Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước

Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước

Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước tại thành phố Quảng Ngãi – Tỉnh Quảng Ngãi

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, ngân sách Nhà nước trở thành công cụ điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô cực kỳ quan trọng của bất kỳ Nhà nước nào trên thế giới, giữ vai trò quan trọng, chủ yếu trong huy động và phân phối các nguồn lực của nền kinh tế nhằm bảo đảm hoạt động của Nhà nước, đồng thời phân phối nguồn lực hợp lý để thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, ổn định và bền vững, giải quyết tốt các vấn đề xã hội.

Nhà nước chỉ có thể thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế thành công khi có nguồn tài chính đảm bảo. Để huy động đủ nguồn thu vào ngân sách nhằm thực hiện chi tiêu của Nhà nước thì những hình thức thu ngân sách phải phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội của địa phương và đất nước. Cùng với quá trình quản lý thu ngân sách nhà nước thì việc quản lý chi ngân sách nhà nước cũng có vị trí rất quan trọng trong quản lý điều hành ngân sách nhà nước góp phần ổn định phát triển kinh tế-xã hội. Luật Ngân sách Nhà nước ra đời đánh dấu một bước ngoặc quan trọng trong quá trình đổi mới công tác quản lý tài chính nói chung và quản lý Ngân sách Nhà nước nói riêng, đã thực sự là công cụ, phương tiện để thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước của các cấp chính quyền địa phương, góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội.

Trong bối cảnh chung của đất nước, thành phố Quảng Ngãi tỉnh Quảng Ngãi những năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn về KT-XH, bộ mặt đô thị ngày càng đổi mới cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế của đất nước, công tác quản lý ngân sách Nhà nước (NSNN) đã có những chuyển biến cơ bản và từng bước hoàn thiện góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, giải quyết được các vấn đề bức thiết về kinh tế – xã hội (KT-XH). Tuy nhiên, thực trạng công tác quản lý ngân sách của thành phố hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, thu ngân sách vẫn chưa bao quát các nguồn thu trên địa bàn, vẫn còn tình trạng thất thu. Hiệu quả các khoản chi ngân sách còn thấp, chi đầu tư còn dàn trải, thiếu tập trung dẫn đến hiệu quả đầu tư còn thấp, gây lãng phí; còn tình trạng phân bổ chi thường xuyên trong quá trình thực hiện dự toán nhiều.

Thành phố Quảng Ngãi – trung tâm kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Ngãi nhưng có nguồn thu còn hạn hẹp, trong khi nhu cầu chi cho đầu tư phát triển ngày càng lớn, đòi hỏi quản lý ngân sách cần phải được hoàn thiện. Trong thực tế, việc quản lý Ngân sách trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi còn có những vấn đề chưa phù hợp. Cơ chế quản lý chi Ngân sách trên địa bàn trong nhiều trường hợp còn bị động và chậm chạp; nhiều vấn đề cấp bách không được đáp ứng kịp thời hoặc chưa có quan điểm xử lý thích hợp, lúng túng. Công tác điều hành ngân sách của Thành phố đôi lúc còn bất cập. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước tại thành phố Quảng Ngãi – Tỉnh Quảng Ngãi” là nhằm góp phần giải quyết vấn đề nói trên.

2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

– Hệ thống hóa lý luận về quản lý NSNN cấp thành phố thuộc tỉnh (cấp Huyện).

– Đánh giá thực trạng quản lý NSNN tại thành phố Quảng Ngãi.

– Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý NSNN tại thành phố Quảng Ngãi.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu: Là công tác quản lý NSNN cấp thành phố thuộc tỉnh; cách tiếp cận về quản lý NSNN của luận văn là công tác quản lý thu – chi ngân sách Nhà nước.

– Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Công tác quản lý NSNN (Quản lý thu – chi NSNN) tại thành phố Quảng Ngãi tỉnh Quảng Ngãi.

+ Về thời gian: Luận văn sử dụng số liệu từ năm 2012 đến năm 2014.

4. Phương pháp nghiên cứu.

Vận dụng lý luận chung về quản lý NSNN, lý thuyết về quản lý kinh tế và kinh tế học vĩ mô, vi mô; kế thừa có chọn lọc kết quả các công trình nghiên cứu trước đây, đồng thời sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá, tình hình quản lý, số liệu thực tế về quản lý NSNN thành phố Quảng Ngãi và kinh nghiệm thực tiển ở một số địa phương…từ đó làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu.

5. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu kham khảo, luận văn gồm 3 chương.

Chương 1. Lý luận về quản lý ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc tỉnh (cấp Huyện).

Chương 2. Thực trạng quản lý ngân sách nhà nước của thành phố Quảng Ngãi.

Chương 3. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước tại địa bàn thành phố quảng ngãi

6. Tổng quan nghiên cứu

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ

QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Khái niệm và bản chất của ngân sách nhà nước

Khái niệm về ngân sách nhà nước

NSNN là một phạm trù kinh tế khách quan, ra đời, tồn tại và phát triển trên cơ sở sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước. Luật NSNN được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt nam khóa XI, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 16/12/2002 đã xác định: “Ngân sách là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.

Bản chất ngân sách nhà nước

Bản chất của NSNN, đó là tổng thể các mối quan hệ kinh tế được phát sinh trong quá trình phân phối bằng giá trị tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình thành quỹ tiền tệ tập trung nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ kinh tế – xã hội của Nhà nước trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm

Chức năng của ngân sách nhà nước

Nguồn tài chính của NSNN hình thành chủ yếu qua các khoản thu của Nhà nước, giữa thu và chi ngân sách có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ nhau mang tính cân đối, nên chức năng của NSNN thực hiện hai chức năng chính:

Chức năng phân phối

Chức năng giám đốc

Vai trò của ngân sách nhà nước

Vai trò khai thác, huy động nguồn tài chính để bảo đảm nhu cầu chi tiêu của nhà nước

Vai trò quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế

* Kích thích sự tăng trưởng nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

* Điều tiết thị trường, giá cả và chống lạm phát.

* Điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư, bù đắp những khiếm khuyết của thị trường, góp phần thực hiện công bằng xã hội.

Tổ chức hệ thống ngân sách nhà nước

Ngân sách Nhà nước được tổ chức thành một hệ thống chặt chẽ bao gồm bốn cấp ngân sách gắn bó hữu cơ với nhau, được hình thành trên cơ sở cấp chính quyền với khả năng nguồn thu trên vùng lãnh thổ mà cấp chính quyền đó quản lý.

NGÂN

SÁCH

NHÀ

NƯỚC

NGÂN

SÁCH

ĐỊA

PHƯƠNG

NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG

NGÂN SÁCH CẤP TỈNH

NGÂN SÁCH CẤP HUYỆN

NGÂN SÁCH CẤP XÃ

: Quan hệ cấp trên – dưới

: Quan hệ trong hệ thống

Sơ đồ 1.1: Hệ thống ngân sách nhà nước ở Việt Nam

Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

Sự cần thiết phân cấp ngân sách nhà nước

Nguyên tắc phân cấp ngân sách nhà nước.

Nội dung của phân cấp ngân sách nhà nước

Nội dung chủ yếu của chu trình quản lý ngân sách

QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP THÀNH PHỐ THUỘC TỈNH (CẤP HUYỆN)

Khái niệm và nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước

Khái niệm về quản lý ngân sách nhà nước

Quản lý NSNN là làm cho các hoạt động của NSNN theo đúng pháp luật nhà nước, mặt khác kích thích kinh tế phát triển; tạo lập, bồi dưỡng nguồn thu cho ngân sách, sử dụng có hiệu quả và tiết kiệm các khoản chi ngân sách, bảo đảm sự cân đối thu – chi ngân sách, giảm bội chi ngân sách.

Nguyên tắc quản lý ngân sách nhà nước

Vai trò của quản lý ngân sách nhà nước

Vai trò quản lý thu ngân sách nhà nước

Vai trò quản lý chi ngân sách nhà nước

Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc tỉnh (cấp Huyện)

Đặc điểm ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc tỉnh

Những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình quản lý ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc tỉnh

Thứ nhất, nhân tố về thể chế tài chính;

Thứ hai, nhân tố về bộ máy và cán bộ;

Thứ ba, nhân tố về trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập;

Nội dung về quản lý ngân sách nhà nước cấp thành phố trực thuộc tỉnh

Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước tại thành phố Quảng Ngãi – Tỉnh Quảng Ngãi
Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước tại thành phố Quảng Ngãi – Tỉnh Quảng Ngãi

1.2.4.1. Nội dung về quản lý thu ngân sách nhà nước

a. Nội dung quản lý thu thuế

Như chúng ta đã biết, thuế là nguồn thu chính chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng ngày càng tăng trong tổng thu NSNN. Đồng thời thuế cũng là công cụ quan trọng của Nhà nước trong việc điều chỉnh kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội. Do vậy quản lý thu thuế nói chung và quản lý thu thuế ở địa phương có ý nghĩa đặt biệt quan trọng trong quản lý NSNN. Quản lý thu thuế là hệ thống các biện pháp nghiệp vụ do cơ quan có chức năng thu ngân sách thực hiện.

b. Nội dung quản lý thu phí, lệ phí

Phí thuộc NSNN là khoản tiền mà các tổ chức và cá nhân phải trả cho một cơ quan nhà nước khi nhận được dịch vụ do cơ quan này cung cấp. Trong hoạt động xã hội, nhiều tổ chức thuộc bộ máy công quyền cung cấp ra bên ngoài nhiều dịch vụ. Chúng cần thiết phải thu tiền của đối tượng thụ hưởng để bù đắp chi phí hoạt động. Phí chính là số tiền đó.

Lệ phí là khoản tiền mà các tổ chức và cá nhân phải nộp cho cơ quan nhà nước khi thụ hưởng dịch vụ liên quan đến quản lý hành chính do cơ quan này cung cấp.

Phí, lệ phí không phải là giá cả của dịch vụ công mà chỉ là động viên một phần thu nhập của người thụ hưởng nhằm thực hiện công bằng trong tiêu thụ dịch vụ công.

1.2.4.2. Nội dung cơ bản về quản lý chi ngân sách nhà nước

a. Quản lý chi đầu tư phát triển

Chi đầu tư phát triển có các đặc điểm sau:

– Chi đầu tư phát triển của ngân sách là khoản chi tích lũy.

– Quy mô và cơ cấu chi đầu tư phát triển của NSNN không cố định và phụ thuộc vào chiến lược phát triển KT-XH của Nhà nước trong từng thời kỳ và mức độ phát triển của khu vực kinh tế tư nhân.

– Chi đầu tư phát triển phải gắn chặt với chi thường xuyên nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.

b. Quản lý chi thường xuyên

Chi thường xuyên là một bộ phận của chi NSNN, nó phản ảnh quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN để thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên về quản lý KT-XH của Nhà nước. Chi thường xuyên của NSNN bao gồm các khoản chi cho các lĩnh vực: SNKT; SNGD, y tế, văn hóa, xã hội; chi bộ máy QLNN; chi ANQP.

Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý ngân sách nhà nước

KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ NSNN CẤP THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TỈNH (CẤP HUYỆN)

1.3.1. Kinh nghiệm quản lý NSNN tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

1.3.2. Kinh nghiệm quản lý NSNN cấp thành phố trực thuộc tỉnh (cấp quận, huyện)

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI

THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI – TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1. ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI

2.1.1. Lịch sử hình thành Thành Phố Quảng Ngãi

2.1.2. Đặc điểm, tình hình kinh tế – xã hội của thành phố Quảng Ngãi

Thành phố Quảng Ngãi là thành phố tỉnh lỵ, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và an ninh – quốc phòng của tỉnh Quảng Ngãi. Diện tích tự nhiên 16.015,34 ha, 260.252 nhân khẩu, có 23 đơn vị hành chính cấp xã; trong đó có 09 phường.

2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI – TỈNH QUẢNG NGÃI

2.2.1. Thực trạng công tác quản lý thu NS nhà nước

2.2.1.1. Tình hình thu NS tại thành phố Quảng Ngãi giai đoạn 2012-2014

Trong những năm qua, thành phố Quảng Ngãi có tốc độ phát triển kinh tế tương đối nhanh, Thu ngân sách thành phố đã không những đáp ứng được những nhiệm vụ chi thiết yếu cho bộ máy QLNN, chi SNKT, văn xã, ANQP mà còn dành phần thích đáng cho nhu cầu chi đầu tư phát triển, chỉnh trang đô thị làm thay đổi cơ bản bộ mặt của thành phố.

2.2.1.2. Thực trạng công tác quản lý thu ngân sách thành phố Quảng Ngãi giai đoạn 2012-2014

a. Công tác lập và phân bổ dự toán thu

– Lập dự toán

– Phân bổ dự toán thu

  1. Công tác quản lý đăng ký đối tượng thu

– Về tình hình quản lý đối tượng nộp thuế

– Về công tác lập bộ

  1. Công tác kiểm tra, thanh tra, quyết toán

2.2.2. Thực trạng chi ngân sách nhà nước của thành phố Quảng Ngãi

2.2.2.1. Tình hình chi ngân sách

Chi ngân sách thành phố những năm qua đã tập trung vào nhiệm vụ chi đầu tư phát triển, đáp ứng nhu cầu các khoản chi sự nghiệp trên các lĩnh vực, chi cho bộ máy QLHC, đảm bảo ANQP và bổ sung cân đối ngân sách xã, phường. Điều này phù hợp với yêu cầu phát triển của thành phố trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chỉnh trang đô thị.

2.2.2.2. Thực trạng công tác quản lý chi ngân sách

Công tác quản lý chi ngân sách tại thành phố Quảng Ngãi trong những năm qua đều được triển khai thực hiện tốt và đáp ứng yêu cầu trong các khâu: lập, phân bổ dự toán, quyết toán; Cụ thể:

– Về dự toán:

+ Lập dự toán: Công tác lập dự toán chi ngân sách hằng năm tại thành phố Quảng Ngãi đều được triển khai thực hiện theo đúng các quy định của Luật ngân sách. Hàng năm, căn cứ các quy định pháp lý về chi ngân sách hiện hành, tình hình kinh tế – xã hội của thành phố và thực tế chi ngân sách thành phố Quảng Ngãi trong năm hiện hành, phòng Tài chính-Kế hoạch thành phố là cơ quan chỉ trì tham mưu cho UBND thành phố trong việc lập dự toán chi ngân sách của năm sau nộp UBND tỉnh, Sở Tài chính.

– Về điều hành dự toán: Trên cơ sở dự toán chi được giao cả năm, các đơn vị sử dụng ngân sách tiến hành lập nhu cầu chi ngân sách chia theo từng tháng, quý gửi phòng Tài chính-Kế hoạch để thẩm định và gửi Kho bạc Nhà nước để thực hiện công tác kiểm soát chi.

– Về quyết toán: Kết thúc năm tài chính, phòng Tài chính-kế hoạch chủ trì phối hợp cùng với Chi cục thuế thành phố và Kho bạc Nhà nước thành phố tiến hành chỉnh lý và xây dựng báo cáo quyết toán ngân sách hằng năm (trước 31/3 năm sau). Báo cáo quyết toán gửi về Sở Tài chính và cơ quan thanh tra để tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán.

  • Về công tác thanh tra, kiểm tra: Công tác thanh tra, kiểm tra được cơ quan thanh tra và phòng Tài chính-Kế hoạch xây dựng kế hoạch hàng năm trình Chủ tịch UBND thành phố xem xét phê duyệt làm cơ sở thực hiện (Chưa tính đến các đợt thanh tra đột xuất khi có đơn thư khiếu nại, tố cáo hoặc phát hiện các sai phạm).

2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI GIAI ĐOẠN 2012-2014

2.3.1. Kết quả đạt được về quản lý ngân sách nhà nước

2.3.1.1. Kết quả đạt được về quản lý thu ngân sách nhà nước

Thứ nhất, công tác quản lý thu thuế: Xác định thuế là nguồn thu chính của ngân sách thành phố nên những năm qua Thành ủy, HĐND và UBND thành phố đã tập trung chỉ đạo quyết liệt đối với công tác thu ngân sách nói chung mà nhất là công tác thu thuế. Công tác quản lý thu thuế đã chuyển biến theo hướng tích cực, công khai, dân chủ, minh bạch, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ý thức tự giác chấp hành nghĩa vụ thuế ngày càng được nâng lên.

Thứ hai, công tác quản lý thu phí, lệ phí: Mặc dù chiếm tỷ trọng không lớn trong thu ngân sách thành phố nhưng thu phí, lệ phí đã góp phần tăng thu cho ngân sách địa phương. Số thu từ các khoản phí, lệ phí năm 2014 là 4,993 tỷ đồng, tăng 98% so với năm 2013. Nội dung thu phí, lệ phí căn cứ vào danh mục phí, lệ phí ban hành theo quy định, cũng như một số loại phí, lệ phí được phân cấp cho HĐND tỉnh ban hành. Chi cục thuế thành phố cũng đã thường xuyên kiểm tra việc chấp hành chế độ và quyết toán thu nộp phí, lệ phí của các đơn vị. Công tác ghi thu ghi chi các khoản phí, lệ phí được để lại quản lý chi qua ngân sách được thực hiện kịp thời, đúng quy định. Qua thanh tra, kiểm toán định kỳ chưa phát hiện cơ quan, đơn vị nào tự ý đặt ra các khoản phí, lệ phí ngoài quy định.

2.3.1.2. Kết quả đạt được về quản lý chi ngân sách nhà nước của thành phố Quảng Ngãi

Thứ nhất, chi đầu tư phát triển: Đây là nội dung chi được thành phố đặc biệt quan tâm trong những năm qua. Kết quả về quản lý chi đầu tư phát triển được thể hiện cụ thể sau:

– Đã tuân thủ các quy định của Nhà nước về quản lý đầu tư và xây dựng, về cấp phát thanh toán vốn đầu tư, về quyết toán vốn đầu tư; từ đó góp phần hạn chế tối đa việc lãng phí, thất thóat trong đầu tư xây dựng cơ bản ngay từ khâu quyết định đầu tư, bố trí vốn đầu tư, thực hiện đầu tư và thanh quyết toán vốn đầu tư.

– Bố trí cơ cấu chi đầu tư bám sát yêu cầu phục vụ việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố theo nghị quyết đại hội đảng bộ tỉnh và thành phố đề ra- Thành phố đã tập trung thực hiện các giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

Thứ hai, đối với quản lý chi thường xuyên: Kết quả quản lý chi thường xuyên ở thành phố Quảng Ngãi được thể hiện cụ thể như sau:

– Về cơ bản đã đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên ngày càng tăng và mở rộng trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của thành phố.

– Việc thực hiện chu trình ngân sách đã có nhiều bước chuyển biến đáng kể. Trong khâu lập dự toán các đơn vị đã bám sát các định mức phân bổ ngân sách và định mức sử dụng NSNN ban hành cũng như nhiệm vụ chính trị của ngành, địa phương mình. Quá trình xét duyệt dự toán, phân bổ ngân sách đã thực hiện đúng quy định của luật NSNN

– Cơ cấu chi ngân sách đã từng bước đổi mới, chú ý mục tiêu phục vụ các chương trình KT-XH của thành phố như: chương trình xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm,chương trình phát triển thương mại du lịch, chương trình phát triển kinh tế vùng đảo, chương trình phổ cập giáo dục tiểu học,trung học cơ sở, trung học phổ thông…

– Các cơ quan đơn vị và cá nhân hưởng thụ từ các khoản chi thường xuyên đã có ý thức trong việc sử dụng có hiệu quả, hạn chế được tiêu cực.

– Việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính theo Nghị định 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ đã đạt được những kết quả rất khả quan.

2.3.2. Những hạn chế, yếu kém trong quản lý ngân sách nhà nước giai đoạn 2012 -2014

2.3.2.1. Hạn chế, yếu kém về quản lý thu ngân sách nhà nước

Thứ nhất, công tác kế hoạch hoá nguồn thu chưa được coi trọng đúng mức. Đây là một trong những hạn chế lớn hiện nay về công tác quản lý thu ngân sách.

Thứ hai, công tác xây dựng dự toán thu ngân sách chưa có cơ sở vững chắc, đôi khi còn mang yếu tố chủ quan, cảm tính. Dự toán thu là cơ sở để điều hành, quản lý thu ngân sách nhưng chưa được xây dựng một cách có khoa học.

Thứ ba, tốc độ áp dụng các thành tựu công nghệ thông tin trong quản lý thuế còn chậm, trình độ năng lực cán bộ làm công tác tin học chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ

Thứ tư, tình trạng thất thu thuế, sót hộ, nợ đọng thuế, dây dưa, gian lận thương mại còn phổ biến.

Thứ năm, sự lãnh đạo,chỉ đạo của các cấp chính quyền, sự phối hợp giữa các ban ngành với ngành thuế trong quá trình quản lý thu thuế còn hạn chế, cụ thể:

– Việc lãnh đạo, chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND thành phố đối với công tác quản lý thu thuế có khi chưa thường xuyên, liên tục, quyết liệt, thường chỉ tập trung vào quý 1 và quý 4 để đảm bảo hoàn thành kế hoạch thu được tỉnh giao.

– Lãnh đạo UBND các xã, phường chưa thật sự quan tâm đến công tác thuế.

– Các ban ngành chưa thực sự quan tâm phối hợp với ngành thuế trong công tác quản lý thu thuế, đôi khi còn có quan điểm cho rằng công tác quản lý thu thuế là của ngành thuế.

Thứ sáu, công tác cải cách hành chính trong kê khai nộp thuế, hoàn thuế, sử dụng hoá đơn tuy có một số tiến bộ bước đầu, nhưng vẫn còn hạn chế, chưa đồng bộ, chưa tạo điều kiện thuận lợi cho SXKD phát triển.

Thứ bảy, phương pháp quản lý thu hiệu quả còn thấp. Phương pháp quản lý thu thuế ở chi cục thuế thành phố Quảng Ngãi mặc dù đã có những cải tiến nhưng vẫn thiếu khoa học,nhất là đối với các hộ kinh doanh cá thể.

2.3.2.2. Tồn tại, yếu kém về quản lý chi ngân sách nhà nước

* Đối với quản lý chi đầu tư phát triển

Thứ nhất, kế hoạch XDCB hàng năm của thành phố chưa được xây dựng một cách chặt chẽ, khoa học, nhiều trường hợp chưa đảm bảo quy định, gây lãng phí và hiệu quả đầu tư thấp

Thứ hai, chất lượng các công tác tư vấn lập dự án, lập thiết kế dự toán còn nhiều sai sót về khối lượng, đơn giá, định mức kinh tế kỹ thuật… kết quả là tính chính xác về tổng mức đầu tư các công trình chưa cao, bố trí vốn cũng không chính xác.Công tác thẩm định dự án, thẩm định thiết kế dự toán cũng còn nhiều sai sót.

Thứ ba, tiến độ triển khai các dự án chậm, không đảm bảo hoàn thành trong năm nhất là một số dự án lớn dẫn đến chuyển tiếp, chuyển nợ nhiều, hậu quả là thành phố không hoàn thành kế hoạch đầu tư trong một số năm.

Thứ tư, việc tính toán xác định giá trị chỉ định thầu của chủ đầu tư nhiều trường hợp chưa chính xác, chất lượng công tác đấu thầu chưa cao.Công tác nghiệm thu nhiều trường hợp còn sơ sài, chưa đảm bảo đầy đủ thủ tục theo quy định.

Thứ năm, bộ máy quản lý chi đầu tư còn nhiều bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý.Phòng tài chính kế hoạch, cơ quan tham mưu cho UBND thành phố công tác quản lý nhà nước về đầu tư và xây dựng nhưng do trình độ và khả năng của đội ngũ cán bộ còn bị hạn chế nên dẫn đến hiệu quả quản lý chi đầu tư từ ngân sách còn thấp.

Thứ sáu, công tác kiểm soát thanh toán vốn đầu tư chưa thật sự chặt chẽ. Theo qui định của Bộ Tài chính, KBNN các cấp có trách nhiệm kiểm soát chi đầu tư, cùng phối hợp với ngành tài chính nhằm đảm bảo vốn đầu tư được sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Tuy nhiên trong những năm qua, sự kiểm soát chi đầu tư của KBNN thành phố còn hạn chế.

Thứ bảy, công tác lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư công trình, hạng mục công trình hoàn thành của các chủ đầu tư thường chưa chậm so với quy định, chất lượng báo cáo còn nhiều sai sót, thiếu mẫu biểu theo quy định. Công tác thẩm định, phê duyệt quyết toán của cơ quan tài chính và UBND thành phố vẫn còn có trường hợp sai sót.

* Đối với quản lý chi thường xuyên

Thứ nhất, công tác xây dựng định mức chi còn thiếu chính xác.

Thứ hai, quy trình lập dự toán chi thường xuyên theo quy định của Luật NSNN rất phức tạp, đòi hỏi phải thực hiện qua nhiều bước, tốn kém rất nhiều thời gian và công sức của các đơn vị cơ sở và cơ quan tài chính các cấp.

Thứ ba, việc phân bổ dự toán của một số đơn vị sử dụng ngân sách chưa thực hiện tốt, đôi khi chưa khớp đúng về tổng mức, phân bổ chi tiết không sát với yêu cầu chi thực tế, điều này thường xảy ra đối với các đơn vị dự toán cấp 1 có các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc, các đơn vị này thường có xu hướng muốn giữ lại một phần dự toán chi thường xuyên của các đơn vị trực thuộc dưới danh nghĩa phục vụ cho các nhiệm vụ chung của ngành (ví dụ Phòng giáo dục).

Thứ tư, quyết toán của các đơn vị sử dụng ngân sách thường chưa đảm bảo theo quy định về thời gian, hệ thống mẫu biểu (nhất là các báo cáo phân tích chi tiết các khoản chi khác, tiếp khách, mua sắm…), chất lượng báo cáo chưa cao, nhiều trường hợp chưa khớp đúng giữa chi tiết và tổng hợp.

2.3.3. Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém về quản lý ngân sách nhà nước tại thành phố Quảng Ngãi giai đoạn 2012 – 2014

2.3.3.1. Nguyên nhân hạn chế, yếu kém trong quản lý thu ngân sách nhà nước

* Đối vối công tác quản lý thu thuế

Thứ nhất, hệ thống thuế qua nhiều lần cải cách vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu

Thứ hai, trình độ nhận thức của xã hội về thuế còn thấp

Thứ ba, nghĩa vụ trách nhiệm pháp luật và quyền lợi của đối tượng nộp thuế,cơ quan thuế, tổ chức và cá nhân có liên quan đến công tác thuế chưa được quy định đầy đủ và thiếu nhất quán giữa các sắc thuế.

Thứ tư, các giải pháp quản lý KT-XH chưa được cải cách đồng bộ để hỗ trợ cho công tác quản lý thuế.

Thứ năm, đội ngũ cán bộ quản lý thu ngân sách còn yếu.

Thứ sáu, sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương đối với công tác thuế chưa được quan tâm đúng mức.

Thứ bảy, chưa có biện pháp để bồi dưỡng,mở rộng nguồn thu một cách thỏa đáng.

* Đối với công tác quản lý thu phí, lệ phí

Thứ nhất, UBND tỉnh, Sở Tài chính chưa thường xuyên rà soát, bổ sung danh mục, điều chỉnh mức thu đối với các khoản thu phí trên địa bàn theo định kỳ.

Thứ hai, các cấp chính quyền địa phương cũng chưa thật sự quan tâm đến công tác thu phí, lệ phí

Thứ ba, các đơn vị được giao nhiệm vụ trực tiếp thu các khoản phí chưa chủ động trong việc rà soát kiến nghị sửa đổi bổ sung những vấn đề chưa hợp lý trong quá trình thực hiện

2.3.3.2. Nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém về quản lý chi ngân sách nhà nước

* Đối với quản lý chi đầu tư

Thứ nhất, hệ thống các văn bản pháp luật trong quản lý đầu tư và xây dựng trong thời gian qua nhìn chung còn thiếu đồng bộ, nhiều quy định còn chồng chéo,quá rắm rối khó thực hiện trong thực tế quản lý.

Thứ hai, chế tài xử phạt khi vi phạm trên lĩnh vực đầu tư và xây dựng còn quá thiếu.

Thứ ba, các cấp chính quyền địa phương chưa thực hiện nghiêm túc các quy định về quản lý đầu tư và xây dựng.

Thứ tư, năng lực của các chủ đầu tư, nhất là khối xã, phường không đồng đều và còn yếu

Thứ năm, năng lực của các đơn vị làm công tác tư vấn còn yếu.

Thứ sáu, trình độ năng lực của cơ quan tham mưu, người có thẩm quyền quyết định đầu tư chưa đáp ứng được yêu cầu, còn nhiều dự án đầu tư không mang lại hiệu quả, gây lãng phí.

Thứ bảy, công tác thanh tra kiểm tra trên lĩnh vực này tuy được tiến hành thường xuyên nhưng kết luận, xử lý sai phạm còn chưa nghiêm minh.

Thứ tám, chính sách đền bù giải tỏa của tỉnh còn nhiều bất cập, còn thiếu nhất quán.

* Đối với công tác quản lý chi thường xuyên

Thứ nhất,các văn bản dưới luật còn thiếu, chưa đồng bộ, đôi khi còn chồng chéo, ban hành chậm so với yêu cầu.

Thứ hai, hệ thống định mức phân bổ ngân sách, định mức sử dụng ngân sách còn lạc hậu, chậm được sửa đổi bổ sung cho phù hợp.

Thứ ba, công tác tuyên truyền, quán triệt luật NSNN đến các đơn vị sử dụng ngân sách chưa sâu sắc, chưa đạt được mục tiêu đề ra.

Thứ tư, một số ngành, đơn vị, xã phường thuộc thành phố sử dụng các khoản chi NSNN chưa chấp hành tốt các qui định của luật.

Thứ năm, chưa quy định rõ trách nhiệm của các thủ trưởng các đơn vị trong việc quản lý sử dụng ngân sách.

Thứ sáu, chưa thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra.

Thứ bảy, một số lĩnh vực còn chưa có quy định cụ thể về công khai, việc triển khai thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.

Thứ tám, các đơn vị thực hiện thí điểm khoán biên chế và kinh phí quản lý hành chính chưa nhận thức đúng tinh thần của Quyết định 192/2001/QĐ-TTg.

Thứ chín, vẫn còn tư tưởng bám vào NSNN như khi thực hiện cơ chế cũ, chậm tư duy đổi mới trong một bộ phận lãnh đạo và viên chức sự nghiệp.

Thứ mười, do phân cấp quản lý nói chung và phân cấp ngân sách địa phương chưa phù hợp đã tác động lớn đến quá trình quản lý chi ngân sách.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI – TỈNH QUẢNG NGÃI

3.1. QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI

3.2. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI – TỈNH QUẢNG NGÃI

3.2.1. Nhóm giải pháp quản lý thu ngân sách nhà nước

3.2.1.1. Nhóm giải pháp về quản lý thu thuế

Thứ nhất, đổi mới cơ chế quản lý thu thuế

Cơ chế quản lý thu thuế là nội dung rất quan trọng trong quá trình thực hiện quản lý thu thuế. Cơ chế này cần được đổi mới theo hướng sau:

– Đổi mới cơ chế quản lý thu thuế phải gắn liền với cải cách thủ tục hành chính thuế để tạo môi trường thuận lợi cho các tổ chức và cá nhân kinh doanh, tiết kiệm chi phí chung của xã hội.

– Tiến hành đánh giá để bổ sung hoàn thiện lại các quy trình quản lý thuế hiện hành, nghiên cứu xây dựng thêm một số quy trình mới để phục vụ cho việc thực hiện cơ chế tự khai tự nộp thuế và việc thực hiện luật quản lý thuế mà Quốc hội vừa thông qua.

Thứ hai, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hỗ trợ đối tượng nộp thuế

Công tác tuyên truyền, hỗ trợ đối tượng nộp thuế chưa đi vào chiều sâu, còn nặng về phổ biến các quy định của chính sách thuế mới.

Thứ ba, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về thuế , kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thuế

Công tác thanh tra, kiểm tra không chỉ tìm các đối tượng trốn, lậu thuế mà nó thể hiện ở hai mặt: phát hiện vi phạm pháp luật thuế thông qua đó xử lý những đối tượng cố tình vi phạm luật thuế chống đối không nộp thuế, từ đó tác dụng răn đe đối với những hiện tượng tiêu cực có thể nảy sinh. Mặt khác thanh tra, kiểm tra sẽ góp phần quan trọng trong việc kiểm nghiệm tính chất phù hợp của các chính sách về thuế

Thứ tư, nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý thu thuế

Xuất phát từ thực trạng về trình độ năng lực của đội ngũ cán bộ chi cục thuế Quảng Ngãi hiện nay, việc xây dựng một đội ngũ cán bộ, công chức thuế có phẩm chất chính trị tốt, có đạo đức nghề nghiệp cao, có đủ năng lực nhất là kiến thức về kinh tế, tài chính để đáp ứng yêu cầu công tác quản lý thu thuế trong thời kỳ mới là một vấn đề hết sức bức bách.

Thứ năm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý thu thuế nhằm nâng cao hiệu quả công tác thuế

Chi cục thuế cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin mạnh mẽ trong công tác quản lý của mình.

Thứ sáu, mở rộng công tác ủy nhiệm thu thuế cho các xã, phường nhằm tăng cường trách nhiệm của địa phương trong công tác thuế, chống thất thu và giảm chi phí quản lý thu thuế

Việc thực hiện ủy nhiệm thu thời gian qua đã mang lại kết quả rất tích cực, UBND xã, phường đã tăng cường khai thác nguồn thu, bao quát nguồn thu, gắn thu ngân sách với nhu cầu chi, tăng cường phối hợp với ngành thuế trong công tác thu, chống thất thu thuế có hiệu quả cao hơn.

Thứ bảy, nuôi dưỡng và mở rộng nguồn thu trên địa bàn

Việc quản lý thu ngân sách nhà nước không chỉ dừng lại ở việc khai thác nguồn thu hiện có mà phải bằng chính sách nhằm nuôi dưỡng các nguồn thu đã bị thu hẹp và mở rộng nguồn thu để không ngừng tăng nguồn thu trên địa bàn.

Thứ tám, tăng cường công tác tham mưu, đề xuất, phối hợp

(1) Công tác tham mưu, đề xuất:

– Tham mưu cho UBND thành phố thành lập ban chỉ đạo đôn đốc thu hàng năm để triển khai công tác thu NS, thu nợ được kịp thời.

– Kịp thời tham mưu cho UBND thành phố, cũng như Cục Thuế về những vướng mắc trong quá triển khai thu NS và biện pháp chống thất thu về đối tượng, về thuế trên địa bàn.

(2) Về công tác phối hợp:

– Tiếp tục cung cấp thông tin các DN bỏ trốn mang theo hóa đơn cho công an thành phố để phối hợp ngăn chặn việc sử dụng hóa đơn bất hợp pháp của DN.

– Tiếp tục phối hợp với ngành Bảo hiểm về cung cấp thông tin liên quan đến nội dung trích, nộp BHXH của DN khi thực hiện kiểm tra tại trụ sở DN.

– Phối hợp với Đài truyền thanh thành phố và Ban tuyên giáo thành ủy để tuyên truyền chính sách thuế.

Thứ chín, tăng cường vai trò lãnh đạo của Thành ủy, UBND thành phố đối với ngành thuế; xây dựng, củng cố mối quan hệ giữa ngành thuế với các ngành có liên quan và với UBND các xã, phường

3.2.1.2. Các biện pháp quản lý thu ngoài thuế

3.2.2. Nhóm giải pháp quản lý chi ngân sách nhà nước

3.2.2.1. Nâng cao hiệu quả quản lý chi đầu tư phát triển

Nâng cao hiệu quả quản lý chi đầu tư là yêu cầu cấp bách trong điều kiện hiện nay. Để nâng cao hiệu quả quản lý chi đầu tư cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

– Xây dựng kế hoạch đầu tư hàng năm phải tuân thủ chặt chẽ những quy định của Nhà nước về quản lý đầu tư và xây dựng.

– Cần tập trung rà soát đánh giá hiệu quả đầu tư ở giai đọan vừa qua, nhất là đánh giá các công trình thuộc các chương trình KT-XH của thành phố như: chương trình giao thông nông thôn và nâng cấp hẻm nội thị.

– Tập trung chấn chỉnh và nâng cao chất lượng các đơn vị thực hiện công tác tư vấn.

– Nâng cao chất lượng thẩm định và phê duyệt dự án.

– Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trong thủ tục đầu tư,

– Nâng cao chất lượng công tác kiểm soát chi của KBNN thông qua việc kiểm tra chặt chẽ các hồ sơ thanh toán của chủ đầu tư, tuân thủ các chế độ, định mức chi phí của nhà nước đã quy

– Thường xuyên tiến hành công tác thanh tra, kiểm tra đối với công tác đầu tư và xây dựng để kịp thời phát hiện sai phạm.

3.2.2.2. Đổi mới quản lý chi thường xuyên

3.2.2.3. Củng cố tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ quản lý tài chính ngân sách

3.2.2.4. Nâng cao chất lượng công tác kiểm soát chi ngân sách của kho bạc Nhà nước thành phố

3.2.2.5. Tăng cường công tác thanh tra tài chính, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm .

3.2.2.6. Tăng cường sự lãnh đạo của Thành ủy và sự điều hành của Uỷ ban nhân dân thành phố đối với quản lý chi ngân sách nhà nước

3.2.2.7. Thực hiện nghiêm túc việc công khai tài chính các cấp

3.2.2.8. Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan tài chính, thuế, kho bạc Nhà nước và các cơ quan liên quan trong công tác quản lý ngân sách

3.3. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

3.3.1. Đối với Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh

3.3.2. Đối với Chính phủ, Bộ Tài chính

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN

Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước của thành phố Quảng Ngãi hiện nay là một yêu cầu cấp thiết có tính khách quan. Đây là một hoạt động quản lý có liên quan đến mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh vực, do vậy cần phải được quan tâm đúng mức bởi nó có ý nghĩa trên nhiều mặt, tác động, chi phối, quyết định trong phát triển KTXH ở trên địa bàn thành phố.

NS thành phố là một bộ phận cấu thành của NSNN. Quản lý NSNN gắn liền với việc thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ; điều đó chứng tỏ các khoản thu, chi NS có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước nói chung, của cấp huyện nói riêng. Vì vậy, việc khai thác và huy động các nguồn thu, sử dụng vốn, chi tiêu NSNN một cách tiết kiệm, có hiệu quả là một bộ phân không thể tách rời của vấn đề phát triển KT-XH của quốc gia nói chung và địa phương nói riêng. Nâng cao hiệu quả quản lý NS là tất yếu, đó là một quá trình lâu dài và sẽ gặp không ít khó, vướng mắc, đòi hỏi nỗ lực cố gắng của từng cá nhân, từng cơ quan, đơn vị thuộc thành phố Quảng Ngãi.

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là góp phần lý giải trên phương diện những lý luận cơ bản về hiệu quả NSNN, thực trạng của quá trình quản lý NSNN của thành phố Quảng Ngãi góp phần đẩy mạnh phát triển KT-XH của địa phương một cách có hiệu quả và bền vững.

Thông qua việc quản lý NSNN có hiệu quả sẽ huy động các nguồn lực của xã hội, phân phối và sử dụng cho nhu cầu phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước. Vì vậy, việc củng cố, hoàn thiện, lành mạnh hoá hệ thống tài chính quốc gia để phát triển kinh tế là yếu tố quan trọng quyết định thành công chiến lược phát triển KT-XH của Nhà nước Việt Nam nói chung và của thành phố Quảng Ngãi nói riêng trong thời kỳ mới.

Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn được trình bày trong luận văn, tôi xin rút ra một số kết luận:

– Để tăng cường hiệu lực trong công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với quản lý NSNN cần đổi mới một cách hiệu quả và sâu sắc công cụ quản lý, trong đó đội ngũ cán bộ quản lý là quan trọng nhất.

– Để xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, nhà nước phải sử dụng một hệ thống các công cụ quản lý vĩ mô như kế hoạch, chính sách, các công cụ tài chính, pháp luật… Việc sử dụng các công cụ này thể hiện thông qua hoạt động của các cơ quan, đơn vị trong bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.

– Thực hiện quản lý tốt nguồn thu và nhiệm vụ chi NS, đảm bảo chất lượng và hiệu quả, thu đúng và đầy đủ theo quy định pháp luật tạo môi trường kinh doanh công bằng giữa các đối tượng kinh doanh, chi NS tiết kiệm, hiệu quả đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng cấp chính quyền, từng đơn vị góp phần hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ thúc đẩy thành phố Quảng Ngãi phát triển ngày càng nhanh và bền vững.

Tuy nhiên với khả năng hiểu biết của bản thân và thời gian có hạn nên bài viết sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý Thầy, Cô giáo, Quý bạn đọc nhận xét, góp ý để bài viết được hoàn thiện hơn, với mong muốn đóng góp một phần vào công tác quản lý NS thành phố Quảng Ngãi cho những năm đến.

Tác giả xin chân thành cám ơn quý thầy cô của Đại học Duy Tân, lãnh đạo UBND thành phố Quảng Ngãi, phòng TC-KH, Chi cục thuế thành phố, KBNN thành phố Quảng Ngãi, đặc biệt là PGS. TS Lê Đức Toàn đã tận tình chỉ dẫn và tạo mọi điều kiện trong suốt thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận văn này./.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\PHAM DANG CHUONG\SAU BA]O VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *