Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN

Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN

Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong chu trình quản lý chi ngân sách việc thiết lập cơ chế kiểm soát chi NSNN khoa học, hợp lý góp phần không nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính. Bên cạnh những kết quả đạt được, trong từng khâu hoặc từng bộ phận của quy trình quản lý chi NSNN nói chung và kiểm soát chi qua KBNN nói riêng còn bộc lộ những khiếm khuyết, kém hiệu quả. Đặc biệt trong lĩnh vực chi thường xuyên, Kiểm toán nhà nước đã phát hiện nhiều hình thức làm thất thoát, gây sai phạm nghiêm trọng. Hầu hết các tỉnh được kiểm toán đều xảy ra tình trạng chi ngân sách thường xuyên vượt dự toán.

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chi ngân sách; Góp phần thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Luật NSNN ngày 16 tháng 12 năm 2002, có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004. Luật Thực hành tiết kiệm chống lãng phí được ban hành tháng 12 năm 2005. Tuy nhiên, tình trạng buôn lỏng quản lý, vi phạm nguyên tắc quản lý Tài chính Ngân sách dẫn đến thất thoát NSNN vẫn tiếp tục diễn ra.

Thời gian qua công tác kiểm soát chi NSNN qua KBNN của nước ta nói chung, tỉnh Kiên Giang nói riêng đã có những chuyển biến tích cực. Mặc dù vậy quá trình thực hiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định. Kiên Giang là một trong những tỉnh còn nghèo, thu không đủ bù chi. Vì vậy, để đảm bảo kinh phí đáp ứng cho các nhu cầu thường xuyên của bộ máy quản lý Nhà nước trên địa bàn tỉnh thì việc hoàn thiện công tác kiểm soát chi nhằm tiết kiệm, chống lãng phí trong chi thường xuyên là vấn đề cấp thiết đang đặt ra. Đây cũng là lý do của việc chọn đề tài: “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang”.

2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài

Đề tài đi sâu nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chi NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang, cũng như yêu cầu đổi mới của công tác quản lý NSNN trong thời gian tới. Từ đó rút ra các nguyên nhân và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa công tác quản lý, phù hợp với quá trình cải cách tài chính công, phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN.

Phạm vi nghiên của đề tài là công tác kiểm soát các khoản chi thường xuyên qua KBNN tỉnh Kiên Giang từ năm 2014 đến năm 2016.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin; Các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước.

Đề tài sử dụng các phương pháp chủ yếu như: Phương pháp thống kê, tiếp cận hệ thống, so sánh, phân tích và tổng hợp…

5. Tổng quan về tình hình nghiên cứu của đề tài

6. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang.

Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT

CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN QUA KBNN

1.1. Khái niệm về NSNN và chi thường xuyên NSNN.

      1. Khái niệm về NSNN

NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước [13].

1.1.2. Khái niệm, đặc điểm, nội dung của chi thường xuyên NSNN

        1. Khái niệm

Chi thường xuyên NSNN là quá trình phân phối, sử dụng quỹ NSNN để đáp ứng nhu cầu chi gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế, xã hội.

        1. Đặc điểm

1.1.2.3. Nội dung

Chi thường xuyên NSNN gồm:

– Các hoạt động sự nghiệp giáo dục và đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá thông tin văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các hoạt động sự nghiệp khác do các cơ quan trung ương quản lý.

– Các hoạt động sự nghiệp kinh tế do các cơ quan trung ương quản lý.

– Quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội, không kể phần giao cho địa phương.

– Hoạt động của các cơ quan trung ương của Nhà nước, Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội.

– Trợ giá theo chính sách của Nhà nước.

– Các chương trình quốc gia do trung ương thực hiện.

– Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của Chính phủ.

– Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội do trung ương đảm nhận.

– Hỗ trợ cho các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp ở trung ương theo quy định của pháp luật.

– Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.

1.2. Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN

1.2.1. Chức năng, nhiệm vụ của KBNN

Là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý Nhà nước về quỹ NSNN, các quỹ tài chính Nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước được giao quản lý; Quản lý ngân quỹ; Tổng kế toán Nhà nước; Thực hiện việc huy động vốn cho NSNN và cho đầu tư phát triển thông qua hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ theo quy định của pháp luật.

1.2.2. Khái niệm

Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN là việc KBNN sử dụng các công cụ nghiệp vụ của mình thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi thường xuyên NSNN qua KBNN nhằm đảm bảo các khoản chi đó được thực hiện đúng đối tượng, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước quy định và theo những nguyên tắc, hình thức, phương pháp quản lý tài chính của Nhà nước.

1.2.3. Nguyên tắc

1.2.4 Nội dung, quy trình kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN

1.2.4.1 Nội dung kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN

Chi NSNN chỉ được thực hiện sau khi kiểm tra đáp ứng đủ những điều kiện cơ bản: Có trong dự toán chi NSNN được giao; Đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định; Đã được cơ quan Tài chính, thủ trưởng đơn vị hoặc người được ủy quyền quyết định chi; Có đủ hồ sơ, chứng từ thanh toán. Đặc biệt công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN được tiến hành trước, trong và sau khi chi.

– Kiểm soát trước khi chi: Kiểm soát này nhằm đảm bảo các đơn vị hưởng NSNN phải lập dự toán kinh phí Ngân sách. Hàng năm, căn cứ vào các văn bản hướng dẫn lập dự toán của Bộ Tài chính và hướng dẫn của cơ quan quản lý cấp trên, căn cứ vào tình hình thực hiện nhiệm vụ của năm trước và dự kiến cho năm kế hoạch; Các đơn vị sử dụng Ngân sách tiến hành lập dự toán chi NSNN. KBNN tiến hành kiểm soát việc lập dự toán Ngân sách theo đúng quy định của luật NSNN.

– Kiểm soát trong khi chi: Kiểm soát trong giai đoạn này nhằm đảm bảo các khoản chi được thực hiện đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức; Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ thanh toán. Đây là bước xác định phương thức cấp phát Ngân sách là cấp tạm ứng hay thanh toán trực tiếp. Kiểm soát chi NSNN trong giai đoạn này còn căn cứ vào từng loại hình đơn vị.

– Kiểm soát sau khi chi: Kiểm soát quyết toán là việc kiểm tra, kiểm soát lại tính chính xác các báo cáo tài chính của các đơn vị sử dụng NSNN khi hết niên độ Ngân sách theo chế độ quy định.

1.2.4.2. Quy trình chi trả, thanh toán theo dự toán chi thường xuyên NSNN qua KBNN.

1.2.5. Công cụ kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN

1.2.6. Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN

Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN: Hệ thống chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN là căn cứ quan trọng trong việc xây dựng, phân bổ và kiểm soát chi NSNN.

Dự toán NSNN: Đây là một trong những căn cứ quan trọng nhất để KBNN thực hiện kiểm soát chi NSNN.

Thể chế và pháp lý: Trong nhóm yếu tố này Luật NSNN và các quy định của Nhà nước về kiểm soát chi thường xuyên NSNN được coi là yếu tố rất quan trọng, là một trong những căn cứ chủ yếu để kiểm soát NSNN nói chung và kiểm soát chi thường xuyên NSNN nói riêng.

Ý thức chấp hành của các đơn vị sử dụng kinh phí NSNN: Nếu thủ trưởng các đơn vị sử dụng NSNN có tính tự giác cao trong chấp hành chế độ chi tiêu NSNN thì các khoản chi đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức, chứng từ hợp lệ, hợp pháp.

Tổ chức bộ máy và thủ tục kiểm soát chi: Bộ máy kiểm soát chi phải được tổ chức gọn nhẹ, tránh trùng lắp, phù hợp quy mô và khối lượng các khoản chi phải qua kiểm soát.

Cơ sở vật chất, kỹ thuật: Hiệu quả công tác kiểm soát chi bị ảnh hưởng không nhỏ bởi sự hiện đại hóa công nghệ KBNN.

1.2.7. Những tiêu chí đánh giá công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN

Chỉ tiêu đánh giá về khối lượng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN.

– Tiêu chí đánh giá chất lượng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN.

+ Thực hiện đúng quy trình nghiệp vụ kiểm soát chi.

+ Thực hiện đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước.

+ Đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả.

+ Phát hiện và xử lý kịp thời những khoản chi chưa đúng hồ sơ thủ tục, sai chế độ, tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước.

1.3. Những kinh nghiệm về kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN một số tỉnh, thành phố

1.3.1. Kinh nghiệm kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Long An

1.3.2. Kinh nghiệm kiểm soát chi NSNN qua KBNN tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với quy trình kiểm soát chi “Một cửa”

1.3.3. Một số bài học rút ra về kiểm soát chi thường xuyên NSNN đối với KBNN tỉnh Kiên Giang

Từ những kinh nghiệm kiểm soát thường xuyên NSNN tại các KBNN ở các địa phương nêu trên, có thể rút ra một số bài học đối với KBNN tỉnh Kiên Giang như sau:

Một là, phải nhận thức được rằng công tác kiểm soát chi không phải chỉ đơn thuần là công việc của KBNN mà nó bao gồm nhiều khâu liên quan đến nhiều cấp, ngành và nhiều cơ quan, đơn vị. Vì vậy, để thực hiện tốt công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN, Kho bạc phải biết phối hợp tốt với các cơ quan đơn vị trên địa bàn, tranh thủ sự hỗ trợ của cấp ủy, chính quyền địa phương, chủ động tham mưu cho UBND, HĐND các cấp ban hành nhanh chóng và đầy đủ các văn bản thuộc lĩnh vực Ngân sách để Kho bạc có cơ sở pháp lý thực hiện kiểm soát các khoản chi Ngân sách do địa phương quản lý.

Hai là, nhận thức tầm quan trọng của yếu tố con người trong công tác quản lý NSNN và kiểm soát chi thường xuyên. Để công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN ngày càng hoàn thiện hơn thì trước hết đội ngũ cán bộ công chức KBNN nói chung và cán bộ kiểm soát chi thường xuyên nói riêng cũng phải được hoàn thiện. Để làm được điều đó, Kho bạc phải tăng cường công tác cán bộ trong tất cả các khâu từ tuyển dụng, bố trí, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng… Việc bố trí cán bộ làm công tác kiểm soát chi, không chỉ chú trọng khả năng chuyên môn mà còn phải chọn người có đạo đức tốt, liêm khiết, công minh.

Ba là, tăng cường ứng dụng tin học vào các hoạt động nghiệp vụ KBNN, đặc biệt là công tác quản lý và kiểm soát chi NSNN.

Bốn là, đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực kiểm soát chi thường xuyên. Nghiên cứu và áp dụng quy trình giao dịch “Một cửa” trong kiểm soát chi với mô hình tiên tiến sao cho vừa tạo thuận lợi cho khách hàng vừa nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát chi.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI

THƯỜNG XUYÊN NSNN QUA KBNN TỈNH KIÊN GIANG

2.1. Tổ chức bộ máy, cán bộ kiểm soát chi thường xuyên NSNN tại KBNN tỉnh Kiên Giang

2.1.1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của KBNN tỉnh Kiên Giang

Hệ thống KBNN được thành lập và đi vào hoạt động từ 01 tháng 4 năm 1990 theo Quyết định số 07/HĐBT ngày 04 tháng 01 năm 1990 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Nay là Thủ tướng Chính phủ).

2.1.1.1. Chức năng của KBNN tỉnh Kiên Giang

2.1.1.2. Nhiệm vụ và quyền hạn của KBNN tỉnh Kiên Giang

2.1.2. Tổ chức bộ máy KBNN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Số lượng biên chế theo Sơ đồ còn hạn chế nếu KBNN tỉnh Kiên Giang thực hiện kiểm soát chi một cách có chất lượng theo Luật NSNN.

2.2. Thực trạng quy trình kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang

2.2.1. Quy trình kiểm soát chi thường xuyên

Quy trình kiểm soát chi có sự phân công cụ thể nhiệm vụ đối với cán bộ tham gia quy trình kiểm soát, giúp KBNN kiểm soát chặt chẽ các khoản chi, đúng chế độ quy định; Đảm bảo giải quyết công việc nhanh chóng, tránh phiền hà cho khách hàng.

2.2.1.1. Thủ tục kiểm soát chi “Một cửa” tại KBNN

Thủ tục kiểm soát chi tại KBNN tỉnh Kiên Giang thực hiện theo Quyết định số 14/2013/QĐ-KBNN ngày 10 tháng 12 năm 2013 của KBNN về việc ban hành quy trình giao dịch một cửa trong kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN.

2.2.1.2. Thủ tục kiểm soát chi thường xuyên đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện chế độ tự chủ theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP

Đơn vị thực hiện tự chủ mở tài khoản dự toán và tài khoản tiền gửi tại KBNN; Khi có nhu cầu tạm ứng, thanh toán thì đơn vị gửi hồ sơ, chứng từ kiểm soát chi cho KBNN nơi giao dịch; KBNN thực hiện việc kiểm soát, thanh toán.

2.2.1.3. Thủ tục Kiểm soát chi thường xuyên các cơ quan thực hiện chế độ tự chủ theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP

Đơn vị thực hiện tự chủ mở tài khoản dự toán và tài khoản tiền gửi tại cơ quan KBNN; Khi có nhu cầu tạm ứng, thanh toán thì đơn vị gửi hồ sơ, chứng từ kiểm soát chi cho KBNN nơi giao dịch; KBNN thực hiện việc kiểm soát, thanh toán.

2.2.2. Nội dung kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang

2.2.2.1. Kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang

Chi thường xuyên NSNN được kiểm soát theo 4 nhóm sau:

Thứ nhất: Các khoản chi thanh toán cho cá nhân

Thứ hai, kiểm soát các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn

Thứ ba, kiểm soát chi mua đồ dùng, trang thiết bị, phương tiện làm việc, sửa chữa lớn TSCĐ và xây dựng nhỏ.

Thứ tư, Kiểm soát chi thường xuyên khác của đơn vị hành chính

2.2.2.2. Kiểm soát chi chương trình mục tiêu quốc gia

Ngoài việc kiểm soát chi NSNN theo các điều kiện trên, KBNN tỉnh Kiên Giang còn thực hiện kiểm soát chi theo các chương trình mục tiêu quốc gia của Chính phủ như: Kiềm chế lạm phát, Chương trình xóa đói giảm nghèo và việc làm; Chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình; Chương trình mục tiêu quốc gia phòng chống một số bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và HIV/AIDS, Chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn; Chương trình giáo dục và đào tạo; Chương trình vệ sinh an toàn thực phẩm…

2.3. Kết quả kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang

Kết quả công tác kiểm soát chi tại KBNN tỉnh Kiên Giang được xem xét đánh giá trên hai mặt: Số lượng và chất lượng.

2.3.1. Kết quả về số lượng

Tình hình hoạt động và quy mô quản lý NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang từ 2014 đến 2016 được thể hiện qua bảng số liệu sau:

Bảng 2.4: Số liệu tình hình hoạt động kế toán tại KBNN tỉnh Kiên Giang từ năm 2014 – 2016

Đơn vị tính: tỷ đồng

Các chỉ tiêu201420152016
– Doanh số hoạt động kế toán.160.250180.410237.136
– Số lượng đơn vị giao dịch.2.3002.3202.425
– Số lượng tài khoản.11.37012.84012.956
Số lượng chứng từ phát sinh bình quân / ngày.4.0754.5454.689

Nguồn: Báo cáo hàng năm Kho bạc nhà nước tỉnh Kiên Giang

Bảng 2.5: Số liệu chi NSNN các cấp tại KBNN tỉnh Kiên Giang từ năm 2014 – 2016

Đơn vị tính: tỷ đồng

Các chỉ tiêu201420152016
1. Tổng chi NSNN9.56211.93414.605
– Chi Ngân sách Trung ương2.0783.9884.579
– Chi Ngân sách địa phương7.4847.94610.026

Nguồn: Báo cáo hàng năm Kho bạc nhà nước tỉnh Kiên Giang

Qua số liệu cụ thể, cho thấy chi NSNN các cấp năm sau luôn cao hơn năm trước. KBNN tỉnh Kiên Giang đã kiểm soát chặt chẽ đối với tất cả các khoản chi, thực hiện nghiêm túc chủ trương của Đảng và Nhà nước, góp phần ổn định kinh tế địa phương.

2.3.2. Kết quả về chất lượng

Về thực hiện quy trình kiểm soát chi thường xuyên NSNN

Về thực hiện chế độ, tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước

Về xây dựng môi trường làm việc: Nếu trước đây nơi làm việc chật chội, tạm bợ thì nay đã thay vào đó là những công trình trụ sở làm việc khang trang, bề thế và tiện nghi hơn.

Về hiện đại hóa hoạt động: Cùng với việc đầu tư phát triển của KBNN, trong nhiều năm qua đơn vị đã chú trọng xây dựng cơ sở vật chất, từng bước bố trí và trang bị điều kiện làm việc cho cán bộ công chức đầy đủ, hợp lý đảm bảo đáp ứng được yêu cầu giao dịch với khách hàng trong mỗi giai đoạn. Đặc biệt cùng với nhiệm vụ cải cách hành chính theo yêu cầu chung của toàn xã hội, trong những năm qua KBNN cũng đã tập trung thực hiện Chiến lược phát triển hệ thống KBNN đến năm 2020 với những đề án hiện đại hóa hoạt động KBNN.

Từ năm 2014 đến 2016, thông qua công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN, KBNN tỉnh Kiên Giang đã từ chối cấp phát thanh toán, cụ thể như sau:

Bảng 2.6: Kết quả công tác kiểm soát chi thường xuyên tại KBNN Tỉnh Kiên Giang từ năm 2014 – 2016

Đơn vị tính: tỷ đồng

Kết quả công tác kiểm soát chi thường xuyên tại KBNN tỉnh Kiên Giang201420152016
– Tổng số món KBNN tỉnh Kiên Giang từ chối thanh toán95110160
– Tổng số tiền KBNN tỉnh Kiên Giang từ chối thanh toán4906201.000

Nguồn: Báo cáo hàng năm Kho bạc nhà nước tỉnh Kiên Giang

Qua số liệu kiểm soát, thanh toán các khoản chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang những năm gần đây cho thấy KBNN có vai trò hết sức quan trọng trong góp phần khắc phục sai sót, đảm bảo các khoản chi thực hiện đúng chế độ, tiêu chuẩn nâng cao chất lượng sử dụng NSNN.

2.4. Đánh giá chung công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang

2.4.1 Những kết quả đạt được

Công tác lập, duyệt và phân bổ dự toán đã dần đi vào nề nếp. KBNN tỉnh Kiên Giang luôn thực hiện đúng dự toán chi NSNN được giao đầu năm và dự toán được bổ sung, điều chỉnh trong năm để làm căn cứ cấp phát, chi trả, thanh toán. Thực hiện đúng quy trình kiểm soát chi, góp phần quản lý chặt chẽ đối với các khoản chi tiền mặt, góp phần làm lành mạnh hóa hoạt động tiền tệ – thanh toán. Hạn chế việc chạy kinh phí cuối năm của các đơn vị sử dụng Ngân sách. KBNN tỉnh Kiên Giang đã từ chối thanh toán hàng trăm khoản chi không đúng mục đích, chế độ quy định… Từ đó chất lượng công tác kiểm soát chi thường xuyên được nâng lên, chất lượng phục vụ khách hàng ngày càng tốt hơn, tạo được sự tin cậy đối với các cơ quan liên quan trong liên kết góp phần tăng cường quản lý chi NSNN.

Ngoài ra, đối với các cơ quan, đơn vị khoán dần dần đã tạo tính chủ động, tăng cường ý thức tiết kiệm của đơn vị trong quá trình sử dụng kinh phí.

2.4.2. Những hạn chế chủ yếu

Thứ nhất, trở ngại, vướng mắc khi thực hiện chi NSNN theo dự toán. Trước hết là trong khâu phân bổ và giao dự toán.

Bảng 2.7: Tình hình điều chỉnh dự toán chi thường xuyên tại KBNN tỉnh Kiên Giang từ năm 2014 – 2016

Đơn vị tính: tỷ đồng

NămNSTWNgân sách tỉnhNgân sách huyệnNgân sách xã
20141202509,62
201512425611
201618716943

Nguồn: Kho bạc nhà nước tỉnh Kiên Giang các năm 2014 – 2016

Bảng 2.8: Tình hình bổ sung dự toán chi thường xuyên tại KBNN tỉnh Kiên Giang từ năm 2014 – 2016

Đơn vị tính: tỷ đồng

NămNSTWNgân sách tỉnhNgân sách huyệnNgân sách xã
2014191321415
2015261772018
2016392311518

Nguồn: Kho bạc nhà nước tỉnh Kiên Giang các năm 2014 – 2016

Thứ hai, việc thực hiện quy trình giao dịch một cửa còn có những tồn tại hạn chế nhất định như.

Thứ ba, hệ thống quy định chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi chưa bao quát hết tất cả các nội dung chi, những nội dung đã được định mức thì nhanh chóng bị lạc hậu do lạm phát làm cho các đơn vị thiếu căn cứ để lập dự toán, kho bạc thiếu căn cứ để kiểm soát chi.

Thứ tư, những trở ngại trong thực hiện chế độ kiểm soát chi thường xuyên.

Thứ năm, định mức phân bổ Ngân sách hiện tại chỉ dựa trên tiêu chí dân số là chủ yếu mà chưa tính đến các yếu tố khác tác động đến nhiệm vụ chi như.

Thứ sáu, cơ chế quản lý tiền mặt chưa chặt chẽ cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng công tác kiểm soát chi.

Thứ bảy, việc kiểm soát chi theo hình thức dự toán chưa gắn với hiệu quả chi tiêu NSNN, chưa tạo sự chủ động cho đơn vị sử dụng Ngân sách.

– Một số hạn chế khác: Công tác tổ chức giao dịch chưa hài hòa, phong cách làm việc chưa khoa học; Tình trạng cán bộ giải quyết công việc chậm trễ, cửa quyền, hách dịch, sách nhiễu còn diễn ra ở một số đơn vị Kho bạc cơ sở; Cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, đặc biệt đối với chính Kho bạc huyện thuộc vùng hải đảo như huyện Kiên Hải, huyện Phú Quốc… Chưa đáp ứng tốt cho công tác giao dịch và thanh toán.

– Việc kiểm soát đôi lúc, đôi nơi còn mang tính hình thức, thủ tục. Dễ dẫn đến thất thoát và giảm hiệu quả sử dụng NSNN.

2.4.3. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang

Hệ thống các văn bản hướng dẫn về cấp phát, kiểm soát chi NSNN qua KBNN theo Luật NSNN chưa được chặt chẽ.

Trình độ cán bộ kiểm soát chi đặc biệt tại KBNN huyện chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới, ít nhiều ảnh hưởng đến hiệu quả công tác kiểm soát chi thường xuyên thời gian qua.

Bản thân việc kiểm soát qua KBNN vẫn dựa theo phương thức quản lý đầu vào đó là dự toán, tiêu chuẩn, định mức, chưa chú trọng đến kết quả đầu ra, hiệu quả sử dụng Ngân sách.

Số dư tạm ứng cao, lạm dụng tiền mặt trong chi tiêu công.

Việc kiểm soát chi tài khoản tiền gửi chưa được hướng dẫn thấu đáo, chưa có một quy định riêng mang tính pháp lý cao về kiểm soát chi tài khoản tiền gửi có nguồn gốc từ NSNN cho cơ quan quản lý Tài chính nói chung và KBNN nói riêng, nhất là khối Đảng, lực lượng vũ trang và một số tài khoản tiền gửi của các đơn vị hưởng kinh phí do NSNN cấp.

Cơ chế phối hợp trong kiểm soát chi Ngân sách giữa chính quyền các cấp, cơ quan Tài chính và KBNN tỉnh Kiên Giang và đơn vị sử dụng Ngân sách chưa đồng bộ, chưa ăn khớp, thiếu linh hoạt.

Việc tổ chức thanh tra, kiểm tra công tác kiểm soát chi NSNN của KBNN tỉnh Kiên Giang với các KBNN trực thuộc chưa thường xuyên, chủ yếu là kiểm tra theo vụ việc.

Việc quy định trách nhiệm của KBNN trong kiểm soát chi NSNN chưa cụ thể, rõ ràng.

Trên đây là những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang thời gian qua. Để khắc phục hạn chế này trong thời gian đến, góp phần kiểm soát chặt chẽ các khoản chi, hạn chế lãng phí, thất thoát NSNN cần có phương hướng và giải pháp cụ thể.

CHƯƠNG 3

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN QUA KBNN TỈNH KIÊN GIANG

3.1. Mục tiêu và định hướng hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang

3.1.1. Mục tiêu

Đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, góp phần phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân; Đảm bảo An ninh Quốc phòng, tăng cường công tác đối ngoại; Đồng thời đảm bảo tính bao quát về phạm vi, đối tượng và mức độ kiểm soát theo đúng tinh thần Luật NSNN.

Đảm bảo sử dụng hiệu quả và tiết kiệm các nguồn lực của đất nước; Cấp đủ, kiểm soát chặt chẽ NSNN để góp phần loại bỏ tiêu cực, chống tham ô, tham nhũng, chống phiền hà, nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN.

Quy trình thực hiện kiểm soát phải khoa học, minh bạch, công khai và tạo thuận lợi cho các đơn vị thụ hưởng Ngân sách.

Thông qua hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN góp phần nâng cao ý thức chấp hành chế độ chi tiêu, đảm bảo sử dụng kinh đúng đối tượng, đúng định mức, tiết kiệm và hiệu quả.

3.1.2. Định hướng

Hoàn thiện phương thức cấp NSNN theo dự toán từ KBNN xuống các đơn vị thụ hưởng.

Hướng đến sự đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện nhưng đảm bảo các khoản chi thường xuyên đều được kiểm soát hiệu quả.

Cải tiến quy trình cấp phát, thanh toán chi thường xuyên NSNN, đảm bảo nguyên tắc mọi khoản chi của Ngân sách đều được cấp phát trực tiếp từ KBNN đến đối tượng cung cấp lao động, hàng hóa, dịch vụ.

Hoàn thiện cơ chế kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN theo hướng quản lý chặt chẽ, kịp thời và rõ ràng tất cả các hợp đồng của đơn vị sử dụng NSNN với các nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ theo hướng thực hiện cam kết chi.

Xây dựng cơ chế, quy trình quản lý, kiểm soát, thanh toán các khoản chi NSNN qua KBNN phù hợp với thông lệ quốc tế để vận hành tốt hơn hệ thống TABMIS.

3.2. Một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang

3.2.1 Hoàn thiện quy trình giao dịch “Một cửa” qua KBNN tỉnh Kiên Giang

Việc hoàn thiện quy trình giao dịch một cửa phải đạt mục tiêu là tạo ra bước chuyển căn bản phục vụ khách hàng thuận lợi trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc giữa cơ quan hành chính Nhà nước với tổ chức, công dân; Giảm phiền hà cho tổ chức, công dân; Chống quan liêu, tham nhũng, cửa quyền, vòi vĩnh; Tiến tới một đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yếu cầu đổi mới.

– Kiểm soát chi thường xuyên Ngân sách đã có những văn bản quy định chặt chẽ về thủ tục, điều kiện, thời hạn thanh toán. Hơn nữa, để phù hợp với mục tiêu chiến lược của hệ thống Kho bạc đến năm 2020 là hình thành Kho bạc điện tử, mọi giao dịch của khách hàng đều thực hiện qua giao dịch điện tử, lúc này sẽ hình thành “Kho bạc 3 không”: Không tiền mặt, không chứng từ, không khách hàng”.

– Giảm bớt sự rườm rà và rút ngắn thời gian nên xác lập nhiệm vụ của mỗi kế toán viên trong quy trình này là vừa làm nhiệm vụ kiểm soát chi, vừa làm nhiệm vụ kế toán thanh toán..

– Xác định quá trình giao dịch của khách hàng là kế toán đơn vị với KBNN đã kết thúc sau khi hoàn tất việc ký duyệt chấp thuận thanh toán với cán bộ kiểm soát chi.

Ngoài ra để thực hiện tốt quy trình kiểm soát “Một cửa” nói riêng và tăng cường hiệu quả hoạt động của Kho bạc nói chung thì việc nâng cao trình độ nghiệp vụ và kiến thức cải cách hành chính cho đội ngũ cán bộ công chức là cần thiết.

Quy trình kiểm soát chi “Một cửa” NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang được xây dựng lại gồm các bước sau:

3.2.2. Hoàn thiện các hình thức cấp phát NSNN theo hướng hạn chế tiến tới loại bỏ chi Ngân sách bằng lệnh chi tiền

Hình thức cấp phát là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng kiểm soát chi thường xuyên. Tương ứng với mỗi hình thức cấp phát khác nhau, cần có cơ chế kiểm soát chi khác nhau. Việc hoàn thiện và áp dụng các hình thức cấp phát phù hợp sẽ nâng cao chất lượng công tác kiểm soát chi hạn chế tiêu cực trong chi Ngân sách, nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN. Để đạt được kết quả này, các hình thức cấp phát cần hoàn thiện theo hướng sau:

– Hình thức cấp phát theo dự toán là bước tiến quan trọng trong chi NSNN, đã phát huy tính chủ động trong điều hành Ngân sách của cơ quan Tài chính.

– Tuy nhiên thời gian qua, hình thức cấp phát theo dự toán chưa triệt để, hơn nữa chất lượng dự toán chưa cao, việc bổ sung và điều chỉnh dự toán còn diễn ra nhiều tại KBNN tỉnh Kiên Giang.

– Hình thức lệnh chi tiền: Thời gian qua tại KBNN tỉnh Kiên Giang vẫn tồn tại hình thức cấp phát bằng lệnh chi tiền.

3.2.3. Hoàn thiện thể chế liên quan đến kiểm soát chi thường xuyên NSNN

Theo quy định của Thông tư 161 những khoản chi có giá trị dưới 20 triệu đồng, đơn vị chỉ cần lập bảng kê chứng từ mà Kho bạc không cần kiểm soát chứng từ liên quan. Điều này góp phần nâng cao trách nhiệm của đơn vị sử dụng NSNN nhưng đây cũng là nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng Ngân sách thất thoát, kém hiệu quả vì hiện nay ý thức trong chấp hành Ngân sách của đơn vị sử dụng Ngân sách chưa cao. Cần quy định đơn vị phải cung cấp đầy đủ hồ sơ, chứng từ để Kho bạc kiểm soát chi, không thực hiện kiểm soát theo bảng kê chứng từ chi như hiện nay nhằm tránh tình trạng đơn vị lợi dụng để thanh toán các khoản chi không đúng chế độ, định mức hay những khoản chi không đúng với thực tế phát sinh.

Đối với các khoản chi mua sắm trang thiết bị, phương tiện làm việc, xây dựng nhỏ và sửa chữa lớn tài sản: Cần phải có quy định cụ thể tính chất sửa chữa như thế nào, giá trị bao nhiêu thì được xem là sửa chữa nhỏ hay giá trị bao nhiêu thì được xem là sửa chữa lớn vì thủ tục kiểm soát chi đối với hai nội dung chi này là hoàn toàn khác nhau. Đồng thời quy định rõ hồ sơ, thủ tục thanh toán đối với các khoản chi về xây dựng nhỏ và sửa chữa lớn các công trình có tính chất xây dựng.

Tăng cường thanh toán trực tiếp từ KBNN cho người cung cấp hàng hóa, dịch vụ và mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt.

Thanh toán trực tiếp cho người cung cấp hàng hoá dịch vụ, cá nhân thụ hưởng NSNN bằng hình thức chuyển khoản vừa an toàn vừa giảm được các chi phí liên quan đến quản lý liền mặt như in tiền, kiểm đếm, vận chuyển, bảo quản… Đồng thời, góp phần kiểm soát thu nhập cá nhân, hạn chế tiêu cực, lãng phí trong chi tiêu NSNN. Để làm tốt điều này cần phải thực hiện một số vấn đề sau:

– Ban hành quy định cụ thể buộc tất cả các cá nhân, đơn vị có đăng ký sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ phải mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng. Đồng thời, cần quy định các đơn vị sử dụng NSNN khi mua hàng hoá dịch vụ với số tiền ở một mức nào đó thì bắt buộc phải mua của người bán có tài khoản tại Ngân hàng.

– Mở rộng thanh toán qua tài khoản thẻ ATM tất cả các khoản chi cho cá nhân như lương, phụ cấp lương, tiền công lao động, học bổng, sinh hoạt phí.

Quy định chế độ kiểm soát hoá đơn bán hàng.

3.2.4. Hướng đến kiểm soát chi NSNN theo kết quả đầu ra nhằm khắc phục những tồn tại của hình thức kiểm soát chi theo dự toán

Đây là phương thức cấp phát NSNN tiên tiến. Theo đó, Nhà nước không can thiệp vào việc sử dụng các khoản kinh phí NSNN đã cấp cho các cơ quan, đơn vị mà chỉ quan tâm đến hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí đó, nghĩa là chỉ quan tâm đến kết quả đầu ra của các chương trình, mục tiêu đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.

Định kỳ, cơ quan Tài chính phối hợp với cơ quan quản lý cấp trên của đơn vị theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. Trường hợp phát hiện đơn vị không đảm bảo thực hiện công việc theo đúng cam kết, KBNN tạm dừng cấp kinh phí cho đơn vị hoặc có biện pháp thu hồi phần kinh phí đã cấp.

Để thực hiện tốt cơ chế kiểm soát trên, Nhà nước cần phải quy định các tiêu chuẩn hiệu quả đối với từng loại hình đơn vị sử dụng NSNN.

Vì vậy, hiện nay theo kinh nghiệm của một số nước, trước mắt chỉ nên áp dụng phương thức cấp phát NSNN theo kết quả đầu ra đối với một số khoản chi cho các dịch vụ công cộng như: An ninh trật tự, tệ nạn xã hội và các chương trình giáo dục, y tế, vệ sinh môi trường.

3.2.5. Bổ sung, sửa đổi một số chế độ, chính sách của Nhà nước cho phù hợp với thực tiễn quản lý chi thường xuyên NSNN

Về quản lý, kiểm soát chi thanh toán cá nhân, hiện nay chiếm tỷ trọng rất cao trong chi thường xuyên NSNN, tuy chi cao như vậy nhưng hiệu quả chưa được như mong đợi, bộ máy hành chính vẫn còn cồng kềnh và nhiều bất cập, đội ngũ cán bộ công chức trong bộ máy công quyền còn nhiều hạn chế, cơ chế tuyển dụng, đề bạt và sử dụng đội ngũ này còn nhiều bất cập.

Phải nâng cao dịch vụ của hệ thống Ngân hàng sao cho phục vụ được tất cả đội ngũ cán bộ công chức hưởng lương từ NSNN có thể mở được tài khoản ở Ngân hàng từ đó rút lương và các khoản thu nhập bằng thẻ tại Ngân hàng.

– Về định mức chi tiêu:

– Về đơn vị khoán biên chế và kinh phí hoạt động. Hiện nay cơ chế khoán chưa đủ mạnh để đơn vị được khoán bung ra, khoán nhưng vẫn còn nhiều ràng buộc, chưa tạo điều kiện cho các đơn vị khoán khai thác khả năng của họ để phục vụ xã hội. Đề nghị nên mở rộng cơ chế khoán hơn nữa, cho đơn vị khoán có khả năng là có thể mở rộng dịch vụ phục vụ xã hội, nếu xã hội có nhu cầu và đơn vị có khả năng đáp ứng.

3.2.6. Nâng cao ý thức chấp hành chi ở đơn vị sử dụng Ngân sách

Khi các đơn vị sử dụng NSNN tự giác chấp hành nghiêm các chế độ chi tiêu Ngân sách thì việc kiểm soát chi qua KBNN sẽ trở nên đơn giản và hiệu quả cao.

Vì vậy, KBNN phải phối hợp với cơ quan Tài chính tổ chức triển khai đầy đủ, giải thích rõ ràng các quy định trong quản lý và kiểm soát các khoản chi thường xuyên NSNN cho tất cả các đơn vị sử dụng NSNN.

Bên cạnh đó, cơ quan chức năng cũng cần quy định trách nhiệm cụ thể đối với từng cá nhân trong việc chi tiêu NSNN trên cơ sở đó đề ra những biện pháp chế tài xử phạt đối với các cá nhân, đơn vị vi phạm các chế độ quy định trong quản lý và chi tiêu kinh phí NSNN.

Đề nghị hàng năm khi trình duyệt báo cáo quyết toán chi Ngân sách của đơn vị và tổng kết, đánh giá thi đua, đánh giá cán bộ lãnh đạo của các đơn vị, thực hiện bổ nhiệm lại cán bộ lãnh đạo phải có báo cáo nội dụng công khai chi Ngân sách tại đơn vị. Đồng thời có quy định thanh tra nhân dân trong cơ quan có báo cáo bằng văn bản về công khai Tài chính tại cơ quan đơn vị sử dụng NSNN.

3.2.7. Một số giải pháp khác nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang

Tập trung kiểm soát các khoản chi NSNN có mức độ rủi ro cao

Xây dựng phần mềm tin học quản lý giao nhận hồ sơ kiểm soát chi NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang

Nâng cao trình độ chuyên môn và phẩm chất của đội ngũ cán bộ kiểm soát chi thường xuyên tại KBNN tỉnh Kiên Giang

Tăng cường cơ sở vật chất, tiến tới số hóa, hiện đại hóa các nghiệp vụ thanh toán nhằm phục vụ tốt công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN

Vận dụng cơ chế kiểm soát cam kết chi trong điều kiện triển khai hệ thống TABMIS

3.3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang

3.3.1. Đối với KBNN

3.3.2. Đối với tỉnh Kiên Giang

3.3.3. Đối với bộ tài chính

3.3.4. Đối với Chính phủ

KẾT LUẬN

NSNN là công cụ huy động nguồn lực Tài chính để bảo đảm các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, đồng thời là một trong những công cụ quan trọng của Nhà nước trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Kiểm soát chi NSNN nói chung và kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN nói riêng giữ vai trò quan trọng trong công tác quản lý NSNN. Vì vậy, việc hoàn thiện kiểm soát chi NSNN qua KBNN là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thiết thực đối với KBNN tỉnh Kiên Giang cũng như công tác quản lý, điều hành NSNN trên địa bàn tỉnh.

Qua quá trình nghiên cứu, Luận văn đã hệ thống hóa và phân tích những vấn đề lý luận cơ bản nhất về kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN. Qua phân tích thực trạng công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang, Luận văn đã đánh giá hết sức khách quan những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế trong công tác kiểm soát chi thường xuyên thời gian qua và đã đưa ra những nguyên nhân. Trên cơ sở đó, tác giả đã mạnh dạn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang.

Công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN qua KBNN là vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp và đơn vị sử dụng NSNN. Do đó, đề tài chỉ đề cập những vấn đề cô đọng nhất trong phạm vi kiểm soát những khoản chi thường xuyên NSNN qua KBNN tỉnh Kiên Giang. Mặc dù đã cố gắng rất nhiều nhưng Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định, kính mong nhận được những ý kiến đóng góp để để tài được hoàn thiện hơn./.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\LOP KIEN GIANG\LUAN VAN DA NOP DUY TAN\R.DO AI

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *