Hoàn thiện quy trình kiểm toán Dự án đầu tư trong cuộc kiểm toán ngân sách địa phương do Kiểm toán Nhà nước Khu vực III thực hiện
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu: Câu hỏi đặt ra là làm thế nào tổ chức thực hiện kiểm toán về lĩnh vực chi đầu tư XDCB có hiệu quả nhất trong điều kiện được bố trí quỹ thời gian và nhân sự có hạn cho một cuộc kiểm toán báo cáo quyết toán ngân sách địa phương. Trong khi đó, hằng năm báo cáo quyết toán ngân sách địa phương lĩnh vực chi đầu tư XDCB chiếm tỷ trọng khá lớn, từ 40 đến 45% tổng chi NSĐP. Đây là một nội dung chi rất quan trọng của ngân sách địa phương để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, phục vụ cho các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, đảm bảo an ninh – quốc phòng trên địa bàn, tác động trực tiếp đến tình hình phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương. Chi đầu tư XDCB liên quan đến nhiều đối tượng, cơ quan trong việc quyết định đầu tư và quản lý nhà nước của các cơ quan chuyên môn.
Bên cạnh mặt tích cực, đầu tư xây dựng cơ bản cũng có mặt trái, đó là hiện tượng thất thoát, lãng phí trong quá trình đầu tư, làm suy yếu nguồn lực của đất nước và gây ra những vấn đề tiêu cực trong xã hội, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Kiểm toán Nhà nước đã ban hành Quy trình kiểm toán chung và các quy trình kiểm toán chuyên ngành khác, trong đó có “Quy trình kiểm toán dự án đầu tư” mà trước kia là “Quy trình kiểm toán Báo cáo quyết toán dự án đầu tư xây dựng cơ bản”. Với việc vận dụng quy trình kiểm toán trong kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình, công việc của các kiểm toán viên trở nên khoa học và hiệu quả hơn. Tuy nhiên, trước sự đa dạng và phức tạp trong lĩnh vực đầu tư XDCB, tình trạng thất thoát, lãng phí diễn biến theo chiều hướng gia tăng và ngày càng tinh vi, công tác kiểm toán trong lĩnh vực dự án đầu tư xây dựng công trình đã xuất hiện những tồn tại và bất cập, hàm chứa nhiều rủi ro. Vì vậy việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện quy trình kiểm toán Dự án đầu tư trong cuộc kiểm toán ngân sách địa phương do Kiểm toán Nhà nước Khu vực III thực hiện” có ý nghĩa thiết thực, mang tính thời sự cấp bách cả về mặt lý luận và thực tiễn, nhằm góp phần nâng cao chất lượng kiểm toán trong lĩnh vực đầu tư xây dựng công trình của Kiểm toán Nhà nước Khu vực III.
2. Mục tiêu nghiên cứu:
– Hệ thống hóa lý luận về Kiểm toán Nhà nước, quy trình kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng.
– Phân tích thực trạng việc thực hiện quy trình kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng do Kiểm toán Nhà nước III thực hiện.
– Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng công trình do Kiểm toán Nhà nước III thực hiện.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu: là những vấn đề liên quan đến việc việc thực hiện quy trình kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng do Kiểm toán Nhà nước III thực hiện
b. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: nghiên cứu một số vấn đề tồn tại, bất cập của quy trình kiểm toán Nhà nước về các dự án đầu tư xây dung
Về thời gian: nghiên cứu thực trạng trong giai đoạn 2012-2015, giải pháp có liên quan được đề xuất trong luận văn có ý nghĩa áp dụng cho giai đoạn 2016-2020.
Về không gian: Đề tài tập trung vào việc kiểm toán Nhà nước các dự án đầu tư xây dựng do Kiểm toán Nhà nước III thực hiện tại 4 tỉnh miền Trung.
Phương pháp thu thập thông tin: Về tình hình thực hiện quy trình kiểm toán các dự án đầu tư. Phương pháp liệt kê, mô tả: Để thể hiện các công việc cụ thể mà Kiểm toán viên phải thực hiện trong các giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán, lập Báo cáo kiểm toán, Theo dõi việc thực hiện các kiến nghị. Phương pháp phân tích, đánh giá: Được sử dụng để nhìn nhận các hạn chế trong quy trình kiểm toán các dự án đầu tư xây dựng và việc thực hiện quy trình của các Kiểm toán viên. Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở lý luận và thực trạng vấn đề nghiên cứu, Luận văn sẽ tổng hợp đẻ đề xuất các giải pháp.
6.Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Luận văn bao gồm 3 chương :
Chương 1: Những lý luận cơ bản về quy trình kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình.
Chương 2: Thực trạng quy trình kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình do Kiểm toán Nhà nước Khu vực III thực hiện
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình tại Kiểm toán Nhà nước Khu vực III
CHƯƠNG 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY TRÌNH
KIỂM TOÁN DỰ ÁN ĐẦU TƯ
- Khái quát về dự án đầu tư xây dựng công trình
- Theo Luật Xây dựng – Số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 “Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định.
– Sản phẩm dự án đầu tư mang tính chất đặc biệt và tổng hợp, biện pháp, công tác tổ chức thi công ở các công trình khác nhau, ngay trong một loại công trình cũng khác nhau về kết cấu, kiểu cách, .v.v.. cho nên sản phẩm đầu tư XDCB thường không có tính chất liên tục trong quá trình sản xuất.
– Quá trình thi công cơ bản tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện tự nhiên; vốn đầu tư xây dựng thường lớn, thời gian sử dụng sản phẩm lâu dài. Chu kỳ sản xuất dài và chi phí sản xuất cao nên trình tự huy động, thanh cấp phát vốn cũng như tiến độ thi công có ý nghĩa quan trọng trong việc phát huy hiệu quả vốn đầu tư từ khi thi công đến khi đưa vào sử dụng; Một dự án đầu tư thường có nhiều đơn vị cùng tham gia thi công nên công tác quản lý trên công trường rất phức tạp, nhất là trong quá trình điều động, tổ chức thi công, đòi hỏi phải có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa chủ đầu tư, ban quản lý dự án cà các nhà thầu thi công.
1.2 Khái quát về nội dung kiểm toán dự án đầu tư XDCT
– Kiểm toán tuân thủ pháp luật, chế độ quản lý dự án đầu tư, chế độ tài chính kế toán trong các giai đoạn: Chuẩn bị đầu tư; thực hiện đầu tư và kết thúc đầu tư đưa công trình vào sử dụng.
– Kiểm toán công tác quản lý chất lượng và tiến độ của dự án;
– Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư công trình hoàn thành hoặc hạng mục công trình hoàn thành (Kiểm toán nguồn vốn đầu tư; Kiểm toán chi phí đầu tư; Kiểm toán chi phí đầu tư tính vào giá trị công trình; Kiểm toán giá trị tài sản bàn giao cho sản xuất sử dụng; Kiểm toán tình hình công nợ và vật tư, thiết bị tồn đọng); Kiểm toán tính kinh tế, tính hiệu quả, tính hiệu lực của dự án đầu tư.
1.3. Quy trình kiểm toán dự án đầu tư: Quy trình kiểm toán dự án đầu tư XDCT được ban hành theo Quyết định 03/2012/QĐ-KTNN ngày 14/4/2012 của Tổng KTNN. Quy trình gồm 4 bước:
1.3.1 Chuẩn bị kiểm toán: Đây là công việc đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình kiểm toán, mọi sự chuẩn bị tốt sẽ tạo tiền đề cho thành công của cuộc kiểm toán và ngược lại. Chuẩn bị kiểm toán bao gồm các bước công việc: Khảo sát và thu thập thông tin; đánh giá thông tin thu thập được và hệ thống kiểm soát nội bộ, xác định trọng yếu kiểm toán và rủi ro kiểm toán; lập kế hoạch kiểm toán
1.3.2. Thực hiện kiểm toán: Là quá trình sử dụng các phương pháp kỹ thuật kiểm toán phù hợp với đối tượng kiểm toán cụ thể theo chương trình và kế hoạch kiểm toán nhằm thu thập được đầy đủ các bằng chứng kiểm toán có độ tin cậy cao và có giá trị làm cơ sở cho việc lập Biên bản kiểm toán và Báo cáo kiểm toán.
Thực hiện kiểm toán bao gồm các nội dung sau: Kiểm toán tuân thủ pháp luật, chế độ quản lý dự án đầu tư, chế độ tài chính kế; Kiểm toán công tác quản lý chất lượng và tiến độ dự án đầu tư; Kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư; Kiểm toán chi phí đầu tư tính vào giá trị công trình; Kiểm toán đánh giá tinh kinh tế, hiệu lực và hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình;
1.3.3. Lập và phát hành Báo cáo kiểm toán: Yêu cầu đối với việc lập và phát hành báo cáo kiểm toán dự án đầu tư: Trình tự, thủ tục thực hiện bước lập và gửi báo cáo kiểm toán dự án đầu tư được thực hiện theo Quy trình kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước. Nội dung cơ bản của Báo cáo kiểm toán toán dự án đầu tư, gồm: Phần mở đầu; phần kết quả kiểm toán và kiến nghị kiểm toán.
1.3.4. Kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị
– Kiểm toán Nhà nước phải lập kế hoạch và tổ chức kiểm tra đơn vị được kiểm toán trong việc thực hiện đầy đủ, kịp thời kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước về các sai phạm trong báo cáo tài chính và vi phạm pháp luật; thực hiện các biện pháp khắc phục yếu kém trong hoạt động và kết quả khắc phục các yếu kém đó theo kết luận và kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước.
– Việc kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán được thực hiện theo các hình thức sau đây: Yêu cầu đơn vị được kiểm toán báo cáo bằng văn bản kết quả thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán; Tổ chức kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán tại đơn vị được kiểm toán và tổ chức, cơ quan, đơn vị có liên quan.
Chương 1 đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung nhất về kiểm toán dự án đầu tư. Luận văn trình bày:
– Khái quát về dự án đầu tư xây dựng công trình;
– Khái quát về Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình;
– Quy trình Kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình do Kiểm toán nhà nước thực hiện;
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG QUY TRÌNH KIỂM TOÁN
DỰ ÁN ĐẦU TƯ DO KTNN KHU VỰC III THỰC HIỆN
2.1. Cơ cấu tổ chức và hoạt động của KTNN khu vực III
Kiểm toán Nhà nước Khu vực III (tên trước đây là Kiểm toán Nhà nước khu vực Miền Trung) được thành lập theo Quyết định số 117/QĐ- KTNN ngày 11/7/1996 của Tổng Kiểm toán Nhà nước. Thực hiện nhiệm vụ kiểm toán ngân sách đối với các tỉnh, thành phố duyên hải Miền Trung và Tây Nguyên theo sự phân công của Tổng Kiểm toán Nhà nước. Luật Kiểm toán Nhà nước được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 1/1/2006 đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của Kiểm toán Nhà nước. Trên cơ sở quy định của Luật KTNN, ngày 15/9/2006 UBTV Quốc hội khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 916/2005/NQ-UBTVQH11 về cơ cấu tổ chức của KTNN, theo đó, KTNN Khu vực III (KTNN KV III) là một trong năm KTNN khu vực, trụ sở đóng tại thành phố Đà Nẵng.
Với chức năng là cơ quan kiểm tra tài chính công, KTNN khu vực III thực hiện kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của số liệu quyết toán NSNN tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, kiểm tra tính tuân thủ pháp luật, tài chính của các cấp, báo cáo tài chính của các cơ quan hành chính nhà nước, các doanh nghiệp và các tổ chức, đơn vị có quản lý, sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước. Thông qua hoạt động kiểm toán, KTNN Khu vực III đã cung cấp kết quả kiểm toán cho HĐND các địa phương, Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan Nhà nước nhằm chấn chỉnh, hoàn thiện công tác quản lý tài chính. Kiểm toán Nhà nước Khu vực III cũng thực hiện chức năng tư vấn, góp ý cho các đơn vị được kiểm toán để chất lượng quản lý tài chính dần đi vào nề nếp. Kết quả kiểm toán được ghi nhận trong 20 năm đã kiến nghị tăng thu, giảm chi, ghi thu ghi chi, xử lý các khoản tạm thu, tạm giữ và các khoản khác, với tổng số tiền 4.636 tỷ đồng, trong đó, kiến nghị tăng thu NSNN 1.622 tỷ đồng; kiến nghị giảm chi NSNN 1.041 tỷ đồng. Đồng thời, qua kiểm toán đã kiến nghị thu hồi, điều chỉnh nhiều văn bản quản lý điều hành thu, chi NSNN do các cơ quan quản lý nhà nước và do các địa phương ban hành chưa phù hợp với các luật, văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước; kiến nghị các đơn vị được kiểm toán khắc phục nhiều tồn tại, yếu kém, bất cập trong quản lý NSNN, tài chính doanh nghiệp, quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản.
2.2. Thực trạng quy trình kiểm toán dự án đầu tư do KTNN khu vực III thực hiện
Ngày 28/12/1999 Tổng Kiểm toán Nhà nước đã ra Quyết định số 09/1999/QĐ-KTNN về việc ban hành Quy trình kiểm toán Báo cáo quyết toán dự án đầu tư XDCB áp dụng cho toàn ngành. Sau một thời gian áp dụng, do sự thay đổi của chế độ quản như lý đầu tư như sự ra đời của Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu, bên cạnh đó Luật KTNN bắt đầu có hiệu lực từ 1/1/2006 thì quy trình kiểm toán Báo cáo quyết toán dự án đầu tư XDCB đã bắt đầu bộc lộ những tồn tại, hạn chế. Xuất phát từ thực tế đó, KTNN đã tổ chức xây dựng lại Quy trình kiểm toán Báo cáo quyết toán dự án đầu tư XDCB cho phù hợp với tình hình thực tế, và đến nay đã 02 lần Tổng Kiểm toán Nhà nước đã ra quyết định ban hành Quy trình kiểm toán dự án đầu tư thay thế cho quy trình củ. Lần thứ 01 vào ngày 02/08/2007, Tổng Kiểm toán Nhà nước đã ra quyết định số 05/2007/QĐ-KTNN ban hành Quy trình kiểm toán dự án đầu tư; lần thứ 02 vào ngày 04/4/2012, Tổng Kiểm toán Nhà nước đã ra quyết định số 03/2012/QĐ-KTNN thay thế Quyết định số 05/2007/QĐ-KTNN ngày 02/8/2007 và từ tháng 5/2012 đến nay áp dụng quy trình kiểm toán dự án theo Quyết định số 03/2012/QĐ-KTNN.
2.3. Đánh giá thực trạng quy trình kiểm toán dự án đầu tư do Kiểm toán nhà nước thực hiện
2.3.1.Những tồn tại, hạn chế
– Quy mô kiểm toán còn nhỏ so với số lượng các dự án đầu tư.
– Việc kiểm toán các dự án đầu tư ở KTNN khu vực III chủ yếu đang tập trung vào kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư công trình hoàn thành và kiểm toán việc chấp hành pháp luật, chế độ quản lý đầu tư và xây dựng.
– Kiểm toán công tác lựa chọn nhà thầu chưa được chú trọng, hoặc có nhưng chưa đầy đủ;
2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót
Quy trình kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình ban hành kèm theo Quyết định số 03/2012/QĐ-KTNN ngày 04/4/2012 đã khắc phục được những khiếm khuyết của quy trình cũ, thì quy trình mới cũng còn những điểm bất cập dẫn đến công tác kiểm toán dự án đầu tư còn những hạn chế thể hiện trên các mặt sau: Đối với kiểm toán chi phí xây lắp, quy trình chưa có hướng dẫn cụ thể về trình tự, nguyên tắc và phướng pháp tính toán các khối lượng, do vậy KTV lúng túng trong quá trình thực hiện; quy trình kiểm toán dự án đầu tư chưa đề cập đến các phương pháp kiểm toán cụ thể đối với một số nội dung;
Chương 2, luận văn đã khảo sát thực trạng về tổ chức và hoạt động của Kiểm toán Nhà nước Khu vực III từ quá trình hình thành, phát triển và mô hình tổ chức quản lý và nhiệm vụ của Kiểm toán Nhà nước Khu vực III nói chung và kiểm toán lĩnh vực dự án đầu tư nói riêng.
Trong chương này, luận văn đã trình bày thực trạng việc thực hiện quy trình kiểm toán dự án đầu tư của KTNN từ khâu chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán đến kết thúc lập báo cáo kiểm toán;
Nghiêu cứu thực tế kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình của KTNN khu vực III trong những năm qua là cơ sở đề xuất những phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy trình và phương pháp kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình do Kiểm toán nhà nước Khu vực III và KTNN Việt Nam thực hiện.
CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY TRÌNH
KIỂM TOÁN DỰ ÁN ĐẦU TƯ DO KTNN KHU VỰC III THỰC HIỆN
3.1. Phương hướng, nguyên tắc hoàn thiện quy trình và phương pháp kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình
3.1.1. Phương hướng hoàn thiện
Các dự án đầu tư xây dựng đã và đang phát huy hiệu quả kinh tế – xã hội, đóng góp vai trò quan trọng đối với việc phát triển kinh tế đất nước. Hàng năm, có nhiều dự án đầu tư mới được triển khai với số lượng vốn đầu tư ngày càng tăng qua từng năm. Để đáp ứng được yêu cầu ngày một cao, tương xứng với vị thế của KTNN, việc bổ sung, hoàn thiện các nội dung kiểm toán trong kiểm toán dự án đầu tư là một nhu cầu khách quan nhằm tăng cường công tác quản lý trong đầu tư XDCB. Việc hoàn thiện kiểm toán dự án đầu tư do KTNN Việt Nam nói chung hay Kiểm toán Nhà nước Khu vực III thực hiện cần tuân thủ các định hướng sau:
Một là, bám sát định hướng Chiến lược về nâng cao chất lượng kiểm toán giai đoạn 2015 – 2020 của KTNN, trong đó đa dạng hoá các loại hình kiểm toán theo quy định của Luật KTNN, trọng tâm là kiểm toán báo cáo tài chính và kiểm toán tuân thủ, từng bước phát triển kiểm toán hoạt động để đánh giá hiệu quả quản lý, sử dụng ngân sách, tiền tài sản Nhà nước;
Hai là, cần bổ sung hoàn thiện quy trình kiểm toán dự án đầu tư trong việc xác định mục tiêu, nội dung, trình tự, phạm vi và phương pháp tổ chức kiểm toán, đặc biệt cần chi tiết hướng dẫn cụ thể hơn ở bước thực hiện kiểm toán, giúp kiểm toán viên nhanh chóng tiếp cận các thông tin về đơn vị kiểm toán;
Ba là, việc hoàn thiện quy trình kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình phải đảm bảo tính ứng dụng cao, phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam.
Bốn là, phù hợp với năng lực KTNN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Các nội dung đề xuất hoàn thiện quy trình và phương pháp kiểm toán phải dễ hiểu, dễ thực hiện, tạo điều kiện cho việc áp dụng trong thực tế công tác kiểm toán.
Việc hoàn thiện quy trình kiểm toán dự án đầu tư cần tuân thủ các nguyên tắc sau:
Thứ nhất, hoàn thiện quy trình kiểm toán dự án đầu tư phải phù hợp với Luật KTNN và các văn bản pháp quy hiện hành;
Thứ hai, hoàn thiện quy trình kiểm toán cần tuân thủ các chuẩn mực KTNN Việt Nam đã ban hành;
Thứ ba, nội dung hoàn thiện quy trình phải phù hợp với các văn bản pháp luật, chính sách chế độ quản lý đầu tư xây dựng hiện hành.
Thứ tư: hoàn thiện quy trình kiểm toán phải bao quát được toàn bộ các hoạt động, các bước công việc của quá trình tổ chức thực hiện dự án đầu tư;
Thứ năm, các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình và phương pháp kiểm toán dự án đầu tư phải mang tính đồng bộ, khả thi.
3.2. Giải pháp hoàn thiện quy trình kiểm toán dự án đầu tư
Quy trình kiểm toán dự án đầu tư cần hoàn thiện theo các nội dung sau:
Một là, bổ sung, hoàn thiện các nội dung kiểm toán tuân thủ về: Việc lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư; việc tuân thủ công tác quản lý chất lượng xây dựng công trình; công tác lựa chọn nhà thầu; việc quản lý tiến độ, khối lượng thi công xây dựng công trình; việc tuân thủ các yêu cầu, nguyên tắc trong công tác chạy thử;
Hai là, hoàn thiện quy trình kiểm toán dự án đầu tư trong việc xác định mục tiêu, nội dung, trình tự, phạm vi và phương pháp tổ chức kiểm toán;
Ba là, hoàn thiện phương pháp kiểm toán: Phương pháp kiểm toán đối với các khối lượng xây dựng; hoàn thiện phương pháp kiểm tra đơn giá xây dựng; hoàn thiện phương pháp kiểm toán tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả của dự án đầu tư.
3.3. Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm toán dự án đầu tư
3.3.1. Đối với Kiểm toán nhà nước
Thứ nhất, phối kết hợp chặt chẽ với các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Quốc gia về phòng chống tham nhũng, Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tài chính, cơ quan an ninh kinh tế trong đấu tranh phòng chống tham nhũng và thực hành tiết kiệm, nhất là trong lĩnh vực đầu tư xây dựng.
Đầu tư xây dựng là lĩnh vực nhạy cảm và phức tạp, thất thoát, lãng phí trong đầu tư xảy ra ở nhiều khâu, nhiều bước công việc trong quá trình đầu tư và liên quan đến nhiều đối tượng, chính vì vậy trong quá trình thực hiện nhiệm vụ KTNN cần có sự phối kết hợp với các cơ quan chức năng, cụ thể như sau:
– Đối với Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội: Luật KTNN đã xác lập cơ chế phối hợp và cung cấp thông tin giữa ủy ban tài chính – ngân sách của Quốc hội với KTNN. Trong lĩnh vực đầu tư xây dựng thì đây là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết, sự phối kết hợp thể hiện ở vấn đề chia sẻ thông tin hai chiều, Quốc hội cung cấp thông tin cho KTNN, ngược lại KTNN báo cáo kết quả kiểm toán với Quốc hội. Với vai trò và chức năng của mình và thông qua các kỳ họp Quốc hội, Quốc hội có nhiều thông tin về các dự án đầu tư, cả mặt tích cực cũng như tiêu cực. Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội cung cấp thông tin về dự án đầu tư ngay từ khi tiến hành lập kế hoạch kiểm toán năm, hoặc trong giai đoạn khảo sát lập kế hoạch kiểm toán của đoàn kiểm toán, qua đó KTNN có thể lập kế hoạch và xây dựng nội dung kiểm toán một cách phù hợp và có hiệu quả. Ngược lại, Quốc hội sử dụng thông tin của KTNN như là một công cụ hữu hiệu để xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát của mình.
– Đối với các cơ quan có liên quan: Cần tăng cường hơn nữa việc chia sẻ thông tin và phối kết hợp trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Giữa KTNN và các cơ quan như Ủy ban Quốc gia phòng chống tham những, Thanh tra Chính phủ, Thanh tra tài chính, Cơ quan an ninh kinh tế cần có sự trao đổi thông tin mật thiết và thường xuyên về những vấn đề nổi cộm, những vấn đề dư luận đang quan tâm, hoặc những dạng sai phạm xảy ra trong quá trình đầu tư mà qua hoạt động chuyên môn phát hiện. Bên cạnh đó, để tránh chồng chéo trong công tác thanh kiểm tra, giữa KTNN và các cơ quan trên cũng cần thiết có sự trao đổi về kế hoạch thanh kiểm tra, kiểm toán, trường hợp cần thiết có thể đề nghị với Quốc hội, Chính phủ thành lập đoàn kiểm tra liên ngành để thanh kiểm tra toàn diện một dự án đầu tư.
Thứ hai, phối kết hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn trong lĩnh vực XDCB, nhất là các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực đầu tư xây dựng, các cơ quan giám định, kiểm tra chất lượng công trình.
Đầu tư xây dựng là lĩnh vực có nhiều ngành, nhiều cơ quan tham gia quản lý, ngoài cơ quan quản lý nhà nước chung là Bộ Xây dựng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì các bộ, ngành khác cũng thực hiện quản lý các dự án đặc thù của ngành. Chính vì sự đan xen, phức tạp trong công tác quản lý nên nếu không có sự phối hợp với các cơ quan chuyên môn trong từng lĩnh vực thì dễ dẫn tới việc bỏ sót thông tin hoặc kết quả kiểm toán có độ tin cậy không cao, để khắc phục vấn đề này, cần thực hiện một số biện pháp cụ thể sau:
– Về phía KTNN: qua kiểm toán phát hiện những vấn đề khiếm khuyết, bất cập của chính sách, chế độ để có kiến nghị với các cơ quan liên quan sửa đổi cho phù hợp với điều kiện thực tế
– Về phía các bộ, ngành có liên quan: Bộ KH – ĐT cần cung cấp cho KTNN danh mục và kế hoạch đầu tư hàng năm để thuận lợi trong việc xâp dựng kế hoạch kiểm toán của KTNN. Bộ Xây dựng phối hợp tốt với KTNN trong vấn đề trao đổi, thảo luận về chính sách, chế độ đầu tư xây dựng hiện hành.
Thứ ba, tăng cường công tác tuyên truyền, giới thiệu về ngành, phối kết hợp tốt với các đối tượng kiểm toán trong tổ chức và hoạt động kiểm toán.
Kiểm toán Nhà nước đã ra đời và hoạt động được trên 15 năm, về cơ bản các đối tượng kiểm toán đã biết đến sự hiện diện của KTNN như là một cơ quan có chức năng kiểm tra kiểm soát tài chính công. Kể từ khi Luật KTNN ra đời và có hiệu lực từ 1/1/2006, KTNN đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến sâu rộng Luật KTNN đến các cơ quan nhà nước và các đơn vị từ trung ương đến địa phương có quản lý, sử dụng ngân sác, tiền và tài sản nhà nước để các đơn vị đó biết và thực hiện đúng luật. Tuy nhiên, ở đa số đối tượng kiểm toán, sự hiểu biết về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của KTNN mới chỉ dừng ở ban lãnh đạo đơn vị, còn các chuyên viên dưới quyền, những người trực tiếp làm việc với KTV thì chưa thực sự hiểu rõ. Chính vì vậy trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, KTV gặp không ít khó khăn, để khắc phục vấn đề này, KTNN cần phối kết hợp với các đài truyền hình trung ương và địa phương xây dựng những chương trình, phóng sự về KTNN; tóm tắt các tài liệu liên quan đến cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của ngành như Luật KTNN, các nghị quyết của UBTV Quốc hội, cơ chế tổ chức và hoạt động của Đoàn kiểm toán phát hành rộng rãi tới các đối tượng kiểm toán.
Thứ tư, nâng cao năng lực, trình độ kiểm toán viên của Kiểm toán Nhà nước. Hiệu quả, chất lượng của cuộc kiểm toán phụ thuộc chủ yếu vào năng lực và trình độ của KTV, vì đây chính là người trực tiếp tiến hành kiểm toán, do vậy KTV của KTNN phải có năng lực, trình độ phù hợp với lĩnh vực kiểm toán. Đối với kiểm toán viên thuộc lĩnh vực đầu tư dự án, cần chú trọng các vấn đề sau:
– Tăng cường số lượng KTV có chuyên môn phù hợp với lĩnh vực đầu tư dự án theo hướng đa dạng, chuyên môn hóa cao như các chuyên gia kinh tế đầu tư, các kỹ sư chuyên ngành máy móc thiết bị, môi trường… ;
– Xây dựng chiến lược đào tạo đội ngũ kiểm toán viên về mọi mặt, phù hợp với từng giai đoạn, trong đó chú trọng đào tạo về chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp. Tăng cường tổ chức các lớp tập huấn, cập nhật kiến thức về lĩnh vực đầu tư cho các KTV, trong đó chú trọng đến các nội dung thẩm định dự án đầu tư, phương pháp đo bóc tiên lượng dự toán; kỹ năng thu thập, đánh giá bằng chứng kiểm toán.
Thứ năm, tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao đạo đức nghề nghiệp của KTV. Trong những năm qua, KTNN luôn chú trọng đến việc nâng cao đạo đực nghề nghiệp cho KTV. KTNN đã ban hành Quy chế tổ chức và hoạt đọng của Đoàn kiểm toán, Quy tắc ứng xử của KTV. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn có một bộ phận KTV chưa chấp hành hoặc chấp hành không nghiêm túc Quy chế tổ chức và hoạt động của đoàn kiểm toán cũng như Quy tắc ứng xử của KTV, điều này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng và làm giảm hiệu quả công tác kiểm toán.
Thứ sáu, đẩy mạnh công tác tin học hóa trong hoạt động kiểm toán, nhất là trong lĩnh vực kiểm toán đầu tư xây dựng công trình. Do đặc thù của sản phẩm xây dựng cơ bản, cơ cấu giá thành phức tạp với nhiều loại công tác xây dựng và đa dạng về chủng loại vật tư nên việc tính toán, xác định khối lượng, phân tích vật tư bằng phương pháp thủ công là việc khó khăn và mất rất nhiều thời gian. Trong thực tế, hiện nay có nhiều phần phềm dự toán đang được các đơn vị tư vấn, chủ đầu tư sử dụng để tính toán tiên lượng dự toán công trình trong khi KTV lại không có các chương trình phù hợp với chương trình của đơn vị, do vậy kể cả trong trường hợp đơn vị được kiểm toán cung cấp file dữ liệu thì KTV cung không sử dụng được để phục vụ cho công tác kiểm toán. Để khắc phục vấn đề này, KTNN cần có kế hoạch áp dụng các phần mềm tính tiên lượng, dự toán hiện có trên thị trường, hoặc xây dựng một phần mềm riêng phục vụ công tác kiểm toán.
Thứ bảy, đảm bảo hoạt động cho KTV. Trong những năm qua, được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Đảng, Nhà nước, điều kiện hoạt động của KTNN đã được cải thiện và tăng thêm đáng kể nhưng trên thực tế, điều kiện, phương tiện phục vụ cho công tác kiểm toán còn thiếu so với nhu cầu;
Thứ tám, thực hiện các cuộc kiểm toán chuyên đề, quy trình kiểm toán dự án đầu tư hiện nay bao gồm cả ba loại hình và nội dung kiểm toán là kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động, tùy thuộc vào quy mô, tính chất của cuộc kiểm toán mà có thể thực hiện kiểm toán một, hai hoặc cả ba nội dung kiểm toán.
Thứ chín, xây dựng quy trình kiểm toán hoạt động chung, trên cơ sở đó phát triển và xây dựng các quy trình kiểm toán hoạt động riêng cho từng lĩnh vực, trong đó có quy trình kiểm toán hoạt động trong lĩnh vực đầu tư dự án.
3.3.2. Kiến nghị đối với Quốc hội, Chính phủ
Thứ nhất, củng cố vững chắc địa vị pháp lý của KTNN. Nguyên tắc quan trọng và cơ bản nhất trong hoạt động của KTNN là độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, để bảo đảm vững chắc về mặt pháp lý tính độc lập của KTNN, địa vị pháp lý của KTNN cần được quy định cụ thể trong Hiến pháp về địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Kiểm toán Nhà nước.
Thứ hai, hoàn thiện, sửa đổi bổ sung Luật KTNN cho phù hợp với tình hình thực tế.
Thứ ba, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quản lý đầu tư xây dựng. Trong những năm qua, kể từ khi Luật Xây dựng, Luật Đấu thầu ra đời và có hiệu lực, Chính phủ và các bộ, ngành liên quan đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên qua đến đầu tư xây dựng, quá trình thực hiện đã liên tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn còn một số bất cập làm cho công tác quản lý đầu tư xây dựng chưa đạt được hiệu quả mong muốn, cụ thể:
– Còn chồng chéo về nội dung trong các các văn bản quy phạm pháp luật như riêng về vấn đề lựa chọn nhà thầu, Luật Đấu thầu có quy định cụ thể về lựa chän nhà thầu trong hoạt động xây dựng bao gồm đấu thầu lựa chọn tư vấn, đấu thầu mua sắm thiết bị và đấu thầu xây lắp, nhưng trước đó, những vẫn đề này cũng đã được quy định trong Luật Xây;
– Việc ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành Luật Xây dựng và Luật Đấu thầu chậm chễ và thiếu tính ổn định;
– Các quy định về xử lý vi phạm trong hoạt động xây dựng chưa đủ mạnh mang tính răn đe;
3.3.3. Đề nghị với các đơn vị được kiểm toán
Nâng cao hiểu biết, nhận thức về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Kiểm toán Nhà nước. Kiểm toán Nhà nước ra đời đã hơn 20 năm, Luật Kiểm toán Nhà nước đã ra đời và có hiệu lực được hơn 10 năm, nhưng do công tác tuyên truyền chưa được sâu rộng nên không phải đơn vị, tổ chức nào cũng hiểu biết đầy đủ về vị trí, chức năng và nhiệm vụ của Kiểm toán Nhà nước cũng như quyền hạn và trách nhiệm của đơn vị được kiểm toán. Từ những hiểu biết chưa đầy đủ đó, trong quá trình kiểm toán nhiều đơn vị, tổ chức, cá nhân chưa có sự hợp tác tốt với Kiểm toán Nhà nước, cung cấp thông tin chậm chễ, không đầy đủ dẫn đến KTV không hoàn thành nhiệm vụ hoặc rất khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Bên cạnh việc cung cấp thông tin chậm chễ, nhiều đơn vị được kiểm toán có cố tình kéo dài thời gian giải trình kết quả kiểm toán, gây ảnh hưởng đến tiến độ kiểm toán và ức chế cho KTV. Do vậy, bên cạnh sự hiểu biết về chức năng, nhiệm vụ của KTNN thì các đơn vị được kiểm toán cần thiết phải nâng cao nhận thức về trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của mình khi làm việc với KTNN, cần có sự phối hợp tốt với KTNN trong quá trình tác nghiệp, nhất là trong vấn đề cung cấp thông tin, tài liệu, vấn đề về giải trình kết quả kiểm toán.
Tiểu kết chương 3
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng, Luận văn đã đề xuất một số giải pháp về:
– Hoàn thiện nội dung kiểm toán tuân thủ;
– Hoàn thiện nội dung kiểm toán tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả dự án đầu tư;
– Hoàn thiện các phương pháp kiểm toán;
– Đề xuất và kiến nghị đến các cấp.
XDCB là lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân, tạo ra cơ sở hạ tầng phục vụ cho các ngành kinh tế phát triển. Hàng năm, NSNN dành khoản 23%-25% giá trị GDP để đầu tư xây dựng trên tất cả các lĩnh vực của ngành kinh tế; sự phát triển của ngành công nghiệp XDCB có ảnh hưởng to lớn và quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Bên cạnh mặt tích cực mà XDCB mang lại thì cũng có mặt tiêu cực, đó là tình trạng tham nhũng, thất thoát, lãng phí NSNN;
Hiện tượng tiêu cực trong quản lý và thi công công trình diễn ra khá phổ biến, nhiều công trình có chất lượng thấp, gây lãng phí và kém hiệu quả trong đầu tư. Nguyên nhân của việc thất thoát, lãng phí trong đầu tư rất nhiều, từ hệ thống chính sách quản lý đầu tư chưa đồng bộ, công tác quy hoạch ngành, vùng chưa tốt, chất lượng công tác thiết kế, lập tổng dự toán chưa cao, chất lượng công tác đấu thầu chưa đảm bảo… tất cả đều là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất thoát, lãng phí.
Với chức năng là cơ quan kiểm tra tài chính công của quốc gia, KTNN đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tình trạng tham nhũng, thất thoát, lãng phí trong xây dựng. Để có thể hoàn thành được nhiệm vụ, đòi hỏi các KTV của KTNN phải nắm vững quy trình kiểm toán dự án đầu tư, bên cạnh đó phải không ngừng nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng được nhiệm vụ trong thời kỳ mới.
Trên cơ sở vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, Luận văn đã trình bày thực trạng kiểm toán các dự án XDCT do Kiểm toán nhà nước Khu vực III thực hiện từ năm 2005 đến hết năm 2016, trên cơ sở đó phân tích, đánh giá những mặt đã làm được và những vấn đề còn tồn tại. Từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán dự án đầu tư xây dựng công trình trong thời gian tới. Kết quả đạt được của luận văn có thể tóm tắt như sau:
– Luận văn đã trình bày khái quát những vấn đề chung về kiểm toán và dự án đầu tư xây dựng công trình
– Hệ thống những phương pháp, nội dung và quá trình kiểm toán tuân thủ, kiểm toán BCQT dự án đầu tư công trình hoàn thành, kiểm toán hoạt động.
– Đề xuất những giải pháp hoàn thiện kiểm toán dự án đầu tư
Do trình độ có hạn, luận văn không thể đi sâu nghiên cứu toàn bộ các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện kiểm toán một dự án đầu tư xây dựng công trình mà chỉ trình bày, đề xuất một số giải pháp để phù hợp với năng lực của KTNN trong giai đoạn hiện nay và trong những năm tới. Quá trình nghiên cứu không thể tránh khỏi những tồn tại, thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo, các nhà nghiên cứu, các đồng nghiệp và những đồng chí quan tâm đến vấn đề này để luận văn có thể được hoàn thiện hơn./.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\NGO THANH BINH


