Quản trị dự án đầu tư cáp quang thuê bao tại Viễn thông Đắk Lắk
Giai đoạn 3 năm từ năm 2018 đến năm 2020 là những năm thị trường viễn thông Việt Nam thực sự bùng nổ không chỉ bởi sự tăng trưởng ấn tượng về số lượng thuê bao sử dụng cáp quang, số lượng dịch vụ trên mỗi sợi cáp mà còn bởi sự phát triển về chất lượng mạng lưới và dịch vụ tiện ích. Tất cả đều xuất phát từ cuộc “cách mạng” phá thế độc quyền. Dưới sức ép cạnh tranh, tất cả các nhà cung cấp dịch vụ băng rộng cố định lần lượt đưa ra các chương trình giảm giá, khuyến mãi để giành lấy thị phần.
Nâng cao hiệu quả đầu tư xây dựng hàng năm để tiết kiệm chi phí góp phần vào hình thành cơ cấu giá dịch vụ thấp nhất là vấn đề ưu tiên hàng đầu trong công tác đầu tư hạ tầng mang lại doanh thu trực tiếp. Hiện nay, các dự án đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn khấu hao cơ bản vẫn còn bộc lộc nhiều hạn chế yếu kém trong công tác quản lý. Các dự án đầu tư còn mang tính dàn trải, chưa được đánh giá hiệu quả đầu đủ từ khâu chuẩn bị đầu tư đến khâu triển khai cũng như khai thác vận hành, dẫn đến gây thất thoát vốn trong quá trình đầu tư xây dựng… Nguyên nhân chính là do công tác quản trị dự án đầu xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn khấu hao hiện nay còn rất nhiều hạn chế, chưa áp dụng được các phương pháp quản lý hiện đại. Tình trạng yếu kém trong công tác quản trị các dự án đầu tư xây dựng đã gây ra nhiều hệ lụy với hàng loạt các sai phạm, hậu quả gây thất thoát tài chính, dự án kém hiệu quả. Thông qua công tác thanh tra, kiểm toán của các cơ quan chức năng, đã phát hiện hàng loạt các dự án có giá trị tiền tỉ không triển khai đúng với mục tiêu đề ra ban đầu, lãng phí, chất lượng công trình không đảm bảo…
Viễn thông Đắk Lắk là một đơn vị thành viên của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam cũng nằm trong xu hướng đó. Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản bằng vốn khấu hao trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong những năm trở lại đây có nhiều chuyển biến rõ nét. Công trình đầu tư trạm di động, đầu tư thiết bị dịch vụ và đầu tư cáp quang thuê bao được đầu tư theo chuẩn Quốc gia, tiêu chuẩn ngành viễn thông được quan tâm và thực hiện giám sát xuyên suốt toàn trình dự án; Các công trình xây dựng cơ bản đưa vào sử dụng có hiệu quả. Điều này chứng tỏ công tác quản trị dự án đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh trong những năm qua được thực hiện khá tốt.Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản trị dự án đầu tư xây dựng cơ bản vẫn còn một số hạn chế nhất định như: tình trạng lãng phí và thất thoát vốn trong hoạt động đầu tư XDCB, công tác quản trị chất lượng công trình chưa được chú trọng, tiến độ triển khai một số dự án còn chậm so với kế hoạch đề ra, công tác chuẩn bị đầu tư và GPMB còn nhiều hạn chế, …. Điều này làm giảm hiệu quả nguồn vốn đầu tư hàng năm của doanh nghiệp.
Qua nghiên cứu tìm hiểu số liệu được lưu trữ tại phòng Nhân sự – Tổng hợp của Viễn thông Đắk Lắk, danh mục đề tài tốt nghiệp của các sinh viên thực tập qua các thời kỳ từ năm 2000 đến nay chưa có bất kỳ đề tài nào tương tự hoặc đã nghiên cứu một phần về chủ đề công tác đầu tư XDCB tại đơn vị về lĩnh vực đầu tư các dự án viễn thông công nghệ thông tin, cáp quang thuê bao. Vì vậy, việc lựa chọn đề tài là xác định trên nhu cầu thực tiễn tại vị trí công tác để mạnh dạn nghiên cứu tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả trong công tác đầu tư XDCB nói chung và nội dung đầu tư cáp quang nói riêng là mới và duy nhất tại Viễn thông Đắk Lắk tính thời điểm chọn tên đề tài.
Đứng trước yêu cầu thực tiễn nêu trên, tôi chọn đề tài “Quản trị dự án đầu tư cáp quang thuê bao tại Viễn thông Đắk Lắk” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản trị kinh doanh.
Đề tài thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu cơ bản sau:
– Hệ thống hóa các vấn đề lý luận liên quan đến công tác quản trị dự án đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn khấu hao tài sản cố định (KH TSCĐ)
– Phân tích thực trạng công tác quản trị dự án đầu tư cáp quang thuê bao tại Viễn thông Đắk Lắk từ nguồn vốn KH TSCĐ
– Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị dự án đầu tư cáp quang thuê bao tại Viễn thông Đắk Lắk thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác quản trị dự án đầu tư cáp quang thuê bao tại Viễn thông Đắk Lắk.
– Phạm vi nghiên cứu:
+Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản về công tác quản trị dự án đầu tư cáp quang thuê bao tại Viễn thông Đắk Lắk từ nguồn vốn KH TSCĐ.
+Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
+ Về thời gian: luận văn nghiên cứu thực trạng công tác quản trị dự án đầu tư cáp quang thuê bao tại Viễn thông Đắk Lắk giai đoạn 2018 – 2020; Đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2022 – 2025.
Để thực hiện nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
– Phương pháp thu thập dữ liệu: Để đạt được mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả đã thực hiện phân tích định tính. Tiến hành thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn thông tin khác nhau. Cụ thể, những thông tin dùng trong phân tích được thu thập từ những nguồn sau:
+ Nguồn thông tin thứ cấp: Những vấn đề lý luận đã được đúc rút trong các giáo trình chuyên ngành trong nước và quốc tế; các báo cáo tổng hợp tại phòng Kế toán Kế hoạch và phòng Kỹ thuật Đầu tư của Viễn thông Đắk Lắk.
+ Nguồn thông tin sơ cấp: Tham vấn trực tiếp chuyên gia, các nhà quản lý về lịch vực đầu tư XDCB của Viễn thông Đắk Lắk để nhận diện ra những mặt thành công và các tồn tại trong công tác này.
– Phương pháp thống kê: Sau khi thu thập dữ liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, thu thập và xử lý thông tin từ các nguồn tìm kiếm làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản trị dự án đầu tư cáp quang thuê bao tại Viễn thông Đắk Lắk giai đoạn 2018 – 2020.
– Phương pháp phân tích, tổng hợp: Để tổng hợp các số liệu liên quan đến đề tài, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để đúc kết từ thực tiễn và kết hợp với lý luận để đánh giá công tác quản trị dự án đầu tư cáp quang thuê bao tại Viễn thông Đắk Lắk giai đoạn 2018 – 2020 và đưa ra giải pháp cho vấn đề này giai đoạn 2022– 2025.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản trị dự án đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn KH TSCĐ.
Chương 2: Thực trạng công tác quản trị dự án đầu tư cáp quang thuê bao tại Viễn thông Đắk Lắk.
Chương 3: Giải pháp công tác quản trị dự án đầu tư cáp quang thuê bao tại Viễn thông Đắk Lắk.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ
XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN KH TSCĐ
1.1. TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
1.1.1. Một số khái niệm có liên quan
1.1.1.1. Khái niệm và phân loại đầu tư
a. Khái niệm
Đầu tư là một phạm trù đặc biệt trong nền kinh tế. Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm này, sau đây là một số khái niệm liên quan.
Theo Lê Viết Thái và cộng sự (2007): Đầu tư là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực trong một khoảng thời gian xác định nhằm đạt được kết quả hoặc một tập hợp các mục tiêu xác định trong điều kiện KT – XH nhất định. [18]
Theo qui định tại điều 4 Luật đấu thầu 43/2013/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2013: Dự án đầu tư phát triển (sau đây gọi chung là dự án) bao gồm: Chương trình, dự án đầu tư xây dựng mới; dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng các dự án đã đầu tư xây dựng; dự án mua sắm tài sản, kể cả thiết bị, máy móc không cần lắp đặt; dự án sửa chữa, nâng cấp tài sản, thiết bị; dự án, đề án quy hoạch; dự án, đề án nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật, điều tra cơ bản; các chương trình, dự án, đề án đầu tư phát triển khác [7, tr.4].
Theo quy định tại Điều 3 Luật Đầu tư số 61/2020/QH14 ngày 17/6/2020: Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tưu kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định; dự án đầu tư mở rộng là dự án phát triển dự án đang hoạt động bằng cách mở rộng quy mô, nâng cấp công suất, đổi mới công nghệ, giảm ô nhiễm hoặc cải thiện môi trường; dự án đầu tư mới là dự án đầu tư thực hiện lần đầu và dự án đầu tư độc lập với dự án đầu tư đang hoạt động [8, tr.1].
Có thể kết luận: Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian tương đối dài nhằm thu về lợi nhuận và lợi ích kinh tế xã hội.
b. Phân loại đầu tư
Có nhiều cách phân loại hoạt động đầu tư, theo tiêu thức quan hệ hoạt động quản lý của chủ đầu tư, có hai loại: Đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp.
– Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
– Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
– Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp, hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ và sinh hoạt đời sống của xã hội. Đầu tư phát triển là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với hoạt động của các tài sản, nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội.
Đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung. Đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản, từ công tác tiến hành khảo sát và quy hoạch đầu tư, thiết kế và sử dụng cho đến khi lắp đặt thiết bị hoàn thiện, việc tạo ra cơ sở vật chất, nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân.
Như vậy, đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, đó là việc chủ thể kinh tế bỏ vốn để tiến hành các hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định, phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội.
Đầu tư xây dựng cơ bản có tác động rất lớn trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo hoạt động sản xuất và đời sống xã hội không ngừng phát triển. Thực tế lịch sử đã cho thấy bất cứ một phương thức sản xuất xã hội nào cũng đều phải có sơ sở vật chất – kỹ thuật tương ứng. Các hoạt động đầu tư thường được tiến hành theo dự án.
1.1.1.2. Khái niệm về dự án đầu tư
Để đảm bảo cho mọi công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế – xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị. Sự chuẩn bị này được thể hiện trong việc soạn thảo các dự án đầu tư (lập dự án đầu tư), có nghĩa là phải thực hiện đầu tư theo dự án đã được soạn thảo với chất lượng tốt.
– Nếu xét về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
– Xét về mặt nội dung: dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau, được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định.
– Xét trên góc độ quản trị: dự án đầu tư là một công cụ quản trị việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế, xã hội trong một thời gian dài.
Theo khoản 11, điều 4- Luật Đấu thầu 2013: Dự án đầu tư phát triển (sau đây gọi chung là dự án) bao gồm chương trình, dự án đầu tư xây dựng mới; dự án cải tạo, nâng cấp, mở rộng các dự án đã đầu tư xây dựng; dự án mua sắm tài sản, kể cả thiết bị, máy móc không cần lắp đặt; dự án sửa chữa, nâng cấp tài sản, thiết bị; dự án, đề án quy hoạch; dự án, đề tài nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, hỗ trợ kỹ thuật, điều tra cơ bản; các chương trình, dự án, đề án tư phát triển khác. [7, tr.4]
Theo khoản 2, 3, 4 điều 3 – Luật Đầu tư 2013: Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành cá hoạt động kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định; dự án đầu tư mở rộng là dự án đầu tư phát triển dự án đang hoạt động đầu tư kinh doanh bằng cách mở rộng quy mô, nâng cấp công suất, đổi mới công nghệ, giảm ô nhiễm hoặc cải thiện môi trường; dự án dầu tư mới là dự án thực hiện lần đầu hoặc dự án hoạt động độc lập với dự án đang thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh.[8, tr.1]

1.1.1.3. Khái niệm về xây dựng cơ bản và đầu tư XDCB
– Xây dựng cơ bản là quá trình đổi mới và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định của nền kinh tế quốc dân, thuộc các lĩnh vực sản xuất vật chất cũng như phi vật chất bằng các hình thức xây dựng mới, xây dựng lại, khôi phục và mở rộng chúng. [2, tr.8]
– Đầu tư XDCB trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát triển, là toàn bộ những chi phí để đạt được mục đích đầu tư, bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán. Đây là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định trong nền kinh tế. Đầu tư XDCB là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của toàn bộ nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng. Đầu tư XDCB là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định. Đầu tư XDCB được thông qua nhiều hình thức như xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hóa hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế [6. tr.25]
– Đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN: là một bộ phận của đầu tư phát triển. Đây chính là quá trình bỏ vốn từ nguồn vốn NSNN để tiến hành các hoạt động XDCB nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng ra các tài sản cố định trong nền kinh tế. Do vậy đầu tư XDCB từ nguồn vốn NSNN là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng. Đầu tư XDCB là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế – xã hội. Nhằm thu đựơc lợi ích với nhiều hình thức khác nhau. Đầu tư xây dựng cơ bản trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế. [14. tr.31]
– Đầu tư XDCB từ nguồn vốn KH TSCĐ: là vốn được thực hiện trích khấu hao tài sản cố định tập trung theo qui định của Nhà nước và Tập đoàn, hàng tháng thông báo về cho các ĐVTT biết và được hạch toán tập trung tại VTT theo mã chi tiết từng đơn vị để theo dõi chi phí của đơn vị. Toàn bộ khấu hao tài sản cố định của VTT được giữ lại (tài đầu tư) hoặc nộp về Tập đoàn để quản lý tập trung theo qui định của Tập đoàn.[15]
1.1.2. Đặc điểm chung của đầu tư xây dựng cơ bản
Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất: Đầu tư XDCB được coi là yếu tố khởi đầu cơ bản cho sự phát triển. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố tạo nên tăng trưởng, trong đó có yếu tố đầu tư. Đặc điểm này không chỉ nói lên vai trò quan trọng của đầu tư trong quá trình phát triển kinh tế mà còn chỉ ra động lực quan trọng kích thích các hoạt động khác trong nền kinh tế phát triển.
Thứ hai: Đầu tư XDCB đòi hỏi một khối lượng vốn lớn. Khối lượng vốn đầu tư lớn là yếu tố khách quan nhằm tạo ra những điều kiện vật chất và kỹ thuật cần thiết đảm bảo cho yếu tố tăng trưởng và phát triển. Vì vậy, nếu không sử dụng vốn có hiệu quả sẽ gây nhiều hậu quả đến sự phát triển kinh tế – xã hội.
Thứ ba: Quá trình đầu tư XDCB phải được trải qua một thời gian lao động rất dài mới có thể đưa vào khai thác, sử dụng được. Do thời gian hoàn vốn kéo dài, vì sản phẩm đầu tư XDCB mang tính đặc biệt và tổng hợp, sản xuất không theo một dây chuyền hàng loạt, mà mỗi công trình, mỗi dự án có kiểu cách, tính chất khác.
Thứ tư: Đầu tư XDCB là một lĩnh vực có rủi ro lớn. Rủi ro trong lĩnh vực đầu tư XDCB chủ yếu là do thời gian của quá trình đầu tư kéo dài. Trong thời gian này các yếu tố kinh tế, chính trị và cả tự nhiên biến động sẽ gây nên những thất thoát lãng phí, gọi chung là những tổn thất mà các nhà đầu tư không lường được hết khi lập dự án. Các yếu tố bão lụt, động đất, chiến tranh có thể tàn phá các công trình được đầu tư. Sự thay đổi cơ chế chính sách của Nhà nước như: thay đổi chính sách thuế, thay đổi mức lãi suất, thay đổi nguồn nhiên liệu, nhu cầu sử dụng cũng có thể gây nên thiệt hại cho hoạt động đầu tư.
Thứ năm: Hoạt động đầu tư XDCB rất phức tạp liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực; diễn ra không những ở phạm vi một địa phương mà còn nhiều địa phương với nhau. Vì vậy khi tiến hành hoạt động này, cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các ngành, các cấp trong công tác quản trị quá trình đầu tư. Bên cạnh đó, phải qui định rõ phạm vi trách nhiệm của các chủ thể tham gia đầu tư. Tuy nhiên, vẫn phải đảm bảo đựơc tính tập trung dân chủ trong quá trình thực hiện đầu tư.
1.1.3. Vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản
Hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động rất quan trọng. Đây là một khâu trong quá trình thực hiện đầu tư phát triển, nó quyết định trực tiếp đến sự hình thành chiến lược phát triển kinh doanh của từng doanh nghiệp trong từng giai đoạn nhất định; góp phần làm thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, mục tiêu của doanh nghiệp, cụ thể như sau:
Đầu tư XDCB tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế
Đầu tư XDCB tác động đến sự phát triển khoa học công nghệ
Đầu tư XDCB tác động đến sự ổn định kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động
1.1.4. Phân loại dự án đầu tư xây dựng cơ bản
Theo Nghị định số Nghị định 15/2021/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ quy định các dự án đầu tư xây dựng công trình (sau đây gọi chung là dự án) được phân loại như sau:
(1) Theo công năng phục vụ của dự án, tính chất chuyên ngành, mục đích quản lý của công trình thuộc dự án, dự án đầu tư xây dựng được phân loại theo quy định tại Phụ lục IX Nghị định này.
(2) Theo nguồn vốn sử dụng, hình thức đầu tư, dự án đầu tư xây dựng được phân loại gồm: dự án sử dụng vốn đầu tư công, dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài đầu tư công, dự án PPP và dự án sử dụng vốn khác. Dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn hỗn hợp gồm nhiều nguồn vốn nêu trên được phân loại để quản lý theo các quy định tại Nghị định này như sau:
– Dự án sử dụng vốn hỗn hợp có tham gia của vốn đầu tư công được quản lý theo quy định của dự án sử dụng vốn đầu tư công; dự án PPP có sử dụng vốn đầu tư công được quản lý theo quy định của pháp luật về PPP;
– Dự án sử dụng vốn hỗn hợp bao gồm vốn nhà nước ngoài đầu tư công và vốn khác: trường hợp có tỷ lệ vốn nhà nước ngoài đầu tư công lớn hơn 30% hoặc trên 500 tỷ đồng trong tổng mức đầu tư thì được quản lý theo các quy định đối với dự án sử dụng vốn nhà nước ngoài đầu tư công; trường hợp còn lại được quản lý theo quy định đối với dự án sử dụng vốn khác.
(3) Trừ trường hợp người quyết định đầu tư có yêu cầu lập Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, dự án đầu tư xây dựng công trình chỉ cần yêu cầu lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật đầu tư xây dựng gồm:
– Dự án đầu tư xây dựng sử dụng cho mục đích tôn giáo;
– Dự án đầu tư xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng (không bao gồm tiền sử dụng đất);
– Dự án đầu tư xây dựng có nội dung chủ yếu là mua sắm hàng hóa, cung cấp dịch vụ, lắp đặt thiết bị công trình hoặc dự án sửa chữa, cải tạo không ảnh hưởng đến an toàn chịu lực công trình có giá trị chi phí phần xây dựng dưới 10% tổng mức đầu tư và không quá 05 tỷ đồng (trừ dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư).
1.1.5. Lý thuyết về Nguồn vốn khấu hao tài sản cố định
Theo chế độ tài chính quy định hiện hành tại Nghị định 71/2013/NĐ-CP ngày 11/07/2013, thông tư 220/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 hướng dẫn Nghị định 71/2013/NĐ-CP và thông tư số 45/2013/TT-BTC ngày 25/04/2013 thì nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp được hình thành từ các nguồn sau:
– Nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp (vốn nhà nước đầu tư ban đầu khi mới thành lập, lợi nhuận không phân phối trong quá trình kinh doanh).
– Nguồn vốn huy động ngoài doanh nghiệp (các khoản vốn vay ngân hàng thương mại, vốn do phát hành trái phiếu, huy động khác).
– Doanh nghiệp được quyền chủ động sử dụng các khoản vốn nêu trên để đầu tư mua sắm tài sản cố định và sử dụng cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Quá trình đầu tư dự án mới, mua sắm trang thiết bị, tài sản cố định do doanh nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng, chế độ quản lý tài chính áp dụng đối với doanh nghiệp và pháp luật khác có liên quan. Trong quá trình sử dụng, TSCĐ bị hao mòn hữu hình và hao mòn vô hình dẫn đến bị mất vốn do TSCĐ giảm dần giá trị sử dụng và giá trị. Vì vậy, phải tiến hành trích khấu hao TSCĐ nhằm thu hồi vốn cố định
+ Hao mòn hữu hình là sự sụt giảm về giá trị sử dụng của TSCĐ kéo theo đó là sự sụt giảm về giá trị của TSCĐ.
+ Hao mòn vô hình là sự sụt giảm thuần tuý về giá trị cuả TSCĐ do tiến bộ khoa học kỹ thuật gây ra.
Khấu hao TSCĐ là việc phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của TSCĐ trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ
Như vậy, vốn khấu hao tài sản cố định là khoản đầu tư chi phí của doanh nghiệp, việc trích khấu hao tài sản cố định để thu hồi vốn đầu tư tài sản cố định nêu trên và thực hiện chế độ bảo toàn vốn đối với doanh nghiệp. Quá trình trích khấu hao không làm tăng nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp, mặt khác khi doanh nghiệp thực hiện trích khấu hao theo quy định nhưng kết quả kinh doanh thua lỗ thì doanh nghiệp cũng không bảo toàn được vốn nhà nước đã đầu tư cho doanh nghiệp nên doanh nghiệp không có nguồn để tái đầu tư tài sản cố định. Do vậy, chế độ tài chính chỉ hướng dẫn việc quản lý, sử dụng các nguồn hình thành vốn đầu tư của doanh nghiệp, chế độ trích khấu hao tài sản cố định và thực hiện bảo toàn vốn đối với doanh nghiệp.
1.1.6. Đặc điểm các dự án đầu tư XDCB sử dụng nguồn vốn khấu hao tài sản cố định
Dự án đầu tư XDCB sử dụng KH TSCĐ có có đặc điểm sau:
Một là: Do phụ thuộc vào phân cấp của đơn vị cấp trên nên về qui mô vốn đầu tư nhỏ nhưng vẫn chiếm tỷ trọng cao trong tổng chi hàng năm của doanh nghiệp.
Hai là: Tỷ trọng triển khai vốn chủ yếu tập trung vào các dự án có tính chất mang lại doang thu trực tiếp.
Ba là: Kế hoạch triển khai thường là ngắn, thời gian giao kế hoạch vốn và hoàn thành quyết toán trong 1 năm tài chính, trong khi theo qui định dự án nhỏ, và siêu nhỏ thời gian thực hiện là 3 năm.
Bốn là: Qui trình triển khai bị phụ thuộc vào các thông tư, nghị định và Luật như là các dự án có qui mô vừa, lớn, nhóm B hoặc A.
1.2.1. Khái niệm và đặc trưng của quản trị dự án
1.2.1.1. Khái niệm
Quản trị dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép. [19]
Quản trị dự án (ProjectManagement– PM) là quá trình lập kế hoạch, theo dõi và kiểm soát tất cả những vấn đề của một dự án và điều hành mọi thành phần tham gia vào dự án đó nhằm đạt được những mục tiêu của dự án đúng thời hạn trong phạm vi ngân sách được được duyệt với các chi phí, chất lượng và khả năng thực hiện chuyên biệt. Nói cách khác, quản trị dự án là công việc áp dụng các chức năng và hoạt động của quản trị vào suốt vòng đời của dự án hay quản trị dự án là việc huy động các nguồn lực và tổ chức các công nghệ để thực hiện được mục tiêu đề ra.[6]
Như vậy, có thể kết luận rằng: Quản trị dự án đầu tư xây dựng là một quá trình phức tạp, nó mang tính duy nhất không có sự lặp lại, không xác định rõ ràng và không có dự án nào giống dự án nào. Mỗi dự án có địa điểm khác nhau, không gian và thời gian khác nhau, yêu cầu về số lượng và chất lượng khác nhau, tiến độ khác nhau, con người cũng khác nhau… thậm chí, trong quá trình thực hiện dự án còn có sự thay đổi mục tiêu, ý tưởng từ chủ đầu tư.
1.2.1.2. Các đặc trưng của quản trị dự án đầu tư
Công tác quản trị dự án đầu tư có các đặc trưng cơ bản sau:
– Chủ thể của quản trị dự án chính là người Quản trị dự án.
– Khách thể của quản trị dự án liên quan đến phạm vi công việc của dự án (tức là toàn bộ nhiệm vụ công việc của dự án). Những công việc này tạo thành quá trình vận động của hệ thống dự án. Quá trình vận động này được gọi là chu kỳ tồn tại của dự án.
– Mục đích của quản trị dự án là để thể hiện được mục tiêu dự án, tức là sản phẩm cuối cùng phải đáp ứng được yêu cầu của khách hàng. Bản thân việc quản trị không phải mục đích mà là cách thực hiện mục đích.
– Chức năng của quản trị dự án có thể khái quát thành nhiệm vụ lên kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều tiết, khống chế dự án. Nếu tách rời các chức năng này thì dự án không thể vận hành có hiệu quả, mục tiêu quản trị cũng không được thực hiện. Quá trình thực hiện mỗi dự án cần có tính sáng tạo, vì thế chúng ta thường coi việc quản trị dự án là quản trị sáng tạo.
1.2.2. Các hình thức tổ chức Quản trị dự án đầu tư
Có 2 loại hình thức quản trị thực hiện dự án đầu tư và xây dựng. Căn cứ điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân, người quyết định lựa chọn một trong các hình thức quản trị dự án đầu tư xây dựng công trình sau:
a. Chủ đầu tư trực tiếp quản trị thực hiện dự án
Việc thu được sản phẩm tốt, chất lượng cao, đảm bảo kỹ mỹ thuật, phát huy hiệu quả giá cả hợp lý chính là bài toán đối với các chủ đầu tư. Để làm được điều này thì không thể phủ nhận được vai trò công tác quản trị dự án, do đó chủ đầu tư cần cân nhắc việc lựa chọn hình thức quản trị dự án cho phù hợp. Chủ đầu tư trực tiếp quản trị là hình thức chủ đầu tư sử dụng bộ máy cơ quan, đơn vị của mình để trực tiếp tổ chức quản trị thực hiện dự án đầu tư với 2 mô hình sau:
– Mô hình 1: Chủ đầu tư không thành lập Ban quản trị dự án mà sử dụng bộ máy hiện có của mình để trực tiếp tổ chức quản trị thực hiện dự án, mô hình này được áp dụng với dự án quy mô nhỏ có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng, khi bộ máy của Chủ đầu tư kiêm nhiệm được việc quản trị thực hiện dự án, Viễn thông Đắk Lắk triển khai theo mô hình này.
– Mô hình 2: Chủ đầu tư thành lập Ban QLDA để giúp mình trực tiếp tổ chức Quản trị thực hiện dự án. Với hình thức này thì phải đảm bảo nguyên tắc:
+ Ban quản trị dự án do chủ đầu tư thành lập, là đơn vị trực thuộc chủ đầu tư. Quyền hạn, nhiệm vụ của Ban quản trị dự án do chủ đầu tư giao.
+ Ban quản trị dự án có tư cách pháp nhân hoặc sử dụng pháp nhân của Chủ đầu tư để tổ chức quản trị thực hiện dự án.
+ Cơ cấu tổ chức của Ban quản trị dự án gồm có giám đốc, các phó giám đốc, và lực lượng chuyên môn, nghiệp vụ. Cơ cấu bộ máy phải phù hợp với nhiệm vụ được giao và đảm bảo dự án được thực hiện đúng tiến độ, chấtlượng và tiết kiệm tối đa chi phí. Các thành viên của Ban quản trị dự án làm việc theo chế độ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm.
+ Ban quản lý dự án đầu tư hoạt động theo quy chế do chủ đầu tư ban hành, chịu trách nhiệm trước Chủ đầu tư và pháp luật theo nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
+ Chủ đầu tư phải cử người có trách nhiệm để chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra. Ban quản lý dự án thực hiện quyền hạn, nhiệm vụ để đảm bảo dự án được thực hiện đúng nội dung và tiến độ đã được phê duyệt.
+ Tập Đoàn BCVT Việt Nam áp dụng mô hình này đối với các dự án mua sắm tập trung, dự án thiết bị viễn thông chuyên ngành như vệ tinh VSAT, cáp quang biển Quốc tế.
b. Chủ đầu tư thuê tư vấn Quản trị thực hiện dự án
Quản trị dự án là hình thức chủ đầu tư ký hợp đồng thuê một pháp nhân khác làm tư vấn quản trị dự án. Trong trường hợp này chủ đầu tư phải cử cán bộ phụ trách đồng thời phân giao nhiệm vụ cho các đơn vị thuộc bộ máy của mình thực hiện hợp đồng của tư vấn quản trị dự án.
+ Chủ đầu tư thuê Tư vấn: Trường hợp chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản trị điều hành dự án thì tổ chức tư vấn đó phải thành lập một tổ chức bộ máy có đủ điều kiện năng lực tổ chức quản trị phù hợp với quy mô, tính chất của dự án. Trách nhiệm, quyền hạn của tư vấn quản trị dự án được thực hiện theo hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên. Tư vấn quản trị dự án được thuê ở tổ chức, cá nhân tham gia quản trị nhưng phải được chủ đầu tư chấp thuận và phù hợp với hợp đồng đã ký của chủ đầu tư.
1.3. NỘI DUNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TỪ NGUỒN VỐN KH TSCĐ
1.3.1. Quản trị giai đoạn quy hoạch và phân bổ nguồn vốn
1.3.2. Quản trị giai đoạn lập và thẩm định dự án đầu tư XDCB
1.3.3. Quản trị công tác lựa chọn nhà thầu trong hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản
1.3.4. Quản trị công tác thẩm định về công nghệ
1.3.5. Quản trị quá trình thi công xây dựng công trình
1.3.6. Quản trị công tác giải ngân
1.3.7. Quản trị giai đoạn kết thúc dự án
1.4. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN
a. Các yếu tố thuộc về môi trường tự nhiên
b. Môi trường kinh tế – chính trị
d. Cơ chế Quản trị của Nhà nước:
1.4.2. Các yếu tố thuộc môi trường vi mô
a. Sự cạnh tranh trong ngành
b. Các yếu tố về thị trường
c. Nhà cung cấp
1.4.3. Các yếu tố thuộc môi trường nội bộ
d. Chủ đầu tư:
e. Bộ máy Quản trị dự án
f. Các công cụ quản trị dự án được áp dụng
g. Thông tin thu thập được
1.5. KINH NGHIỆM QUẢN TRỊ DỰ ÁN ĐTXD CƠ BẢN CỦA MỘT SỐ ĐƠN VỊ VNPT KHÁC.
1.5.1. Kinh nghiệm của VNPT Bình Định
1.5.2. Kinh nghiệm của VNPT Đắk Nông
Qua tham khảo mô hình quản lý và triển khai công tác đầu tư của 2 đơn vị VNPT có qui mô, đặc điểm khách hàng tương tự. Bản than thấy rằng cần phải quan tâm bốn vấn đề sau nhằm nâng cao công tác quản lý đầu tư tại Viễn thông Đắk Lắk.
Một là, phải có bản kế hoạch triển khai các danh mục dự án được Giám đốc phê duyệt, có phân công người chịu trách nhiệm và thời gian hoàn thành cụ thể của từng danh mục công việc.
Hai là, xây dựng qui tắc cam kết hiệu suất trước khi triển khai thực hiện đầu tư nhằm gắn kết giữa bộ phận đầu tư với đơn vị quản lý sử dụng lấy khách hàng làm trung tâm và đầu tư theo nhu cầu khách hàng, và gắn qui mô đầu tư vào kế hoạch SXKD của từng địa bàn.
Ba là, xây dựng cơ sở hạ tầng phải quan tâm đến yếu tố chất lượng, tuổi thọ công trình lớn hơn thời gian khấu hao nhằm đảm bảo phát triển hạ tầng bền vững, mang lại lợi nhuận cao hơn.
Bốn là: Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát hết sức chặt chẽ nhằm đảm bảo chất lượng công trình và đảm bảo tiến độ thực hiện dự án.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ DỰ ÁN ĐẦU TƯ
CÁP QUANG THUÊ BAO TẠI VIỄN THÔNG ĐẮK LẮK
2.1. GIỚI THIỆU VIỄN THÔNG ĐẮK LẮK
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
2.1.2. Chức năng, quyền hạn và nghĩa vụ của Viễn thông Đắk Lắk
2.2. TÌNH HÌNH SXKD CỦA VIỄN THÔNG ĐẮK LẮK GIAI ĐOẠN 2018 -2020
Năm 2018, môi trường kinh doanh viễn thông nói chung và môi trường kinh doanh của VNPT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk chịu nhiều tác động trực tiếp từ những chính sách quản lý thị trường viễn thông của Bộ TTTT, như: chuyển đổi mã vùng điện thoại cố định trên toàn quốc, thắt chặt quản lý sim di động trả trước, chính thức áp dụng chính sách chuyển mạng giữ số. Năm 2018 cũng là năm điều kiện thời tiết, khí hậu diễn biến bất thường, gây thiệt hại nặng nề đến sản lượng các sản phẩm nông nghiệp chủ lực của địa phương, ảnh hưởng đến mạng lưới và hoạt động SXKD của đơn vị. Mặt khác, giá cả của các loại nông sản chủ lực như hồ tiêu, cà phê giảm mạnh, thấp nhất trong 10 năm qua làm cho kinh tế của người dân địa phương gặp khó khăn, ảnh hưởng lớn đến tiêu dùng; Thị trường dịch vụ viễn thông truyền thống trong xu thế bảo hòa, việc cạnh tranh giữa các nhà mạng để phát triển thuê bao, tăng thị phần, đón đầu chuyển đổi số giữa các nhà mạng MNP (Mobile Number Portability) diễn ra khốc liệt.
Năm 2019 là năm chịu ảnh hưởng rõ nét của sự bùng nổ các dịch vụ số trong CMCN 4.0. Thị trường viễn thông trong nước và thế giới đối mặt với đà suy giảm nhanh của các dịch vụ viễn thông truyền thống (Telco) mà trong đó thị trường viễn thông tại Đắk Lắk cũng không phải là ngoại lệ. Mặt khác, mặc dù năm 2019 kinh tế tỉnh Đắk Lắk tăng trưởng đạt 9,23%, thu nhập bình quân đầu người 49,1 triệu đồng, đạt và vượt nhiều chỉ tiêu KT-XH. Tuy nhiên, Đắk Lắk vẫn được xếp thứ 22 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ 41 về GRDP bình quân đầu người, đứng thứ 39 về tốc độ tăng trưởng GRDP trên cả nước, mô hình tăng trưởng vẫn dựa vào nguồn thu từ tài nguyên thiên nhiên, từ bất động sản, tỉ lệ hộ nghèo vẫn còn ở mức cao (hơn 8,36%), có hơn 73,5% dân số sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi sự suy giảm sản lượng và giá cả các sản phẩm nông công nghiệp chủ lực như cà phê, hồ tiêu, …, làm ảnh hưởng lớn đến nhu cầu tiêu dùng nói chung và tiêu dùng cho các dịch vụ Viễn thông-CNTT nói riêng.
Năm 2020, toàn xã hội bị ảnh hưởng nghiêm trọng do sự bùng nổ của dịch Covid 19. Các khu cách lý được thành lập và VNPT là nhà mạng tham gia tích cực vào việc đầu tư miễn phí hạ tầng viễn thông CNTT để hỗ trợ kết nối thông tin liên lạc từ trung ương đến địa phương nhằm đảm bảo công tác chỉ đạo của các cấp chính quyền, công tác y tế và hệ thống giáo dục. Do việc giản cách kéo dài, các hoạt động kinh tế ngưng trệ dẫn đến doanh thu từ dịch vụ khác giảm theo.
2.2.1. Phân tích doanh thu của Viễn thông Đăk Lăk giai đoạn 2018 -2020
Bảng 2.1. Bảng thống kê doanh thu giai đoạn 2018-2020
| STT | Chỉ tiêu | Đơn vị tính | Năm 2018 | Năm 2019 | Năm 2020 |
| I | Doanh thu VT-CNTT | triệu đồng | 338.673 | 358.657 | 358.109 |
| 1 | Doanh thu từ khách hàng VTT (hạ tầng, khác) | triệu đồng | 2.568 | 2.814 | 2.000 |
| 2 | Doanh thu phối hợp được hưởng | triệu đồng | 7.822 | 8.807 | 7.370 |
| 3 | Doanh thu nội bộ | triệu đồng | 328.283 | 347.036 | 348.739 |
| II | Tăng trưởng | % | 7,5 | 4,4 | -0,02 |
| III | Kế hoạch Tập đoàn giao | triệu đồng | 340.000 | 369.000 | 360.000 |
| III | Hoàn thành kế hoạch Tập đoàn giao | % | 99,5% | 97% | 99,98 % |
(Nguồn: Số liệu từ nguồn báo cáo tài chính của P KTKH _lưu hành nội bộ)[1]

Đồ thị 2.1. Đồ thị biểu thị doanh thu giai đoạn 2018-2020
Cùng với các giải pháp quyết liệt và đồng bộ từ nâng cao chất lượng mạng lưới, hiệu quả đầu tư đến công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực. Kết thúc năm 2018, VNPT trên địa bàn Đắk Lắk đã đạt được những kết quả cụ thể như sau: tổng doanh thu từ khách hàng trên địa bàn đạt 336,105 tỷ đồng, đạt 99,5% so với kế hoạch tối thiểu, tăng trưởng 7,5% so với thực hiện năm 2017.
Năm 2019, với sự nổ lực của toàng đơn vị tổng doanh thu của VNPT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đạt 358,657 tỷ đồng, tăng trưởng 4,4%, quy mô tăng trưởng đạt 19,984 tỷ đồng so với thực hiện năm 2018 và đạt gần 97% kế hoạch Tập đoàn giao. Bước sang năm 2020, do ảnh hưởng của tình hình dịch Covid kéo dài, đơn vị Viễn thông Đắk Lắk đã nổ lục để giữa vững doanh thu. Tuy nhiên, tổng doanh thu của VNPT trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk năm 2020 đạt 358,109 tỷ đồng, tăng trưởng âm, bằng 99,98 % kế hoạch, tăng trưởng gần bằng so với năm 2019, giảm tuyệt đối 0,548 tỷ đồng. Nguyên nhân trong năm bị ảnh hưởng bởi đại dịch covid-19 nên doanh thu từ các ngành nghề bị ảnh hưởng trong đó có dịch vụ CNTT, bưu chính viễn thông.
2.2.2. Phân tích chi phí của Viễn thông Đăk Lăk giai đoạn 2018 -2020
Bảng 2.2. Bảng thống kê chi tiết chi phí giai đoạn 2018-2020
| STT | Chỉ tiêu | Đơn vị tính | Năm 2018 | Năm 2019 | Năm 2020 |
|---|---|---|---|---|---|
| Chi phí VT-CNTT | triệu đồng | 278.185 | 290.973 | 304.645 | |
| 1 | Chi phí khấu hao | triệu đồng | 54.596 | 52.574 | 56.879 |
| 2 | Chi phí trực tiếp | triệu đồng | 105.562 | 114.371 | 117.119 |
| 3 | Chi phí gián tiếp | triệu đồng | 109.570 | 115.292 | 120.870 |
| 4 | Tiền lương | triệu đồng | 85.340 | 86.565 | 89.588 |
| 5 | Chi phí phối hợp kinh doanh | triệu đồng | 1.952 | 2.067 | 2.067 |
| 6 | Chi phí nội bộ VT-CNTT | triệu đồng | 6.504 | 6.669 | 7.710 |
(Nguồn: Số liệu từ nguồn báo cáo tài chính của P KTKH _lưu hành nội bộ). [1]

Đồ thị 2.2. Đồ thị biểu thị chi phí giai đoạn 2018-2020
Cùng với doanh thu của cả 3 năm 2018-2020 có tăng trưởng thì chi phí cũng có xu hướng tỷ lệ thuận. Đặc biệt, phần chi phí của năm 2020 tăng cao ở phần khấu hao, phản ánh mạng lưới đã đươc quan tâm đầu tư mới, phần chi phí trực tiếp gồm dây thuê bao kéo vào nhà khách hàng, đầu nối, thiết bị phát wifi cũng tăng do ảnh hưởng nguồn cung nhập khẩu nguyên liệu và thiết bị các nước khác như Trung Quốc, Hàn Quốc…Để phục vụ cơ quan Đảng, Chính phủ điều hành công tác chống dịch việc kết nối các đường truyền 4 cấp Trung Ương- tỉnh thành phố- huyện, thị trấn – UBND xã làm tăng chi phí nội bộ VT-CNTT khi phải thiết lập các đường truyền hình hội nghị, các đường truyền cung cấp phần mềm y tế đến các trung tâm cách ly. So với tăng trưởng doanh thu và chi phí năm 2020 là không tương đồng nhưng xét về tình hình kinh tế, chính trị xã hôi giai đoạn này thấy rằng doanh nghiệp đã duy trì được phần chi phí ở mức hợp lý, tăng 13,672 tỷ đồng, trong khi năm 2019 tăng 12,788 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước.
2.2.3. Phân tích lợi nhuận của Viễn thông Đăk Lăk giai đoạn 2018 -2020

Đồ thị 2.3. Đồ thị biểu thị chênh lệch thu -chi giai đoạn 2018-2020
Bảng 2.3. Bảng chênh lệch thu -chi giai đoạn 2018-2020
| STT | Chỉ tiêu | Đơn vị tính | Năm 2018 | Năm 2019 | Năm 2020 | |
| 1 | Chênh lệch thu chi VT-CNTT | tỷ đồng | 60,488 | 67,684 | 53,464 |
(Nguồn: Số liệu từ nguồn báo cáo tài chính của P KTKH _lưu hành nội bộ).[1]
Kết quả đạt được về mặt tài chính phản ánh rõ ràng ở phần chênh lệch thu -chi: Năm 2019 có chênh lệch tốt hơn 2 năm còn lại của giai đoạn 2018-2020, chênh lệch tuyệt đối là 67,684 tỷ đồng, trong khi năm 2020 doanh thu tăng trưởng âm nhưng chi phí vẫn tăng so với cùng kỳ nên lợi chênh lệch năm này chỉ đạt ở mức 53,474 tỷ đồng.
2.2.4. Tài sản cố định của Viễn thông Đăk Lăk giai đoạn 2018 -2020
Bảng 2.4. Bảng thống kê tài sản cố định giai đoạn 2018-2020
| STT | Chỉ tiêu | Đơn vị tính | Năm 2018 | Năm 2019 | Năm 2020 |
| 1 | Tài sản cố định | Tỷ đồng | 276,027 | 346,967 | 389,699 |
(Nguồn: Số liệu từ nguồn báo cáo tài chính của P KTKH _lưu hành nội bộ).[1]

Đồ thị 2.4. Đồ thị biểu thị tài sản còn lai giai đoạn 2018-2020
Tài sản cố định tăng thêm hàng năm thể hiện sự quan tâm đầu tư vào mạng lưới của đơn vị, góp phần giữ vững doanh thu, đảm bảo cạnh tranh trong giai đoạn này giữa các nhà mạng.
2.2.5. Giá trị đầu tư của Viễn thông Đăk Lăk giai đoạn 2018 -2020
Bảng 2.5. Thống kê giá trị thực hiện đầu tư giai đoạn 2018 – 2020
| TT | Đơn vị/Chương trình đầu tư | Đơn vị tính | Năm 2018 | Năm 2019 | Năm 2020 |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | Giá trị kế hoạch Tập đoàn giao | Triệu đồng | 51,937 | 72,488 | 46,022 |
| 2 | Công trình được phê duyệt trong năm | Triệu đồng | 51,937 | 72,488 | 46,022 |
| 3 | Giá trị giải ngân | Triệu đồng | 50,800 | 70,940 | 42,732 |
| 4 | Tỷ lệ hoàn thành giải ngân so với kế hoạch vốn Tập đoàn giao | % | 97,0 | 97,8 | 92,8 |
(Số liệu từ nguồn báo cáo ĐTXDCB IMS của VNPT _lưu hành nội bộ).[1]
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DONG A\LUAN VAN DONG A\NGUYEN BAO QUOC


