Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban quản lý phát triển đô thị mới Điện Nam- Điện Ngọc, tỉnh Quảng Nam
Trong tiến trình đổi mới và phát triển hiện nay ở nước ta, nhu cầu về đầu tư xây dựng công trình, cơ sở hạ tầng là rất lớn và cực kỳ cấp thiết, đó là một trong những nhân tố quan trọng trong quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, là tiền đề cho việc phát triển kinh tế, phát triển văn hóa xã hội, thu hút các nguồn lực đầu tư từ bên ngoài trong điều kiện nguồn vốn ngân sách còn hạn hẹp. Hiện nay các địa phương trên cả nước đang bùng nổ nhu cầu đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tuy vậy quá trình quản lý, chất lượng và hiệu quả quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình là rất hạn chế và gặp nhiều khó khăn. Tình trạng đó có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng chủ yếu là do thiếu hoàn thiện trong cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, quy trình quản lý chưa chặt chẽ, tính chuyên nghiệp hoá chưa cao và chất lượng đội ngũ cán bộ trong công tác quản lý các dự án xây dựng chưa đáp ứng được yêu cầu, nguồn lực của Nhà nước trong việc thúc đẩy phát triển đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật chưa nhiều. Việc thu hút các nguồn vốn khác chưa thực hiện tốt…
Trong xu thế chung đó, tỉnh Quảng Nam nói chung và thị xã Điện Bàn nói riêng với lợi thế địa lý hết sức thuận lợi trong việc thu hút các dự án về đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật đặc biệt là cơ sở hạ tầng kỹ thuật các khu đô thị đã có những việc làm cụ thể từ rất sớm(năm 1999 phê duyệt QH chi tiết đô thị mới Điện Nam – Điện Ngọc) để thu hút các dự án này. Cùng với sự quan tâm rất lớn từ chính phủ(đã phê duyệt Qui hoạch chung Đô thị mới Điện Nam-Điện Ngọc) tỉnh cũng đã phê duyệt qui hoạch phân khu ba giai đoạn của Đô thị mới đồng thời ban hành nhiều chủ trương, chính sách, chương trình, cơ chế phục vụ cho việc thu hút đầu tư cũng như quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và đã tổ chức triển khai thực hiện trong nhiều năm qua(2003), qua đó đã góp phần phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội của đô thị tại khu vực, làm thay đổi từng ngày bộ mặt của năm phường vùng cát thị xã Điện Bàn, góp phần nâng cao đời sồng nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội khu vực Bắc Quảng Nam nói riêng, tỉnh Quảng Nam nói chung. Đối với thị xã Điện Bàn, đặc biệt là Đô thị mới Điện Nam – Điện Ngọc có vị trí rất quan trọng trong giao thương phát triển kinh tế xã hội của cả tỉnh, vì vậy việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trên địa bàn đô thị mới cũng càng trở nên cấp thiết hơn.
Tuy chất lượng quản lý các dự án đầu tư xây dựng ở thị xã Điện Bàn, Quảng Nam trong những năm trở lại đây đã có nhiều thay đổi tích cực, nhưng chuyển biến chưa mạnh, chưa đáp ứng hoàn toàn mong đợi của ban quản lý dự án, của chủ đầu tư, của người dân và yêu cầu của các cấp quản lý. Công tác quản lý các dự án đầu tư xây dựng công trình của Ban quản lý phát triển đô thị mới Điện Nam – Điện Ngọc (Ban quản lý) vẫn còn một số vấn đề bất cập, thiếu xót nên việc hoàn thiện hệ thống quản lý và xây dựng giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý là rất cần thiết. Vấn đề này cần phải có nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ khoa học để đề xuất một số giải pháp đồng bộ, góp phần nâng cao năng lực quản lý dự án phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu chung của đô thị Điện Nam – Điện Ngọc trong sự phát triển chung của tỉnh Quảng Nam.
Học viên hiện đang công tác tại BQL, sau khi tiếp thu kiến thức từ khóa học cao học quản trị kinh doanh, tôi nhận thấy cần thiết phải lựa chọn thực hiện đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban quản lý phát triển đô thị mới Điện Nam- Điện Ngọc, tỉnh Quảng Nam” làm hướng nghiên cứu cho luận văn, với những lý do chính yếu nêu trên đã cho thấy sự cần thiết để nghiên cứu đề tài này.
Đánh giá thực trạng, tình hình quản lý dự án (QLDA) đầu tư xây dựng (ĐTXDCT) của Ban quản lý phát triển đô thị mới Điện Nam- Điện Ngọc, tỉnh Quảng Nam. Qua đó đánh giá năng lực quản lý của BQLPT, những kết quả đạt được, cũng như những tồn tại, hạn chế, vướng mắc hiện đang gặp phải trong thực tế và phân tích nguyên nhân của những tồn tại này.
Xác định một số nhiệm vụ trọng tâm trong quản lý dự án đầu tư xây dựng, hoạch định và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý dự án đầu tư xây dựng, hoàn thiện một số vấn đề trong quản lý bao gồm các giải pháp nhằm tăng cường thể chế quản lý dự án, vận dụng các kỹ thuật, công nghệ và ứng dụng một số công cụ phần mềm trong quá trình quản lý các dự án trong thời gian tới.
Một số phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn:
- Phương pháp luận: đề tài dựa trên phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, vận dụng hướng tiếp cận về lý thuyết dự án, quản lý dự án trong tình hình hiện nay.
- Phương pháp thu thập, tổng hợp, phân tích tài liệu: thu thập, tổng hợp số liệu thống kê, các tài liệu liên quan đã có từ Ban Quản lý phát triển đô thị mới Điện Nam – Điện Ngọc, tỉnh Quảng Nam.
- Phương pháp phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung: thực hiện với đối tượng chủ yếu là cán bộ Ban Quản lý phát triển đô thị mới Điện Nam- Điện Ngọc, tỉnh Quảng Nam, các chủ đầu tư dự án và một số người dân có liên quan.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu là Ban Quản lý phát triển đô thị mới Điện Nam- Điện Ngọc, tỉnh Quảng Nam
- Phạm vi nghiên cứu bao gồm tất cả dự án đầu tư xây dựng trực thuộc quản lý của Ban Quản lý phát triển đô thị mới Điện Nam- Điện Ngọc, tỉnh Quảng Nam.
Kết quả dự kiến đạt được của luận văn:
- Nắm được cơ sở lý luận, lý thuyết về dự án, dự án đầu tư xây dựng, quản lý dự án đầu tư xây dựng trong tình hình mới.
- Đánh giá được thực trạng vấn đề quản lý dự án đầu tư xây dựng của Ban Quản lý phát triển đô thị mới Điện Nam- Điện Ngọc, tỉnh Quảng Nam, những kết quả đã đạt được và những hạn chế, khó khăn, khiếm khuyết đang còn tồn tại.
- Xây dựng, hoạch định được một số giải pháp cụ thể nhằm khắc phục khó khăn, hoàn thiện năng lực quản lý dự án đầu tư xây dựng của Ban Quản lý phát triển đô thị mới Điện Nam- Điện Ngọc, tỉnh Quảng Nam.
Ngoài mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
- Chương 1: Lý luận về dự án và quản lý dự án.Chương một của luận văn tập trung tìm hiểu một số cơ sở lý luận về dự án, quản lý dự án, quản lý dự án đầu tư xây dựng, những nội dung này sẽ là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài.
- Chương 2: Đánh giá thực trạng quản lý dự án đầu tư xây dựng của Ban quản lý phát triển đô thị mới Điện Nam- Điện Ngọc, tỉnh Quảng Nam.Trong chương hai, luận văn tiến hành nghiên cứu, đánh giá thực trạng, năng lực quản lý dự án đầu tư xây dựng của Ban Quản lý phát triển đô thị mới Điện Nam- Điện Ngọc, tỉnh Quảng Nam, những kết quả đạt được, cũng như những tồn tại, hạn chế, đang phải đối mặt của BQLPT.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Ban Quản lý phát triển đô thị mới Điện Nam- Điện Ngọc, tỉnh Quảng Nam.Từ những kết quả đã nghiên cứu và đánh giá ở chương 2, luận văn sẽ lấy đó làm cơ sở để tập trung hoạch định giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lực quản lý dự án xây dựng của BQLPT
.
LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN
Theo xu hướng phát triển chung của xã hội, trong những năm gần đây, khái niệm “dự án” và “quản lý dự án” đã trở nên quen thuộc đối với các nhà kinh tế và nhà quản lý các cấp. Ngày càng có nhiều hoạt động đầu tư của các tổ chức Nhà nước, doanh nghiệp dưới hình thức dự án. Việc quản lý, vận hành dự án từ đó cũng trở nên cấp thiết bởi tính quan trọng của dự án trong việc thực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, các dự án đầu tư xây dựng công trình phục vụ sản xuất kinh doanh và an sinh xã hội. Vì vậy, để xác định rõ dự án và quản lý dự án là gì, chương một của luận văn sẽ tập trung tìm hiểu một số khái niệm về dự án, quản lý dự án, quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình, những nội dung này sẽ là cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài của luận văn.
Nhằm tìm hiểu những kiến thức cơ bản về dự án đầu tư, trong mục này luận văn sẽ tìm hiểu các khái niệm về đầu tư, dự án, dự án đầu tư,… qua đó đi sâu phân tích nội dung, đặc điểm của từng khái niệm.
Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. [9]
Qua khái niệm này có thể thấy, đầu tư khác với tiêu dùng (như việc mua sắm cho tiêu dùng và sinh hoạt), đầu tư khác với tích lũy (tích lũy tiền mặt, kim loại quý,…), đầu tư là bỏ chi phí ở hiện tại để đạt được một mục tiêu, kết quả, một khoản lợi nhuận trong tương lai. Kết quả nhận được trong tương lai chính là sự mong đợi, mục tiêu ở hiện tại. Vì vậy, nói một cách khác, đầu tư là việc sử dụng phối hợp các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng ban đầu. [14]
Trong thực tế, có rất nhiều hình thái biểu hiện cụ thể của đầu tư. Tùy từng góc độ tiếp cận với những đặc điểm khác nhau người ta cũng có thể có các cách phân chia hoạt động đầu tư khác nhau. Một trong những tiêu chíthường được sử dụng đó là tiêu chí quan hệ quản lý của chủ đầu tư. Theo quan hệ quản lý, đầu tư được chia thành đầu tư gián tiếp và đầu tư trực tiếp.
- Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kết quả đầu tư. Chẳng hạn như nhà đầu tư thực hiện hành vi mua các cổ phiếu hoặc trái phiếu trên thị trường chứng khoán thứ cấp. Trong trường hợp này nhà đầu tư có thể được hưởng các lợi ích vật chất (như cổ tức, tiền lãi trái phiếu), lợi ích phi vật chất (quyền biểu quyết) nhưng không được tham gia quản lý trực tiếp tài sản mà mình bỏ vốn đầu tư.
- Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện công việc. Đầu tư trực tiếp lại bao gồm đầu tư dịch chuyển và đầu tư phát triển. Đầu tư dịch chuyển là một hình thức đầu tư trực tiếp trong đó việc bỏ vốn là nhằm dịch chuyển quyền sở hữu giá trị của tài sản. Thực chất trong đầu tư dịch chuyển không có sự gia tăng giá trị tài sản. Chẳng hạn như nhà đầu tư mua một số lượng cổ phiếu với mức khống chế để có thể tham gia hội đồng quản trị một công ty, các trường hợp thôn tính, sáp nhập doanh nghiệp trong cơ chế thị trường. Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp, hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và đời sống sinh hoạt của xã hội. Đây là hình thức đầu tư tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, đơn vị sản xuất và cung ứng dịch vụ. Hình thức đầu tư này đóng vai trò rất quan trọng đối với tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế tại mỗi địa phương hay của quốc gia. [9]
Trong các hình thức đầu tư trên thì đầu tư phát triển là tiền đề, cơ sở cho các hoạt động đầu tư khác và nó cũng là cơ sở nghiên cứu cho đề tài này của luận văn. Chính vì vậy, khái niệm đầu tư trong phạm vi luận văn này sẽ được tiếp cận dưới góc độ của đầu tư phát triển.
Vì một quá trình đầu tư là rất phức tạp, do vậy để đảm bảo cho một quá trình đầu tư được thực hiện một cách tốt nhất thì việc thực hiện phải có một tiến trình chặt chẽ, có hệ thống và phương pháp cụ thể để thực hiện. Quá trình đầu tư thông thường được phân thành 3 giai đoạn lớn như sau:
- Giai đoạn chuẩn bị đầu tư: Giai đoạn này cần giải quyết các công việc như nghiên cứu sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư. Tiến hành tiếp xúc, thăm dò thị trường trong nước, ngoài nước để xác định nguồn tiêu thụ, khả năng cạnh tranh của sản phẩm, tìm nguồn cung ứng vật tư, thiết bị, vật tư cho sản xuất; xem xét khả năng về nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư. Tiến hành điều tra, khảo sát và lựa chọn địa điểm xây dựng; lập dự án đầu tư. Gửi hồ sơ dự án và văn bản trình đến người có thẩm quyền quyết định đầu tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan thẩm định dự án đầu tư. Giai đoạn này kết thúc khi nhận được văn bản Quyết định đầu tư nếu đây là đầu tư của Nhà nước hoặc văn bản Giấy phép đầu tư nếu đây là của các thành phần kinh tế khác.
- Giai đoạn thực hiện đầu tư: Giai đoạn này gồm các công việc như xin giao đất hoặc thuê đất (đối với dự án có sử dụng đất); xin giấy phép xây dựng nếu yêu cầu phải có giấy phép xây dựng và giấy phép khai thác tài nguyên (nếu có khai thác tài nguyên); thực hiện đền bù giải phóng mặt bằng, thực hiện kế hoạch tái định cư và phục hồi (đối với dự án có yêu cầu tái định cư và phục hồi), chuẩn bị mặt bằng xây dựng. Mua sắm thiết bị, công nghệ; thực hiện việc khảo sát, thiết kế xây dựng; thẩm định, phê duyệt thiết kế và tổng dự toán, dự toán công trình; tiến hành thi công xây lắp; kiểm tra và thực hiện các hợp đồng; quản lý kỹ thuật, chất lượng thiết bị và chất lượng xây dựng; vận hành thử, nghiệm thu quyết toán vốn đầu tư, bàn giao và thực hiện bảo hành sản phẩm.
- Giai đoạn kết thúc xây dựng đưa dự án vào khai thác sử dụng: Giai đoạn này gồm các công việc như nghiệm thu, bàn giao công trình; thực hiện việc kết thúc xây dựng công trình; vận hành công trình và hướng dẫn sử dụng công trình; bảo hành công trình; quyết toán vốn đầu tư; phê duyệt quyết toán. [6]
Có nhiều cách định nghĩa dự án, tùy theo mục đích mà nhấn mạnh một khía cạnh nào đó. Theo nghĩa chung nhất, dự án có thể được định nghĩa như sau: “Dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới.” Theo định nghĩa này thì dự án không chỉ là một ý định phác thảo mà có tính cụ thể và mục tiêu xác định, và dự án không phải là một nghiên cứu trừu tượng mà tạo nên một thực thể mới.
Trên phương diện quản lý, có thể định nghĩa dự án như sau: “Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất.” Định nghĩa này nhấn mạnh hai đặc tính, thứ nhất là nỗ lực tạm thời (hay có thời hạn), nghĩa là mọi dự án đều có điểm bắt đầu và kết thúc xác định, dự án kết thúc khi mục tiêu của dự án đã đạt được hoặc dự án bị loại bỏ. Đặc tính thứ hai, sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất, đó là sản phẩm hoặc dịch vụ khác biệt so với những sản phẩm tương tự đã có hoặc so với các dự án khác.
Từ những định nghĩa khác nhau có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của dự án như sau:
- Dự án có mục đích, kết quả xác định. Tất cả các dự án đều phải có kết quả được xác định rõ. Kết quả này có thể là một tòa nhà, một dây chuyền sản xuất hiện đại hay là chiến thắng của một chiến dịch vận động tranh cử vào một vị trí chính trị. Mỗi dự án lại bao gồm một tập hợp nhiều nhiệm vụ cần được thực hiện. Mỗi nhiệm vụ cụ thể lại có một kết quả riêng, độc lập. Tập hợp các kết quả cụ thể của các nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án. Nói cách khác, dự án là một hệ thống phức tạp, được phân chia thành nhiều bộ phận, phân hệ khác nhau để thực hiện và quản lý nhưng phải thống nhất đảm bảo các mục tiêu chung về thời gian, chi phí và việc hoàn thành với chất lượng cao.
- Dự án có chu kỳ phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn. Dự án là một sự sáng tạo, trải qua các giai đoạn hình thành, phát triển, có thời điểm bắt đầu và kết thúc. Khi dự án kết thúc, kết quả dự án sẽ được chuyển giao cho bộ phận quản lý vận hành.
- Sản phẩm của dự án mang tính độc lập. Khác với quá trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạt, mà có tính khác biệt cao. Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất, hầu như không lặp lại. Tuy nhiên cũng có nhiều dự án khác, tính duy nhất ít rõ ràng hơn và bị che đậy bởi tính tương tự giữa chúng. Nhưng điều khẳng định là chúng vẫn có thiết kế khác nhau, vị trí và khách hàng khác nhau.
- Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phận quản lý chức năng và quản lý dự án. Dự án nào cũng có sự tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý nhà nước. Tùy theo tính chất của dự án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác nhau. Giữa các bộ phận quản lý chức năng và bộ phận quản lý dự án thường xuyên có quan hệ với nhau và cùng phối hợp thực hiện nhiệm vụ nhưng mức độ tham gia của các bộ phận là không giống nhau.
- Tính bất định và độ rủi ro cao. Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định. Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro cao. [17]
- Phân loại theo thời gian
Quy mô và tính chất của các hoạt động của dự án quyết định đến thời giancủa dự án.Quy mô của dự án lớn, các hoạt động của dự án phức tạp đòi hỏi phải có nhiềuthời gian mới hoàn thành được thì thời gian của dự án sẽ dài. Ngược lại quy mô của dựán nhỏ, các hoạt động đơn giản có thể thực hiện và hoàn tất sớm thìthời gian của dự án sẽ ngắn.
- Dự án dài hạn: là dự án kéo dài khoảng 5 năm trở lên. Dự án dài hạn có quy mô lớn, đòi hỏi đầu tư lớn và thu lợi ích lâu dài. Ví dụ: Dự án xây dựng công trình thuỷ điện Sơn La.
- Dự án ngắn hạn: là dự án có khoảng thời gian thực hiện dưới 5 năm. Nó có quy mô vừa phải hoặc nhỏ, đầu tư không lớn, thu lợi ích nhanh và trước mắt. Ví dụ: dự án làm thủy lợi nhỏ ở xã A, dự án xây cầu đường bộ bắc qua sông,…
- Phân loại theo phạm vi tác động
- Dự án phát triển một sản phẩm cho địa phương hoặc doanh nghiệp.
- Dự án phát triển dịch vụ cụ thể: tưới tiêu, bảo vệ thực vật, tín dụng,… nhằm đápứng yêu cầu cho một vùng, một địa phương.
- Dự án cho một đơn vị: là dự án xây dựng hay cải tổ một doanh nghiệp.
- Dự án phát triển tổng hợp trên một vùng, một miền hoặc toàn lãnh thổ về nhiềumặt: kinh tế – xã hội, chuyển giao kỹ thuật do nhiều ngành hợp tác thực hiện trên mộtđịa bàn.
- Phân loại theo quy mô: Phân biệt dự án theo quy mô là căn cứ vào cấp quản lý để xem xét khía cạnh sửdụng nguồn lực và lợi ích mà dự án đem lại, từ đó phân biệt quy mô dự án. Phân loạitheo cách này dự án được chia thành:
- Dự án quốc gia: là dự án có quy mô lớn, do Chính phủ quản lý và điều hành.
- Dự án cấp ngành, địa phương hoặc vùng, miền: là những dự án do ngành hoặcđịa phương (tỉnh) quản lý.
- Dự án cấp cơ sở: là dự án có phạm vi tác động trên một thị xã hoặc một số xã,thôn.
- Phân loại theo mục đích
Căn cứ vào mục đích của dự án, người ta chia dự án thành các loại sau:
- Dự án mang tính chất vụ lợi: là dự án đặt mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận (trongphát triển kinh tế thì dự án này là chủ yếu).
- Dự án phi vụ lợi: là những dự án không lấy hiệu quả hoặc lợi nhuận của vốn đầu tư làm mục đích, mà lấy những lợi ích khác: xã hội, môi trường,… là chủ yếu.
- Dự án mang tích chất trung gian: là dự án đặt cả hai nhiệm vụ kinh tế và xã hội làm mục đích. [16]
Mối quan hệ giữa đầu tư và dự án
Dự án và đấu tư có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mục đích của đầu tư là sinhlợi, khả năng sinh lợi là điều kiện tiên quyết để đầu tư. Mà dự án là tập hợp những hoạtđộng được điều phối chặt chẽ, tập trung để sử dụng nguồn lực giới hạn nhằm đạt tớimục tiêu mong đợi trong tương lai (đối với dự án đầu tư, đó là sinh lợi). Do vậy, đểtránh được những cuộc đầu tư không sinh lợi, để đảm bảo sinh lợi tối đa khi đã bỏ vốnthì đầu tư phải được tiến hành một cách có hệ thống, có phương pháp đó là phươngpháp đầu tư theo dự án. Vì thế, dự án được hiểu như một luận chứng đầy đủ về mọiphương diện của một cơ hội đầu tư, giúp cho đầu tư có đủ độ tin cậy cần thiết. Vì vậy, hiểu theo cách chung nhất thì dự ánchỉ là một công cụ của đầu tư. [16]
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\HUYNH XUAN SON


