Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ. Nó bao gồm những từ và cụm từ cố định là tên gọi chính xác của các loại khái niệm và đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người.” [11 , tr 485]

1.2.3. Các thuộc tính bắt buộc phải có khu biệt thuật ngữ với các đơn vị từ vựng phi thuật ngữ

Về hình thức hay “cái biểu hiện” của thuật ngữ là từ hoặc ngữ cố định. Do đó, những “cái biểu hiện” có dạng câu (cấu trúc C-V) đều không phải là thuật ngữ. Ngoài ra, “cái biểu hiện” của thuật ngữ cũng phải có tính hệ thống về mặt cấu tạo. Đối với các từ ngữ phi thuật ngữ thì tính hệ thống về mặt cấu tạo nói chung không phải bắt buộc và cũng khó có thể có.

Về nội dung hay “cái được biểu hiện” của thuật ngữ có thể là khái niệm hoặc đối tượng được sử dụng trong phạm vi một lĩnh vực khoa học hay chuyên môn nhất định.

Liên quan đến thuộc tính của thuật ngữ, còn có một khái niệm khác để làm rõ hơn thuật ngữ, đó chính là danh pháp khoa học. Danh pháp khoa học và thuật ngữ không phải là một. Ngoài ra để làm rõ hơn thuộc tính của thuật ngữ, chúng ta cần phân biệt nó với từ nghề nghiệp.

Chúng tôi xin đề xuất một định nghĩa về thuật ngữ như sau: Thuật ngữ là từ ngữ biểu thị khái niệm hoặc biểu thị đối tượng trong phạm vi một lĩnh vực khoa học công nghệ hoặc chuyên môn.

1.2.4. Tiêu chuẩn của thuật ngữ

1.2.4.1. Tính khoa học

Tính khoa học của thuật ngữ bao gồm tính chính xác và tính hệ thống.

a. Tính chính xác

Để phản ánh được chính xác khái niệm, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, thuật ngữ cần có tính một nghĩa, không nên có hiện tượng đồng nghĩa.

b. Tính hệ thống

Các thuật ngữ không thể đứng biệt lập một mình mà bao giờ cũng là yếu tố của một hệ thống thuật ngữ nhất định. Về mặt hình thức, tính hệ thống của thuật ngữ thể hiện sự lệ thuộc lẫn nhau của các hình thái ngữ pháp phát sinh trong việc cấu tạo và biến đổi từ.

1.2.4.2. Tính quốc tế

Thuật ngữ phải biểu đạt được khái niệm theo cách mà giới chuyên môn của các quốc gia đều có thể hiểu được. Đó chính là tính quốc tế của thuật ngữ.

Tính quốc tế của thuật ngữ không chỉ thể hiện ở mặt ngữ nghĩa mà còn thể hiện ở mặt hình thức, trước hết ở mặt ngữ âm và các hình vị cấu tạo nên thuật ngữ.

1.2.4.3. Tính dân tộc

Tính dân tộc của thuật ngữ, theo các nhà nghiên cứu ở Việt Nam, thể hiện ở hình thức của thuật ngữ, cụ thể là ở từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp. Về mặt ngữ âm, chữ viết: cách phát âm và chữ viết phải phù hợp với đặc điểm tiếng nói và chữ viết của tiếng Việt; về mặt từ vựng: các yếu tố cấu tạo nên thuật ngữ là từ thuần Việt hoặc được Việt hoá; về mặt ngữ pháp: cách sắp xếp trật tự các yếu tố trong thuật ngữ phải theo cú pháp tiếng Việt.

1.2.5. Phương thức xây dựng thuật ngữ

1.2.5.1. Phương thức thuật ngữ hóa từ thông thường

Con đường thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường là con đường biến đổi và phát triển nghĩa của một từ để tạo ra một nghĩa mới (nghĩa thuật ngữ).

1.2.5.2. Phương thức sao phỏng và dịch nghĩa

Phương thức sao phỏng là phương thức sử dụng những yếu tố và mô hình cấu tạo của từ vựng tiếng Việt để dịch nghĩa những thuật ngữ tương ứng trong tiếng nước ngoài. Ví dụ: Cầu truyền hình là sự sao phỏng của TV bridge, trong đó truyền hình tương ứng với TV, còn cầu tương ứng với bridge.

1.2.5.3. Phương thức tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài

Những thuật ngữ nước ngoài thường được tiếp nhận vào tiếng Việt dưới ba hình thức: phiên âm, chuyển tự và nguyên dạng.

Ví dụ: maketting, radio, menu, file, hacker, website…

1.3. Ngành giáo dục Việt Nam và thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt

1.3.1. Giới thiệu về nền giáo dục Việt Nam

Trong luận văn này, chúng tôi đề cập đến khoa học giáo dục cũng chính là đề cập đến lĩnh vực giáo dục học. Đơn thuần về khái niệm Giáo dục học tự bản thân nó được hiểu như sau: Giáo dục học là khoa học nghiên cứu về việc giáo dục con người, về sự hình thành nhân cách con người một cách có mục đích trong quá trình tác động qua lại giữa người giáo dục và người được giáo dục. [29, tr.39].

1.3.2. Thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt

Chúng tôi xác định: thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt là những từ ngữ biểu thị khái niệm hoặc đối tượng nhất định thuộc lĩnh vực giáo dục học. Đó chính là những thuật ngữ của ngành khoa học nghiên cứu về việc giáo dục con người, về sự hình thành nhân cách con người một cách có mục đích trong quá trình tác động qua lại giữa người giáo dục và người được giáo dục, là những thuật ngữ về những tri thức về khái niệm, tính chất, đặc điểm về tổ chức hoạt động trong việc giáo dục con người.

1.4. Tiểu kết

Trong chương 1, chúng tôi đã hệ thống hóa các vấn đề lí luận sau: khái niệm thuật ngữ, tiêu chuẩn của thuật ngữ, các phương thức tạo lập thuật ngữ, phân biệt thuật ngữ với một số khái niệm liên quan như danh pháp, từ nghề nghiệp. Thuật ngữ có các tiêu chuẩn đó là: tính khoa học, tính quốc tế và tính dân tộc. Phương thức xây dựng thuật ngữ gồm có: thuật ngữ hóa từ thông thường; sao phỏng và dịch nghĩa và tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài.

CHƯƠNG 2

ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA THUẬT NGỮ

KHOA HỌC GIÁO DỤC TIẾNG VIỆT

2.1. Yếu tố cấu tạo của thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt

Khi phân tích, miêu tả đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ, cần xét đến yếu tố cơ sở để cấu tạo thuật ngữ. Khái niệm “yếu tố cấu tạo thuật ngữ” có hai quan niệm khác nhau:

Quan niệm thứ nhất được đại diện bởi các tác giả như Nguyễn Văn Tu, Hoàng Văn Hành, Lê Khả Kế, Nguyễn Thiện Giáp…. Các tác giả này cho rằng mỗi yếu tố cấu tạo thuật ngữ là một chữ hay một âm tiết. Ví dụ, theo quan niệm này, thuật ngữ “bảng biểu giáo khoa” trong thuật ngữ giáo dục sẽ gồm bốn yếu tố là bảng, biểu, giáo, khoa.

Quan niệm thứ hai là của các nhà ngôn ngữ học người Nga. Quan điểm của các tác giả này cho rằng yếu tố (cấu tạo) thuật ngữ có thể là hình vị trong từ đơn, là từ (thậm chí là kết hợp từ) trong thuật ngữ là từ ghép hay từ tổ. Thuật ngữ có thể gồm một từ hay hơn một yếu tố cấu tạo. Mỗi yếu tố thuật ngữ tương ứng với một khái niệm hay tiêu chí của khái niệm trong lĩnh vực chuyên môn nào đó.

Nguyễn Đức Tồn đã tiếp thu quan điểm của các nhà ngôn ngữ học Nga, ông gọi đơn vị cơ sở để cấu tạo thuật ngữ tiếng Việt là thuật tố, đây chính là thành tố cấu tạo trực tiếp cuối cùng của một thuật ngữ.

2.2. Thuật ngữ khoa học giáo dục là từ

2.2.1. Thuật ngữ khoa học giáo dục là từ đơn

Dựa trên lý thuyết về từ đơn nêu trên, qua khảo sát, chúng tôi thống kê có 13/249 đơn vị, chiếm 5,3% thuật ngữ giáo dục học là từ, chiếm tỉ lệ khá ít ỏi.

Ví dụ: dạy, giỏi, học, khóa, lớp, thi, ưu, phòng, khoa, trường, đỗ, vớt, điểm.

2.2.2. Thuật ngữ khoa học giáo dục là từ ghép

Trong số 249 thuật ngữ khoa học giáo dục là từ, số lượng thuật ngữ là từ ghép chiếm số lượng hầu như tuyệt đối: 236 đơn vị (chiếm 94,7%). Trong các thuật ngữ khoa học giáo dục là từ ghép, có 10 thuật ngữ là từ ghép đẳng lập, còn lại đa số đều là từ ghép chính phụ với số lượng 226 thuật ngữ.

Ví dụ: nghe nhìn, chuyển đổi, biên soạn, hưng phấn, hứng thú, khen thưởng, luyện tập… (từ ghép đẳng lập); học vị, học viên, sư phạm, nội trú, tuyển sinh, giáo sư, hàm thụ, hành nghề, hiệu trưởng, dân lập, học bổng… (từ ghép chính phụ)

2.3. Thuật ngữ khoa học giáo dục là cụm từ

2.3.1. Thuật ngữ khoa học giáo dục là cụm từ hai thuật tố

2.3.1.1. Về từ loại và mô hình cấu tạo

Ví dụ: Danh từ: Bài kiểm tra, ban giám hiệu, bản đồ giáo khoa, bằng cử nhân… Động từ: Bồi dưỡng nhân tài, hoàn thiện nhân cách, cách tân giáo dục… Tính từ: vô ý thức, vô giáo dục, thiểu năng trí tuệ…

2.3.1.2. Về nguồn gốc

Ví dụ: Thuần Việt: Điểm kiểm tra, điều lệ nhà trường, cụ thể hóa, đạt yêu cầu, học tập suốt đời, học trước tuổi, lớp dạy nghề…

Hán Việt: Đo đạc tâm lí, phương pháp diễn dịch, quản lí giáo dục, phong cách sư phạm, nha học đường, nghiên cứu thực nghiệm…

TV- HV: phân luồng học sinh (TV+HV), phụ cấp lên lớp (HV+TV), nhà trường sư phạm (TV+HV), nghiên cứu bổ dọc (HV+TV)…

2.3.2. Thuật ngữ khoa học giáo dục là cụm từ ba thuật tố

2.3.2.1. Về từ loại và mô hình cấu tạo

Ví dụ: Danh từ: Bằng tốt nghiệp đại học, chính sách cấp học bổng, tài chính của nhà trường…Động từ: Hướng dẫn nghiên cứu khoa học, thiết kế giờ lên lớp…

Bảng 2.4. Các mô hình cấu tạo của thuật ngữ ba thuật tố

Mô hình cấu tạoSố lượngTỉ lệ (%)
Mô hình 18656,5
Mô hình 25737,5
Mô hình 3042,7
Mô hình 4053,3
Tổng152100

2.3.2.2. Về nguồn gốc

Ví dụ: Ghép lai giữa các yếu tố Thuần Việt, Hán Việt, Ấn Âu: Người hướng dẫn khoa học (TV+TV+HV), tôn vinh nghề dạy học (HV+TV+TV)… Hán Việt: lí luận dạy học thực nghiệm, kế hoạch giáo dục mầm non, yếu tố phát triển tâm lí, viện khoa học giáo dục,…

2.3.3. Thuật ngữ khoa học giáo dục là cụm từ bốn thuật tố

2.3.3.1. Về từ loại và mô hình cấu tạo

Ví dụ: Danh từ: Bằng tốt nghiệp trung học phổ thông, cơ sở giáo dục đại học tư thục… Động từ: Bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm, khuyến khích đầu tư cho giáo dục…

Bảng 2.5. Các mô hình cấu tạo của thuật ngữ bốn thuật tố

Mô hình cấu tạoSố lượngTỉ lệ (%)
Mô hình 11929,3
Mô hình 20913,8
Mô hình 31929,3
Mô hình 40913,8
Mô hình 5046,2
Mô hình 6023
Mô hình 7011,6
Mô hình 8023
Tổng65100

2.3.2.2. Về nguồn gốc

Ví dụ: Ghép lai giữa các yếu tố Thuần Việt, Hán Việt, Ấn Âu: Ý thức tự giác trong học tập (HV+HV+TV+HV), trường dành cho người tàn tật (HV+TV+TV+HV,) đánh giá luận án ở bộ môn (HV+HV+TV+HV)… Hán Việt: Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, hội đồng khoa học và đào tạo, huy chương vì sự nghiệp giáo dục, quản lí chất lượng giáo dục đại học, cơ sở giáo dục đại học tư thục…

2.3.4. Thuật ngữ khoa học giáo dục là cụm từ năm thuật tố

2.3.4.1. Về từ loại và mô hình cấu tạo

Ví dụ: Danh từ: Hội đồng chấm luận án cấp nhà nước, trường của lực lượng vũ trang nhân dân…Động từ: Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trao đổi học thuật theo hình thức tự túc…

Bảng 2.6. Các mô hình cấu tạo của thuật ngữ năm thuật tố

Mô hình cấu tạoSố lượngTỉ lệ (%)
Mô hình 10633,3
Mô hình 20211,1
Mô hình 30316,7
Mô hình 40211,1
Mô hình 50316,7
Mô hình 60211,1
Tổng18100

2.3.4.2. Về nguồn gốc

Ví dụ: Hán Việt: Văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục… Ghép lai: Chương trình bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề (HV+HV+TV+HV+TV), công nhân kỹ thuật có tay nghề cao (HV+HV+TV+TV+TV)…

2.3.5. Thuật ngữ khoa học giáo dục là cụm từ từ sáu thuật tố trở lên

2.3.5.1. Về từ loại

Ví dụ: Danh từ: Người theo học các khóa đào tạo nghiệp vụ sư phạm, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt… Động từ: Tự chủ và tự chịu trách nhiệm của trường cao đẳng, ứng dụng khoa học công nghệ trong lĩnh vực giáo dục…

2.3.5.2. Về nguồn gốc

Ví dụ: Ghép lai các thuật tố Hán Việt và thuần Việt: Mục tiêu của giáo dục đại học và sau đại học (HV+TV+HV+HV+TV+TV+HV), cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài (HV+HV+HV+TV+HV+HV+HV)… Hán Việt: Hội đồng quốc gia thẩm định chương trình giáo dục mầm non.

2.4. Tiểu kết

Chương 2 của luận văn đã trình bày đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ khoa học giáo dục. Thuật ngữ khoa học giáo dục có thể là từ (từ đơn, từ ghép) hoặc cụm từ, trong đó thuật ngữ là từ chiếm số lượng ít hơn so với thuật ngữ là cụm từ, với 249/917 thuật ngữ (27,15%), còn lại đại đa số các thuật ngữ khoa học giáo dục là cụm từ 668/917 (72,85%).

Thuật ngữ khoa học giáo dục là cụm từ có thể có từ hai đến nhiều thuật tố (tối đa 11 thuật tố). Điều này cũng phản ánh một thực trạng của thuật ngữ khoa học giáo dục, đó là vấn đề đặt độ dài của thuật ngữ. Về mặt nội dung ý nghĩa chuyên môn mà thuật ngữ khoa học giáo dục là cụm từ biểu thị thì lại rất rõ ràng và chính xác. Về cấu tạo, đa số các thuật ngữ khoa học giáo dục là danh từ hoặc cụm danh từ (691/917 thuật ngữ, chiếm 75,3%).

Về nguồn gốc, các thuật ngữ khoa học giáo dục chủ yếu được tạo thành từ các thuật tố có nguồn gốc Hán Việt và ghép lai giữa các thuật tố thuần Việt, Hán Việt.

Số lượng thuật ngữ có nguồn gốc Hán Việt hoặc ghép lai yếu tố thuần Việt và Hán Việt có số lượng lớn với 830 đơn vị, chiếm tới 90,5%.

CHƯƠNG 3

ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH

CỦA THUẬT NGỮ KHOA HỌC GIÁO DỤC TIẾNG VIỆT

3.1. Một số vấn đề về lí thuyết định danh

3.1.1. Khái niệm định danh

Có nhiều định nghĩa khác nhau về định danh song chúng tôi nhận thấy rằng các tác giả đều nhất quán ở quan niệm xem định danh là chức năng gọi tên sự vật, hiện tượng. Chúng tôi thống nhất với định nghĩa này và sẽ sử dụng cách định nghĩa này xuyên suốt trong luận văn.

3.1.2. Đơn vị định danh

Đơn vị định danh tối thiểu là từ (thực từ), đơn vị định danh lớn hơn là các cụm từ (ngạn ngữ là câu, không phải cụm từ nên không phải là đơn vị định danh). Nếu đơn vị định danh là cụm từ thì cụm từ có cấu tạo như thế nào thì có chức năng định danh và các thuật ngữ là cụm từ thì phải đáp ứng tiêu chuẩn nào để có thể định danh. Thường thì có sự tương ứng một – một về cấu tạo đơn vị với việc định danh thuật ngữ, mỗi đặc điểm định danh bao giờ cũng có một yếu tố hình thức thể hiện nó và một thuật ngữ có bao nhiêu thuật tố sẽ có bấy nhiêu thuộc tính được định danh.

3.1.3. Cơ chế định danh

Quá trình định danh một sự vật, tính chất hay quá trình gồm hai bước: quy loại khái niệm và chọn đặc trưng khu biệt mà các khái niệm và đặc trưng khu biệt này đã có tên gọi hay phương tiện ngôn ngữ biểu hiện. Sau đó, dùng các phương thức cấu tạo từ để kết hợp các phương tiện ngôn ngữ này để tạo ra các đơn vị định danh. Nếu một trong hai bước này mà có “biến thể” thì một sự vật hay quá trình sẽ mang tên gọi khác nhau, tức là xuất hiện các tên gọi đồng nghĩa. Chẳng hạn, sự quy loại khác nhau dẫn đến cách gọi khác nhau đối với cùng một phương tiện giao thông: “tàu hỏa” và “xe hỏa”; “máy bay” và “tàu bay”…

3.2. Đặc điểm định danh của hệ thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt

3.2.1. Con đường hình thành thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt

3.2.1.1. Thuật ngữ hóa từ thường

Con đường thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường là con đường biến đổi và phát triển nghĩa của từ để tạo ra một nghĩa mới (nghĩa thuật ngữ).

Các thuật ngữ khoa học giáo dục được hình thành theo con đường thuật ngữ hóa từ thông thường theo ba cách sau:

Thứ nhất là giữ nguyên hình thái và ngữ nghĩa của từ ngữ thông thường rồi thu hẹp phạm vi hoạt động của chúng, thứ hai là giữ nguyên hình thái của từ ngữ thông thường nhưng thu hẹp nghĩa của chúng, thứ ba là giữ lại hình thái của từ thông thường nhưng chuyển nghĩa dựa trên mối quan hệ tương đồng (theo phép ẩn dụ) về những thuộc tính của sự vật, quá trình được từ ngữ biểu thị.

Ví dụ: Vô tuyến truyền hình trong giáo dục, chương trình xóa mù chữ,ban đại diện cha mẹ học sinh, bài tập làm văn, liên thông…

3.2.1.2. Cấu tạo mới

Con đường hình thành thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt bằng cách cấu tạo mới chủ yếu là ghép các yếu tố ngôn ngữ sẵn có. Yếu tố sẵn có trước hết là các từ thông thường.

Ví dụ: Ngân sách giáo dục, phụ cấp lên lớp, quản lí nhà trường, copi bài, thi Olimpic, tư duy logic, modun học tập …

Con đường hình thành thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt bằng cách cấu tạo mới không chỉ sử dụng yếu tố sẵn có là các từ thông thường trong vốn từ toàn dân mà còn sử dụng yếu tố sẵn có là các thuật ngữ của chính ngành khoa học giáo dục và thuật ngữ tiếng Việt của một số ngành khoa học khác. Con đường hình thành thuật ngữ khoa học giáo dục bằng cách cấu tạo mới còn theo lối ghép lai.

3.2.1.3. Vay mượn từ thuật ngữ nước ngoài

a. Sao phỏng

Sao phỏng, thực chất của phương thức này là sử dụng những yếu tố và mô hình cấu tạo từ vựng tiếng Việt để dịch nghĩa những thuật ngữ tương ứng trong tiếng nước ngoài. Thuật ngữ nước ngoài được sử dụng trong tiếng Việt theo phương thức sao phỏng cấu tạo từ và sao phỏng ý nghĩa.

Ví dụ: Giáo dục cộng đồng là sự sao phỏng của community college/ education, Bộ trưởng bộ giáo dục và đào tạo là sự sao phỏng của Minister of Education and Training.

b. Phiên âm

Phiên âm là phương thức vay mượn từ vựng bằng cách dựa trên (phỏng theo) âm đọc của từ tiếng nước ngoài để ghi lại từ đó bằng cách đọc, cách viết của tiếng Việt. Thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt được vay mượn bằng hình thức phiên âm chiếm tỉ lệ rất ít trong hệ thống thuật ngữ này.

Ví dụ: tiếng Anh: copy, tiếng Việt: cốp pi, cóp pi.

c. Giữ nguyên dạng

Cách vay mượn này sử dụng nguyên cách viết đơn vị từ vựng của tiếng nước ngoài còn cách đọc thì cố gắng đọc sát với các đọc nguyên ngữ. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy cách vay mượn này trong thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt cũng không phổ biến, chiếm tỉ lệ rất ít.

Ví dụ: Test (kiểm tra) trong làm bài test.

Trong 917 thuật ngữ chúng tôi khảo sát, phần lớn thuật ngữ có nguồn gốc là từ Hán-Việt

3.2.1.4. Tiếp nhận thuật ngữ từ các ngành khoa học khác trong tiếng Việt

Sự có mặt của các thuật ngữ của các ngành khoa học khác trong thuật ngữ khoa học giáo dục là điều hiển nhiên.

Quá trình tiếp nhận thuật ngữ từ các ngành khác của khoa học giáo dục diễn ra theo hai cách thức.

Một là tiếp nhận thuật ngữ của các ngành khác mà không làm thay đổi ngữ nghĩa của chúng, hai là giữ nguyên hình thái nhưng thay đổi ngữ nghĩa của thuật ngữ được tiếp nhận từ ngành khác.

Ví dụ: Các thuật ngữ tiếp nhận từ ngành tâm lí học: “ hư”, “khuyết tật”, “cá biệt”, “hành vi vô đạo đức”, “xâm phạm thân thể”, “chậm phát triển trí tuệ”, “yếu tố phát triển tâm lí”, “tâm sinh lí lứa tuổi”, “tác động tâm lí” ‘thiểu năng trí tuệ”…; các thuật ngữ tiếp nhận từ ngành hành chính công vụ: “phát triển nguồn nhân lực”, “kiến thức quốc phòng an ninh”, “quản lí nhà nước”, “sự kiểm định chất lượng”, “ngạch công chức”, “ngạch viên chức”, “hành vi vi phạm pháp luật”, bộ Giáo dục và Đào tạo”, “trung tâm đa phương tiện”…; các thuật ngữ tiếp nhận từ ngành Kinh tế học: “dữ liệu định lượng”, “dữ liệu định tính”, “phát triển nguồn nhân lực”, “phụ cấp”,“nguồn lực”, “tài trợ”, “tài chính”, “tài sản”…

Như vậy có thể thấy, thực tế luôn tồn tại quá trình giao thoa, “xâm lấn” giữa các con đường hình thành thuật ngữ khoa học giáo dục. Sự thâm nhập ấy là đương nhiên và hiển nhiên, khiến cho việc xác định những con đường hình thành thuật ngữ khoa học giáo dục mang tính chất tương đối.

3.2.2. Các đơn vị định danh của thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt

Xét về mặt nội dung biểu đạt của thuật ngữ khoa học giáo dục, chúng tôi chia các thuật ngữ được khảo sát thành hai loại: loại thứ nhất là từ, chúng là các thuật ngữ một thuật tố. Loại thứ hai được tạo ra từ loại thứ nhất. Chúng tôi gọi thuật ngữ loại thứ hai là thuật ngữ thứ cấp. Chúng có nhiệm vụ miêu tả đặc điểm, tính chất, thuộc tính cơ bản của những khái niệm, thuộc tính, đối tượng, phương pháp của khoa học giáo dục.

3.2.3. Đặc điểm định danh của thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt xét theo kiểu ngữ nghĩa

Về đặc điểm định danh của tên gọi xét theo kiểu ngữ nghĩa, có thể phân biệt tên gọi trực tiếp – tên gọi gián tiếp; tên gọi rộng – tên gọi hẹp.

Tư liệu thực tế cho thấy, hầu như 917 thuật ngữ khoa học giáo dục đều là những đơn vị định danh trực tiếp. Những thuật ngữ khoa học giáo dục là đơn vị định danh gián tiếp, tức nghĩa của thuật ngữ là là ý nghĩa chuyển của từ toàn dân được thuật ngữ hóa, hầu như không đáng kể.

Xét theo khía cạnh thứ hai, có thể thấy rằng vì thuật ngữ biểu hiện khái niệm trong một lĩnh vực khoa học hay chuyên môn nên ý nghĩa của nó luôn được chính xác hóa.

Ví dụ: Bài giảng, sinh viên, trường tiểu học, trường trung học phổ thông, phương pháp giảng dạỵ, bằng trung học phổ thông, nhiệm vụ và quyền của nhà giáo, bậc sau đại học, quỹ bảo trợ giáo dục, Sở Giáo dục và Đào tạo…

Có thể rút ra nhận xét, xét theo kiểu ngữ nghĩa, các thuật ngữ đặc thù của khoa học giáo dục trong tiếng Việt đại bộ phận là những đơn vị định danh trực tiếp khái niệm hoặc đối tượng. Nếu một thuật ngữ nào đó được tạo ra bằng từ toàn dân thì từ toàn dân này được thuật ngữ hóa bằng cách thu hẹp nghĩa là chủ yếu, còn số thuật ngữ được tạo ra theo con đường mở rộng nghĩa hoặc chuyển nghĩa theo ẩn dụ hay hoán dụ từ toàn dân thì không đáng kể.

3.2.4. Đặc điểm định danh của thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt xét theo cách thức biểu thị

Có thể xét thuật ngữ khoa học giáo dục từ phương diện cách thức biểu thị khái niệm theo 3 tiêu chí sau: (1) Mối liên hệ giữa cấu trúc bên ngoài và ý nghĩa của thuật ngữ (theo tính có lí do), (2) mức độ kết thành một khối hay có thể phân tích thành từng bộ phận của thuật ngữ, (3) dấu hiệu đặc trưng được lựa chọn làm cơ sở cho định danh (hình thái bên trong).

Nếu xét đặc điểm định danh theo hai tiêu chí đầu (1) Mối liên hệ giữa cấu trúc bên ngoài và ý nghĩa của thuật ngữ (theo tính có lí do), (2) Mức độ kết thành một khối hay có thể phân tích thành từng bộ phận của thuật ngữ thì hệ thuật ngữ khoa học giáo dục thể hiện rõ tính phân tích và do đó có thể thấy rõ lí do định danh.

Qua tư liệu khảo sát, chúng tôi xác định thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt được thể hiện ở các lĩnh vực của khoa học giáo dục Việt Nam mà trong phạm vi hẹp là giáo dục học bao gồm: hệ thống giáo dục quốc dân, công tác quản lí giáo dục, tâm lí giáo dục, giáo dục nhà trường, hoạt động của giáo viên và người học. Như vậy, trong chương 3, chúng tôi mô tả mô hình định danh của 668 thuật ngữ có từ 02 thuật tố trở lên, mà không mô tả thuật ngữ là từ (thuật ngữ 01 thuật tố). Chúng tôi kí hiệu X là đặc trưng được chọn làm cơ sở định danh trong các mô hình định danh.

3.2.4.1. Đặc điểm định danh của thuật ngữ khoa học giáo dục trong lĩnh vực hệ thống giáo dục quốc dân

Trong hệ thống giáo dục quốc dân có những những đối tượng, khái niệm sau được định danh, đó là: các loại hình giáo dục đào tạo; các đơn vị, tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục đào tạo; các tập thể, cá nhân thực hiện quá trình đào tạo; các đặc điểm, hoạt động trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Ví dụ: Giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học, tổ chức bộ máy nhà trường, tổ chức bộ máy giáo dục, đại học quốc gia, đại học dân lập, hội đồng đào tạo, hội đồng nhà trường, hội đồng sư phạm, viện hàn lâm khoa học, cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, người có nhiều công lao đối với sự nghiệp giáo dục,

3.2.4.2. Đặc điểm định danh của thuật ngữ khoa học giáo dục trong lĩnh vực quản lí giáo dục

Công tác quản lí giáo dục là những hoạt động của chủ thể quản lí giáo dục tác động đến đối tượng được quản lí; cách thức tổ chức các hoạt động quản lí giáo dục; các tiêu chuẩn, tiêu chí, mục tiêu của quản lí giáo dục để hệ thống giáo dục được vận hành tốt, có hiệu quả.

Ví dụ: Quản lí giáo dục, quản lí lớp, quản lý người học, quản lí nhà trường, liên thông giữa các môn học, phát triển con người, phát triển tư duy sáng tạo, liên kết đào tạo với nước ngoài , phân tích chi phí giáo dục, thương mại hóa giáo dục…

3.2.4.3. Đặc điểm định danh của thuật ngữ khoa học giáo dục trong lĩnh vực tâm lí giáo dục.

Tâm lí giáo dục là một bộ phận của khoa học giáo dục, bởi quá trình giáo dục, đào tạo có sự tác động giữa chủ thể và đối tượng được tác động. Trong khuôn khổ các thuật ngữ khảo sát, các thuật ngữ chỉ tâm lí học giáo dục chủ yếu trong nguồn tư liệu là chỉ các khái niệm chung về tâm lí học giáo dục, tâm sinh lí lứa tuổi học sinh.

Ví dụ: Yếu tố phát triển tâm lí, tác động tâm lí, hiện tượng tâm lí, cơ chế tâm lí, năng lực cá nhân, học sinh cá biệt, học sinh chậm tiến, học sinh dự thính, học sinh khuyết tật ….

3.2.3.4. Đặc điểm định danh của thuật ngữ khoa học giáo dục trong lĩnh vực giáo dục nhà trường.

Lĩnh vực giáo dục nhà trường là tất cả các hoạt động giáo dục đào tạo của các loại hình nhà trường theo phương pháp, chính sách, chương trình đặt ra nhằm đạt được mục tiêu giáo dục.

Ví dụ: Phương pháp dạy học tình huống, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp nêu vấn đề,sư phạm người lớn, sư phạm tích hợp, sư phạm theo dự án, sư phạm theo hợp đồng, sư phạm bổ cứu…

3.2.3.5. Đặc điểm định danh của thuật ngữ khoa học giáo dục trong lĩnh vực hoạt động giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của người học.

Công tác giảng dạy của giáo viên là hệ thống phương pháp giảng dạy tác động đến người học nhằm truyền đạt kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm bằng cách sử dụng công cụ, phương tiện dạy học. Hoạt động của người học được thực hiện dưới sự tác động của nhà trường và giáo viên.

Ví dụ: Bài kiểm tra, bài tập làm văn, sách tham khảo, sách giáo khoa, phương tiện nghe nhìn, bảng biểu giáo khoa, tình huống dạy học, tình huống giáo dục, tình huống sư phạm, tiêu chuẩn nhà giáo, uy tín của nhà giáo, học trước tuổi…

3.3. Tiểu kết

Chương 3 dành cho việc tìm hiểu đặc điểm định danh của các thuật ngữ khoa học giáo dục với 668 thuật ngữ khoa học giáo dục là cụm từ có từ 02 thuật tố trở lên. Các lớp thuật ngữ cấu thành hệ thống thuật ngữ khoa học giáo dục bao gồm: Thuật ngữ về hệ thống giáo dục quốc dân (223 thuật ngữ); thuật ngữ về quản lí giáo dục (133 thuật ngữ); thuật ngữ về tâm lí giáo dục (45 thuật ngữ); thuật ngữ về hoạt động giáo dục trong nhà trường (185 thuật ngữ); thuật ngữ về hoạt động giảng dạy của giáo viên, hoạt động học tập của người học (82 thuật ngữ). Cách phân nhóm này dựa trên trường từ vựng ngữ nghĩa của thuật ngữ khoa học giáo dục.

Xét về cấu tạo lẫn nội dung định danh, có thể thấy thuật ngữ khoa học giáo dục chia làm hai loại: Loại thứ nhất chủ yếu được tạo thành bằng con đường thuật ngữ hóa từ thường, đây là các thuật ngữ sơ cấp. Loại thứ hai được tạo nên trên cơ sở loại một, kết hợp với các từ ngữ mô tả đặc điểm, tính chất, cách thức, thuộc tính, phạm vi của những sự vật, đối tượng, khái niệm. Loại này chiếm 73% thuật ngữ khoa học giáo dục, chủ yếu được tạo thành bằng con đường cấu tạo mới từ các thuật ngữ khoa học giáo dục loại thứ nhất. Đây là các thuật ngữ thứ cấp bao gồm hai yếu tố trở lên, ý nghĩa của chúng có mức độ khái quát thấp hơn, mức độ cụ thể hóa ý nghĩa lại cao hơn loại thuật ngữ thứ nhất và có vai trò phân loại, phân nghĩa loại thứ nhất.

KẾT LUẬN

Trên cơ sở nguồn tư liệu trên, chúng tôi đã thu thập được 917 thuật ngữ khoa học giáo dục và đã tiến hành nghiên cứu những vấn đề như sau:

1. Giới thuyết về thuật ngữ với những khái niệm mới nhất, cập nhật nhất theo nhiều quan niệm khác nhau từ các nhà Việt ngữ; khu biệt thuật ngữ với các từ ngữ phi thuật ngữ; chỉ ra những tiêu chuẩn của thuật ngữ; làm rõ một số nguyên tắc tạo lập thuật ngữ; tóm tắt quá trình hình thành thuật ngữ tiếng Việt và sự hình thành hệ thống thuật ngữ khoa học giáo dục trong tiếng Việt…

2. Nghiên cứu đặc điểm của thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt trên phương diện hình thức cấu tạo, nguồn gốc, qua đó đã cho thấy sự đa dạng về cấu tạo của thuật ngữ khoa học giáo dục không chỉ ở chỗ nó bao gồm từ đơn, từ ghép, cụm từ. Trong cấu tạo cụm từ với mô hình cấu tạo: cụm đẳng lập, cụm chính phụ, cụm từ nhiều thuật tố… Về nguồn gốc, đa số thuật ngữ khoa học giáo dục đều là từ hay cụm từ được tạo nên bởi các thuật tố là từ Hán – Việt.

3. Chúng tôi đồng thời đã tổng hợp những lí thuyết về định danh một cách cơ bản nhất bao gồm: khái niệm định danh, đơn vị định danh, cơ chế định danh. Luận văn cũng đã chỉ ra các con đường hình thành thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt: thuật ngữ hóa từ thường, cấu tạo mới, vay mượn từ thuật ngữ nước ngoài, tiếp nhận thuật ngữ từ các ngành khoa học khác trong tiếng Việt. Luận văn đã thống kê cụ thể về số lượng của các đơn vị định danh cơ bản trong tổng số các thuật ngữ được nghiên cứu, khái quát thành mô hình cụ thể đối với các đơn vị định danh phức hợp trong 5 lĩnh vực khoa học giáo dục: hệ thống giáo dục quốc dân; quản lí giáo dục; tâm lí giáo dục; giáo dục nhà trường; hoạt động của giáo viên và người học, kèm theo số lượng cụ thể. Trên cơ sở đó, luận văn là tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo về cách thức hoàn thiện và khắc phục những bất cập trong cơ chế định danh của hệ thống thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt.

4. Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài chính là vấn đề chuẩn hóa thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt trong giai đoạn hiện nay, góp phần chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt nói chung, trong đó bao gồm chuẩn hóa nguyên tắc đặt thuật ngữ, chuẩn hóa chính tả thuật ngữ, chuẩn hóa cách phiên dịch, chuyển dịch thuật ngữ khoa học giáo dục tiếng Việt sang tiếng Anh và ngược lại. Đó là điều mà chúng tôi nhận thấy chưa đặt vấn đề và nghiên cứu được trong khuôn khổ của một luận văn thạc sĩ.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\NGON NGU HOC\TRUONG THI THANH\New folder (2)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *