Tổ chức công tác kế toán tại Kho bạc Nhà nước Quảng Nam

Tổ chức công tác kế toán tại Kho bạc Nhà nước Quảng Nam

Tổ chức công tác kế toán tại Kho bạc Nhà nước Quảng Nam

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu.

Hệ thống Kho bạc Nhà nước trực thuộc Bộ Tài chính chính thức được thành lập và đi vào hoạt động trên phạm vi cả nước kể từ ngày 1/4/1990 với chức năng, nhiệm vụ, vai trò và vị thế không ngừng được nâng cao và ngày càng mở rộng. Trong chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước đến năm 2020, với 2 nhóm nhiệm vụ mới là lập tổng hợp quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm và thực hiện chức năng tổng kế toán nhà nước của Kho bạc Nhà nước thì công tác kế toán nhà nước có vai trò hết sức quan trọng trong việc quản lý các nguồn lực tài chính và điều hành nền kinh tế xã hội của đất nước.

Tổ chức công tác kế toán là một bộ phận quan trọng trong hoạt động của hệ thống Kho bạc và công tác xây dựng một hệ thống kế toán hợp lý, khoa học từ trung ương đến địa phương hoạt động hiệu quả, tổ chức công tác kế toán sẽ đóng góp to lớn vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của ngành Kho bạc và cũng là một trong những nội dung quan trọng tác động trực tiếp, toàn diện đến chất lượng quản lý và điều hành nền kinh tế.

Trong quá trình thực hiện, tổ chức công tác kế toán tại KBNN Quảng Nam đã đạt nhiều kết quả, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao vai trò, vị thế không thể thiếu của mình trong hệ thống các công cụ quản lý tài chính – ngân sách ở địa phương. Tuy nhiên, tổ chức công tác kế toán còn chưa đồng bộ, nhất quán về phạm vi, nội dung và phương pháp vì thế số liệu thu chi NSNN giữa KBNN, cơ quan tài chính, cơ quan thu chưa có sự thống nhất; kế toán NSNN chủ yếu dựa vào phương pháp tiền mặt, chưa thực hiện kế toán dồn tích đầy đủ. Chưa thiết lập một hệ thống thông tin tập trung có khả năng thu thập, xử lý, khai thác, truyền và nhận dữ liệu về tài chính kế toán một cách đầy đủ kịp thời. Để nâng cao hơn nữa chất lượng quản lý tài chính nhà nước và đáp ứng toàn diện nhu cầu thực hiện chức năng nhiệm vụ mới trong ngành Kho bạc thì tổ chức công tác kế toán phù hợp với những thay đổi về chính sách, quy định của pháp luật và đặc điểm hoạt động của Kho bạc là hết sức cần thiết.

Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó tôi quyết định chọn đề tài: “Tổ chức công tác kế toán tại Kho bạc Nhà nước Quảng Nam” cho luận văn tốt nghiệp. Với thời gian thực tế công tác trong ngành Kho bạc và những tài liệu nghiên cứu được, tôi hy vọng những ý kiến của mình sẽ góp phần hoàn thiện phần nào công tác tổ chức kế toán tại KBNN Quảng Nam đồng thời đáp ứng yêu cầu đặt ra trong giai đoạn hiện nay.

2. Mục tiêu nghiên cứu

– Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán tại KBNN

– Phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán tại KBNN tỉnh Quảng Nam từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại KBNN Quảng Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng: Nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán tại Kho bạc Nhà nước Quảng Nam.

– Phạm vi:

Về nội dung: tập trung các nội dung về tổ chức công tác kế toán của KBNN Quảng Nam.

Về không gian, thời gian: Nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán tại KBNN tỉnh và các KBNN huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam. Thời gian nghiên cứu từ năm 2016 đến năm 2018.

4. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: nghiên cứu tài liệu, phương pháp thống kê, thu thập số liệu, khảo sát tình hình để xử lý thông tin. So sánh đối chiếu với cơ sở lý luận để đánh giá, phân tích làm sáng tỏ những nội dung nghiên cứu tiếp cận hệ thống và từ đó đưa ra những giải pháp để hoàn thiện về tổ chức công tác kế toán tại KBNN Quảng Nam.

5. Kết cấu luận văn

Luận văn gồm 3 chương với những nội dung sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán tại KBNN

Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại KBNN Quảng Nam

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại KBNN Quảng Nam

6. Tổng quan nghiên cứu đề tài

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC

1.1. Khái quát về Kho bạc Nhà nước và tổ chức công tác kế toán tại Kho bạc Nhà nước

1.1.1. Khái quát về Kho bạc Nhà nước

1.1.1.1. Nhiệm vụ Kho bạc Nhà nước

Nhiệm vụ cụ thể của Kho bạc Nhà nước được quy định theo Quyết định số 26/2015/QĐ-TTg ngày 08/7/2015 của Thủ tướng Chính phủ.

1.1.1.2. Đặc điểm hoạt động

+ Về tổ chức quản lý: Kho bạc Nhà nước được tổ chức thành hệ thống dọc từ Trung ương đến địa phương theo đơn vị hành chính từ KBNN đến KBNN cấp tỉnh xuống KBNN cấp huyện, bảo đảm nguyên tắc tập trung, thống nhất;

+ Về vai trò KBNN trong nền tài chính quốc gia cụ thể:

– Quản lý và điều hành quỹ NSNN:

– Là trung tâm kế toán và thanh toán của chính phủ:

– Là công cụ phục vụ quản lý kinh tế tài chính:

1.1.1.3. Đặc điểm quản lý tài chính

Một là, KBNN là một đơn vị công.

Hai là, KBNN là cơ quan quản lý tài chính công của nhà nước,

1.1.2. Tổ chức công tác kế toán tại KBNN

1.1.2.1. Khái niệm tổ chức công tác kế toán

1.1.2.2. Vai trò tổ chức công tác kế toán tại KBNN

– Tổ chức công tác kế toán giúp ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin phù hợp cho các đối tượng sử dụng thông tin.

– Tổ chức công tác kế toán nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý ngân quỹ và quỹ NSNN.

– Tổ chức công tác kế toán giúp cho công tác kiểm tra, giám sát đánh giá các hoạt động kinh tế, tài chính của Nhà nước là hiệu quả hay lãng phí.

1.1.2.3. Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán tại KBNN

– Một là: Tổ chức công tác kế toán KBNN phải tuân theo quy định của pháp luật, các văn bản pháp lý hiện hành của nhà nước và của Bộ Tài chính.

– Hai là: Phải tuân theo nguyên tắc bất kiêm nhiệm giữa người ra quyết định thực hiện nghiệp vụ tài chính nhà nước và người chấp hành quyết định.

– Ba là: Tổ chức công tác kế toán phải phù hợp với chức năng nhiệm vụ và đặc điểm hoạt động của từng KBNN:

– Bốn là: Phải phù hợp với yêu cầu, năng lực quản lý, phù hợp với trình độ của nhân viên kế toán và cũng phải phù hợp với trình độ trang bị các thiết bị, phương tiện tính toán và các trang thiết bị khác

– Năm là: Tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả.

1.1.2.4. Nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán tại KBNN

– Tổ chức bộ máy kế toán phải phù hợp với chức năng và nhiệm vụ của KBNN.

– Tổ chức thu thập, ghi chép, xử lý và quản lý dữ liệu tập trung trong toàn hệ thống về tình hình quản lý, phân bổ dự toán chi ngân sách các cấp; Tình hình thực hiện thu, chi NSNN các cấp; Các khoản vay và tình hình trả nợ vay của NSNN;

– Tổ chức cung cấp thông tin lập kế hoạch ngân sách – dự toán ngân sách.

– Tổ chức báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị theo quy định.

1.2. Nội dung tổ chức công tác kế toán tại KBNN

1.2.1. Tổ chức bộ máy kế toán

Bộ máy kế toán ngân sách nhà nước gồm có 2 bộ phận:

+ Bộ máy kế toán trung tâm

+ Bộ phận kế toán phụ thuộc bao gồm các điểm giao dịch (thường xuyên, không thường xuyên) trong hoặc ngoài trụ sở Kho bạc nhà nước.

Bố trí nhân sự kế toán

+ Tổ chức bổ nhiệm Kế toán trưởng, hoạch định vai trò và quyền hạn của Kế toán trưởng.

+ Về bố trí cán bộ kế toán trong hệ thống Kho bạc nhà nước:

Ở mỗi đơn vị KBNN, bộ máy kế toán được tổ chức thành các bộ phận chủ yếu sau:

+ Bộ phận giao dịch

+ Bộ phận tổng hợp.

Mỗi nhân viên kế toán giao dịch được giao giữ tài khoản của một số đơn vị, cá nhân, có trách nhiệm bảo quản bản đăng ký mẫu chữ ký và mẫu dấu của khách hàng; kế toán trưởng không được trực tiếp thực hiện các công việc giao dịch với khách hàng.

1.2.2. Tổ chức Chứng từ kế toán

Theo quy định tại thông tư 77/2017-TT-BTC thì Chứng từ kế toán là những giấy tờ, vật mang tin phản ánh nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh và đã hoàn thành, làm căn cứ ghi sổ kế toán. Mẫu chứng từ kế toán trong hệ thống KBNN bao gồm mẫu chứng từ kế toán bắt buộc và mẫu chứng từ kế toán hướng dẫn.

+ Mẫu chứng từ kế toán bắt buộc là mẫu chứng từ đặc biệt có giá trị như tiền, gồm: séc, biên lai thu tiền, vé thu phí, lệ phí, trái phiếu, tín phiếu, công trái và các mẫu chứng từ bắt buộc khác.

+ Mẫu chứng từ kế toán hướng dẫn là mẫu chứng từ kế toán do Bộ trưởng Bộ Tài chính (hoặc Tổng Giám đốc KBNN được Bộ trưởng Bộ Tài chính ủy quyền) quy định về biểu mẫu và nội dung ghi chép.

Theo hình thức chứng từ có: chứng từ điện tử và chứng từ giấy

Khi cần thiết KBNN có thể chuyển đổi chứng từ bằng giấy thành chứng từ điện tử hoặc ngược lại và được thực hiện theo quy định về lập, sử dụng, kiểm soát, xử lý bảo quản và lưu trữ, đồng thời theo quy định về việc giao dịch điện tử trong lĩnh vực tài chính, KBNN.

Tổ chức chứng từ kế toán trong KBNN bao gồm các nội dung sau:

– Tổ chức lập chứng từ kế toán.

– Tổ chức xử lý, luân chuyển và kiểm tra chứng từ kế toán:

1.2.3. Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán

– Nguyên tắc xây dựng hệ thống tổ hợp tài khoản kế toán:

– Yêu cầu của hệ thống tổ hợp tài khoản kế toán

Hệ thống tài khoản kế toán NSNN gồm các tài khoản trong Bảng cân đối tài khoản và các tài khoản ngoài Bảng cân đối tài khoản.

1.2.4. Tổ chức hệ thống sổ kế toán

– Sổ kế toán NSNN dưới dạng biểu mẫu theo quy định gồm sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết, trong đó:

+ Sổ cái là loại sổ tổng hợp dùng để ghi chép các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh trong từng kỳ và cả niên độ kế toán theo nội dung nghiệp vụ.

+ Sổ chi tiết dùng để ghi chép chi tiết các đối tượng kế toán cần thiết theo yêu cầu quản lý.

– Sổ kế toán dưới dạng dữ liệu hệ thống: phản ánh thông tin của kế toán nhà nước áp dụng cho Tabmis được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử của đơn vị. Sổ kế toán dưới dạng dữ liệu trong hệ thống có thể được in ra để sử dụng theo yêu cầu của công tác kế toán.

Việc mở sổ, ghi sổ, khóa sổ kế toán cần thực hiện theo đúng các quy định.

1.2.5. Tổ chức báo cáo kế toán

Hệ thống báo cáo kế toán NSNN được lập để tổng hợp, hệ thống hóa và thuyết minh các chỉ tiêu kinh tế tài chính nhà nước, phản ánh tình hình thu, chi ngân sách trong một kỳ hoặc một niên độ kế toán phục vụ cho việc điều hành kịp thời NSNN các cấp trên phạm vi từng đơn vị và toàn hệ thống. Báo cáo kế toán NSNN bao gồm báo cáo tài chính và báo cáo quản trị.

1.2.6. Tổ chức công tác đối chiếu, xác nhận số liệu:

* Đặc điểm công tác đối chiếu, xác nhận số liệu kế toán, thanh toán trong hoạt động kế toán NSNN:

* Trách nhiệm của các cơ quan trong công tác đối chiếu và xác nhận số liệu:

+ Đối với KBNN:

+ Đối với các ĐVSDNS:

+ Đối với các cơ quan quản lý thu, cơ quan ra quyết định xử phạt:

1.2.7 Tổ chức công tác Tổng quyết toán NSNN:

* Thời điểm chốt số liệu để tổng hợp và tổng quyết toán:

* Nguyên tắc xử lý số liệu quyết toán thu chi NSNN:

* Điều kiện khoá sổ quyết toán niên độ:

* Nội dung công việc tổng quyết toán NSNN của KBNN:

* Về xử lý số chênh lệch thu chi ngân sách:

+ Đối với ngân sách trung ương.

+ Đối với ngân sách địa phương.

1.2.8 Tổ chức công tác kiểm tra kế toán:

Kiểm tra kế toán là xem xét, đánh giá việc tuân thủ pháp luật về kế toán, sự trung thực, chính xác của thông tin, số liệu kế toán.

– Mục đích công tác kiểm tra kế toán.

– Yêu cầu của công tác kiểm tra kế toán.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC QUẢNG NAM

2.1. Khái quát về KBNN Quảng Nam

2.1.1. Sự hình thành và phát triển của KBNN Quảng Nam

2.1.2. Tổ chức bộ máy quản lý tại KBNN Quảng Nam

2.1.3. Chức năng nhiệm vụ của KBNN Quảng Nam

Theo quyết định 1399/QĐ-BTC ngày 15 tháng 7 năm 2015 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Kho bạc Nhà nước tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Kho bạc Nhà nước Quảng Nam là tổ chức trực thuộc Kho bạc Nhà nước, có chức năng thực hiện nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật.

2.2. Thực trạng tổ chức công tác kế toán ngân sách nhà nước tại KBNN Quảng Nam.

2.2.1. Thực trạng tổ chức bộ máy kế toán NSNN

KBNN Quảng Nam là đơn vị kế toán hoạt động độc lập, riêng biệt, tuy nhiên về mặt nghiệp vụ vẫn phải chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của KBNN. Bộ máy kế toán NSNN được tổ chức thành Phòng Kế toán nhà nước tại KBNN Quảng Nam và chuyên viên thực hiện công tác kế toán nhà nước tại KBNN huyện, thành phố, thị xã.

Công tác Kế toán ngân sách nhà nước được chia thành các nhiệm vụ: Kế toán thu; Kế toán kiểm soát chi; Kế toán thanh toán; Kế toán thực hiện thu chi tiền mặt; Kế toán tổng hợp.

2.2.2. Thực trạng tổ chức hệ thống chứng từ kế toán

– Hệ thống Chứng từ thu NSNN.

– Hệ thống Chứng từ chi NSNN

– Hệ thống các mẫu chứng từ theo các văn bản khác.

Tổ chức tiếp nhận, thanh toán chứng từ tại KBNN Quảng Nam thực hiện quy trình giao dịch một cửa, theo cơ chế “một cửa một giao dịch viên” trong kiểm soát chi NSNN (người giải quyết hồ sơ kiểm soát chi đồng thời là người tiếp nhận hồ sơ), trên nguyên tắc: Khách hàng chỉ gặp một cán bộ KBNN trong việc giải quyết hồ sơ kiếm soát chi, việc yêu cầu bổ sung hồ sơ chỉ được thực hiện không quá một lần trong suốt quá trình giải quyết hồ sơ, cụ thể:

– Kiểm tra chứng từ chi NSNN (kiểm soát chi)

+ Tiếp nhận hồ sơ:

+ Giải quyết hồ sơ:

+ Trả kết quả giải quyết hồ sơ:

– Kiểm tra chứng từ thu NSNN:

KBNN Quảng Nam tổ chức thu NSNN thông qua công tác phối hợp thu với các ngân hàng thương mại chi nhánh tại từng huyện cho 18 KBNN huyện, và tại KBNN theo quy trình, thủ tục đơn giản, thống nhất, kết quả trả ngay cho người nộp (không tổ chức bộ phận trung gian tiếp nhận hồ sơ).

Về tổ chức lưu trữ chứng từ kế toán: Việc lưu trữ chứng từ kế toán tại KBNN Quảng Nam được thực hiện theo Quyết định 858/QĐ-KBNN ngày 15/10/2014 của Tổng Giám đốc KBNN.

2.2.3 Thực trạng tổ chức hệ thống tài khoản kế toán

Hệ thống tài khoản kế toán NSNN tại KBNN Quảng Nam và các KBNN huyện được vận dụng đúng chế độ kế toán áp dụng cho TABMIS theo thông tư 77/2017/TT-BTC ngày 28/07/2017 chi tiết theo nhóm tài khoản, tài khoản cấp 1, cấp 2, cấp 3, cấp 4.

Trong hệ thống tài khoản, KBNN Quảng Nam cũng như các KB huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Nam không sử dụng hết các tài khoản trên hệ thống tài khoản như:

– Tất cả các KBNN trên địa bàn không sử dụng TK nhóm 1200: “ Đầu tư tài chính ngắn hạn”

– KBNN huyện không sử dụng TK 3921: “Thanh toán bù trừ” như ở Văn phòng KBNN Quảng Nam mà sử dụng tài khoản 1191, 1192,1193,1194 hạch toán thẳng vào tài khoản thanh toán song phương điện tử với các ngân hàng thương mại; không mở chi tiết hơn các tài khoản.

Vận dụng tài khoản kế toán trong một số nghiệp vụ kinh tế chủ yếu:

(1) Kế toán thu NSNN:

(2) Kế toán chi NSNN:

(3) Kế toán Thanh toán

(4) Kế toán thanh toán liên kho bạc:

2.2.4. Thực trạng tổ chức hệ thống sổ sách kế toán

Các KBNN thuộc KBNN Quảng Nam đều tổ chức ghi sổ và sử dụng sổ giống nhau và theo đúng quy định. Các chứng từ sau khi được nhập trên hệ thống tự động đổ số liệu vào các sổ.

2.2.5. Thực trạng tổ chức báo cáo kế toán

Hệ thống báo cáo trong công tác kế toán NSNN tại KBNN Quảng Nam áp dụng theo thông tư 77/2017/TT-BTC ngày 28/07/2017 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Các báo cáo được tự động lập trên hệ thống TABMIS trên cơ sở các dữ liệu đã được nhập vào hệ thống. Các báo cáo do kế toán tổng hợp lập được kế toán trưởng kiểm tra lại và trình ban giám đốc kiểm tra, ký duyệt. Hệ thống báo cáo kế toán KBNN và nghiệp vụ KBNN bao gồm: báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị.

2.2.6 Thực trạng công tác đối chiếu xác nhận số liệu

Đối chiếu trong lĩnh vực chi thường xuyên:

Chuyên viên được phân công đối chiếu và xác nhận số liệu với ĐVSDNS, sau khi đối chiếu khớp đúng số liệu của đơn vị, ký xác nhận và chuyển cho Kế toán trưởng hoặc người được ủy quyền ký vào bản xác nhận đối chiếu. Trường hợp phát hiện chênh lệch khi đối chiếu phải tìm nguyên nhân báo cáo kịp thời cho Lãnh đạo có thẩm quyền để có ý kiến chỉ đạo xử lý,

Đối chiếu trong lĩnh vực chi đầu tư XDCB:

Phương thức đối chiếu trong lĩnh vực chi đầu tư XDCB giữa KBNN Quảng Nam và ĐVSDNS/Chủ đầu tư là đối chiếu, xác nhận số liệu chi tiết của từng dự án.

Đối chiếu trong lĩnh vực quản lý thu NSNN:

Hàng ngày, các khoản thu NSNN được đối chiếu thông qua bảng kê điện tử Văn phòng KBNN tỉnh và các huyện gửi cho cơ quan quản lý thu. Phương pháp đối chiếu số liệu thanh toán trong lĩnh vực thu NSNN được thực hiện thông qua bảng kê điện tử do KBNN truyền sang cơ quan quản lý thu vào buổi sáng hàng ngày.

Đối chiếu trong lĩnh vực quản lý thu phạt VPHC:

Định kỳ hàng tháng, giữa KBNN và cơ quan ra quyết định xử phạt VPHC đối chiếu thông qua Bảng kê thu phạt chi tiết theo từng cơ quan ra quyết định xử phạt.

Đối chiếu và xác nhận số liệu tại các NHTM:

Đối với hoạt động đối chiếu và xác nhận số liệu tại các NHTM hiện nay đã ứng dụng CNTT và tự động hoá công đoạn này, đến ngày cuối tháng, sau khi ngân hàng khoá sổ tháng, hệ thống ứng dụng của NHTM sẽ tự động gửi thông báo số dư qua địa chỉ thư điện tử hoặc gửi tin nhắn qua điện thoại cho Chủ tài khoản và kèm theo quy định sau 03 ngày làm việc mà chủ tài khoản không phản hồi, không thắc mắc, khiếu nại thì mặc nhiên xác nhận số liệu của ngân hàng đã thông báo là đúng. Công tác đối chiếu này hiệu quả rất cao với chi phí thấp nhất.

2.2.7. Thực trạng công tác tổng quyết toán NSNN:

Hằng năm, đến thời điểm ngày 31/12, hệ thống KBNN Quảng Nam tiến hành công tác khóa sổ quyết toán NSNN niên độ. Thực hiện tất cả các công tác rà soát, kiểm tra số liệu, đối chiếu, xác nhận số thu chi NSNN với các ĐVSDNS, cơ quan tài chính, thuế, hải quan, … đảm bảo theo các nguyên tắc và điều kiện để khóa sổ kế toán NSNN theo quy định tại công văn hướng dẫn khóa sổ quyết toán hằng năm.

Sau thời điểm chỉnh lý quyết toán NSNN theo quy định, KBNN Quảng Nam tiến hành tổng hợp số liệu thu chi phát sinh trong thời gian chỉnh lý quyết toán, số liệu ghi thu, ghi chi theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, … và tiến hành đối chiếu chốt số liệu cuối cùng với các cơ quan thuế, tài chính để làm cơ sở lên các báo cáo quyết toán NSNN trên địa bàn chính thức trình các cấp cơ quan có thẩm quyền.

2.2.8 Thực trạng tổ chức kiểm tra kế toán

Tổ chức công tác kiểm tra kế toán NSNN tại KBNN Quảng Nam được thực hiện theo đúng quy định của luật kế toán, chế độ kế toán ngân sách nhà nước và nghiệp vụ kho bạc. Công tác tự kiểm tra, kiểm tra chéo trong nội bộ đơn vị được tổ chức thường xuyên để có thể phát hiện được những sai sót trong các chứng từ chi: về nội dung chi, các thông tin trên chứng từ có đầy đủ và chính xác, các tài liệu cần lưu theo chứng từ đảm bảo không thừa nhưng cũng không thiếu, thông qua đó có thể điều chỉnh, bổ sung kịp thời các yếu tố cần thiết.

2.3. Đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán tại KBNN Quảng Nam

2.3.1. Kết quả đạt được

– Về tổ chức bộ máy kế toán:

– Về tổ chức chứng từ kế toán:

– Về tổ chức hệ thống tài khoản kế toán:

– Về tổ chức hệ thống sổ kế toán:

– Về tổ chức hệ thống báo cáo kế toán:

– Về tổ chức công tác đối chiếu xác nhận số liệu:

– Về tổ chức công tác tổng quyết toán NSNN:

– Về tổ chức công tác kiểm tra kế toán:

– Về ứng dụng CNTT trong công tác kế toán:

2.3.2. Những vấn đề tồn tại và nguyên nhân

2.3.2.1. Tồn tại

+ Về tề chức bộ máy:

Tổ chức bộ máy kế toán vẫn còn chưa thực sự khoa học, tối ưu với các quy định pháp lý rõ ràng về trách nhiệm các bộ phận, vị trí tham gia.

+ Việc tổ chức chứng từ kế toán:

Bảng kê chứng từ thanh toán/ tạm ứng (Mẫu số 01) kèm theo Thông tư 39/2016/TT-BTC ngày 01/03/2016 không phù hợp với đặc thù chi của ngân sách xã với nhiều mã ngành kinh tế trong quan hệ ngân sách. Không có dòng tổng tiền, thiếu mã ngành kinh tế dẫn đến một nội dung nhiều mã ngành gây khó khăn cho cán bộ kho bạc khi kiểm tra đối chiếu với Giấy đề nghị thanh toán tạm ứng, ứng trước (Mẫu C2-03/NS) chưa thuận tiện trong việc kiểm soát và lưu trữ bảng kê chứng từ.

+ Về tổ chức tài khoản kế toán và kế toán một số nghiệp vụ chủ yếu:

– Việc quản lý, kiểm soát chi đối với các tài khoản tiền gửi ngân sách cấp và tài khoản tiền gửi thu sự nghiệp của các đơn vị sự nghiệp công lập đang đặt ra yêu cầu phải được kiểm soát như tài khoản dự toán, như thế việc chi trả từ tài khoản tiền gửi này có phát sinh tình huống cả thực chi và số phát sinh tạm ứng cần được theo dõi, thu hồi. Với yêu cầu này, hiện tại hệ thống TABMIS chưa đáp ứng được, các khoản phát sinh tạm ứng từ tài khoản tiền gửi thuộc diện phải kiểm soát đang được yêu cầu theo dõi ngoài TABMIS, điều này sẽ rất khó khăn cho kế toán chuyên môn trong quá trình thực hiện, hiệu quả công tác kiểm soát chi khó đạt được mong muốn.

– Việc theo dõi, xử lý các tài khoản tiền gửi có nguồn gốc từ ngân sách của các đơn vị dự toán đang gặp khó khăn về theo dõi niên độ ngân sách để xử lý khi hết thời gian chỉnh lý quyết toán ngân sách. Nếu số dư tài khoản có nguồn gốc từ ngân sách thì hết thời gian chỉnh lý phải nộp trả hoặc hủy bỏ theo quyết định của cấp có thẩm quyền. Tuy nhiên xác định số dư của năm trước rất khó khăn do nằm chung với số tăng giảm của số liệu năm nay.

+ Về tổ chức sổ kế toán:

Một số sổ kế toán thiết kế chưa khoa học, chưa đáp ứng được các yêu cầu khi sử dụng như sổ chi tiết tài khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng trên biểu mẫu S2-02/KB/TABMIS in từ chương trình TABMIS, sổ tiền mặt chưa có các chức danh “Thủ quỹ”, “Giám đốc” và ngày tháng năm theo quy định; Sổ chi tiết tiền gửi ngân hàng cũng không có chức danh “Giám đốc” Do đó để ký đủ các chức danh và thuận tiện trong lưu trữ, hiện kế toán viên phải ghi thêm bằng thủ công.

+ Về tổ chức báo cáo kế toán:

Hệ thống báo cáo được cài đặt sẵn trên hệ thống TABMIS nhưng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu khai thác thông tin như: Bảng cân đối (B9-01/KB) chưa chi tiết đến cấp NS, báo cáo chi thường xuyên bằng hình thức rút dự toán (B5-03/BC-NS/TABMIS) không có chỉ tiêu mã QHNS, … do đó, khi cần những thông tin trên phải lấy từ các báo cáo khác

+ Về tổ chức công tác đối chiếu, xác nhận số liệu và Tổng quyết toán NSNN:

Số lượng mẫu biểu đối chiếu số liệu giữa KBNN và ĐVSDNS còn nhiều, một đơn vị có nhiều tài khoản tiền gửi phải làm đối chiếu riêng từng tài khoản trên 1 mẫu đối chiếu gây tốn kém và phải ký xác nhận nhiều lần.

Công tác tổng quyết toán NSNN hằng năm còn chậm trong khâu xử lý số liệu đối với các khoản ghi thu ghi chi NSNN các cấp, xử lý các khoản thu chi theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền và công tác đối chiếu xác nhận số liệu thu chi NSNN các cấp giữa CQTC, cơ quan Thuế với KBNN còn chậm phát hiện các sai lệch số liệu do hạch toán hoặc tổng hợp nhầm lẫn. Dẫn đến công tác tổng quyết toán luôn trễ thời gian (thường xử lý tổng quyết toán vào gần cuối tháng 12 năm sau).

+ Về ứng dụng CNTT:

CNTT dù có bước tiến vượt trội so với trước đây, nhưng vẫn còn không ít rườm rà, chắp vá về quy trình, ứng dụng. Các quy trình xử lý nghiệp vụ chưa được tích hợp tối ưu, còn gây khó khăn và vất vả cho công chức nghiệp vụ. Lợi ích của điện tử hóa trong công tác xử lý, lưu trữ chứng từ, tài liệu chưa được tận dụng có hiệu quả. Đó là chưa kể đến hiệu năng xử lý đôi khi còn chưa được kịp thời như mong muốn, nhất là khi KBNN triển khai dịch vụ công điện tử trên nền internet với việc các đơn vị giao dịch tham gia trực tiếp sử dụng dịch vụ của KBNN.

2.3.2.2. Nguyên nhân

– Nguyên nhân khách quan

– Nguyên nhân chủ quan

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC QUẢNG NAM

3.1. Định hướng phát triển KBNN Quảng Nam và quan điểm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại KBNN Quảng Nam

3.1.1. Định hướng phát triển KBNN Quảng Nam

3.1.2.Quan điểm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán

3.2. Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại KBNN Quảng Nam

3.2.1. Nội dung các giải pháp

Đối với bộ máy kế toán KBNN:

Trên cơ sở vị trí việc làm của từng cán bộ kế toán tiến hành rà soát nghiên cứu cụ thể yêu cầu, khối lượng công việc tại từng Kho bạc trên địa bàn để có sự bố trí cán bộ kế toán thích hợp, tránh trường hợp nơi thừa, nơi thiếu kế toán dẫn đến công việc quá tải, không mang lại năng suất trong công việc.

– Sắp xếp cán bộ phù hợp với từng công việc nhằm phát huy hết khả năng, sở trường của mỗi người. Cần có sự luân chuyển cán bộ giao dịch với khách hàng (2 đến 3 năm phải luân chuyển sang công việc khác) để giúp họ có thể biết nhiều phần hành nghiệp vụ, vừa để kiểm soát công việc cũng như hạn chế sự thông đồng đối với đơn vị thụ hưởng ngân sách làm thất thoát tài sản nhà nước.

Đối với hệ thống Chứng từ kế toán:

– Bảng kê chứng từ thanh toán/tạm ứng – Mẫu số 01 nên bổ sung thêm dòng tổng số tiền và cột mã ngành kinh tế để phù hợp với các khoản chi ngân sách xã (cụ thể như Phụ lục 11). Vì một nội dung kinh tế nhưng nhiều mã ngành khác nhau thì lại gộp chung, gây khó khăn khi kiểm soát chứng từ và đối chiếu với hạch toán kế toán.

– Giải pháp bổ sung thêm cột nội dung thanh toán vào mẫu C2-03/NS (Giấy đề nghị thanh toán tạm ứng, ứng trước) để thuận tiện trong việc kiểm soát và lưu trữ chứng từ (cụ thể như Phụ lục 12). Khi có nội dung thanh toán sẽ rõ thanh toán cho nhiệm vụ chi gì và chứng từ cần thiết lưu là gì từ đó giúp cho công tác kiểm soát và kiểm tra chứng từ lưu sau này.

– Góp ý với KBNN xây dựng, bổ sung bảng liệt kê chứng từ trên hệ thống Tabmis cho phù hợp: bổ sung các chức danh “Kế toán” và “Kế toán trưởng” trên bảng liệt kê chứng từ trên phân hệ cam kết chi chương trình TABMIS (Mẫu S2-06/KB/TABMIS); Bảng liệt kê danh sách mã nhân viên nhập chứng từ (Mẫu 01MNV-TABMIS); Bảng kê yêu cầu thanh toán hủy đảo trong ngày (Mẫu C6-17/KB) để đáp ứng được yêu cầu kiểm tra, lưu trữ.

Đối với tài khoản kế toán:

+ Đối với tài khoản tiền gửi:

– Nên bổ sung thêm tài khoản trung gian để hạch toán theo dõi số dư tạm ứng của tài khoản tiền gửi. Khi phát sinh khoản tạm ứng của tài khoản tiền gửi thì không hạch toán tài khoản đối ứng là tiền mặt, thanh toán song phương, thanh toán liên kho bạc, … mà hạch toán qua TK trung gian có đoạn mã QHNS tương ứng của đơn vị. Sau đó mới hạch toán từ tài khoản trung gian qua tài khoản đối ứng đúng.

– Cần bổ sung quy định các mã về niên độ ngân sách của tài khoản tiền gửi để hạch toán vào mã dự phòng trong tổ hợp tài khoản để phân biệt niên độ ngân sách phục vụ công tác xử lý quyết toán. Từ đó thuận lợi cho công tác quản lý, kiểm soát thanh toán và xử lý cuối năm đối với tài khoản tiền gửi có nguồn gốc ngân sách.

+ Đối với các tài khoản trung gian:

Cần có quy định rõ ràng cách sử dụng các tài khoản trung gian trong các nghiệp vụ theo hướng phân tích nghiệp vụ để tiện hạch toán và tìm sai, cụ thể: TK 1392 chỉ dùng để hạch toán trung gian các khoản thu NS, TK 1393 chỉ dùng đế hạch toán các khoản thu hộ KB khác, TK 3392 chỉ dùng để hạch toán từ phân hệ AP, ngoài ra thêm một số mã hiệu tài khoản trung gian khác để dùng trong các trường hợp khác.

Đối với các phần hành kế toán chủ yếu:

– Kế toán thu NSNN:

– Kế toán chi NSNN:

– Kế toán thanh toán:

Đối với tổ chức sổ kế toán:

Hiện nay trên hệ thống Tabmis sổ chi tiết tiền mặt, tiền gửi (S2-02/KB/Tabmis) còn thiếu các chức danh lãnh đạo, cần kiến nghị hoàn thiện hệ thống sổ, bổ sung thêm các chức danh “Thủ quỹ”, “Giám đốc” trên sổ chi tiết tiền mặt và chức danh “Giám đốc” trên sổ chi tiết tiền gửi ngân hàng, đồng thời bổ sung thêm cột: “Mã kế toán viên nhập bút toán” và các bút toán trên sổ phải được sắp theo mã kế toán viên để kế toán viên lưu trữ chứng từ có thể chấm lại tất cả chứng từ của kế toán viên hạch toán trước khi đóng tập chứng từ.

Đối với báo cáo kế toán:

– Còn tồn tại thiếu các chức danh Ban quản lý kho trên Báo cáo tình hình sử dụng tài khoản tiền (S2-08/KB/Tabmis) khi kiểm kê kho cuối ngày. Cần bổ sung thêm các chức danh “Thủ quỹ”, “Giám đốc” trên báo cáo tiền mặt này vì báo cáo này phục vụ công tác kiểm kê tiền mặt cuối ngày của Ban quản lý kho tại kho bạc, bảo đảm số kế toán và tiền thực tế khớp đúng và ký xác nhận đầy đủ để gắn với trách nhiệm của các thành viên.

– Bảng cân đối kế toán (B9-01/KB) cần có thêm cột mã cấp NS để khi tổng hợp số liệu theo từng tài khoản có thể chi tiết ra số liệu phát sinh của từng cấp ngân sách; Báo cáo tình hình sử dụng dự toán ngân sách (B5- 03/BC-NS/TABMIS) bổ sung thêm chỉ tiêu mã QHNS và báo cáo tình hình sử dụng dự toán ngân sách cấp xã.

Đối với công tác đối chiếu, xác nhận số liệu:

  • Đề nghị thay thế và gộp chung 02 mẫu: Mẫu số 01-SDKP/ĐVDT và Mẫu số 02-SDKP/ĐVDT được ban hành theo Thông tư số 61/2014/TT-BTC thành một mẫu duy nhất: Mẫu số 01-THSDKP/ĐVDT theo thiết kế và phương pháp lập, tổng hợp số liệu tại Phụ lục số 13 để đảm bảo đầy đủ số liệu, chỉ tiêu cần theo dõi, đối chiếu và xác nhận giữa Kho bạc và đơn vị mở tài khoản.
  • Đề nghị thay thế mẫu Bảng xác nhận số dư tài khoản tiền gửi tại KBNN (Mẫu số: 05-ĐCSDTK/KBNN) bằng một mẫu duy nhất: (Mẫu số: 01-SDTK/KBNN): XÁC NHẬN SỐ DƯ TÀI KHOẢN TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC (chi tiết theo phụ lục số 14). Thay đổi và gộp chung nhiều mẫu đối chiếu theo từng tài khoản (nếu đơn vị có mở nhiều tài khoản tại Kho bạc) bằng một mẫu duy nhất Mẫu số: 01-SDTK/KBNN áp dụng cho các tài khoản tiền gửi của đơn vị’
  • Đối với công tác tổng quyết toán NSNN hằng năm:

Để tổng hợp chốt số liệu quyết toán được kịp thời, nhanh chóng, chính xác thì KBNN các cấp chủ động gửi các báo cáo quyết toán thu, chi NSNN các cấp đến cơ quan Thuế, CQTC cùng cấp để xác nhận sơ bộ số liệu thu chi từng thời điểm. Thời điểm gửi lần 1 là sau khi thời gian chỉnh lý quyết toán, chuyển nguồn ngân sách các cấp xong đến 31/03 hằng năm. Thời điểm lần 2 là sau khi điều chỉnh sai sót, hạch toán bổ sung các bút toán thu chi NSNN các cấp còn thiếu qua đối chiếu xác nhận lần 1 và chốt số liệu cuối cùng chậm nhất đến 30/6 hằng năm để tiến hành các bước tiếp theo để trình Hội đồng nhân dân các cấp kịp thời ra các nghị quyết để KBNN tiến hành xử lý nghiệp vụ tổng quyết toán NSNN hằng năm.

Đối với ứng dụng CNTT:

Cần đầu tư thêm về hệ thống thiết bị công nghệ thông tin với dung lượng thật lớn. Cải tiến và nâng cao hiệu suất hệ thống trong việc thực hiện các quy trình nghiệp vụ như chuyển dữ liệu từ các phân hệ lên phân hệ sổ cái, kết sổ và khai thác các báo cáo để tiết kiệm thời gian, đáp ứng kịp thời các yêu cầu về số liệu cần thiết và công tác lưu trữ, đặc biệt trong các chương trình giao diện với TABMIS như thanh toán song phương, TCS.

Một số giải pháp khác

– Mở rộng triển khai dịch vụ công trực tuyến của KBNN tại từng địa phương nhằm thực hiện cải cách thủ tục hành chính, công khai minh bạch trong thực hiện quy trình nghiệp vụ, rút ngắn thời gian thanh toán cũng như thời gian, chi phí đi lại của khách hàng đến giao dịch tại kho bạc.

– Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan tài chính và KBNN trong vận hành chương trình TABMIS, vì cơ quan tài chính tham gia trực tiếp vào công tác kế toán NSNN thông qua việc thực hiện công tác quản lý phân bổ và kế toán dự toán chi ngân sách, công tác kiểm soát chi NS và tạo yêu cầu thanh toán thông qua việc nhập lệnh chi tiền; trực tiếp khai thác, sử dụng thông tin trên TABMIS trên cơ sở được phân quyền.

3.2.2 Điều kiện thực hiện các giải pháp

3.2.2.1 Về phía nhà nước

3.2.2.2 Về phía Kho bạc

KẾT LUẬN

Tổ chức công tác kế toán tại KBNN nói chung và KBNN Quảng Nam nói riêng trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay là một bộ phận quan trọng tất yếu. Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng tổ chức công tác kế toán tại KBNN trên địa bàn tỉnh Quảng Nam cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của PGS.TS Lê Đức Toàn, anh chị đồng nghiệp, sự nỗ lực của bản thân, luận văn đã làm sáng tỏ được những vấn đề sau:

Luận văn đã hệ thống hóa các lý luận về tổ chức công tác kế toán nói chung và tổ chức công tác kế toán tại hệ thống KBNN nói riêng. Đồng thời, với quá trình nghiên cứu thực trạng tổ chức công tác kế toán tại KBNN các huyện và văn phòng KBNN Quảng Nam, luận văn đã phản ánh thực tế vận dụng các nội dung về tổ chức công tác kế toán, một số khác biệt giữa KBNN Quảng Nam và các KBNN huyện trực thuộc nói chung.

Qua nghiên cứu lý luận và thực trạng cho thấy những ưu điểm đã đạt được như: công tác kế toán đã được tổ chức theo đúng quy định của Luật kế toán, chế độ kế toán, hướng dẫn của Bộ Tài chính, KBNN; về cơ bản đã đáp ứng được những yêu cầu đối với điều kiện kinh tế xã hội của tỉnh như hiện nay. Tuy nhiên, để thực hiện chiến lược phát triển KBNN thành hệ thống kho bạc điện tử đảm bảo thực hiện tốt các chức năng của KBNN, đặc biệt chức năng tổng kế toán nhà nước và các mục tiêu mà hệ thống KB đã đề ra, trong đó KBNN Quảng Nam là một đơn vị thành viên thì cần có những giải pháp cụ thể có thể thực hiện được trong điều kiện kết hợp các nhân tố bên trong của hệ thống KB và bên ngoài là Nhà nước với khung pháp lý, chính sách để hỗ trợ hệ thống KBNN nói chung và KBNN Quảng Nam nói riêng phát huy được năng lực của mình và hoàn thành tốt nhiệm vụ được Nhà nước, Bộ Tài chính và ngành KB giao. Cụ thể, trong điều kiện vận hành hệ thống Tabmis, cũng như sự phát triển không ngừng của các địa bàn thuộc tỉnh thì yêu cầu đặt ra đối với công tác kế toán tại các KBNN là phải hoàn thiện hơn nữa về tổ chức bộ máy; tổ chức hệ thống chứng từ, sổ sách, báo cáo, ứng dụng công nghệ thông tin, tổ chức về các phần hành kế toán để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của các KBNN trên địa bàn.

Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với thầy giáo hướng dẫn khoa học PGS.TS. Lê Đức Toàn, các anh chị em đồng nghiệp Phòng kế toán nhà nước, Kho bạc Nhà nước huyện, thành phố, thị xã về sự giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn này./.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\NGO QUOC HUY\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *