Đặc điểm từ ngữ nghề biển ở Quảng Trị
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quảng Trị là một tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam. Địa hình đa dạng bao gồm núi, đồi, đồng bằng, cồn cát và bãi biển chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam. Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, con người trên mảnh đất này với truyền thống lao động cần cù, sáng tạo, đã hình thành một Quảng Trị bản lĩnh không chịu khuất phục trước khó khăn, gian khổ để vượt lên chiến thắng thiên tai, địch họa. Là một trong số ít các tỉnh thành ven biển Việt Nam, Quảng Trị với chiều dài 75 km bờ biển với hai cửa biển là Cửa Việt, Cửa Tùng và huyện đảo Cồn Cỏ cách bờ gần 30 km. Cuộc sống của cư dân ven biển với việc lấy biển làm nguồn sống chính đã tồn tại từ bao đời nay, dưới tác động của môi trường biển lên cuộc sống và lao động đã hình thành tính cách, văn hóa đặc trưng gắn với biển, qua thời gian sinh sống cư dân biển nơi đây đã tạo nên một kho tàng từ nghề biển hết sức phong phú. Nghiên cứu từ ngữ nghề biển, chúng tôi góp phần gìn giữ, bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống của cư dân biển, thấy được sự đa dạng văn hóa dân tộc. Khảo sát từ ngữ nghề biển để bảo tồn văn hóa, phát triển nghề nghiệp, khai thác tối đa nguồn lợi của biển, phát triển kinh tế, cùng ngư dân bám biển bám làng bảo vệ quê hương.
Cho đến nay, từ ngữ nghề biển Quảng Trị chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện. Mong muốn góp phần xây dựng quê hương Quảng Trị cùng với những lý do trên tôi chọn nghiên cứu: “ Đặc điểm từ ngữ nghề biển ở Quảng Trị” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Mục đích nghiên cứu
Khảo sát từ ngữ nghề biển ở Quảng Trị nhằm mục đích góp phần làm phong phú vốn từ vựng tiếng Việt, hiểu được đặc trưng về tư duy, nhận thức, văn hóa của cư dân vùng biển Quảng Trị, góp phần bảo tồn ngôn ngữ, văn hóa của một vùng đất đầy nắng gió của miền Trung.
Đề tài sẽ là nguồn tư liệu quý giá cho những công trình nghiên cứu tiếp theo về nghề biển ở Quảng Trị nói riêng và từ nghề nghiệp nghề biển dọc miền đất nước nói chung.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là “Đặc điểm từ ngữ nghề biển ở Quảng Trị” bao gồm nghề đánh cá, nghề làm muối, nghề làm mắm, nghề chế biến hải sản của cư dân biển Quảng Trị.
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi từ ngữ chỉ nghề biển của cư dân Quảng Trị bao gồm 4 huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng.Chúng tôi khảo sát từ ngữ nghề biển bằng việc điền dã thực địa tại địa phương, tập trung vào các làng chuyên làm nghề biển và có từ lâu đời.
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp điều tra, điền dã, phương pháp thống kê, phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích, tổng hợp. Bên cạnh đó chúng tôi dùng thủ pháp so sánh đối chiếu để so sánh với lớp từ ngữ nghề biển của cư dân ven biển Quảng Trị và một số địa phương khác.
5. Lịch sử vấn đề
6. Đóng góp của đề tài
Đề tài đi sâu nghiên cứu tìm hiểu toàn bộ từ ngữ thuộc về nghề biển Quảng Trị đồng thời chỉ ra đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa của các lớp từ ngữ đó, so sánh cách gọi tên với các lớp từ ngữ nghề biển ở một số địa phương lân cận.
6.1. Về phương diện lý luận
Đề tài góp phần nghiên cứu đặc trưng, chỉ ra cách gọi tên của các lớp từ ngữ nghề biển trên bình diện từ vựng, ngữ pháp, ngữ nghĩa nhằm làm rõ những giá trị về mặt ngôn ngữ. Bên cạnh đó chỉ ra những đặc trưng về tư duy, nhận thức, văn hóa của cư dân biển Quảng Trị.
6.2. Về phương diện thực tiễn
Kết quả của đề tài sẽ góp thêm những tư liệu cho những công trình nghiên cứu về Quảng Trị nói riêng và từ ngữ nghề biển của Việt Nam nói chung. Bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống về nghề biển Quảng Trị qua vốn từ nghề nghiệp. Nghiên cứu từ ngữ nghề biển Quảng Trị còn góp phần làm phong phú vốn từ vựng tiếng Việt.
7. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, phần nội dung của đề tài gồm các chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo và phạm vi sử dụng từ ngữ nghề biển ở Quảng trị
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa từ ngữ nghề biển Quảng Trị
Ngoài phần chính, luận văn có phần phụ lục với mục đích giải nghĩa từ ngữ nghề biển ở Quảng Trị nhằm làm việc nhận diện hệ thống từ ngữ dễ dàng hơn.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 TỪ VÀ NGỮ TIẾNG VIỆT
1.1.1. Khái niệm từ
Có nhiều quan điểm khác nhau về từ: Nguyễn Tài Cẩn gọi hình vị tiếng Việt là tiếng và ông coi tiếng là đơn vị gốc của ngữ pháp tiếng Việt. Ông cho rằng hình vị tiếng Vịệt trùng với âm tiết, nghĩa là âm tiết nào cũng có thể là hình vị. Chính vì thế ông mới gọi là tiếng, hoặc hình tiết. Những tiếng độc lập được Nguyễn Tài Cẩn coi là từ. Cách phân ra hai loại tiếng độc lập và tiếng không độc lập cũng giống với cách chia ra hai loại hình vị tự do và hình vị ràng buộc của L. Bloomfield. Như vậy, tính độc lập/không độc lập được Nguyễn Tài Cẩn coi là tiêu chuẩn để phân biệt từ và hình vị. Đơn vị do tiếng kết hợp với tiếng mà thành được Nguyễn Tài Cẩn gọi chung là kết cấu. Kết cấu lại được chia thành kết cấu cố định và kết cấu tự do. Kết cấu cố định có thể là từ, có thể là cụm từ cố định, theo Nguyễn Tài Cẩn: Tiếng là đơn vị gốc của ngữ pháp tiếng Việt; từ ghép là thuộc các kết cấu cố định; đoản ngữ thuộc các kết cấu tự do. “Từ là đơn vị nhỏ nhất có thể vận dụng độc lập ở trong câu” [12, tr. 326].
1.1.2. Khái niệm ngữ
Hiện nay, cũng giống như từ, có nhiều quan niệm khác nhau về ngữ, có nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Lưu Vân Lăng, Cao Xuân Hạo…với nhiều tên gọi khác nhau như: ngữ, cụm từ, đoản ngữ, ngữ đoạn, từ tổ…
Do quan niệm về ngữ cũng chưa thực sự thống nhất nên chúng tôi không đi sâu bàn luận về khái niệm ngữ mà chọn quan niệm của tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt: tiếng -từ ghép -đoản ngữ. Ông cho rằng “đoản ngữ là một loại tổ hợp tự do có ba đặc điểm:
a) Nó gồm một thành tố trung tâm và một hay một số thành tố phụ quay quần xung quanh trung tâm đó để bổ sung thêm một số chi tiết thứ yếu về mặt ý nghĩa.
b) Quan hệ giữa trung tâm và thành tố phụ có nhiều kiểu loại chi tiết rất khác nhau, nhưng nói chung đều thuộc vào loại quan hệ chính phụ.
c) Toàn đoản ngữ có tổ chức phức tạp hơn, có ý nghĩa đầy đủ hơn một mình trung tâm nhưng nó vẫn giữ được các đặc điểm ngữ pháp của trung tâm” [12, tr.149-150].
1.1.3. Trường từ vựng – ngữ nghĩa (trường nghĩa)
Trường nghĩa là tập hợp các từ căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa. Mỗi trường nghĩa là một tiểu hệ thống nằm trong hệ thống lớn là từ vựng của một ngôn ngữ.

1.2. TỪ NGỮ NGHỀ NGHIỆP
1.2.1. Khái niệm từ nghề nghiệp
1) Từ nghề nghiệp là những từ biểu thị các công cụ, sản phẩm và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong xã hội.
2) Từ nghề nghiệp thường được những người trong cùng nghề đó biết và sử dụng.
3) Từ nghề nghiệp chứa đựng trong nó hình ảnh và sắc thái đặc trưng của nghề và ít nhiều có sắc thái vùng miền, địa phương nhất định.
1.2.2. Mối quan hệ giữa từ nghề nghiệp với các từ loại khác
a. Từ nghề nghiệp và từ toàn dân
Từ toàn dân, đây là vốn từ chung cho một quốc gia, dân tộc, nó thuộc lớp từ cơ bản được sử dụng rộng rãi trong toàn nhân dân. Với từ nghề nghiệp, đây là vốn từ có phạm vi sử dụng hẹp phản ánh liên quan cụ thể đến nghề như: phương tiện, công cụ, hoạt động, sản phẩm, đối tượng, nguyên liệu, hiện tượng… của nghề, chủ yếu dùng trong khẩu ngữ, trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày…Tuy nhiên, có một số lớp từ nghề nghiệp vẫn phổ biến toàn dân, dùng phổ biến, ví như các từ về nghề nông.
1.2.2.2. Từ nghề nghiệp và từ địa phương
Với những điểm chung như: đều là lớp từ ngữ được dùng hạn chế ở một phạm vi, lãnh thổ nhất định hoặc một nghề nhất định, đều dùng trong khẩu ngữ, trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày và có thể bổ sung vào kho từ vựng tiếng Việt làm cho vốn từ tiếng Việt thêm phong phú. Bên cạnh đó, từ nghề nghiệp và từ địa phương có những nét khác nhau như: Từ nghề nghiệp được hình thành từ một nghề nào đó, do nhu cầu trao đổi trong nghề…thuộc phạm trù xã hội. Từ địa phương lại do phát âm riêng của địa phương hoặc lớp từ riêng lưu hành trong địa phương. Tuy nhiên từ nghề nghiệp hoạt động trong một khu vực, một vùng địa lý nào đó cũng có mối liên hệ mật thiết với từ địa phương.
b. Từ nghề nghiệp và tiếng lóng
Từ nghề nghiệp dùng để gọi tên đối tượng, công cụ, hoạt động tạo ra sản phẩm của một nghề nào đó. Trong khi đó tiếng lóng là một hình thức phương ngữ xã hội không chính thức của một ngôn ngữ, thường được sử dụng trong giao tiếp thường ngày, bởi một nhóm người.
c. Từ nghề nghiệp và thuật ngữ
Từ nghề nghiệp sử dụng hẹp, được dùng trong một ngành nghề nhất định, những người cùng làm nghề.Thuật ngữ là khái niệm chuyên môn của một ngành khoa học. Thuật ngữ mang phong cách khoa học, thuộc từ vựng sách vở, mang tính khái quát. Còn từ nghề nghiệp là những từ ngữ chỉ công cụ, phương tiện, hoạt động và sản phẩm của một nghề nào đó, những người trong nghề biết và sử dụng, những người ngoài nghề khó để hiểu và ít dùng, phong cách trong từ nghề nghiệp thuộc phong cách khẩu ngữ, hội thoại, mang tính cụ thể, sinh động, có chức năng định danh. Mặc dù có sự khác nhau nhưng không hẳn là tuyệt đối, vì có những từ nghề nghiệp được sử dụng lâu và rộng rãi trở nên phổ biến và không ít từ đã trở thành thuật ngữ.
1.3. KHÁI QUÁT VỀ QUẢNG TRỊ
1.3.1. Đặc điểm địa lý, lịch sử
a. Đặc điểm địa lý
Phía Bắc Quảng Trị giáp huyện Lệ Thủy (Quảng Bình) phía Nam kéo dài từ Tây sang Đông giáp hai huyện A Lưới và Phong Điền (Thừa Thiên Huế), phía Tây giáp tỉnh Savanakhẹt (Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào), phía Đông giáp biển Đông, với đường biển dài trên trên 75km và án ngự bởi đảo Cồn Cỏ – có tọa độ địa lý là 1070 09’30’’ vĩ bắc và 107020’ kinh đông. Bờ biển có bãi cát rộng lớn nối liền với thềm lục địa thoải, có các cửa sông rộng như Bến Hải, Thạch Hãn đã tạo nên các bãi tắm và ngư trường (Cửa Tùng, Cửa Việt) giá trị.
b. Đặc điểm lịch sử
Lịch sử vùng đất Quảng Trị trải qua các thời kỳ với nhiều biến đổi không ngừng. Từ thời Hùng Vương đến thời Lý, Trần, thời kỳ Nam tiến, thời nhà Nguyễn, thời Pháp thuộc, Việt Nam cộng hòa, sau giải phóng 1975 đến nay.
1.3.2. Đặc điểm kinh tế, văn hóa , xã hội
a. Đặc điểm kinh tế – xã hội
Sự phát triển về kinh tế xã hội Quảng Trị diễn ra trên tất cả các mặt như: nông nghiệp, thủ công nghiệp và công nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải, phát triển nền kinh tế hàng hóa.
b. Đặc điểm về văn hóa
Quảng Trị là vùng đất có nền văn hóa khá phong phú, là một vùng đất có bề dày lịch sử, nới có những làn điệu dân ca độc đáo. Con người Quảng Trị luôn có những nét tính cách đặc thù đáng quý: kiên cường, bất khuất, dũng cảm, thông minh cần cù, tự lực, tự cường sáng tạo trong sản xuất và xây dựng cuộc sống, có tâm hồn trong sáng, bình dị, khí khái, bộc trực, thẳng thắn và hết mực thủy chung son sắt.
1.3.3. Khái quát nghề biển ở Quảng Trị
Vùng biển Quảng Trị có 4 huyện, thị trấn chạy dọc bờ biển gồm: Vĩnh Linh, Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng, có 16 xã, tiếp giáp với biển. Bên cạnh nghề cá, cư dân biển Quảng Trị còn có các làng nghề làm mắm nổi tiếng. Hiện nay, tuy các công cụ, phương tiện khai thác còn thô sơ, thiên nhiên khắc nghiệt không ổn định và tác động của nền kinh tế thị trường nhưng các làng nghề vẫn phát triển mạnh. Nghề biển ở Quảng Trị có các loại sau:
a. Nghề đánh cá: Có nghề lưới, nghề câu, nghề xăm.
b. Nghề sản xuất nước mắm
c. Nghề hấp sấy cá khô
1.3.4. Kết quả thu thập và phân loại
Để có cơ sở cho việc triển khai luận văn, chúng tôi đã lựa chọn khảo sát thực địa tại các địa bàn có nghề biển của 4 huyện gồm 16 xã, thị trấn. Kết quả thu thập vốn từ ngữ và tỷ lệ % từng nghề thể hiện như sau: Tổng số từ ngữ nghề biển : 870, trong đó nghề đánh cá: 683 đơn vị chiếm 78,5%, nghề sản xuất nước mắm 120 đơn vị chiếm 21,4%, nghề hấp sấy cá khô có 67 đơn vị chiếm 7,7%.
CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO VÀ PHẠM VI SỬ DỤNG TỪ NGỮ NGHỀ BIỂN Ở QUẢNG TRỊ
2.1. ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ NGHỀ BIỂN QUẢNG TRỊ XÉT THEO CẤU TẠO
2.1.1. Đặc điểm cấu tạo từ ngữ nghề biển Quảng Trị xét theo cấu tạo từ
Qua quá trình khảo sát chúng tôi thu thập được vốn từ chỉ nghề biển của cư dân Quảng Trị xét về cấu tạo từ như sau:
a. Từ nghề biển là từ đơn
Bước đầu chúng tôi khảo sát được 152 đơn vị từ ngữ là từ đơn, chiểm tỷ lệ 17,5 % từ nghề biển gồm nghề cá, nghề làm nước mắm và sản hấp sấy cá khô ở vùng biển Quảng Trị. Trong vốn từ đơn của tất cả các nghề, nghề cá có 94/683 đơn vị (chiếm (13,8%), nghề làm mắm có 45/120 đơn vị (37,5%) và nghề hấp sấy cá khô có 13/67 đơn vị (chiếm 19,4%). Ví dụ : mực, đẻn, ốc, tôm, đuốc, ghẹ, cua, ngao, còong, hà, sứa, thúng, ghe, nôốc, tàu, bầu, thặc, rường, rập, lái…
b. Từ nghề biển là từ ghép
Từ ghép chỉ nghề biển gồm 361 đơn vị, trong đó nghề đánh cá là 285 đơn vị, nghề sản xuất nước mắm là 43 đơn vị và nghề hấp sấy cá khô là 33 đơn vị. So với từ đơn, từ ghép là từ ngữ nghề biển của cư dân Quảng Trị chiếm số lượng lớn hơn với tỷ lệ cao (chiếm 41,5%). Từ việc phân loại cho thấy số lượng từ ghép đẳng lập (từ ghép nghĩa) chiểm tỷ lệ thấp chỉ 5,5 %, còn từ ghép chính phụ (từ ghép phụ nghĩa) chiếm tỷ lệ rất cao, 94,5%. Ví dụ : cá cháo, cá chai, cá chét, cá chẻng, cá chõm, cá chủa, cá dở, cá dôồng, cá dìa, cá duội, cá đé, cá đù…
Như vậy, từ ghép có khả năng hoạt động độc lập chiếm số lượng nhiều trong vốn từ ngữ nghề biển Quảng Trị, yếu tố từ ghép không độc lập với số lượng ít.
a. Từ ngữ nghề biển là ngữ định danh
Ngữ danh từ:
Trong vốn từ ngữ nghề biển Quảng Trị có loại cấu trúc danh ngữ sau: phần trung tâm (phần đầu) + phần phụ sau (phần cuối). Ví dụ : cá bò giấy, cá bò ngù, cá bò cụt, cá bè xước, cá bè vẫu, cá bè quỵt, cá cờ rụi, cá cờ lá, cá cờ kim, cá cơm săng, cá chèo bẻo…
Ngữ động từ:
Cấu trúc ngữ động từ trong vốn từ nghề biển Quảng Trị: phần trung tâm + phần cuối. Ví dụ: câu thu, tóm câu, buộc câu, cân cá, đong cá, trọc ghe, mổ cá, đánh cá, sẽ cá, bủa xăm, bủa lái, phút lái, xao lái…
2.2. ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ NGHỀ BIỂN QUẢNG TRỊ XÉT THEO TỪ LOẠI
2.2.1. Từ nghề biển xét theo từ loại là từ đơn
a. Danh từ: Vốn từ nghề biển là từ đơn qua qua trình khảo sát ở Quảng Trị chúng tôi thu thập được có 152 từ, trong số này có 102 từ đơn là danh từ. Qua khảo sát cho thấy : Nghề cá có 69 danh từ chiếm 67,7%, Nghề sản xuất nước mắm có 25 danh từ chiếm 24,5%, Nghề hấp sấy cá khô có số lượng danh từ thấp nhất với 8 danh từ chiếm 7,8%. Ví dụ : mực, đẻn, ốc, tôm, đuốc, ghẹ, cua, ngao, còong, hà, sứa, thúng, ghe, nôốc, tàu, bầu, thặc, rường, rập…
b. Động từ: Cùng với danh từ, nhóm từ nghề biển là từ đơn có 43/152 động từ chiếm 28,3% trong đó nghề đánh cá có 21 từ với 48,8%, nghề sản xuất nước mắm có 17 từ chiếm 39,5% và nghề hấp sấy cá khô có 5 từ chiếm 11,6%. Ví dụ: hớng, múc, lóng, trộn, đảo, pha, hòa, rót, chang…
c. Tính từ: Bên cạnh danh từ và động từ, lớp từ ngữ nghề biển ở Quảng Trị còn có từ đơn là tính từ, tuy số lượng không nhiều chỉ có 7 /152 từ, chiếm 4,6%. Ví dụ: lặng, tươi, ươn, thơm, hôi, ngon…
2.2.2. Từ nghề biển xét theo từ loại là từ ghép
Trong vốn từ ngữ nghề biển Quảng Trị có361 đơn vị từ ghép, trong đó có 350 danh từ, 5 động từ và 6 tính từ. Ví dụ: phân hủy, bảo quản, sắc mắm, cá biển…
Loại 5 tiếng (âm tiết): có 5/357đơn vị, đều chỉ nghề cá chiếm 1,4% tổng số ngữ định danh. Ví dụ: cá đuối kim hai gai, cá liệt khỏe xám xanh, lưới vây rút cá nục, lưới vây rút cá cơm.
Loại 4 tiếng: có 39/357 đơn vị, chiếm 10,9%, đều thuộc nghề đánh cá 39 đơn vị. Nghề sản xuất nước mắm và nghề hấp sấy cá khô không có ngữ định danh loại này. Ví dụ : cá bè da trơn, cá bè khế vằn, cá bè ôông lão, cá bè khế sọc, cá chèo bẻo bông, cá dồông cuống trăng, cá đuối lốp bốp, cá đổng sọc màu…
Nhìn chung, ngữ định danh loại 4 tiếng và 5 tiếng trong vốn từ ngữ nghề biển Quảng Trị rất ít.
Loại 3 tiếng: có 190/357 đơn vị chiếm 53,2%, nghề đánh cá: 179/190 đơn vị chiếm 94,2 %, nghề sản xuất nước mắm có 7/190 đơn vị chiếm 3,7% và nghề hấp sấy cá khô có 4/190 đơn vị chiếm 2,1%. Ví dụ: Cá nục náng, cá anh rạn, cá anh thường, cá bò đa, cá bò giấy, cá bò ngù, cá bò cụt, cá bè xước, cá bè vẫu, cá bè quỵt…
Loại 2 tiếng: có 122/357 đơn vị chiếm 34,5% trong đó nghề đánh cá: có 85/122 đơn vị chiếm 69,7%, nghề sản xuất nước mắm có 22/122 đơn vị chiếm 18% tổng nghề mắm và nghề hấp sấy cá khô có 15/122 đơn vị chiếm 12,3 %. Ví dụ: câu cá, câu mực, súc mực, thặc mực, câu ổ, câu rạn, câu ngờng, câu thu, tóm câu, buộc câu, cân cá, đoong cá, trọc ghe, mổ cá, đánh cá, sẽ cá, bủa xăm, bủa lái…
2.3. ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ NGHỀ BIỂN QUẢNG TRỊ XÉT THEO NGUỒN GỐC
2.3.1. Từ nghề biển có nguồn gốc thuần Việt
Chúng tôi đa khảo sát được 851/870 từ thuần Việt, chiếm tỷ lệ 97,82% trong đó nghề đánh cá có 604 /851 từ chiếm tỷ lệ 71%, nghề sản xuất nước mắm có 184/851 từ chiếm tỷ lệ 21,6%, và nghề e
hấp sấy cá khô có 63/852 từ chiếm tỷ lệ 7,4%. Ví dụ: nan, ván, xôm, neo, đội, sọt, thùng đá, tàu, ghe máy, cột chèo, hộp số, ghe nan, dây cáp, trục cảo, củi chè, ghe xăm, câu tay, câu chạy…
2.3.2. Từ nghề biển có nguồn gốc Hán Việt
Từ ngữ Hán Việt nghề biển Quảng Trị có 10/870 đơn vị chiếm tỷ lệ 1,15% trong đó nghề đánh cá có 4/10 đơn vị chiếm 40%, nghề sản xuất nước mắm có 2 đơn vị chiếm tỷ lệ 20%, nghề hấp sấy cá khô với 4 đơn vị chiếm tỷ lệ 40%. Ví dụ: (tàu) trưởng, (câu) song, (máy) định vị, ngư trường…
2.3.3. Từ nghề biển có nguồn gốc Ấn Âu
Có 9/870 đơn vị từ nghề biển Quảng Trị có nguồn gố Ấn Âu chiếm tỷ lệ 1,03% trong đó tập trung ở nghề đánh cá với 8 đơn vị chiếm 88.9%, nghề sản xuất nước mắm có 1 đơn vị chiếm 11,1% và nghề hấp sấy cá khô không có yếu tố ngoại lai này. Ví dụ: : ắc quy, cát xét, cao áp, măng song…
2.4. TỪ NGỮ NGHỀ BIỂN QUẢNG TRỊ XÉT THEO PHẠM VI SỬ DỤNG
2.4.1. Từ nghề biển là từ toàn dân
Nghề đánh cá: mực, tàu, ốc, tôm, ghẹ, cua, ngao, thúng, ghe, cá chim, cá chuồn, cá đối, cá đuối, cá đổng…
Nghề sản xuất nước mắm: mắm, cân, cá, bảo quản, chai nhựa…
Nghề hấp sấy cá khô: Cá cơm, cá nục, xe kéo, cảng cá, bến cá, lán trại, thùng giấy, băng keo…
2.4.2. Từ nghề biển là từ địa phương
Nghề đánh cá: còong, hà, nôốc, bầu, thặc, lái, bại, lẹc, biu, dóng, sương, cá troòng, cá bằn chặn, cá chè ne, cá chèo đeng, cá dồông, cá ngờng, cá tho, đuốc, nay, vọng, néc, gia gia, chép chép, chành chành, lìa lìa, rầm rậm, bọt bọt, bọp bọp, triêng, lạu, bơ, biu, lẹc, cồn xeng, bại, lộông, sáp, củi chè, đoong, trọc, trớt, hớng, trút, trớt, khở, hầu sóng, câu rợng, câu quáng, đọoc cá, cộôc chèo …
Nghề sản xuất nước mắm: mái, độôc, xắc, đuốc, mói, hớng, trú…
Nghề hấp sấy cá khô: bẻ trốôc cá, chắp, chang, đòn triêng…
CHƯƠNG 3
ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA TỪ NGỮ NGHỀ BIỂN QUẢNG TRỊ
3.1. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA TỪ NGỮ NGHỀ BIỂN Ở PHẠM VI BIỂU VẬT
3.1.1. Đặc điểm ngữ nghĩa của lớp từ ngữ chỉ phương tiện công cụ nghề biển
Lớp từ ngữ chỉ phương tiện công cụ nghề biển Quảng Trị thu hập được có 267 đơn vị, trong đó nghề đánh cá có 185 đơn vị, nghề sản xuất nước mắm có 52 đơn vị và nghề hấp sấy cá khô có 30 đơn vị.
3.1.2. Đặc điểm ngữ nghĩa của lớp từ ngữ chỉ động tác, cách thức và quy trình hoạt động nghề biển
Lớp từ ngữ chỉ động tác, cách thức và quy trình hoạt động nghề biển Quảng Trị thu thập được có 185 đơn vị trong đó nghề đánh cá có 122/185 đơn vị chiếm tỷ lệ 66%, nghề sản xuất nước mắm có 43/185 đơn vị chiếm 23,2 %, nghề hấp sấy cá khô có 20/187 đơn vị chiếm tỷ lệ 10,8%.
3.1.3. Đặc điểm ngữ nghĩa của lớp từ ngữ chỉ sản phẩm nghề biển
Trường từ vựng chỉ cá biển có hai nhóm: nhóm trường từ vựng chỉ các loại cá biển và trường từ vựng từng loại cá biển.
3.2. ĐẶC ĐIỂM TRI NHẬN CỦA CƯ DÂN BIỂN TRONG TỪ NGỮ NGHỀ BIỂN
3.2.1. Đặc điểm định danh từ ngữ nghề biển ở Quảng Trị
Đơn vị tên gọi không rõ lí do có 212 đơn vị, trong đó: nghề đánh cá: 149/212 đơn vị (%); nghề sản xuất nước mắm: 46/212 đơn vị (%); nghề hấp sấy cá khô: 17/212 đơn vị (%).
Đơn vị tên gọi rõ lý do có 658 đơn vị trong đó: nghề cá: 534/658 đơn vị (81,2%); nghề làm mắm:74/658 đơn vị (11,2%) và nghề hấp sấy cá khô : 50/658 đơn vị (7,6%).
3.2.2. Tri nhận về các sản phẩm biển
*Tri nhận về dấu hiệu cấu tạo hình thể. Ví dụ: cá chèo bẻo, cá chim, cá chuồn, cá đuối ó, cá mú quạ, cá ngựa, cá oong mè…
*Tri nhận về dấu hiệu trạng thái. Ví dụ: cá đuối lốp bốp, cá nóc đạp, cá tớp, cá trồi, cá ngờng búng, cá oong vù…
*Tri nhận về dấu hiệu màu sắc. Ví dụ: cá bè vàng, cá dôồng vàng, cá đù vàng, cá hố vây vàng, cá mòi vàng…
*Tri nhận về dấu hiệu nơi cá sống. Ví dụ: cá anh rạn, cá mú đá, cá thia rạn bốn gai cá thoèn rạn…
3.2.3. Tri nhận về các hoạt động đánh bắt hải sản
*Tri nhận về dụng cụ đánh bắt: Thúng, ghe, nôốc, ghe bơ, ghe tròng, tàu, tàu lớn, tàu nhỏ.
*Tri nhận về ngư trường đánh bắt: Ngư trường Cồn Cỏ, ngư trường Cửa Tùng, ngư trường miền Trung, ngư trường Vịnh Bắc Bộ…
*Tri nhận về hành động đánh bắt: Câu hố, câu đơn, câu cá, phần, phơi cá, nê lái, nhập bè, mẻ cá, mẻ đuốc, phơi lái, nhúng lái…
3.3. ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA CỦA CƯ DÂN BIỂN QUẢNG TRỊ
3.3.1. Một vài nét riêng của từ nghề biển Quảng Trị
* Từ nghề biển Quảng Trị: mang đầy đủ những đặc điểm của tiếng Quảng Trị.
Âm “g” được phát âm thành “c” hoặc “ kh” như: gỡ – khở…
Âm “ư” được phát âm thành “ơ” : hứng – hớng
Âm “gi” được phát âm thành “ch” như: giàn lượt – chàn lượt
Âm “gi” được phát âm thành “tr” như: già giữa – già trửa.
Âm “nh” được phát âm thành “d” như: cá nhồng – cá dôồng…
3.3.2. Những yếu tố khác biệt của từ nghề biển Quảng Trị với từ phổ thông và một số địa phương miền Trung
Với vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ, (chủ yếu là từ Nghệ An đến Thừa Thiên Huế) bên cạnh vốn từ nghề biển chung đó, một bộ phận từ ngữ còn mang những yếu tố đặc trưng riêng của vùng như: ốống, lái, nác, mói, nốôc…nguyên nhân là do xuất phát từ nguồn gốc khác nhau, sự tiếp xúc của ngôn ngữ từng nơi, từng lúc khác nhau mà có sự khác nhau về một số từ giữa các miền, do sự biến đổi về ngữ âm. Ví dụ: từ nốôc có nguồn gốc là tiếng Khơ me [25, tr. 105] chỉ thuyền, từ thuyền là gốc Hán Việt, hiện nay cư dân biển Bắc Trung Bộ vẫn dùng từ nốôc. Bên cạnh vốn từ chung, do có sự khác nhau về địa lý, địa hình, lịch sử văn hóa…từ ngữ nghề biển Quảng Trị mang những nét đặc trưng riêng trong cách gọi tên các sự vật hoạt động, cùng một loại cá nhồng nhưng Nghệ An gọi là cá nhồông còn cư dân Quảng Trị gọi là cá dồông, cá bả trầu (Nghệ An), cá tho (Quảng Trị)…Ở Quảng Trị có nhiều tên gọi về các loại cá rất khác với các vùng như: cá chè ne, cá duội, cá tho, cá ngờng, cá oong, cá lã, cá trằn, cá thoèn, cá troòng, cá trạng, mực dệng, gia gia, chép chép, lìa lìa, chành chành, rầm rậm, bọp bọp, cần cần, bọt bọt, đập đi…
KẾT LUẬN
Căn cứ vào những kết quả nghiên cứu về từ ngữ nghề nghiệp nghề biển ở Quảng Trị chúng tôi rút ra các kết luận sau:
1.Vấn đề nghiên cứu từ nghề nghiệp hiện nay trong giới Việt ngữ vẫn còn hạn chế và chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Tuy nhiên ngày càng có nhiều tác giả chú ý hơn đến các ngành nghề cụ thể trong đó có nghề biển. Qua nghiên cứu từ nghề biển Quảng Trị, chúng tôi thấy vai trò và giá trị to lớn của từ nghề nghiệp đối với vốn từ vựng chung của tiếng Việt đồng thời thấy được bức tranh hiện thực cuộc sống cùng những giá trị về văn hóa, xã hội, tinh thần, sự cố kết cộng đồng của cư dân biển Quảng Trị qua từ chỉ nghề biển.
Quảng Trị là vùng đất miền Trung mang đặc trưng riêng về môi trường tự nhiên và xã hội. Với cư dân biển Quảng Trị, môi trường tự nhiên và cuộc sống gắn bó với biển đã trở nên rất đỗi thân thuộc với con người nơi đây. Chính điều kiện tự nhiên cùng với văn hoá gắn với vùng biển hòa trong văn hoá tộc người, ngôn ngữ bản địa và lối tri nhận riêng của người dân vùng biển Quảng Trị là những nhân tố cơ bản đã chi phối, ảnh hưởng đến đặc điểm cấu tạo, phương thức định danh, đặc điểm ngữ nghĩa và sự biến đổi của tên gọi sự vật liên quan đến nghề biển nơi đây.
2. Qua việc nghiên cứu từ ngữ nghề nghiệp nghề biển Quảng Trị cho thấy, mặc dù ở phương diện là từ nghề nghiệp song từ nghề biển biểu thị trên nhiều mặt từ phương tiện, công cụ hoạt động sản xuất đến sản phẩm với số lượng từ khá phong phú. Có những từ ngữ được sử dụng rộng rãi và trở thành từ toàn dân. Bên cạnh đó có nhiều từ ngữ mang đậm dấu ấn nghề nghiệp nghề biển và tính chất địa phương nên có những từ chỉ người trong nghề và người bản ngữ mới hiểu được. Chính những yếu tố đó đã tạo nên đặc trưng riêng độc đáo thể hiện tâm lí, tư tưởng… của cư dân vùng biển, mang đến một diện mạo riêng làm đa dạng thêm bức tranh làng biển Việt Nam.
3. Về mặt cấu tạo, từ ngữ nghề biển ở Quảng Trị có các loại từ ngữ: từ đơn, từ ghép và ngữ định danh. Tên gọi sự vật liên quan đến nghề biển Quảng Trị có cấu tạo phức tạp. Đa số tên gọi có hai thành tố: thành tố chỉ chủng loại và thành tố khu biệt, cá thể hóa. Phần lớn tên gọi được cấu tạo bằng hình thức ghép và chủ yếu là ghép theo kiểu phụ nghĩa hay chính phụ.
`4. Về nguồn gốc các tên gọi, các đơn vị định danh từ ngữ nghề biển ở Quảng Trị chủ yếu có nguồn gốc thuần Việt, từ ngữ có nguồn gốc vay mượn chiếm số lượng ít. Nghề biển đã gắn bó với cư dân từ xa xưa, cuộc sống gắn với biển, làm nghề biển cha truyền con nối từ đời này qua đời khác, họ hiểu biển như hiểu chính bản thân họ, ngôn ngữ họ sử dụng xuất phát từ hiện thực những gì có xung quanh, bởi vậy mà yếu tố thuần Việt càng đậm nét. Quen với lối khai thác cổ truyền nên ít có yếu tố vay mượn trong ngôn ngữ.
5. Về cách thức định danh, dựa vào đặc trưng của đối tượng, cư dân biển Quảng Trị đã lựa chọn những dấu hiệu, đặc trưng dễ nhận biết, dễ quan sát để đặt tên cho đối tượng. Sự vật được định danh thường bị chi phối bởi môi trường tự nhiên, đặc điểm lịch sử, xã hội, văn hóa và ngôn ngữ của một dân tộc, của một cộng đồng nhất định.
Tên gọi sự vật hiện tượng, họat động liên quan đến nghề biển chỉ phương tiện và công cụ đánh bắt hải sản, hoạt động sản xuất khai thác, sản phẩm… ở Quảng Trị phong phú, đa dạng. Điều đó chứng tỏ những sự vật liên quan đến nghề biển Quảng Trị cũng rất phong phú và đa dạng. Bằng vốn từ chỉ các sự vật, hiện tượng không có trong tiếng phổ thông đã phát huy chức năng xã hội của nó trong đời sống địa phương.
6. Qua nghiên cứu từ ngữ nghề biển phần nào cho chúng ta thấy đời sống sinh hoạt, văn hóa, tín ngưỡng, đời sống sản xuất… của cư dân vùng biển. Cuộc sống của người vùng biển rất chất phác, chân thực, mặn mòi và cứng cỏi như chính con người họ bởi cuộc sống phải đối mặt với vất vả hiểm nguy, với nắng và gió Lào, với biển cả bao la.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\NGON NGU HOC\TRAN THI HIEN


