TÍN HIỆU THẨM MĨ VỀ MÀU SẮC TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
Tín hiệu thẩm mĩ không chỉ được xem là yếu tố nghệ thuật, là chìa khóa để biểu đạt tư tưởng, nội dung, phản ánh hiện thực mà còn là chiếc cầu nối truyền đạt tư tưởng của tác giả văn chương đến người đọc để tạo ra giá trị thẩm mĩ cho tác phẩm. Do đó, việc nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ trong văn chương vẫn là vấn đề cần thiết và quan trọng. Tín hiệu thẩm mĩ xuất hiện và mang nhiều ý nghĩa trong các tác phẩm văn học, trong đó có ca dao. Tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc trong ca dao là một tín hiệu nghệ thuật chứa đựng nhiều ý nghĩa biểu trưng. Tư tưởng, quan điểm của các tác giả dân gian được thể hiện rõ dưới góc độ tín hiệu thẩm mĩ. Việc nghiên cứu tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc trong ca dao người Việt sẽ giúp cho người đọc dễ dàng cảm nhận được cái hay, cái đẹp được thể hiện trong mỗi tác phẩm.
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, ca dao luôn là mảnh đất màu mỡ cho những ai tìm tòi, sáng tạo trong nghiên cứu khoa học trên các lĩnh vực văn hóa, văn học và ngôn ngữ. Bởi ca dao tuy ngắn gọn nhưng chất chứa và truyền tải nhiều màu sắc của cuộc sống, chứa đựng nhiều cung bậc tình cảm khiến bao trái tim con người phải thao thức. Đó cũng chính là một phần hấp dẫn của các tác phẩm ca dao.
Chính vì những lí do trên mà chúng tôi đã chọn đề tài “Tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc trong ca dao người Việt” làm đề tài nghiên cứu với mong muốn góp phần vào sự phát triển của khuynh hướng đọc -hiểu tác phẩm ca dao từ góc độ ngôn ngữ đồng thời góp phần làm sáng tỏ những giá trị đặc sắc của ngôn ngữ ca dao người Việt, giúp cho việc cảm thụ và giảng dạy tốt hơn ca dao trong nhà trường phổ thông.
Chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn là các tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc trong ca dao người Việt với phạm vi nghiên cứu chủ yếu khảo sát nghiên cứu các câu ca dao mang màu sắc chủ đạo như vàng, xanh, hồng, trắng, trắng, đen, đỏ và chủ yếu khảo sát những câu ca dao trong cuốn Kho tàng ca dao người Việt (tập I, II, III) do Nguyễn Xuân Kính- Phan Đăng Nhật (chủ biên) NXB Văn hóa thông tin Hà Nội,1995. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tham khảo các văn bản ca dao khác để phân tích, so sánh.
Mục tiêu nghiên cứu là khảo sát, thống kê các đặc điểm cấu tạo của các tín hiệu thẩm mĩ chỉ màu sắc trong ca dao người Việt. Chỉ ra giá trị biểu đạt của các tín hiệu thẩm mĩ chỉ màu sắc được biểu hiện trong ca dao của người Việt. Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng phương pháp miêu tả dựa trên các quan điểm ngôn ngữ học là chính. Ngoài ra, trong quá trình viết, luận văn còn sử dụng phương pháp của các ngành khoa học khác: khảo sát, thống kê, phân loại, phân tích, chứng minh, …
Luận văn đã góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận của tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc trong ca dao. Tín hiệu thẩm mĩ xuất hiện và mang nhiều ý nghĩa biểu trưng trong các tác phẩm văn học, trong đó có ca dao nhằm giúp bổ sung kiến thức trong việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy bộ môn Ngữ văn trong các nhà trường trung học phổ thông theo hướng khám phá, tiếp cận tác phẩm văn học từ góc độ nghệ thuật; góp phần nâng cao chất lượng của mỗi giờ dạy Văn đồng thời khơi gợi khả năng cảm thụ văn học và tạo hứng thú cho học sinh.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ của tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc trong ca dao người Việt
Chương 3: Giá trị biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc trong ca dao người Việt
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Từ
Đỗ Thị Kim Liên: Từ là một đơn vị của ngôn ngữ, gồm một hoặc một số âm tiết, có nghĩa nhỏ nhất, có cấu tạo hoàn chỉnh và được vận dụng tự do để cấu tạo nên câu. [21,tr.18].
1.1.2. Ngữ
Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, Đỗ Thị Kim Liên nêu khái niệm “Cụm từ là cấu trúc gồm hai từ trở lên, chúng kết hợp tự do với nhau theo những quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp nhất định” [21,tr.75].
1.1.3. Các kiểu từ tiếng Việt
Dựa vào số lượng hình vị, có thể chia từ tiếng Việt thành từ đơn và từ phức. Dựa vào phương thức cấu tạo từ, có thể chia từ phức thành từ ghép và từ láy.
1.1.4. Từ loại Tiếng Việt
Từ loại là một địa hạt quan trọng của ngữ pháp nói chung và ngữ pháp tiếng Việt nói riêng. Từ loại là những lớp hạng ngữ pháp cơ bản của từ, trong đó vốn từ của một ngôn ngữ được phân bố căn cứ vào ý nghĩa khái quát và đặc điểm hình thức chung.
1.1.5. Từ ngữ chỉ màu sắc trong tiếng Việt
Từ chỉ màu sắc là những từ chỉ tính chất, đặc trưng của các sự vật, hiện tượng. Chính vì vậy, chúng được xếp vào từ loại tính từ.
1.2. Tín hiệu thẩm mĩ
1.2.1. Tín hiệu
Mai Ngọc Chừ khi phân tích về tín hiệu cho rằng: “Tín hiệu là một sự vật (hoặc một thuộc tính, một hiện tượng) kích thích vào giác quan của con người, làm cho con người tri giác được và lí giải, suy diễn tới một cái gì đó ngoài sự vật ấy” [9, tr.9].
1.2.2. Tín hiệu ngôn ngữ
“Tín hiệu ngôn ngữ không phải một sự vật với một tên gọi mà là một khái niệm với một hình ảnh âm thanh” [53, tr. 71]. Tín hiệu ngôn ngữ phải bao gồm quan hệ hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt (tức hình thức và nội dung) và phải ở trong một hệ thống nhất định.
1.2.3. Tín hiệu thẩm mĩ
Tín hiệu thẩm mĩ là tín hiệu thuộc hệ thống các phương tiện biểu hiện của các ngành nghệ thuật, bao gồm toàn bộ những yếu tố của hiện thực, của tâm trạng (những chi tiết, những sự vật, hiện tượng, những cảm xúc… trong đời sống hiện thực và tâm trạng) được lựa chọn, xây dựng và sáng tạo trong tác phẩm vì mục đích thẩm mĩ, trong đó cái biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ là những yếu tố thuộc hệ thống phương tiện vật chất (chất liệu – các yếu tố của chất liệu ngôn ngữ với văn chương, các yếu tố của chất liệu màu sắc với hội họa; âm thanh nhịp điệu với âm nhạc…) được sử dụng trong các ngành nghệ thuật và cái được biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ là những nội dung tinh thần mang tính thẩm mĩ. Tín hiệu thẩm mĩ cũng chứa đựng yếu tố văn hóa dân tộc, thời đại và dấu ấn của cá nhân người sáng tác.
1.3. Các đặc điểm cơ bản của tín hiệu thẩm mĩ
Chúng tôi theo quan điểm của Trương Thị Nhàn trong “Một số vấn đề và phân tích văn chương từ góc nhìn ngôn ngữ – tín hiệu thẩm mĩ” có những đặc trưng sau: Tính truyền thống và tính cách tân, tính cấp độ, tính hệ thống, tính biểu hiện, tính biểu trưng, tính trừu tượng và cụ thể, tính tác động, tính biểu cảm, tính đẳng cấu.
1.4. Vài nét về ca dao và ngôn ngữ ca dao
1.4.1. Khái niệm ca dao
Có nhiều định nghĩa về khái niệm ca dao nhưng nhìn chung những khái niệm này đều có đặc điểm giống nhau: phần lớn ca dao là lời thơ, lời nói có kết hợp giai điệu nhạc để thể hiện tâm trạng, tư tưởng, tình cảm của con người.
1.4.2. Nội dung chủ yếu của ca dao
Ca dao phản ánh những nội dung khác nhau hết sức phong phú ở mọi mặt trong đời sống của nhân dân như: Phản ánh lịch sử thông qua sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan điểm nhân dân; Phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền thống; Phản ánh nhiều mặt đời sống tình cảm của nhân dân; Phản ánh đời sống xã hội cũ – một bức tranh phong phú về hiện thực; Cuối cùng, ca dao chứa đựng tiếng cười trào phúng, qua đó phê phán, đả kích giai cấp thống trị, những hiện tượng không bình thường, phi lý, những tệ trạng… thể hiện khát vọng của nhân dân về một cuộc sống tốt đẹp hơn.
1.4.3. Đặc điểm ngôn ngữ ca dao
Có thể nói, ngôn ngữ ca dao kết tụ những đặc điểm tuyệt vời nhất của tiếng Việt. Nó có cả những đặc điểm tinh túy của ngôn ngữ văn học mà cụ thể là ngôn ngữ thơ, đồng thời còn là sự vận dụng linh hoạt, tài tình, có hiệu quả cao của ngôn ngữ chung vào một loạt ngôn ngữ truyền miệng đặc biệt: truyền miệng bằng thơ. Bởi vậy, ở ca dao, chúng ta không chỉ bắt gặp những cách nói trau chuốt, mượt mà, ý nhị, đầy chất thơ mà còn bắt gặp cả những lời đầy tính chất khẩu ngữ.
1.4.4. Thế giới biểu tượng trong ca dao
Biểu tượng được coi là một loại hình tượng ẩn dụ, được tạo nên bằng ngôn ngữ, phong phú về khả năng biểu cảm và mang đậm tính dân tộc. Biểu tượng trong ca dao xuất hiện với tần số khá cao, đã phản ánh được một số đặc trưng quan trọng của ca dao về thi pháp cũng như về nội dung.
CHƯƠNG 2
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ CỦA TÍN HIỆU THẨM MĨ VỀ MÀU SẮC TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
2.1. Tín hiệu thẩm mĩ là từ

2.1.1. Từ đơn
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát, thống kê từ chỉ màu sắc trong ba tập Kho tàng ca dao người Việt được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.1: Bảng thống kê từ đơn chỉ màu sắc trong ca dao người Việt
2.1.2. Từ ghép
Trong 992 từ ghép mà chúng tôi khảo sát, thống kê, chỉ có hơn 10 từ chỉ màu sắc là thuộc từ ghép đẳng lập, còn lại là từ ghép chính phụ. Đối với từ ghép đẳng lập chỉ màu sắc có kết cấu sau: một thành tố là từ chỉ màu chính + một thành tố là từ chỉ màu chính/ phụ, đó là: trắng đen, đỏ hồng, đen bạc,… Đối với từ ghép chính phụ, quan hệ giữa các hình vị là quan hệ chính phụ, trật tự của các hình vị trong từ thường là trật tự cố định. Từ ghép chính phụ được chia làm hai loại: từ ghép chính phụ dị biệt và từ ghép chính phụ sắc thái hóa. Từ ghép dị biệt là những từ ghép có từ chỉ màu sắc làm thành tố phụ sau danh từ: lưới hồng, mâm vàng, chim xanh,… Từ ghép sắc thái hóa chỉ màu sắc có kết cấu sau: một thành tố chính (chủ yếu là từ chỉ màu cơ bản) + một thành tố phụ (gồm từ đơn tiết / từ láy song tiết). Điều này được thể hiện rõ nhất qua cách thể hiện một số màu có tần số xuất hiện cao như: màu xanh, màu đỏ, màu trắng, màu đen. Có thể thấy rằng, các tác giả dân gian đã sử dụng nhiều thành tố phụ để bổ sung sắc thái ý nghĩa cho màu sắc, tạo ra nhiều màu sắc khác nhau trong ca dao. Với một màu chính là màu xanh, các tác giả dân gian đã tạo ra 11 màu khác nhau với 22 lần xuất hiện. Màu trắng có 10 màu khác nhau với 14 lần xuất hiện. Màu đỏ có 7 màu khác nhau với 15 lần xuất hiện. Màu đen có 3 màu khác nhau với 3 lần xuất hiện… Đây chính là nghệ thuật phối màu và tạo màu bằng ngôn ngữ của các tác giả dân gian, tạo nên giá trị thẩm mĩ riêng khi sử dụng đa dạng các màu sắc.
2.1.3. Từ láy
Trong ca dao người Việt, một số từ chỉ màu cơ bản và từ chỉ màu phụ đơn âm tiết có khả năng cấu tạo nên những từ chỉ màu phụ theo phương thức láy, gồm hai kiểu: láy hoàn toàn và láy bộ phận. Tuy nhiên, tần số xuất hiện của từ láy không cao, chỉ có 32 lần.
Căn cứ vào các tiêu chí nhận diện từ và nguyên tắc phân loại các kiểu từ tiếng Việt, về đặc điểm cấu tạo của các từ chỉ màu sắc trong Kho tàng ca dao người Việt, chúng tôi thấy rằng: xét về mặt cấu tạo, các kiểu từ chỉ màu sắc trong ca dao người Việt chủ yếu là từ đơn (xuất hiện 966 lần chiếm 48,54%) và từ ghép (xuất hiện 992 lần chiếm 49,85%) còn từ láy xuất hiện ít, chỉ có 32 lần (1,61%). Giữa số lượng từ đơn và từ ghép chênh lệch nhau không nhiều, tuy nhiên từ chỉ màu sắc là từ ghép vẫn chiếm số lượng nhiều hơn.
2.1.4. Chức năng ngữ pháp của từ chỉ màu sắc
Từ chỉ màu sắc có chức năng ngữ pháp chủ yếu thể hiện trong trong cụm từ (cụm chủ vị, cụm động từ, cụm tính từ) và trong câu (từ chỉ màu sắc làm phần phụ trong cấu trúc chủ ngữ và từ chỉ màu sắc làm vị ngữ).
2.2. Tín hiệu thẩm mĩ trong hằng thể kết hợp
2.2.1. Hằng thể kết hợp của động từ/ cụm động từ
Chúng tôi đã khảo sát, thống kê được 66 động từ / cụm động từ chỉ màu sắc với các kết cấu như sau: Một động từ trung tâm và một tính từ chỉ màu sắc đi kèm: nhuộm đỏ, nhuộm thâm, chín vàng, ghẹo hồng,…; Tính từ chỉ màu sắc thường kết hợp với danh từ nhằm cụ thể hóa nội dung cho thành tố trung tâm: tắm suối vàng, tiếc má hồng, mang giày đỏ, hớt mái tóc xanh,…; Cấu trúc thành ngữ và tương đương: tham đỏ bỏ đen, thay đen đổi trắng, lấy mực làm đen, tham vàng bỏ ngãi …
2.2.2. Hằng thể kết hợp của tính từ/ cụm tính từ
Chúng tôi khảo sát, thống kê được 40 tính từ/ cụm tính từ chỉ màu sắc với các kết cấu như sau: Một tính từ chỉ màu sắc làm trung tâm và một danh từ đi kèm: đỏ hoe con mắt, xanh con mắt, trắng phau cánh cò, trắng trắng cổ tay …; Kết cấu chính phụ: Tính từ chỉ màu sắc + như + danh từ được so sánh: bạc như vôi, đỏ như son, đen như than, xanh như chàm,…; Kết cấu: Tính từ chỉ màu sắc 1 + danh từ 1 – tính từ chỉ màu sắc 2 + danh từ 2: xanh mỏ đỏ lông, đỏ môi bạc đầu…
2.2.3. Hằng thể kết hợp của danh từ/ cụm danh từ
Chúng tôi khảo sát, thống kê được 222 danh từ/ cụm danh từ chỉ màu sắc với các kết cấu như sau: Một danh từ trung tâm và một tính từ chỉ màu sắc đi kèm: mây trắng, bông vàng, khăn hồng, da đỏ,… ; Kết cấu danh từ 1 + danh từ 2 (có chức năng như tính từ chỉ màu sắc): áo the hoa, áo hoa hiên, quần trứng sáo, quần lĩnh hoa chanh, yếm hoa chanh, yếm hoa hiên, yếm hoa tằm…
2.2.4. Hằng thể kết hợp của cụm chủ vị
2.2.4.1. Cụm chủ vị đơn
Cấu trúc loại này gồm từ chỉ màu sắc kết hợp với từ ghép hoặc từ láy biểu thị sắc thái được thể hiện qua kết cấu định danh bổ trợ: Danh từ 1 + tính từ chỉ màu sắc + danh từ 2 (sự vật được so sánh). Trong Kho tàng ca dao người Việt, chúng tôi đã khảo sát và thống kê được 9 cụm chủ vị đơn chỉ màu sắc với tần số 10 lần xuất hiện: da đỏ hồng hào, má hồng đỏ thắm, mắt đen lay láy, răng trắng hạt bầu, răng đen hột đỗ, răng đen hạt nhót, vải thâm hạt giền, yếm trắng lòa xòa, yếm trắng lòa lòa.
2.2.4.2. Cụm chủ vị kép
Kết cấu cụm chủ vị kép chỉ màu sắc trong ca dao được thể hiện qua kết cấu song hành: Danh từ 1 + tính từ chỉ màu sắc 1 – Danh từ 2 + tính từ chỉ màu sắc 2. Trong Kho tàng ca dao người Việt, chúng tôi đã khảo sát, thống kê được 62 cụm chủ vị kép chỉ màu sắc với tần số 92 lần xuất hiện: Áo nâu kiềng bạc, Áo trắng khăn điều, Áo trắng quần thâm, Áo tía quần hồng, Áo đà khăn xanh, Áo đen nút bạc, Áo thắm quần hồng, Áo vàng chỉ trắng, Bông trắng lá xanh, Cánh trắng mỏ vàng, Cơm trắng nước trong, Chìa vàng khóa ngọc, Cành vàng cây bạc, Chỉ hồng lá thắm, Da đỏ má hồng, Dạ ngọc lòng vàng, Dạ ngọc gan vàng, Đũa ngọc chén vàng, Đầu đỏ mỏ vàng, Đầu xanh tóc bạc, Đũa ngọc mâm vàng, Đất đỏ mây vàng, Đồng trắng nước trong, Gấm lam hoa bạc, Gạo trắng nước trong, Gác tía lầu hoa, Giấy trắng mực đen, Hộp bạc khay vàng, Kiệu bạc ngai vàng, Lá ngọc cành vàng, Lá xanh bông thắm, Lá xanh bông trắng, Má hồng răng đen, Má ngọc mình vàng, Má phấn răng đen, Má phấn môi son, Má đỏ răng đen ,Má trắng mày xanh, Má đỏ tóc xanh, Mặt bủng da chì, Mây bạc trời hồng, Mây trắng trời xanh, Mực đen giấy trắng, Mũ bạc đai vàng, Non xanh nước bạc, Non xanh nước biếc, Nón bạc quai vàng, Nước thắm non xanh, Nước trắng non xanh, Ngựa thắm võng đào, Quần vàng áo thâm, Quần hồng áo tía, Quần thâm áo trắng, Ruột bầm gan tím, Tơ hồng chỉ thắm, Trời xanh nước biếc, Trời xanh đất đỏ mây vàng, Trời xanh muối trắng cát vàng, Yếm thắm răng đen, Yếm đỏ răng đen, Yếm trắng dải điều, Yếm thắm dải đào.
Như vậy, từ việc khảo sát thống kê các hằng thể kết hợp về màu sắc trong ca dao, chúng tôi có bảng thống kê sau:
Bảng 2.6. Kết quả thống kê về số lần xuất hiện các hằng thể kết hợp về màu sắc trong ca dao người Việt
| Các loại cấu tạo hằng thể kết hợp | Số lần xuất hiện | Tỷ lệ (%) |
| HTKH (ĐT/CĐT) | 66 | 16,54% |
| HTKH (TT/CTT) | 40 | 10,03% |
| HTKH (DT/CDT) | 222 | 55,64% |
| HTKH (Cụm C-V) | 71 | 17,79% |
| Tổng | 399 | 100% |
2.2.5. Đặc điểm về hằng thể kết hợp của tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc
Trong ca dao sử dụng đa dạng các loại tín hiệu thẩm mĩ màu: màu trắng, màu xanh, màu vàng, màu tím, màu nâu, màu đỏ và có sự hòa phối các màu. Dù là màu sắc nào thì cũng biểu hiện được ý nghĩa thẩm mĩ mà tác giả dân gian thể hiện. Tiến hành khảo sát hằng thể kết hợp của tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc. Chúng tôi thống kê tất cả các câu ca dao có liên quan đến các từ/ cụm từ có thể trực tiếp kết hợp với các màu sắc trên để miêu tả cụ thể các đặc điểm của con người, sự vật hiện tượng và trong mỗi lần xuất hiện chúng sẽ mang thêm ý nghĩa biểu đạt mới làm phong phú thêm ý nghĩa thẩm mĩ của tín hiệu thẩm mĩ cho các màu sắc.
2.3. Các biến thể của tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc
Chúng tôi đã làm rõ hơn về biến thể từ vựng với kết quả khảo sát thống kê như sau: Xanh xanh: Có đêm ra đứng vườn hoa/ Nom lên chỉ thấy sao tà xanh xanh; Xanh xao: Ai qua quán cháo Đồng Giao/ Má hồng để lại, xanh xao mang về; Vàng vàng: Hỡi cô mặc áo vàng vàng/ Có về cửa Hội, cửa Trang thì về? Nước mắt, lụy, lệ là những biến thể chỉ chung nước mắt kết hợp với màu hồng được sử dụng trong các bài ca dao: Thôi gió đông lạc vợ xa chồng/ Nằm đêm nghĩ lại nước mắt hồng tuôn rơi. Hay: Ra về én Bắc nhạn Đông/ Đôi bên đôi ngả lệ hồng tuôn rơi/ Khoát màn lên thấy giường không/ Gối nghiêng, nệm chích, lụy hồng tuôn rơi.
2.4. Các kiểu kết hợp tín hiệu thẩm mĩ chỉ màu sắc trong ca dao người Việt
Có kiểu kết hợp tín hiệu thẩm mĩ chỉ màu sắc trong ca dao người Việt, đó là: kết hợp trong cấu trúc so sánh, kết hợp trong cấu trúc song hành, kết hợp trong cấu trúc đối lập.
CHƯƠNG 3
GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA TÍN HIỆU THẨM MĨ VỀ MÀU SẮC TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
3.1. Tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc biểu thị tuổi trẻ và tình yêu
3.1.1. Tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc biểu thị tuổi trẻ với nhiều khát vọng
Tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc trong ca dao thể hiện vẻ đẹp của tuổi trẻ với bao khát khao về cuộc sống tươi sáng. Chẳng hạn màu mắt xanh được tác giả dân gian chú ý tái hiện như là vẻ đẹp tươi trẻ của tuổi thanh xuân, đôi mắt xanh của cái nhìn tinh tường: Hỡi cô thắt dải lưng xanh/ Ngày ngày thấp thoáng bên mành trông ai?/ Trước đường xe ngựa bời bời/ Bụi đường mờ mịt ai người mắt xanh! Trong ca dao, màu xanh là màu có hàm ý biểu trưng cao. Màu xanh tạo nên những gam màu tươi sáng biểu trưng cho tuổi thanh xuân: Chim bay thẳng cánh trên trời/ Tội gì bỏ quá một đời xuân xanh. Bên cạnh màu xanh, màu trắng trong trang phục của người phụ nữ cũng thể hiện sự trẻ trung. Tuy nhiên, màu nâu bình dị được người Việt quan tâm: Hỡi cô yếm trắng lòa lòa/ Sao cô không bảo mẹ già nhuộm thâm. Trong ca dao, màu hồng xuất hiện biểu trưng cho nguồn sống rạo rực, tuôn trào của thanh niên. Các sự vật có màu sắc khác nhau nhưng khi qua mắt của người nghệ sĩ dân gian đều có thể chuyển sang màu hồng: trời hồng, nắng hồng…
Ngoài ra, một tín hiệu thẩm mĩ cũng rất nổi bật trong ca dao đó là hình ảnh “gót chân đỏ”. Đây là hình ảnh biểu trưng cho tuổi trẻ. Một màu sắc nữa cũng biểu trưng cho sự tươi trẻ, trong trắng, đó chính là màu son. Khi nói đến gót chân “son” là nói đến tuổi ấu thơ, màu sắc của gót chân ở đây là biểu hiện cuộc sống của một con người: sướng hay khổ, sang hay hèn: Còn cha gót đỏ như son/ Đến khi cha thác gót con đen sì. Màu son tượng trưng cho con gái tuổi còn trẻ, son trẻ chưa chồng con: Anh còn son em cũng còn son/ Ước gì ta được làm con một nhà.
3.1.2. Tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc biểu thị tình yêu, hôn nhân
Trước tiên là màu xanh trong ca dao, màu xanh biểu trưng cho vẻ đẹp của tình yêu đôi lứa: dải lưng xanh, xuân xanh, nụ tầm xuân xanh biếc, cau xanh, trầu xanh, mắt xanh… Mặt xanh biểu trưng cho trạng thái tâm lí lo lắng của cô gái, ăn miếng trầu nhà người như là bước sang một ngã rẽ mới của cuộc đời: Lỡ khi ăn miếng trầu xanh/ Đêm lo ngày sợ mặt xanh như chàm. Màu xanh cũng biểu trưng cho sự thay đổi duyên phận, từ khi cây chưa ra hoa đến khi nụ tầm xuân đã nở xanh biếc: Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc/ Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay. “Khăn xanh”, “túi xanh” là các vật dụng thanh tao chứa đựng vật thiêng liêng, quý giá dành cho tình yêu: Khăn xanh khăn đượm mồ hôi/ Túi xanh túi đượm lấy đôi miếng trầu. Các tín hiệu “tóc xanh”, “xuân xanh” biểu trưng cho người con gái trẻ trung. Thời gian trôi qua thì người con gái “tóc xanh” cũng sẽ “lỡ chừng” duyên phận: Đêm năm canh ngày cũng năm canh/ Thương người tuổi trẻ tóc xanh lỡ chừng. Khi yêu nhau, xa cách chia li là điều không ai mong muốn. Cô gái đưa tiễn chàng lên đường mà nước mắt nước mắt tuôn rơi: Đưa nhau một bước lên đường/ Cỏ xanh hai dãy mấy hàng châu sa. “Cây xanh” biểu trưng cho sự sống, màu xanh tình yêu vững bền mà cô gái ước ao luôn bên anh trọn đời: Trồng cây cũng muốn cây xanh/ Gái duyên cũng muốn bên anh trọn đời.
Bên cạnh màu xanh, màu vàng cũng thể hiện sự trường tồn của tình cảm đôi lứa. Tín hiệu “gan vàng” ở đây biểu trưng cho tình yêu không bao giờ thay đổi: Tằm ươm tơ, nhện cũng ươm tơ/ Gan vàng sao khéo thờ ơ dạ vàng.
Trong ca dao, màu hồng được dùng với nhiều nghĩa biểu trưng, trong đó chỉ duy nhất màu hồng được dùng để miêu tả nước mắt: Biết thuở nào cho gặp mặt chồng/ Đêm khuya em hoài vọng nước mắt hồng tuôn rơi. Ra về én Bắc nhạn Đông/ Đôi bên đôi ngả lệ hồng tuôn rơi.
Hình ảnh “tóc bạc” trong lời thề nguyền của chàng trai biểu trưng cho chung thủy trọn đời trong tình cảm đôi lứa: Em ơi ta nguyện cùng nhau/ Răng long, tóc bạc ta đừng quên nhau/ Trăm năm quyết đợi quyết chờ/ Dẫu mà tóc bạc như tơ cũng đành.
Cặp đôi màu đen là sự tương xứng về bản chất, về tâm hồn giữa chàng trai và cô gái, biểu trưng cho sự vừa đôi phải lứa của đôi bạn trẻ: Áo đen đơm bộ khuy đen/ Mặc ai xa lạ ta cứ làm quen ở làng. Ngoài ra, màu trắng tinh khiết cũng được dùng để khẳng định sự trân trọng, một màu tinh khôi trong sáng của tình yêu: Trầu bọc khăn trắng cau tươi/ Trầu bọc khăn trắng đãi người xinh xinh.
Những màu sắc được dùng để biểu thị tình yêu chủ yếu là những màu sáng, tươi tắn: tơ hồng, chỉ hồng, mối hồng, chỉ đỏ, cau xanh, trầu vàng, chén son, … là những từ ngữ chỉ việc kết duyên vợ chồng, đồng thời biểu trưng cho lòng thủy chung son sắt của con người: Tơ hồng chỉ thắm là duyên/ Bây giờ em thuận thì nên bây giờ.
Hình ảnh “cau xanh trầu vàng” là hình ảnh biểu trưng cho sự xứng đôi vừa lứa của đôi trai gái sau ngày cưới, sẽ có cuộc sống tốt đẹp, sung túc. Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng/ Cau xanh ăn với trầu vàng xứng chăng?/ Trầu vàng nhá lẫn cau xanh/ Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời. Chén rượu giao bôi, lời thề nguyền son sắt thủy chung, khát khao hai đứa hai nơi cùng về chung một nhà, vui niềm hạnh phúc vợ chồng: Chén son nguyện với trăng già/ Đôi nơi đưa lại một nhà vui chung…
Bên cạnh biểu trưng cho tình yêu đôi lứa, ca dao về màu sắc còn nhắc đến hôn nhân. Tín hiệu “chín vàng” ở bài ca này lại biểu trưng một mùa vàng bội thu và gia đình no ấm, hạnh phúc: Trăng lên cho lúa chín vàng/ Cho anh đi gặt, cho nàng quẩy cơm. Tín hiệu “gác tía” biểu trưng cho gia đình giàu có, sang trọng: Em về cắt rạ đánh gianh/ Chặt tre, chẻ lạt cho anh lợp nhà/ Sớm khuya hòa hợp đôi ta/ Hơn ai gác tía lầu hoa một mình. Có thể thấy, tình yêu chân thành đã giúp gia đình hạnh phúc lâu bền dù có ai muốn đem sự giàu sang mua chuộc. Dù ai có cho “bạc” để đổi “chì” thì em với thủy chung với “chì”: Trăm năm lòng gắn dạ ghi/ Dẫu ai đem bạc đổi chì cũng không. Trong tình yêu cũng như trong hôn nhân, ngoài việc đã tìm được hạnh phúc của cuộc đời, thì một số cặp đôi lại phải đối mặt với vô vàn những trái ngang, phải sớm chịu cảnh chia lìa. Cặp tín hiệu “đũa ngọc – mâm vàng” thể hiện sự xứng đôi vừa lứa nhưng cha mẹ lại không đồng ý nên đành xa nhau, buồn thương lắm thay: Đôi ta làm bạn thong dong/ Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng/ Vì chưng cha mẹ nói ngang/ Cho nên đũa ngọc mâm vàng xa nhau. Khi đã mang trong mình một nguồn sáng mạnh mẽ của tình yêu sẽ làm cho tình cảm con người dễ bị vấn vương, luyến tiếc. Tín hiệu “lạng vàng” biểu trưng cho một giá trị lớn nhưng mất lạng vàng không tiếc bằng mất em: Còn đêm nay nữa mai về/ Lạng vàng không tiếc, kề má son.
3.2. Tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc biểu thị vẻ đẹp của người phụ nữ
3.2.1. Vẻ đẹp hình thức
Trong ca dao, vẻ đẹp của người phụ nữ được miêu tả rất cụ thể sinh động đến từng đường nét, từng chi tiết. Làn da trắng và mái tóc dài là hai hình ảnh tượng trưng cho vẻ đẹp người phụ nữ, đã trở thành một khuôn mẫu cố định và tượng trưng cho tầng lớp con gái quyền quý, giàu sang: Tiếc người da trắng tóc dài/ Bác mẹ gả bán cho người đần ngu. Đôi mắt là yếu tố quan trọng để đánh giá tính cách và bản chất của người phụ nữ kết hợp với “da đỏ hồng hào” thể hiện vẻ đẹp khỏe mạnh, đầy sức sống thật hấp dẫn biết bao: Gái thời da đỏ hồng hào/ Mắt đen lay láy người nào chẳng yêu. Cùng với đôi mắt, “cái miệng xinh” và “răng đen” đã trở thành hình ảnh đặc trưng cho người phụ nữ Việt ở thời phong kiến: Năm quan mua lấy miệng cười/ Mười quan chẳng tiếc, tiếc người răng đen. Biểu trưng về người phụ nữ, dân gian thường nói “má hồng, má đào”. Hình ảnh “má hồng” biểu trưng cho người con gái đẹp, trẻ trung tạo nên sự hấp dẫn, thu hút các chàng trai: Ai xui em có má hồng/ Để người quân tử chưa trông đã thèm. Tín hiệu “tuyết” biểu trưng màu trắng, da tuyết là da trắng ngần, kết hợp với “môi son” thật hoàn hảo: Thấy em mắt phượng môi son/ Mày ngài da tuyết, đào non trên cành . Người nghệ sĩ dân gian đã miêu tả vẻ đẹp của người phụ nữ bằng cách sử dụng gam màu thật đậm, thật sắc nét để đặt trong thế tương phản “trắng phau phau” và “đen nhưng nhức”: Hai má nàng trắng phau phau/ Răng đen nhưng nhức như màu hạt dưa. Tuy nhiên răng vàng vẫn xuất hiện trong ca dao, được sử dụng như một hình ảnh ước lệ: Thấy em đẹp nói đẹp cười/ Đẹp người đẹp nết, lại tươi răng vàng.
Vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ còn thể hiện qua cách đi đứng, ăn mặc, trang điểm… Ngày xưa, ta dễ dàng bắt gặp các cô gái mặc chiếc yếm đầy duyên dáng. Yếm được người phụ nữ Việt sử dụng rộng rãi vì nó biểu tượng cho sự nữ tính: Hỡi cô yếm trắng lòa xòa/ Yếm nhiễu, yếm vóc hay là trúc bâu/ Hay là lụa bạch bên Tầu/ Người cắt cũng khéo, người khâu cũng tài. Cùng với chiếc áo yếm, chiếc khăn vuông đội đầu cũng luôn gắn với vẻ đẹp tươi tắn trên khuôn mặt người phụ nữ: Tấm áo nâu sồng xếp nếp em để trong nhà/ Ba vuông khăn tím phất phơ em đội đầu.
3.2.2. Vẻ đẹp phẩm chất, tâm hồn
Vẻ đẹp chuẩn mực của người phụ nữ đẹp là phải kết hợp giữa cái đẹp hình thức với vẻ chân chất, mộc mạc toát lên từ trong tâm hồn cô gái: Ai trắng như bông, lòng tôi không chuộng/ Người đó đen giòn, làm ruộng tôi thương. Người phụ nữ có nhiều cái đẹp khác nhau qua cách nhìn của tác giả dân gian. Hiểu được đạo lý và bổn phận làm con nên người phụ nữ luôn luôn hiếu thảo với cha mẹ: Mẹ cha trượng quá ngọc vàng/ Đền bồi sao xiết muôn vàn công ơn. Khi nói đến sự chuẩn mực, một dạ một lòng, không đổi thay xê dịch thì tác giả dân gian sử dụng hình ảnh “lòng vàng”: Chớ đừng nay lại ngày mai/ Chớ đừng di dịch, chớ sai lòng vàng. Có chồng, người phụ nữ xác định rõ trách nhiệm, bổn phận của mình là lo cho gia đình và làm tròn trách nhiệm con dâu trong nhà: Phụ mẫu thiếp cũng như phụ mẫu chàng/ Hai bên phụ mẫu tạc bốn chữ vàng thờ chung. Không chỉ vậy, nói về lòng chung thuỷ đáng quý của người phụ nữ, chúng ta càng nể trọng hơn những người vợ trẻ không may góa bụa. Mọi gánh nặng của gia đình trút cả lên bờ vai gầy yếu của họ. Màu vàng trong trường hợp này biểu trưng cho thế giới bên kia của người chết: Chồng em sớm thác suối vàng/ Em ở làm ri cho trọn nghĩa khói nhang với chồng. Đặc biệt, người phụ nữ luôn biết giữ gìn ý tứ và ứng xử tế nhị trong mọi tình huống: Em thương anh như chỉ buộc trọn vòng/ Anh đừng bạc dạ đem lòng quên em.
Ẩn chứa trong hình thể tưởng như mỏng manh, liễu yếu đào tơ ấy là một tâm hồn hết sức phong phú: thông minh, dí dỏm, luôn lạc quan yêu đời và chung thủy sắt son trong tình yêu. Màu xanh đây biểu trưng cho đấng tối cao sẽ làm chứng cho lời thề nguyền của cô gái: Lời thề chứng có cao xanh/ Nguyện cùng thiên địa yêu anh trọn đời. Yêu và khát khao được gần gũi với người mình yêu là hạnh phúc vô bờ bến đối với cô gái. Hạnh phúc đó không bạc vàng nào sánh được: Vắng mặt chàng ăn mâm vàng cũng đắng/ Gặp mặt chàng ăn hột muối trắng cũng ngon. Chiều chồng và lo lắng món ăn thức uống cho chồng cũng là đức tính quý báu của người vợ. Với họ, đó là niềm vui, là niềm hạnh phúc: Đốt than nướng cá cho vàng/ Đem tiền mua rượu cho chàng uống chơi. Đặc biệt, người vợ có chồng theo nghiệp khoa cử thì luôn luôn động viên chồng đi học. Màu vàng ở đây được dùng để biểu trưng cho sự đỗ đạt và thành công: Nữa mai chúa mở khoa thi/ Bảng vàng chói lọi kìa đề tên anh.
3.3. Tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc biểu thị vẻ đẹp tâm hồn người Việt
3.3.1. Biểu thị tình yêu quê hương đất nước, đồng bào
Ca dao là tiếng nói của đồng nội, là âm vang của làng quê, phản ánh sinh hoạt nông thôn, chứa chan tình cảm dân tộc và màu sắc xứ sở. Người dân lao động gắn bó với quê hương bằng một tình yêu tha thiết, nồng nàn và màu xanh biểu trưng cho cảnh đẹp đất nước như bức thông điệp chứa chan tình yêu tha thiết ấy: Đường vô xứ Nghệ quanh quanh/ Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
Với người Quảng Nam tự hào có dòng sông Thu Bồn và các vùng đất tươi xanh, trù phú: Sông xanh một dải Thu Bồn/ Sông từ chợ Củi đến nguồn Nam Ô. Ắt hẳn khi nghĩ tới xứ Quảng ta sẽ nghĩ đến câu ca dao nổi tiếng, đậm đà hương vị xứ Quảng: Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm/ Rượu Hồng đào chưa uống đã say. Người Quảng Nam tự hào về vùng đất đầy nghĩa tình, có những đặc sản nổi tiếng mà đặc biệt là “rượu Hồng Đào”.
Những lời ca dao ẩn chứa vẻ đẹp tâm hồn Việt Nam còn ở tâm hồn lạc quan, yêu cuộc sống, yêu con người. Màu vàng của ánh trăng làm cho không gian trở nên thơ mộng, tươi mát: Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi. Tâm hồn Việt qua khúc ca dao là một cung đàn với những nốt nhạc trầm bổng, tượng trưng cho những sắc thái tình cảm muôn màu muôn vẻ. Bắt đầu từ tình cảm gia đình thân thuộc, tình anh em gắn bó keo sơn đến tình cảm bạn bè thân thiết giữa những người cùng cảnh ngộ: Đôi ta là bạn chăn trâu/ Cùng mặc áo vá nhuộm nâu một hàng. Màu nâu xuất hiện luôn gắn liền với chiếc áo nâu hoặc quần nâu áo đồng thời qua đó màu nâu cũng trở thành biểu trưng cho người nông dân Việt Nam: Cứ gì quần áo lụa tơ/ Quần nâu áo vải thơm tho được rồi. Tâm hồn người bình dân mộc mạc quá, trong sáng như chuyến đò ngang chở đầy tâm tư, tình cảm: mẹ con, chồng vợ, tình bè bạn, tình đôi lứa thắm thiết yêu nhau. Người Việt sống có tình nghĩa, thủy chung với mọi người : Đem vàng đem nghĩa mà cân/ Vàng thì nặng bảy, ái ân nặng mười.
Như vậy, chuyến đò chở tâm hồn người Việt sẽ theo dòng thời gian trôi mãi đến ngày mai để các thế hệ mai sau vẫn ấp ủ, nâng niu những làn điệu ca dao trữ tình sâu lắng, mãi yêu quê hương xứ sở, yêu con người và cảnh vật đất nước.
3.3.2. Biểu thị tình yêu gia đình
Tình yêu giữa người với người là âm điệu lắng sâu và thiết tha nhất trong ca dao. Bắt đầu từ tình cảm gia đình thân thuộc, tình anh em gắn bó keo sơn. Ca dao nói về đạo lý làm con là luôn hiếu thảo với cha mẹ của người Việt. Người Việt coi cha mẹ quý như ngọc vàng: Mẹ cha trượng quá ngọc vàng/ Đền bồi sao xiết muôn vàn công ơn. Cha mẹ cao cả như non xanh nhưng một đời vất vả gia lao nuôi nấng nên đã già cả bạc đầu. Non xanh mà cũng bạc đầu, huống gì cha mẹ, dễ gì ở đời với con cái nên ta cần phải sống có hiếu với cha mẹ để khi cha mẹ qua đời không phải hối tiếc: Cây khô chưa dễ mọc chồi/ Bác mẹ chưa dễ ở đời với ta/ Non xanh bao tuổi mà già/ Bởi vì sương tuyết hóa ra bạc đầu. Tiếp theo đó là những bài học về cách đối nhân xử thế trên đời. Ngoài cha mẹ thì người thầy là cha mẹ thứ hai mà theo Nho giáo thì thầy còn cao hơn cha mẹ. Vì thế, ca dao khuyên mọi người hãy nhớ công cha và nghĩa thầy. Cha mẹ thầy cô như tấm gương vàng soi chiếu tình nghĩa: Gương vàng rớt xuống Hồ Tây/ Công cha cũng trọng nghĩa thầy cũng sâu.
Tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc xuất hiện đã góp phần nổi bật tính triết lí trong ca dao. Chẳng hạn mượn hình ảnh cây xanh, lá xanh cũng là lời nhắc nhở và là lời khuyên quý báu cho mọi người. Ở đây, bài ca khuyên các bậc cha mẹ sống đạo đức, hiền lành thì sẽ tạo đức cho con cái: Cây xanh thì lá cũng xanh/ Cha mẹ hiền lành để đức cho con.
3.3.3. Biểu thị cho bản lĩnh sống của người Việt
Ca dao còn làm nổi bật lên đời sống tinh thần lạc quan và bản lĩnh sống của người Việt. Các màu sắc được sử dụng góp phần làm nổi bật những nét đẹp ấy. Màu trắng thường kết hợp với những sự vật rất gần gũi với người nông dân mang hàm nghĩa biểu trưng cho sự ban sơ, tinh nguyên: con cò trắng, mây trắng, gạo trắng… Trong đó, hỉnh ảnh “con cò trắng” luôn gắn liền với đời sống tinh thần và thể hiện bản lĩnh sống của người nông dân : Một đàn cò trắng bay tung/ Bên nam bên nữ ta cùng hát lên. Đặc biệt, bản lĩnh sống của người Việt được thể hiện rõ nét trong bài ca dao: Trong đầm gì đẹp bằng sen/ Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng/ Nhị vàng bông trắng lá xanh/ Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Tất cả tạo nên vẻ đẹp con người có nhân cách cao thượng, không bị tiêm nhiễm bởi những thói hư tật xấu. Bản lĩnh sống còn thể hiện ở niềm lạc quan yêu đời của người nông dân, luôn tin vào ngày mai no ấm mặc dù hôm nay cuộc sống có vất vả, cực nhọc: Ơn trời mưa nắng phải thì/ Nơi thì bừa cạn nơi thì cày sâu/ Công lên chẳng quản bao lâu/ Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng/ Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang/ Bao nhiêu tấc đấc tấc vàng bấy nhiêu.
Như vậy, trong xã hội phong kiến, cuộc sống của người nông dân vô cùng khổ cực, phải chịu đựng trăm đắng ngàn cay. Thế nhưng, họ luôn khẳng định được bản lĩnh của mình, cất tiếng hát ca ngợi cuộc sống và tin tưởng vào một ngày mai tươi sáng.
KẾT LUẬN
Tín hiệu thẩm mĩ là một trong những dấu hiệu nhận diện hữu hiệu nhất của ngôn ngữ nghệ thuật và qua hệ thống tín hiệu thẩm mĩ trong ca dao chúng ta có thể thấy nội dung tư tưởng của tác giả dân gian sau những con chữ chỉ mang ý nghĩa biểu đạt. Chương một chúng tôi đi sâu nghiên cứu tổng quan về lí thuyết kí hiệu học, từ đó đi vào nội dung tín hiệu để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu là tín hiệu thẩm mĩ. Mặt khác, chúng tôi cũng trình bày khái quát những vấn đề về ca dao và một vài đặc trưng ngôn ngữ ca dao. Các cấp độ biểu thị tín hiệu thẩm mĩ chủ yếu là từ ngữ nên đề tài cũng trình bày những cơ sở lí thuyết về từ ngữ. Chương hai, chúng tôi chú trọng khảo sát, thống kê và phân loại các tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc trong kho tàng ca dao người Việt. Bằng phương pháp thống kê định lượng cùng với sự phân tích sâu sát và khoa học, bản chất của các con số đã được hiện lên rõ nét. Thông qua kết quả khảo sát, chúng tôi thống kê được tác giả dân gian đã sử dụng 31 loại màu sắc khác nhau với 966 lần xuất hiện. Trong đó những màu cơ bản có tần số xuất hiện cao như: màu vàng 240 lần (24,84%), màu xanh 175 lần (18,12%), màu hồng 108 lần (11,18%), màu trắng 102 lần (10,55%), màu đen 61 lần (6,31%), màu đỏ 49 lần (5,07%), còn lại một số màu khác chiếm 23,93%. Phân loại từ chỉ màu sắc theo đặc điểm cấu tạo, chúng tôi thống kê được từ chỉ màu sắc là từ đơn có 966 từ ( 48,54%), từ chỉ màu sắc là từ ghép có 992 từ (49,85%) và từ chỉ màu sắc là từ láy có 32 từ (1,61%). Tương tự, chúng tôi thống kê các hằng thể và biến thể, đi sâu làm rõ các hằng thể kết hợp và đi đến nhận xét chung về các sắc thái ý nghĩa của màu sắc được biểu hiện trong ca dao. Các hằng thể kết hợp chỉ màu sắc được sử dụng một cách linh hoạt, tài tình trong cụm động từ, cụm tính từ, cụm danh từ và cụm chủ vị. Trong mỗi tín hiệu thẩm mĩ, các hằng thể kết hợp lại có sự chênh lệch khác nhau, hằng thể kết hợp trong cụm danh từ chiếm số lượng cao hơn cả (55,64%). Đặc biệt, các kiểu kết cấu của tín hiệu thẩm mĩ chỉ màu sắc trong ca dao cũng được thể hiện một cách sinh động và hấp dẫn. Đến với chương ba, chúng tôi tìm hiểu giá trị biểu đạt của tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc biểu hiện trong ca dao với một số ý nghĩa biểu trưng tiêu biểu, đó là: biểu trưng cho tuổi trẻ và tình yêu, hôn nhân, biểu trưng cho vẻ đẹp của người phụ nữ, biểu trưng cho vẻ đẹp tâm hôn người Việt. Suy cho cùng dù thuộc nhóm biểu trưng nào cũng góp phần đánh giá về vẻ đẹp của con người, cuộc sống. Các tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc góp phần làm vẻ đẹp của con người hiện lên chân chất, tròn đầy. Tuổi trẻ với biết bao mộng ước và lí tưởng cao đẹp về cuộc sống. Các nhân vật trữ tình chủ yếu là các chàng trai, cô gái nhìn cảnh sắc thiên nhiên thông qua các tín hiệu thẩm mĩ về màu sắc bằng con mắt trầm tĩnh hơn nên màu sắc ít được cảm nhận là màu sắc thực mà đã chuyển theo nghĩa tâm trạng.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\NGON NGU HOC\TRAN THI ANH VAN


