ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ CÁC BÀI PHÓNG SỰ TRÊN BÁO QUẢNG NAM

ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ CÁC BÀI PHÓNG SỰ TRÊN BÁO QUẢNG NAM

ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ CÁC BÀI PHÓNG SỰ TRÊN BÁO QUẢNG NAM

  1. Tính cấp thiết của đề tài

Cùng với sự phát triển xã hội, báo chí ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong đời sống. Báo chí là công cụ, kênh thông tin quan trọng của Đảng, Nhà nước, nhằm phổ biến chủ trương, chính sách, pháp luật, cổ vũ tập thể, cá nhân vươn lên phát triển kinh tế. Báo chí cũng góp phần vào việc định hướng dư luận, cũ ng như phê phán, lên án, đả kích các luận điệu chống phá Nhà nước của các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước. Báo chí có nhiều thể loại như phỏng vấn, ghi chép, phóng sự, ký sự, điều tra, tin… Mỗi thể loại có một đặc điểm, phong cách sử dụng từ ngữ riêng để mang lại sức mạnh, hiệu quả tuyên truyền nhất định.

Nói đến báo chí hiện đại thì không thể không nhắc đến thể loại phóng sự, bởi đây là thể loại có sức hút đặc biệt đối với công chúng, tạo nên bản sắc của cả một tờ báo. Phóng sự phản ánh những vấn đề có tính thời sự, có ý nghĩa chính trị xã hội được bạn đọc quan tâm, có thể viết bằng các bút pháp mang tính văn học. Trong phóng sự có tính nhân vật và cái tôi trần thuật. Phóng sự giúp bạn đọc hiểu sâu hơn, rõ hơn sự việc và chia sẻ được với tác giả những vấn đề được đặt ra trong tác phẩm.

Phóng sự có mặt ở tất cả loại hình báo chí: Phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử và báo in. Trong số các loại hình báo chí thì báo in là loại người đọc có thể linh hoạt sắp xếp thời gian, cách tiếp cận bài báo nên có thể vừa đọc, vừa cảm nhận về đề tài bài phóng sự muốn hướng đến. Qua đó có những suy nghĩ tiếp nhận thông tin mà người viết muốn chuyển tải. Thông tin trên báo in luôn đảm bảo tính chính xác, tính phổ cập mà các loại hình khác khó có thể thay thế được. Báo in giúp làm tăng khả năng ghi nhớ, hiểu rõ vấn đề một cách sâu sắc. Vì thế mà thể loại phóng sự luôn phát huy hiệu quả trên báo in.

Ngôn ngữ báo chí không còn là vấn đề mới, nó đã được nghiên cứu từng khía cạnh theo từng thời kỳ phát triển. Ngôn ngữ thể loại phóng sự cũng không ngoại lệ. Từ lâu, tại các hội nghị và hội thảo khoa học, một số báo cáo về nghiên cứu đặc điểm từ ngữ trong thể loại phóng sự thu hút sự quan tâm của nhiều người. Bởi lẽ việc nghiên cứu đặc điểm từ ngữ luôn đạt những giá trị về mặt lý luận và thực tiễn đối với ngôn ngữ học. Hơn nữa, trong cuộc sống hiện đại, ngôn ngữ ngày càng có xu hướng phát triển phong phú và tinh tế. Theo đó, người làm báo khi chắp bút viết nên những bài phóng sự cũng sẽ chú trọng dùng từ ngữ, cách diễn đạt sao cho phù hợp, thu hút độc giả, làm gia tăng sự cạnh tranh với những tờ báo khác.

Ở thể loại phóng sự, rất nhiều cây bút xuất sắc đã nổi lên và khẳng định tên tuổi trong làng báo chí nước nhà. Nhắc đến Xuân Ba, Đỗ Doãn Hoàng, Huỳnh Dũng Nhân, từ người có thâm niên lâu năm trong nghề đến những người mới chập chững bước chân vào nghiệp cầm bút, hầu như không ai là không biết. Bởi các tác phẩm của những “cây đa, cây đề” này không chỉ hiện diện trên mặt báo, mà ngay cả giáo trình giảng dạy ở các “lò” đào tạo báo chí lớn, nhỏ từ Bắc vào Nam cũng không thiếu. Ở phạm vi mang tính địa phương, Báo Quảng Nam trong những năm gần đây cũng đã trình làng những cây viết phóng sự có tiếng. Tiếng tăm của họ đã vượt qua khỏi “lũy tre làng” và thu hút bạn đọc trên khắp mọi miền đất nước nhờ vốn từ dường như không bao giờ cạn.

Đối với Báo Quảng Nam, thể loại phóng sự rất được coi trọng, luôn được giới thiệu, bố trí trên trang bìa của tờ báo và được tổ chức viết, đăng nguyên trang trên số báo ra cuối tuần và đăng lại trên báo Đà Nẵng điện tử. Phóng sự có sức hút đặc biệt đối với các cây viết, khiến họ muốn thử sức chinh phục và nhiều khi càng viết càng thấy khó nắm bắt. Với người đọc, phóng sự được yêu thích bởi sự hấp dẫn, tươi mới, sự quyến rũ mà nó mang lại. Qua đề tài này, người viết hy vọng có thêm kiến thức về thể loại phóng sự, cũng như tìm hiểu cách vận dụng ngôn từ trong phóng sự của Báo Quảng Nam. Tác giả luận văn đặt mục tiêu phục vụ tốt hơn cho công tác lựa chọn vấn đề, khía cạnh, góc nhìn khi chọn lựa đề tài viết, để kỹ thuật viết cải thiện một cách rõ ràng, mạch lạc, nâng cao tính lập luận, phân tích sắc sảo trên mỗi tác phẩm phóng sự trên báo Quảng Nam nói riêng và loại hình báo chí hiện đại nói chung.

2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu

3. Mục đích nghiên cứu

Như đã nói ở trên, báo chí có rất nhiều mảng như: tin tức, giải trí, tin vắn, phóng sự, ký sự, điều tra, phản ảnh…Trong số đó, phóng sự là một mảng được phần lớn độc giả quan tâm. Ở mảng này, người đọc sẽ nhìn thấy nhiều màu sắc của đời sống thường nhật, những chân dung con người đặc biệt và có tầm ảnh hưởng lớn trong xã hội. Hẳn vì lẽ đó, người viết đã ấp ủ nguyện vọng đề tài “Đặc điểm từ ngữ các bài phóng sự trên Báo Quảng Nam”.

Thông qua khảo sát về nội dung và nghệ thuật của các bài báo phóng sự trên Báo Quảng Nam, người viết có thể khái quát hóa các nội dung chính của thể loại phóng sự, chỉ ra đặc điểm từ ngữ của thể loại này, từ đó rút ra đặc điểm chung cho thể loại phóng sự trên báo chí hiện nay. Qua việc thực hiện đề tài này, người viết hy vọng có thể hiểu sâu hơn, vận dụng tốt kiến thức về ngôn ngữ học và báo chí trong quá trình theo đuổi nghề báo.

4. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm từ ngữ các bài phóng sự trên Báo Quảng Nam.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung khảo sát 77 bài phóng sự đăng tải trên Báo Quảng Nam (báo in) từ năm 2017 đến tháng 2-2019.

5. Phương pháp nghiên cứu

– Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: quan sát, miêu tả ngôn ngữ như một hệ thống cấu trúc ở mọi bình diện, cấp độ, thuộc tính của các đơn vị ngôn ngữ.

– Phương pháp thống kê – phân loại: người viết tiến hành thống kê 104 bài báo phóng sự. Sau đó, tiến hành khảo sát, phân loại.

– Phương pháp mô hình hóa: Để trình bài một cách hệ thống, mô hình các loại từ ngữ, cách tổ chức ngôn ngữ của từng thể loại và miêu tả quan hệ của các đối tượng khảo sát dưới dạng các bảng biểu.

– Phương pháp phân tích – tổng hợp: người viết đưa ra các lập luận, lí lẽ, dẫn chứng để chứng minh cho các luận điểm đã đặt ra. Trên cơ sở các bài điều tra, khảo sát, các ngữ liệu thống kê, luận văn chỉ ra những đặc điểm, giá trị về nội dung của chúng để tổng hợp, khái quát hóa vấn đề.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

6.1. Ý nghĩa khoa học

Mỗi một đề tài nghiên cứu khoa học nào phải có ý nghĩa khoa học nhằm bổ sung nội dung lý thuyết của khoa học. Đề tài “Đặc điểm từ ngữ các bài phóng sự trên Báo Quảng Nam” cũng không ngoại lệ. Đề tài này mang ý nghĩa làm rõ một số vấn đề lý thuyết vốn tồn tại về đặc điểm từ ngữ Tiếng Việt, ngôn ngữ sử dụng trong báo chí và đặc biệt là từ ngữ trong các bài báo phóng sự báo Quảng Nam. Đồng thời, đề tài còn mang tính cấp thiết đối với thời điểm tiến hành nghiên cứu, đem lại giá trị thiết thực cho lý luận, đóng góp cho sự phát triển của khoa học đời sống.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Bên cạnh ý nghĩa khoa học, đề tài còn mang ý nghĩa về thực tiễn, làm nổi bật cái hay trong từng nội dung và biện pháp nghệ thuật của các bài báo phóng sự trên Báo Quảng Nam. Đề tài cũng góp phần chỉ ra tầm quan trọng của thể loại phóng sự trong việc phục vụ công tác tuyên truyền bạn đọc.

ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ CÁC BÀI PHÓNG SỰ TRÊN BÁO QUẢNG NAM
ĐẶC ĐIỂM TỪ NGỮ CÁC BÀI PHÓNG SỰ TRÊN BÁO QUẢNG NAM

7. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn gồm ba chương:

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

CHƯƠNG 2: MIÊU TẢ, PHÂN LOẠI TỪ NGỮ CÁC BÀI PHÓNG SỰ TRÊN BÁO QUẢNG NAM

CHƯƠNG 3: Ý NGHĨA BIỂU ĐẠT CỦA TỪ NGỮ CÁC BÀI BÁO PHÓNG SỰ TRÊN BÁO QUẢNG NAM

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

1. 1. Khái quát về từ ngữ

1.1.1. Khái quát về từ

Từ là một khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học nhưng cũng là đơn vị đa dạng và khó định nghĩa nhất trong ngôn ngữ học đại cương, nên việc nhận diện từ tiếng Việt cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ. Trong tiếng Việt, việc xác định và nêu ra một định nghĩa chung cho từ cũng rất nan giải, bởi có khá nhiều quan điểm khác nhau về từ.

Nhận thấy quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn được phần lớn các nhà Việt ngữ đồng tình, vì thế chúng tôi theo quan niệm của Nguyễn Tài Cẩn nhằm phục vụ việc khảo sát và phân tích từ trong các bài phóng sự Báo Quảng Nam.

Nguyễn Tài Cẩn: Cho rằng hình vị tiếng Việt là tiếng, tức một âm tiết bất kể có nghĩa, không rõ nghĩa hay vô nghĩa. Do vậy, một từ có thể gồm một tiếng hay nhiều tiếng (từ đơn và từ ghép). Trong đó, từ đơn = 1 tiếng. Trong từ ghép có: ghép âm (láy), ghép đẳng lập, ghép chính phụ, ghép ngẫu kết.

      1. Khái quát về ngữ

Cho đến nay đã có nhiều kiến nghị phân loại ngữ cố định tiếng Việt theo kết cấu và mỗi kiến nghị đều có cái được, cái chưa được. Tuy nhiên, phân loại ngữ cố định theo hình thức tốt nhất là phân loại làm sao cho kết quả tương ứng với những đặc trưng ngữ nghĩa của các ngữ cố định trong cùng một loại. Trong Giáo trình “Từ vựng học tiếng Việt” (2007), Đỗ Hữu Châu đề nghị phân loại hình thức các ngữ cố định tiếng Việt theo kết cấu cú pháp của các từ trong ngữ. Theo tiêu chí này thì các ngữ cố định chia thành hai loại lớn: thứ nhất, các ngữ cố định có kết cấu là cụm từ; thứ hai, các ngữ cố định có kết cấu là câu. Mỗi loại đó lại được tiếp tục phân chia theo các loại nhỏ hơn nữa.

1.1.2.1. Đặc điểm của ngữ cố định

– Tính tương đương với từ về chức năng cấu tạo câu:

– Kết cấu của cụm từ cố định cơ bản là chặt chẽ, ổn định cố định:

– Tính thành ngữ:

1.1.2.2. Phân loại ngữ cố định

Ngữ cố định có thể chia làm 3 loại: thành ngữ, quán ngữ, ngữ cố định định danh.

  1. Thành ngữ

Là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa. Nghĩa của chúng có tình hình tượng hoặc gợi cảm.

Dựa vào cơ chế cấu tạo, cả nội dung lẫn hình thức, có thể chia ra thành ngữ tiếng Việt làm 2 loại thành ngữ: thành ngữ so sánh, thành ngữ miêu tả ẩn dụ.

– Thành ngữ so sánh:

Là những thành ngữ có cấu trúc so sánh.

– Thành ngữ miêu tả ẩn dụ:

Thành ngữ miêu tả ẩn dụ là thành ngữ được xây dựng trên cơ sở một sự kiện, một hiện tượng bằng cụm từ, nhưng biểu thị ý nghĩa một cách ẩn dụ.

b. Quán ngữ

Theo chúng tôi, quán ngữ là tổ hợp 2 từ trở lên, là cụm từ cố định được dùng lặp đi lặp lại trong các loại văn bản nhằm liên kết hoặc nhấn mạnh.Có nhiều tiêu chí để phân loại quán ngữ. Dựa vào phạm vi và tính chất phong cách của quán ngữ, ta có:

– Quán ngữ nói năng: là những quán ngữ hay dùng trong phong cách hội thoại, khẩu ngữ.

Với những quán ngữ này, chức năng chủ yếu là đưa đẩy, rào đón, chức năng liên kết cũng có nhưng mờ nhạt.

– Quán ngữ sách vở: là những quán ngữ hay dùng trong phong cách viết (khoa học, chính luận) hoặc diễn giảng.

Còn trong loại quán ngữ này, chức năng liên kết nổi lên hàng đầu. Chức năng rào đón, đưa đẩy cũng có nhưng không bằng các quán ngữ trong phong cách hội thoại, khẩu ngữ.

c. Ngữ cố định định danh

Ngữ cố định định danh là cụm từ cố định định danh, gọi tên sự vật. Đây là đơn vị có tính trung gian giữa thành ngữ và từ ghép.

d. Giá trị ngữ nghĩa của ngữ cố định

Nhờ tính cân xứng hài hòa trong cấu tạo và tính hình ảnh, cụm từ cố dịnh làm cho câu nói (câu viết) của người Việt thêm sinh động, dễ hiểu, dễ nhớ, có nghĩa biểu cảm cao. Đặc biệt, các thành ngữ đồng nghĩa với nhau có khả năng biểu thị các trạng thái, các khía cạnh khác nhau của cùng một sự vật, hành động, tính chất.

1.2. Đặc điểm ngôn ngữ báo chí

Nhìn chung, ngôn ngữ báo chí có những đặc điểm sau:

– Tính chính xác

– Tính cụ thể

– Tính đại chúng

– Tính ngắn gọn

– Tính sự kiện

– Tính biểu cảm

– Tính định lượng

– Tính khuôn mẫu

1.3. Lý luận về thể loại phóng sự

1.3.1. Quan niệm về thể loại

Có thể thấy, quan niệm về phóng sự theo sự phát triển và vận động của thể loại này ngày càng được hoàn thiện và cụ thể. Các nhà nghiên cứu văn học, báo chí không chỉ chú ý đến nội dung phản ánh mà còn mở rộng góc nhìn, đi sâu vào đặc trưng thể loại. Từ đó, họ đưa ra những quan niệm khá đầy đủ và bao quát về thể loại phóng sự. Theo chúng tôi, quan niệm của tác giả Đức Dũng là quan niệm đúng nhất, trong luận văn này chúng tôi dựa trên đây để tiến hành phân tích, khảo sát 77 bài phóng sự trên Báo Quảng Nam: Phóng sự là thể loại đứng giữa văn học và báo chí, có khả năng trình bày những sự kiện, con người, tình huống điển hình thông quá cái “tôi” trần thuật, vừa tỉnh táo, vừa lí trí, vừa cảm xúc với bút pháp giàu chất văn học .

1.3.2. Đặc điểm về thể loại phóng sự

Đặc điểm nổi bật nhất của phóng sự trước tiên là khả năng phản ánh sự thật. Đặc điểm thứ hai của thể loại phóng sự là ngôn ngữ giàu chất văn học. Đặc điểm thứ ba của thể loại phóng sự là luôn đậm dấu ấn cá nhân.

1.3.3. Các dạng phóng sự

Trong quá trình giao thoa, chuyển hóa cùng một số thể loại báo chí khác, phóng sự báo chí ở nước ta cũng phát triển một cách linh hoạt với nhiều dạng khác nhau. Trong cuốn “Phóng sự báo chí hiện đại”, tác giả Đức Dũng phân chia phóng sự gồm các dạng chính:

– Phóng sự phản ánh những vấn đề của đời sống

– Phóng sự phản ánh các sự kiện, sự việc

– Phóng sự điều tra

– Phóng sự chân dung

– Phóng sự phản ánh những hoàn cảnh, hiện trạng

1.4. Giới thiệu về báo Quảng Nam

1.4.1. Sơ lược về hoàn cảnh ra đời và quá trình phát triển

Tính từ tờ Báo Lưỡi Cày của tỉnh Đảng bộ Quảng Nam ra đời năm 1930 đến tờ Báo Quảng Nam ngày nay, đã đi được hai phần ba thế kỷ. Báo Quảng Nam đã trải qua quá trình hình thành và phát triển rất đáng tự hào. Báo thật sự là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Quảng Nam.

Văn phòng chính của báo Quảng Nam đặt tại số 142, đường Phan Bội Châu, TP Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

1.4.2. Mục tiêu hoạt động

Ngay từ khi ra đời, báo Quảng Nam là cơ quan của Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Quảng Nam. Là tiếng nói của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Quảng Nam, báo đã xác định là tờ báo chính trị – xã hội tổng hợp, phản ánh toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngoài nhiệm vụ tuyên truyền các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đến người dân, Báo Quảng Nam còn có nhiệm vụ đấu tranh, phê bình, phản bác những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

CHƯƠNG 2

MIÊU TẢ, PHÂN LOẠI TỪ NGỮ

TRONG CÁC BÀI PHÓNG SỰ TRÊN BÁO QUẢNG NAM

2.1. Từ trong các bài phóng sự trên báo Quảng Nam xét về cấu tạo

Qua thống kê, trong 77 bài phóng sự, chúng tôi phân loại và tính đếm, nhận thấy số lượng từ đơn chiếm đại đa số với tổng 84.778 lượt từ, tỷ lệ 81,17%, còn từ phức chiếm 19.656 lượt từ, tỷ lệ 18,83%.

Bảng 2.1. Bảng phân loại từ đơn và từ phức

Từ loại

Số lượng

Tỉ lệ

Đơn

84.778 lượt từ

81,17%

Phức

19.656 lượt từ

18,83%

2.1.1. Từ đơn

Qua khảo sát 77 bài phóng sự, chúng tôi nhận thấy, hầu hết từ đơn được sử dụng trong các bài điều tra trên Báo Quảng Nam là từ thuần Việt, một âm tiết (1 tiếng). Trong đó, chủ yếu các từ loại được sử dụng là danh từ, động từ, tính từ…

2.1.2. Từ phức

Khảo sát trong 77 bài phóng sự trên Báo Quảng Nam, chúng tôi thống kê được 19.656 lượt từ phức được sử dụng trong các tác phẩm và phân loại cụ thể.

Bảng 2.2. Bảng phân loại từ phức

STTSố lượngTỷ lệ
Từ ghép18.009 lượt từ91,31%
Từ láy1.647 lượt từ8,35%
Từ ngẫu kết66 lượt từ0,34%

2.1.2.1. Từ ghép

Qua khảo sát 77 bài phóng sự, chúng tôi nhận được con số từ ghép là 18.009 lượt từ, phân loại từ ghép chính phụ chiếm 16.260 lượt từ, từ ghép đẳng lập chiếm 1.749 lượt từ.

Bảng 2.3. Bảng phân loại từ ghép

Từ ghépSố lượngTỷ lệ
Ghép chính phụ16.260 lượt từ90,28%
Ghép đẳng lập1.749 lượt từ9,72%

a. Từ ghép chính phụ

Có thể thấy, từ ghép chính phụ được nhà báo sử dụng linh hoạt và phong phú, chiếm số lượng nhiều hơn từ ghép đẳng lập. Từ ghép chính phụ chủ yếu sử dụng trong các bài báo liên quan đến đề tài xã hội, cuộc sống người lao động làng nghề, văn hóa đồng bào vùng cao.

b. Từ ghép đẳng lập

Cùng với từ ghép chính phụ, từ ghép đẳng lập cũng tạo hiệu quả thông tin giúp người đọc dễ hình dung đề tài bài báo hướng đến. Qua khảo sát 77 bài phóng sự, chúng tôi nhận thấy dù chiếm tỷ lệ ít hơn từ ghép chính phụ, nhưng cả 77 bài phóng sự đều có sử dụng từ ghép đẳng lập.

2.1.2.2. Từ láy

Đây là từ được cấu tạo bởi hai tiếng trở lên, giữa các tiếng có quan hệ với nhau về mặt âm. Trong từ láy chỉ có một tiếng gốc có nghĩa, các tiếng khác láy lại tiếng gốc. Khảo sát 77 bài phóng sự trên Báo Quảng Nam, chúng tôi tìm được 1.647 lượt từ láy.

Chúng tôi xin mô tả từ láy được sử dụng ở các tác phẩm điều tra trên Báo Quảng Nam trong bảng thống kê dưới đây:

Bảng 2.4. Bảng phân loại từ láy

Từ láySố lượngTỷ lệ
Láy bộ phận1.569 lượt từ95,26%
Láy toàn bộ78 lượt từ4,74%

a. Từ láy bộ phận:

+ Láy phần vần

+ Láy phụ âm đầu

+ Láy ‘‘iếc”

b. Từ láy toàn bộ:

+ Nhóm láy hoàn toàn

+ Nhóm láy có thêm sự khác biệt ở thanh điệu

2.2. Từ trong các bài phóng sự trên báo Quảng Nam xét về nguồn gốc

2.2.1. Từ thuần Việt

Qua khảo sát 77 bài phóng sự trên Báo Quảng Nam từ năm 2017 đến tháng 2-2019, chúng tôi nhận thấy Báo Quảng Nam chủ yếu sử dụng những từ thuần Việt tạo sự gần gũi và giúp người đọc dễ tiếp nhận, dễ hiểu, giúp nâng cao hiệu quả tuyên truyền. Bên cạnh đó, sử dụng từ thuần Việt trong tác phẩm báo chí cũng góp phần giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt. Cụ thể, từ đơn thuần Việt có 95.385 lượt từ, tỉ lệ 92,18%; từ ghép thuần Việt có 3.061 lượt từ, tỉ lệ 2,95%; từ Hán –Việt có 4.917 lượt từ, tỉ lệ 4,75%. Số còn lại là những từ có nguồn gốc khác.

2.2.2. Từ Hán-Việt

Người Việt chúng ta đã trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, chính vì vậy mà văn hóa Hán xâm nhập, chi phối đời sống xã hội, tiếng Việt vay mượn tiếng Hán là điều không thể tránh khỏi. Khảo sát 77 bài phóng sự trên Báo Quảng Nam, chúng tôi nhận thấy số lượng từ Hán – Việt sử dụng khá nhiều với số lượng 4.917 từ.

2.2.3. Từ nguồn gốc khác

Có thể thấy, những từ vay mượn trong các ngôn ngữ Ấn Âu xuất hiện không nhiều trong các bài phóng sự trên báo Quảng Nam. Qua khảo sát, chúng tôi thu được 112 từ có nguồn gốc Ấn Âu, chiếm tỉ lệ 0,12%. Cụ thể ở bảng sau:

Bảng 2.5. Bảng phân loại từ vay mượn trong các ngôn ngữ Ấn Âu:

Nguồn gốcSố lượngTỉ lệ
Tiếng Pháp68 lượt từ58,62%
Tiếng Anh46 lượt từ39,65%
Khác2 lượt từ1,73%

2.3. Từ trong các bài phóng sự trên báo Quảng Nam xét về phạm vi sử dụng

Để tạo thêm sự đa dạng, phong phú cho tác phẩm báo chí, nhà báo đã sử dụng từ ngữ địa phương, từ ngữ nghề nghiệp và từ lóng một cách hợp lý giúp cho bài báo trở nên sinh động, gần gũi với người đọc, đặc biệt là bạn đọc xứ Quảng.

Chúng tôi nhận thấy, các nhà báo sử dụng rất thuần thục các từ ngữ nghề nghiệp, từ địa phương và từ lóng. Tuy nhiên, lượng từ ngữ nghề nghiệp và từ địa phương vẫn chiếm số lượng nhiều hơn từ lóng. Cụ thể, chúng tôi đưa ra số liệu khảo sát:

Bảng 2.6. Bảng phân loại từ nghề nghiệp, từ lóng, từ địa phương

STTSố lượngTỷ lệ
Từ nghề nghiệp1.330 lượt từ73,2%
Từ lóng91 lượt từ5,01 %
Từ địa phương396 lượt từ21,79%

2.3.1. Từ ngữ địa phương

Từ địa phương được sử dụng trong hầu hết trong 77 bài phóng sự mà chúng tôi khảo sát, thậm chí có một số bài dùng từ địa phương tạo điểm nhấn trên tít bài, một số bài viết về đời sống người dân xứ Quảng di dân nhưng vẫn nhớ về cội nguồn bằng cách nhớ những từ ngữ quen thuộc.

Từ địa phương đã phản ánh chính xác và chân thật lời ăn tiếng nói của người dân Quảng Nam, làm cho bài phóng sự gần gũi và mang sắc thái mới lạ. Những từ địa phương chủ yếu được tác giả dẫn lời của nhân vật trong tác phẩm, hoặc cũng chính là lời của tác giả.

2.3.2. Từ ngữ nghề nghiệp

Mỗi bài phóng sự trên Báo Quảng Nam đều có đề tài nhất định liên quan đến tổ chức, cá nhân, ngành nghề, làng nghề hoặc tập trung khắc họa thân phận một nhân vật. Chúng tôi nhận thấy, từ ngữ nghề nghiệp rất phong phú, đa dạng, bởi bất kì ngành nghề nào cũng có những lớp từ ngữ biểu đạt cụ thể.

Trong phạm vi khảo sát 77 bài phóng sự Báo Quảng Nam, chúng tôi thu được 1330 từ nghề nghiệp, chiếm 73,2%, biểu thị nhiều ngành nghề khác nhau trong xã hội. Cụ thể thống kê dưới bảng sau:

Bảng 2.7. Bảng phân loại các nhóm từ chỉ nghề nghiệp

Tên nhóm nghềSố lượngTỷ lệ
Nhóm từ chỉ nghề Y200 lượt từ15,04%
Nhóm từ chỉ nghề Nông-Lâm-Ngư nghiệp291 lượt từ21,88%
Nhóm từ chỉ nghề Giáo dục126 lượt từ9,47%
Nhóm từ chỉ nghề Tài nguyên, môi trường26 lượt từ1,95%
Nhóm từ chỉ nghề Kiến trúc, xây dựng96 lượt từ7,21%
Nhóm từ chỉ nghề Du lịch111 lượt từ8,34%
Nhóm từ chỉ nghề Quản lý, bảo vệ rừng38 lượt từ2,86%
Nhóm từ chỉ nghề Tư pháp, quân đội147 lượt từ11,05%
Nhóm từ chỉ nghề Kinh doanh171 lượt từ12,86%
Nhóm từ chỉ nghề Cán bộ, công chức

nhà nước

124 lượt từ9,32%

2.4. Ngữ trong các bài phóng sự trên báo Quảng Nam

Khảo sát 77 bài phóng sự, chúng tôi thống kê có 499 ngữ cố định, cụ thể như sau:

Bảng 2.8. Bảng phân loại các ngữ cố định

STTSố lượngTỷ lệ
Thành ngữ6913,82%
Quán ngữ42785,57%
Ngữ cố định định danh30,61%

2.4.1. Thành ngữ

Nhìn chung, các bài phóng sự trên Báo Quảng Nam sử dụng không quá nhiều thành ngữ. Có 69 thành ngữ có mặt trong các bài phóng sự, và được các tác giả vận dụng hết sức uyển chuyển và tinh tế. Thành ngữ được chia thành các loại như sau:

2.4.1.1. Thành ngữ so sánh

2.4.1.2. Thành ngữ miêu tả ẩn dụ

a. Thành ngữ miểu tả ẩn dụ đối xứng

b. Thành ngữ miêu tả ẩn dụ phi đối xứng

2.4.1.3. Thành ngữ làm chức năng cú pháp trong câu

a. Thành ngữ làm chủ ngữ trong câu

b. Thành ngữ làm vị ngữ trong câu

c. Thành ngữ làm bổ ngữ trong câu

d. Thành ngữ làm định ngữ trong câu

2.4.1.4. Cách sử dụng thành ngữ trên các bài phóng sự trong Báo Quảng Nam

Các thành ngữ trên các bài phóng sự Quảng Nam được lấy nguyên dạng hoặc không giữ nguyên dạng tùy vào ngữ cảnh và ý nghĩa truyền đạt thông tin mà các tác giả bài viết muốn nhắm đến.

  1. Thành ngữ được giữ nguyên dạng
  2. Thành ngữ không giữ nguyên dạng

2.4.2. Quán ngữ

– Trong quá trình khảo sát, chúng tôi thấy rằng, hầu như trong tất cả các bài phóng sự trên báo Quảng Nam, các tác giả đều sử dụng quán ngữ. Qua việc khảo sát 77 bài phóng sự, chúng tôi thu được 427 quán ngữ, đảm nhiệm các chức năng và tính chất khác nhau khác nhau.

2.4.2.1. Chức năng giải thích

– Các quán ngữ có chức năng giải thích thêm, làm rõ nghĩa cho nội dung của mệnh đề trước đó được tường tận hơn.

2.4.2.2. Chức năng phân tích, minh họa

Các quán ngữ mang đặc điểm liệt kê, làm cho vấn đề trình bày được rõ ràng, cụ thể hơn, từ đó người đọc dễ dàng tiếp thu vấn đề.

2.4.2.3. Chức năng tổng kết, khái quát hóa

Để vấn đề đưa ra được hoàn chỉnh, đầy đủ hơn, người viết phải tổng kết, khái quát lại vấn đề. Quán ngữ có chức năng này làm cho người đọc biết được đâu là vấn đề trọng tâm, vấn đề chính cần được lưu ý trong văn bản đó.

2.4.2.4. Chức năng dự báo

Quán ngữ có chức năng này làm nhiệm vụ rào đón, báo trước tình hình có nhiều thông tin có thể xảy ra dựa vào những dữ liệu được đưa ra trước đó, chuẩn bị tâm lí cho người đọc tiếp nhận những thông tin tiếp theo.

2.4.2.5. Chức năng nhấn mạnh

Quán ngữ có chức năng này thường nhấn mạnh, trình bày những vấn đề quan trọng nhất, vấn đề lớn nhất trong tất cả các vấn đề nhỏ được trình bày ở văn bản, giúp người đọc nắm được vấn đề cốt yếu nhất mà tác giả muốn truyền tải.

2.4.2.6. Chức năng bổ sung, đính chính

Quán ngữ có chức năng hiệu chỉnh, đính chính thông tin một cách rõ ràng hơn, bổ sung những thông tin chưa được nêu lên ở vấn đề trước đó, từ đó giúp người đọc nhìn nhận lại vấn đề một cách sâu rộng, xác thực và cụ thể hơn.

2.4.3. Ngữ cố định định danh

Qua việc khảo sát 77 bài phóng sự, chúng tôi nhận thấy chỉ có 3 bài xuất hiện ngữ cố định định danh phù hợp với ngữ cảnh cũng như đề tài trong bài viết.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

Qua những miêu tả, phân tích, chứng minh trên 77 bài phóng sự, chúng tôi nhận thấy các nhà báo sử dụng từ ngữ dưới nhiều dạng thức, phù hợp với đề tài viết của mình. Với đặc thù thể loại phóng sự, các nhà báo với mỗi phong cách viết khác nhau, vận dụng một cách linh hoạt loại từ xét về cấu tạo cũng như phạm vi sử dụng. Còn về phần ngữ, nhiều tác giả sử dụng số lượng lớn thành ngữ và quán ngữ nhằm diễn đạt, khắc họa cụ thể nội dung bài phóng sự phản ánh. Đặc biệt, phần thành ngữ tạo cho tác phẩm có giá trị biểu đạt cao, hình ảnh sinh động và giàu sắc thái biểu cảm làm cho người đọc dễ dàng tiếp nhận, tạo hiệu ứng thông tin cao, bởi nó gần gũi với lời ăn tiếng nói của quần chúng nhân dân, cũng như làm giảm sự khô cứng của những thông tin một cách tối thiểu nhất.

CHƯƠNG 3

Ý NGHĨA BIỂU ĐẠT CỦA TỪ NGỮ

CÁC BÀI BÁO PHÓNG SỰ TRÊN BÁO QUẢNG NAM

3.1. Lớp từ ngữ chỉ các tổ chức chính trị xã hội

Mỗi cơ quan, đơn vị trong các tổ chức chính trị xã hội đều có tên gọi và nhiệm vụ khác nhau. Vì vậy, trong các bài phóng sự của mình, nhà báo phải có sự hiểu biết, kiến thức sâu rộng về các tổ chức chính trị xã hội, từ đó vận dụng vào trong các bài phóng sự của mình cho chuẩn xác nhất.

Các lớp từ ngữ chỉ các tổ chức chính trị xã hội được dùng trong các bài phóng sự trên báo Quảng Nam:

3.1.1. Tên các cơ quan, tổ chức chính trị xã hội

3.1.1.2. Tên các chức danh, đối tượng trong bộ máy chính quyền

3.1.1.3. Tên các chức danh, đối tượng trong bộ máy tổ chức Đảng, Đoàn thanh niên, Công đoàn

3.1.2. Từ ngữ chỉ hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội

3.1.2.1. Từ ngữ chỉ hoạt động của Hội nông dân

– Từ ngữ về chức vụ Hội

– Từ ngữ về phong trào Hội

– Từ ngữ về đặc điểm hoạt động, tính chất Hội

– Từ nghề nghiệp của Hội

3.1.2.2. Từ ngữ chỉ hoạt động của Hội Liên hiệp thanh niên

– Từ ngữ chỉ chức vụ Hội

– Từ ngữ về phong trào Hội

– Từ ngữ về đặc điểm hoạt động, tính chất Hội

3.1.2.3. Từ ngữ chỉ hoạt động của Hội Chữ thập đỏ

– Từ ngữ chỉ chức vụ Hội

– Từ ngữ về phong trào Hội

– Từ ngữ về đặc điểm hoạt động, tính chất Hội

3.1.2.4. Từ ngữ chỉ hoạt động của Hội Phụ nữ

– Từ ngữ chỉ chức vụ Hội

– Từ ngữ về phong trào Hội

– Từ ngữ về đặc điểm hoạt động, tính chất Hội

3.2. Lớp từ ngữ chỉ lĩnh vực kinh tế

3.2.1. Tên các ngành, nghề trong lĩnh vực kinh tế

3.2.2. Tên các sản phẩm trong hoạt động kinh doanh

3.2.3. Tên các đối tượng trong lĩnh vực kinh doanh

3.2.4. Tên các tổ chức, địa điểm kinh doanh

3.3. Lớp từ ngữ chỉ lĩnh vực văn hóa – văn nghệ

3.3.1. Các lớp từ ngữ chỉ lĩnh vực văn hóa

3.3.1.1. Từ ngữ về các phong tục tập quán

3.3.1.2. Từ ngữ về các hủ tục của người dân tộc thiểu số

3.3.1.3. Từ ngữ trong Phật Giáo

3.3.2. Các lớp từ ngữ chỉ lĩnh vực văn nghệ

3.3.2.1. Từ chỉ các đơn vị tổ chức văn nghệ

3.3.2.2. Các đối tượng trong hoạt động văn nghệ

3.3.2.3. Các hoạt động văn nghệ

3.3.2.4. Không gian và các dụng cụ phục vụ văn nghệ

3.4. Lớp từ ngữ chỉ lĩnh vực du lịch, dịch vụ

Trong phóng sự Báo Quảng Nam, du lịch là ngành được nhiều nhà báo quan tâm và chắp bút. Bên cạnh việc tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu những địa điểm du lịch ấn tượng cho quý độc giả. Các bài viết còn lắng đọng những trăn trở, sự mong muốn khắc phục những mặt chưa tốt để từ đó nâng cao dịch vụ du lịch của Quảng Nam ngày một tốt hơn. Các lớp từ ngữ trong lĩnh vực du lịch được sử dụng trong phóng sự trên Báo Quảng Nam:

3.4.1. Từ ngữ chỉ các địa điểm du lịch, nghỉ dưỡng

3.4.2. Từ ngữ chỉ những đặc trưng, điểm thú vị của các địa điểm du lịch

3.4.3. Từ ngữ chỉ các đối tượng trong lĩnh vực du lịch

3.4.4. Từ ngữ chỉ các hoạt động trong lĩnh vực du lịch

3.4.4.1. Hoạt động của những người làm du lịch

3.4.4.2. Hoạt động của khách du lịch

3.4.5. Từ ngữ chỉ hành động duy trì, phát triển du lịch

3.4.6. Từ ngữ chỉ những nguồn lợi du lịch

3.4.7. Từ ngữ chỉ những bất cập trong ngành du lịch

3.5. Lớp từ ngữ chỉ lĩnh vực quốc phòng – an ninh

Chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng – an ninh đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh. Trong một số bài phóng sự, chúng tôi nhận thấy người viết sử dụng một cách chính xác lớp từ ngữ chỉ lĩnh vực quốc phòng – an ninh nhằm biểu đạt rõ nội dung đề tài với mục đích thông tin, tuyên truyền.

3.5.1. Từ ngữ chỉ các lực lượng an ninh, quân sự

3.5.2. Từ ngữ chỉ các chức vụ, cấp bậc quân hàm

3.5.3. Từ ngữ tên các tổ chức, đơn vị trong quân đội

3.5.4. Từ ngữ chỉ các hoạt động và nhiệm vụ của các lực lượng an ninh, quân sự

3.5.5. Từ ngữ chỉ sự gắn kết giữa người dân với các lực lượng quân sự

3.5.6. Từ ngữ chỉ sự giúp đỡ của người dân cho cách mạng

3.6. Từ ngữ chỉ các đối tượng tội phạm và các tệ nạn xã hội

Nhiều vụ phạm tội như buôn bán và sử dụng ma túy, chặt phá rừng, buôn người, buôn lậu… đang xảy ra trên địa bàn Quảng Nam nói riêng và nước ta nói chung. Tuy nhiên, một thực trạng vẫn diễn ra, được một số bài phóng sự phản ánh trên Báo Quảng Nam, đó là các tệ nạn xã hội vẫn chưa được ngăn chặn và xử lí triệt để:

– Tội phạm ma túy

– Tội phạm trộm cắp

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

Báo chí là bức tranh tổng quan sinh động về cuộc sống. Phạm vi đối tượng phản ánh của báo chí thực sự sâu rộng, đa diện, đa chiều. Đến với báo chí, bạn đọc gặp đủ các loại thông tin chân xác, sinh động về chính trị, thời sự, kinh tế, văn hoá, văn nghệ. Nhà báo không thể hoàn thành tốt sứ mạng của mình nếu thiếu hụt tri thức cuộc sống đa diện. Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy rằng hầu hết các bài phóng sự trên báo Quảng Nam đều rất chú ý đến nội dung thông tin thẩm mỹ. Những tác phẩm phóng sự ngoài những lớp từ ngữ chuyên ngành, đặc trưng cho mỗi lĩnh vực còn khai thác những tri thức văn học , vận dụng những lối nói, những cách viết thiên về xu hướng hình tượng hoá giàu hình tượng, hình ảnh, tạo ấn tượng trực cảm mạnh mẽ đối với độc giả. Người đọc vì thế, không chỉ tiếp nhận được những thông tin bổ ích, thiết thực của cuộc sống mà còn được thư giãn, chiêm nghiệm những giá trị nghệ thuật đẹp đẽ.

KẾT LUẬN

Có thể nói, báo chí luôn là một lĩnh vực có sức hút và sự lan tỏa đặc biệt trong đời sống tinh thần của mọi tầng lớp trong xã hội. Bên cạnh đó, nó còn có vai trò vô cùng to lớn đối với đời sống kinh tế – xã hội của đất nước ta. Những năm qua, Báo Quảng Nam đã ghi những dấn ấn trên diễn đàn báo chí của nước nhà, đặc biệt là trong thể loại phóng sự, có nhiều bài viết, nhiều cây bút tạo được những tiếng vang lớn đối với độc giả. Điều đó không phải là hiển nhiên, bởi đó là sự tổng hợp của nhiều yếu tố tạo nên, mà điều cốt lõi nhất vẫn là các sử dụng những lớp từ ngữ hết sức phong phú và đặc sắc trong những bài phóng sự.

Qua việc phân tích và khảo sát 77 bài phóng sự trên Báo Quảng Nam từ năm 2017 đến tháng 2-2019, luận văn đạt một số kết quả sau:

  1. Về lý luận

Để đi sâu vào tìm hiểu đặc điểm của từ ngữ trên các bài phóng sự trong Báo Quảng Nam, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, phân loại, kiểm đếm về cả từ và ngữ trong các bài phóng sự dựa trên cơ sở những lí thuyết mà chúng tôi đã nghiên cứu và tổng hợp trước đó.

Sau quá trình khảo sát 77 bài phóng sự chúng tôi thu được 84.778 từ đơn, 19.656 lượt từ phức. Trong từ phức có 18.009 lượt từ ghép, 1.647 lượt từ láy và từ ngẫu kết chỉ có 66 lượt từ. Những loại từ này được các tác giả vận dụng linh hoạt tao thành những câu văn ý nghĩa được sử dụng cho từng bài phóng sự. Các bài phóng sự trên báo Quảng Nam chủ yếu sử dụng từ thuần Việt, có 95.385 lượt từ , từ Hán –Việt có 4.917 lượt từ và chiếm số lượng ít nhất là từ có nguồn gốc Ấn – Âu với 112 từ. Đa số các bài phóng sự phục vụ cho mọi tầng lớp người dân nên việc sử dụng từ thuần Việt là chủ yếu trên các bài viết. Tuy nhiên không vì thế mà các lớp từ Hán – Việt gây khó hiểu cho người đọc, vì những từ này đều quen thuộc và dễ hiểu cho hầu hết mọi người. Làm nhiều vụ phản ánh nhiều ngành nghề khác nhau, phóng sự trên Báo Quảng Nam sử dụng khá nhiều lớp từ nghề nghiệp, có 1.330 lượt từ chỉ nghề nghiệp xuất hiện trên các bài báo. Những từ địa phương cũng có mặt không ít trên những bài viết, rất đặc trưng cho Báo Quảng và lời ăn tiếng nói của người Quảng.

Về ngữ, trong 77 bài phóng sự, chúng tôi nhận thấy quán ngữ xuất hiện rất nhiều trên các tác phẩm, có tới 427 quán ngữ góp phần tạo nên sự mạch lạc, sự rõ ràng và cụ thể cho những vấn đề, thông tin mà các tác giả muốn chuyển tải. Còn thành ngữ chiếm số lượng 69, ngữ cố định định danh chỉ 3 lượt từ, con số khá khiêm tốn nên ở một số bài phóng sự, các câu và đoạn văn vẫn chưa hấp dẫn người đọc.

  1. Về thực tiễn

Việc sử dụng linh hoạt và chính xác từ ngữ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc tổ chức 77 bài báo phóng sự trên Báo Quảng Nam từ năm 2017 đến tháng 2-2019. Với các lập luận sắc sảo, những bài phóng sự trên Báo Quảng Nam đã thuyết phục tâm lý và cảm xúc từ trái tim nơi bạn đọc. Nhờ thế, mỗi bài báo phóng sự đạt hiệu quả tuyên truyền nhất định, hợp lòng dân, tạo cái nhìn đồng thuận trong xã hội. Bên cạnh đó, các phóng sự cũng nêu lên những hành vi, tư tưởng sai trái, từ đó gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh, định hướng dư luận.

  1. Những vấn đề đặt ra

Vấn đề đặt ra cho tác giả luận văn, từ kết quả khảo sát, phân tích, nghiên cứu, tác giả sẽ đề xuất lãnh đạo Báo Quảng Nam duy trì việc tổ chức thể loại phóng sự với mật độ thường xuyên trên Báo Quảng Nam với các yêu cầu sau:

– Chọn lựa những đề tài bạn đọc quan tâm nhất để kịp thời định hướng dư luận, đạt mục đích tuyên truyền nhất định.

– Trong khâu tổ chức, biên tập, cần tránh hoặc nói không với các lỗi về từ và ngữ ở các bài báo phóng sự.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\NGON NGU HOC\VO THI NHU TRANG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *