HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG DOANH NGHIÊP TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Lý do chọn đề tài:
Trong thời buổi cạnh tranh gay gắt giữa các Ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính nhằm chiếm lĩnh thị phần và tranh giành khách hàng như hiện nay. Mở rộng cơ chế trong hoạt động cấp tín dụng và có những chính sách ưu đãi cho khách hàng là một trong những chiến lược thu hút khách hàng mà các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính đang áp dụng.
Vì thế ngày nay trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn bao giờ hết, nhất là trong họat động cho vay- một hoạt động mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng. Để hạn chế được rủi ro đó, trong quá trình thẩm định để đi đến quyết định cho vay, các ngân hàng thường rất chú trọng đến công tác phân tích tài chính khách hàng. Hoạt động phân tích tài chính khách hàng đóng vai trò hết sức quan trọng, giúp ngân hàng đánh giá tình hình tài chính của khách hàng, ước lượng khả năng sinh lời cũng như mức độ rủi ro của dự án từ đó cân nhắc quyết định có cấp tín dụng cho khách hàng hay không.
Vì vậy hoàn thiện công tác phân tích tài chính khách hàng và nhất là phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp là vấn đề quan trọng hàng đầu cho các Ngân hàng nhằm giảm thiểu rủi ro, nâng cao chất lượng tín dụng, góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế.
Cũng xuất phát từ lý do đó, Được sự chấp thuận của Đại học Duy Tân và giáo viên hướng dẫn, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài: “HOÀN THIỆN CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH KHÁCH HÀNG DOANH NGHIÊP TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG”
2. Mục tiêu nghiên cứu
– Đánh giá thực trạng về công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp phục vụ cho vay tín dụng tại Agribank chi nhánh Quận Liên Chiểu. Qua đó chỉ ra được những kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại trong công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp, thẩm định tài chính, quyết định cho vay và những nguyên nhân chủ yếu.
– Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp phục vụ cho vay tín dụng tại Agribank chi nhánh Quận Liên Chiểu.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp phục vụ hoạt động cho vay tại Agribank chi nhánh Quận Liên Chiểu.
– Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Nghiên cứu được thực hiện tại Agribank chi nhánh Quận Liên Chiểu.
+ Về thời gian: Nội dung phân tích của đề tài chỉ căn cứ vào các dữ liệu năm 2014, 2015.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng phương pháp mô tả và giải thích hiện tượng, thu thập số liệu, kiểm tra hồ sơ vay, phỏng vấn cán bộ tín dụng, quan sát quy trình cho vay tín dụng doanh nghiệp tại Agribank chi nhánh Quận Liên Chiểu. Rút ra kết luận về thực trạng áp dụng công tác phân tích báo cáo tài chính trong quy trình thẩm định tín dụng đối với doanh nghiệp vay tín dụng tại Agribank chi nhánh Quận Liên Chiểu.
5. Kết cấu của đề tài nghiên cứu
– Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại
– Chương 2: Thực trạng công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp phục vụ cho vay tín dụng tại Agribank chi nhánh Quận Liên Chiểu
– Chương 3: Hoàn thiện công tác phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp phục vụ cho vay tín dụng tại Agribank chi nhánh Quận Liên Chiểu
CHƯƠNG 1
MỘt sỐ vẤn đỀ cơ bẢn vỀ phân tích TÀI CHÍNH cỦa khách hàng DOANH NGHIỆP trong HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC nhtm
1.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Ngân hàng thương mại
1.1.1.1. Khái niệm:
Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và hoạt động theo định chế trung gian mang tính chất tổng hợp. Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng, ngân hàng thương mại hình thành trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá. Khi sản xuất phát triển thì nhu cầu trao đổi mở rộng sản xuất giữa các vùng lãnh thổ, giữa các quốc gia tăng lên, để khác phục sự khác biệt về tiền tệ giữa các khu vực thì thì xuất hiện các thương gia làm nghề đổi tiền. Khi trao đổi hàng hoá phát triển quay trở lại kích thích sản xuất hàng hóa. Cùng với sự phát triển đó, các nghiệp vụ được phát triển dần như giữ tiền hộ, chi trả hộ… trên cơ sở đó thực hiện hoạt động tín dụng.
Từ lịch sử hình thành hệ thống ngân hàng thương mại cho thấy, các ngân hàng thương mại chỉ xuất hiện trong điều kiện nền kinh tế đã phát triển đến một trình độ nhất định, dẫn đến tính tất yếu khách quan của việc hình thành hệ thống ngân hàng gắn bó chặt chẽ với sự phát triển kinh tế.
Theo quy định tại điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng Số 47/2010/QH12 được Quốc hội khoá XII thông qua ngày 16/6/2010:
“Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận”
1.1.1.2. Chức năng:
- Trung gian tín dụng
Ngân hàng thương mại một mặt thu hút các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, mặt khác nó dùng chính số tiền đã huy động được để cho vay đối với các thành phần kinh tế trong xã hội, hay nói cách khác là một tổ chức đóng vai trò “cầu nối” giữa các đơn vị thừa vốn với các đơn vị thiếu vốn. Thông qua sự điều chuyển này. ngân hàng thương mại có vai trò quan trong trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng việc làm, cải thiện mức sống dân cư, ổn định thu chi Chính phủ. Đồng thời chức năng này còn góp phần quan trọng trong việc điều hoà lưu thông tiền tệ, kiềm chế lạm phát. Từ đó cho thấy rằng, đây là chức năng cơ bản nhất của ngân hàng thương mại.
- Trung gian thanh toán
Nếu như mọi khoản chi trả của xã hội đều được thực hiện bên ngoài ngân hàng thì chi phí thực hiện là rất lớn, bao gồm: chi phí in, đúc, bảo quản, vận chuyển tiền… Với sự ra đời của ngân hàng thương mại, phần lớn các khoản chi trả trong hoạt động mua bán trao đổi hàng hoá dịch vụ của xã hội dần được thực hiện qua ngân hàng, với những hình thức thanh toán phù hợp, thủ tục đơn giản, nhanh chóng, thuận tiện với công nghệ ngày càng hiện đại hơn. Chính nhờ tập trung công việc thanh toán của xã hội ở ngân hàng nên việc lưu thông hàng hoá dịch vụ trở nên nhanh chóng, an toàn, tiết kiệm hơn. Không những vậy, do thực hiện chức năng trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại có điều kiện huy động tiền gửi của toàn xã hội nói chung và của doanh nghiệp nói riêng tới mức tối đa, tạo nguồn vốn cho đầu tư phát triển, đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
- Chức năng tạo tiền
Xuất phát từ khả năng thay thế lượng tiền giấy bạc trong lưu thông bằng những phương tiện thanh toán khác như séc, uỷ nhiệm chi… Chức năng này được thực hiện thông qua nghiệp vụ tín dụng và đầu tư của hệ thống ngân hàng thương mại, trong mối liên hệ chặt chẽ với hệ thống dự trữ quốc gia. Hệ thống tín dụng là điều kiện cần thiết cho phát triển kinh tế theo hệ số tăng trưởng vững chắc. Mục đích của chính sách dự trữ quốc gia là đưa ra một khối lượng tiền cung ứng phù hợp với chính sách ổn định về giá cả, tăng trưởng kinh tế ổn định và tạo được việc làm.
1.1.2 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Khái niệm:
TDNH là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là người đi vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác, ngân hàng là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm thừa vốn sang nơi thiếu. Giá (lãi suất) của khoản vay do ngân hàng ấn định cho khách hàng vay là mức lợi tức mà khách hàng phải trả trong suốt khoản thời gian tồn tại của khoản vay.
Chủ thể tham gia trong quan hệ TDNH là ngân hàng, nhà nước, doanh nghiệp và hộ dân cư. Đối tượng được sử dụng trong quan hệ tín dụng là tiền, do đó, nó không chịu sự giới hạn theo hàng hoá, vận động đa phương đa chiều. Đây chính là ưu điểm nổi bật và là đặc điểm khác biệt giữa TDNH với các loại hình tín dụng khác.
1.1.2.2. Vai trò của hoạt động tín dụng.
* Đối với nền kinh tế – xã hội : Nếu như trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, TDNH chỉ dừng lại ở vai trò cung cấp vốn cho ngân sách nhà nước thì chuyển sang nền kinh tế thị trường, TDNH đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.
Thứ nhất, TDNH thu hút tập trung nguồn vốn tạm thời của các tổ chức kinh tế và trong dân cư, đồng thời đáp ứng nhu cầu vốn trong nền kinh tế. Hoạt động TDNH chính là cầu nối giữa cung và cầu về vốn trong nền kinh tế quốc dân. Thứ hai, TDNH góp phần kiểm soát khối lƣợng tiền cung ứng trong lƣu thông. Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ TD, NH huy động đƣợc một lƣợng tiền nhàn rỗi trong dân cư và phân phối lại cho các thành phần kinh tế có nhu cầu về vốn. Thông qua hoạt động TD của NHTM, NHNN có thể kiểm soát được lượng tiền cung ứng trong lưu thông và đây là công cụ hữu hiệu để điều hòa vốn cho toàn bộ nền kinh tế.
Thứ ba, TDNH góp phần giúp các DN nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong hoạt động kinh doanh. Qua đó, góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường chế độ hạch toán kinh doanh cũng như triển khai có hiệu quả tiềm năng kinh tế trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ tư, TDNH góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế. NH với tư cách là tổ chức kinh doanh tiền tệ, thông qua hoạt động tín dụng sẽ là cầu nối cho việc giao lưu kinh tế và là phương tiện để thắt chặt mối quan hệ kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới với nhau.
Như vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế, là kênh đáp ứng nhu cầu đầu tư và phát triển kinh tế, góp phần tạo ổn định về tiền tệ, giá cả, tạo công ăn việc làm và đảm bảo an toàn xã hội
Đối với ngân hàng thương mại Ngân hàng là một loại hình kinh doanh vô cùng đặc biệt, kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Hoạt động tín dụng là một trong các hoạt động chính của NHTM. Đây là hoạt động sinh lợi chủ yếu của ngân hàng. Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng có thể tạo dựng và mở rộng các mối quan hệ mới là các khách hàng tín dụng của ngân hàng như cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức….Từ đó, ngân hàng có mở rộng hoạt động huy động vốn, nâng cao chất lượng tín dụng, giúp NH giảm thiểu rủi ro và mang lại lợi nhuận tối đa cho NH.
1.1.2.3. Phân loại:
Hoạt động tín dụng là hoạt động chính của các NHTM. Trong quá trình hoạt động, các NH luôn cố gắng đa dạng hóa các hình thức tín dụng nhằm đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng cũng như nâng cao tính cạnh tranh của ngân hàng. Việc phân loại tín dụng cho phép ngân hàng theo dõi rủi ro và sinh lợi gắn liền lĩnh vực 8 tài trợ để có chính sách mở rộng phù hợp.
Tín dụng ngân hàng có thể phân chia thành nhiều loại khác nhau tùy theo những tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Theo thời hạn cho vay
- Cho vay ngắn hạn: là loại cho vay có thời hạn không quá 12 tháng, thường để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu cá nhân.
- Cho vay trung hạn: là loại cho vay có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng, thường sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên 60 tháng, thường dùng để đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây dựng các công trình dân dụng (nhà ở), công trình công nghiệp (nhà máy, nhà kho, xí nghiệp…) hoặc mua sắm các dây chuyền sản xuất, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn.
- Theo mục đích cho vay: cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng cá nhân, cho vay mua bán bất động sản, cho vay sản xuất nông nghiệp, cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu…
- Theo mức độ tín nhiệm của khách hàng
- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là loại cho vay dựa trên cơ sở các tài sản bảo đảm như: thế chấp, cầm cố tài sản của khách hàng hay có sự bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba.
- Cho vay có bảo đảm không bằng tài sản: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có sự bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba. Việc cho vay này chỉ dựa vào mức độ uy tín của bản thân khách hàng đối với ngân hàng. Ngoài căn cứ vào uy tín của bản thân khách hàng, các ngân hàng thường cấp vốn vay cho khách hàng không có tài sản thế chấp còn căn cứ vào dòng tiền về của phương thức vay vốn.
- Theo phương thức cho vay
- Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng thực hiện các thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: ngân hàng và khách hàng xác định, thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
- Cho vay theo dự án đầu tư: ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
- Cho vay hợp vốn (Đồng tài trợ): Một nhóm TCTD cùng cho vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng, trong đó có một TCTD làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các TCTD khác để thực hiện.
- Cho vay trả góp: Khi vay vốn, TCTD và khách hàng xác định và thỏa thuận số lãi phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời gian cho vay.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: ngân hàng cam kết đảm bảo sẵn sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định. Ngân hàng và khách hàng thỏa thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mức phí phải trả cho hạn mức tín dụng dự phòng.
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: ngân hàng chấp thuận cho khách hàng sử dụng số vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là các đại lý của ngân hàng.
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng trong phạm vi hạn mức tín dụng.
- Theo phương thức hoàn trả nợ vay
- Cho vay trả nợ một lần: là loại cho vay thanh toán một lần theo thời hạn đã thỏa thuận.
- Cho vay nhiều kỳ hạn trả nợ: cụ thể là hình thức cho vay mà khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi theo định kỳ. Loại cho vay này chủ yếu được áp dụng trong cho vay tiêu dùng và cho vay dự án đầu tư.
- Cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn trả nợ cụ thể mà việc trả nợ phụ thuộc vào tình hình tài chính của người đi vay.
1.1.3. Hoạt động tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại
1.1.3.1. Đặc điểm của tín dụng doanh nghiệp.
Chủ thể kinh tế được cấp tín dụng rất phong phú về loại hình tổ chức, về trình độ phát triển, hoạt động ở mọi ngành nghề. Số lượng món vay nhiều nên đã tạo ra nguồn thu khá lớn cho ngân hàng, đồng thời qua đó cũng phân tán được rủi ro. Khách hàng là DN phân tán trên những khu vực thị trường khác nhau. Nhu cầu của DN rất đa dạng cả về quy mô vốn tín dụng mong muốn, hình thức tín dụng mong muốn và thời điểm có nhu cầu vốn tín dụng.
1.1.3.2 Vai trò của tín dụng doanh nghiệp:
– Tín dụng ngân hàng bổ sung một phần vốn còn thiếu để duy trì quá trình sản xuất và đáp ứng nhu cầu phát triển của DN. Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy mạnh mẽ hỗ trợ sự ra đời và phát triển của DN . Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện cho DN hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng thị trường nước ngoài. Thông qua các hình thức tín dụng các ngân hàng hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh, giảm thiểu các rủi ro tránh cho các doanh nghiệp bị lừa đảo.
1.2. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA NHTM
1.2.1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp:
Phân tích tài chính doanh nghiệp là việc thu thập, phân tích các thông tin kế toán và các thông tin khác để đánh giá thực trạng và xu hướng tài chính, khả năng tiềm lực của doanh nghiệp nhằm mục đích đảm bảo an toàn vốn tín dụng
1.2.1. Mục tiêu phân tích tài chính khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại
Phân tích tài chính bao gồm việc đánh giá các điều kiện tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, ở hiện tại và trong tương lai. Mục tiêu của việc phân tích tài chính nhằm phát hiện những biểu hiện không lành mạnh trong vấn đề tài chính có thể ảnh hưởng đến tương lai phát triển của doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, các loại hình sở hữu khác nhau…Vì vậy, có nhiều đối tượng quan tâm đến tình hình tài chính doanh nghiệp. Những nhà phân tích ở cương vị khác nhau sẽ hướng tới các mục tiêu khác nhau. Cụ thể như sau:
Nhà quản trị phân tích tài chính nhằm đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xác định điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp. Đó là cơ sở để định hướng các quyết định của ban Tổng giám đốc, Giám đốc tài chính, dự báo tài chính: kế hoạch đầu tư, ngân quỹ và kiểm soát các hoạt động quản lý.
Nhà đầu tư cần biết tình hình thu nhập của chủ sở hữu, lợi tức cổ phần và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư. Họ quan tâm tới phân tích tài chính để nhận biết khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Đó là một trong những căn cứ để họ quyết định bỏ vốn vào doanh ngiệp hay không.
Người cho vay phân tích tài chính để nhận biết khả năng vay và trả nợ của khách hàng. Chẳng hạn, để quyết định cho vay, một trong những vấn đề mà người cho vay cần xem xét là doanh nghiệp thực sự có nhu cầu vay hay không, khả năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào.
Ngoài ra, phân tích tài chính cũng rất cần thiết đối với người hưởng lương trong doanh nghiệp, đối với cán bộ thuế, thanh tra, cảnh sát hình sự, luật sư… Như vậy, mối quan tâm hàng đầu của các nhà phân tích tài chính là đánh giá khả năng xảy ra rủi ro phá sản tác động tới các doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là khả năng thanh toán, khả năng cân đối vốn, khả năng hoạt động cũng như khả năng sinh lãi của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, các nhà phân tích tài chính tiếp tục nghiên cứu và đưa ra những dự đoán về kết quả hoạt động nói chung và mức doanh lợi nói riêng của doanh nghiệp trong tương lai.
Đối với các ngân hàng thương mại, việc tiến hành phân tích tài chính khách hàng nhằm mục đích sau:
– Nhằm giúp các ngân hàng thương mại có quyết định đầu tư đúng đắn.
- Góp phần xác định khả năng thanh toán của khách hàng, làm cơ sở cho khả năng thu hồi lãi và vốn vay của các ngân hàng.
- Nhằm xác định rõ triển vọng quan hệ của ngân hàng với khách hàng trong tương lai.
- Làm cơ sở cho việc đánh giá xếp loại tín dụng và có biện pháp trích, phòng ngừa hợp lý.
1.3. THÔNG TIN PHỤC VỤ CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA KHÁCH HÀNG TỪ PHẠM VI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1. Thông tin bên trong
1.3.1.1 Bảng cân đối kế toán :
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính chủ yếu phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp theo giá trị tài sản và nguồn hình thành tài sản tại một thời điểm nhất định (cuối quý, cuối năm). Việc so sánh giữa số liệu của hai thời điểm khác nhau trên bảng cân đối kế toán cũng có thể cho thấy sự biến động khái quát của tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp trong kỳ. Căn cứ vào số liệu về tổng tài sản và kết cấu tài sản hiện có của doanh nghiệp, ngân hàng đánh giá được một cách tổng quát quy mô tài sản, năng lực và trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp. Tỷ lệ, kết cấu của từng nguồn vốn trong tổng nguồn vốn hiện có phản ánh tính chất hoạt động, thực trạng tài chính của doanh nghiệp.
Được kết cấu dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế toán và được sắp xếp trật tự các chỉ tiêu theo yêu cầu quản lý. BCĐKT được chia làm 2 phần (có thể kết cấu theo kiểu hai bên hoặc một bên) là phần “Tài sản” và phần “Nguồn vốn”.
Phần “Tài sản” phản ánh toàn bộ giá trị tài sản hiện có của DN đến cuối kỳ kế toán đang tồn tại dưới dạng các hình thái và trong tất cả các giai đoạn, các khâu của quá trình kinh doanh. Các chỉ tiêu phản ánh trong phần tài sản được sắp xếp theo nội dung kinh tế của các loại tài sản của DN trong quá trình tái sản xuất.
Về mặt kinh tế: số liệu các chỉ tiêu phản ánh bên “Tài sản” thể hiện giá trị tài sản theo kết cấu hiện có tại DN đến thời điểm lập báo cáo như TSCĐ, vật liệu, hàng hóa, tiền tệ (tiền mặt tại quỹ, tiền gửi Ngân hàng,…), các khoản đầu tư tài chính hoặc dưới hình thức nợ phải thu ở tất cả các khâu, các giai đoạn trong quá trình SXKD (thu, mua, sản xuất, tiêu thụ, …). Căn cứ vào nguồn số liệu này, trên cơ sở tổng số tài sản và kết cấu tài sản hiện có mà đánh giá một cách tổng quát quy mô tài sản, năng lực và trình độ sử dụng vốn của DN.
Về mặt pháp lý: số liệu của các chỉ tiêu bên “Tài sản” phản ánh toàn bộ tài sản hiện có đang thuộc quyền quản lý, quyền sử dụng của DN.
Phần “Nguồn vốn” phản ánh nguồn hình thành các loại tài sản của DN đến cuối kỳ hạch toán. Các chỉ tiêu ở phần nguồn vốn được sắp xếp theo từng nguồn hình thành tài sản của đơn vị (nguồn vốn của bản thân DN – vốn chủ sở hữu, nguồn vốn đi vay, nguồn vốn chiếm dụng,…). Tỷ lệ và kết cấu của từng nguồn vốn trong tổng số nguồn vốn hiện có phản ánh tính chất hoạt động, thực trạng tài chính của DN.
Về mặt kinh tế: Số liệu phần “Nguồn vốn” của BCĐKT thể hiện quy mô tài chính, nội dung tài chính và thực trạng tài chính của DN.
Về mặt pháp lý: số liệu của các chỉ tiêu thể hiện trách nhiệm pháp lý của DN về số tài sản đang quản lý, sử dụng đối với Nhà nước (về số vốn của Nhà nước), với cấp trên, với các nhà đầu tư, với cổ đông, vốn liên doanh, với ngân hàng, với các tổ chức tín dụng (về các khoản vốn vay), với khách hàng, với các đơn vị kinh tế khác, với người lao động.
Ở cả hai phần, ngoài cột chỉ tiêu còn có các cột phản ánh mã số, cột thuyết minh, cột số cuối kỳ và cột số đầu kỳ.
1.3.1.2. Báo cáo kết quả HĐKD :
Báo cáo kết quả kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một thời kỳ kế toán của doanh nghiệp, chi tiết theo hoạt động kinh doanh chính và các hoạt động kinh doanh khác, tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước về thuế và các khoản phải nộp khác. Kết quả hoạt động kinh doanh gồm ba phần:
Phần I “Lãi, Lỗ” phản ánh tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Phần này có nhiều chỉ tiêu liên quan đến doanh thu, chi phí của hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và các hoạt động bất thường khác. Tất cả các chỉ tiêu trong phần này đều trình bày: tổng số phát sinh trong kỳ báo cáo, số liệu của kỳ trước để so sánh, số luỹ kế từ đầu năm đến cuối kỳ báo cáo.
Phần II “Tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước” phản ánh tình hình thực hiện nghĩa vụ với nhà nước về: thuế, phí, lệ phí và các khoản phải nộp khác.
Phần III “Thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, thuế GTGT được giảm, thuế GTGT hàng bán nội địa”
Báo cáo kết quả kinh doanh cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý của doanh nghiệp. Báo cáo kết quả kinh doanh cho phép ngân hàng có thể dự tính được xu hướng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Nhìn chung, các ngân hàng chỉ dựa chủ yếu vào phần I “Lãi, lỗ” của báo cáo kết quả kinh doanh để tiến hành phân tích tài chính khách hàng.
1.3.1.3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ:
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hình thành và sử dụng lượng tiền phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp. Phân tích báo cáo lưu chuyển tiền tệ sẽ cho thấy tiền tệ của doanh nghiệp sinh ra từ đâu và sử dụng vào những mục đích gì. Từ đó, dự đoán được lượng tiền trong tương lai của doanh nghiệp, nắm được năng lực thanh toán hiện tại. Đồng thời thấy được quan hệ giữa lỗ, lãi ròng với luồng tiền tệ cũng như hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính ảnh hưởng tới mức độ nào, làm tăng hay giảm tiền tệ.
Nội dung của báo cáo lưu chuyển tiền tệ gồm 3 phần sau:
Phần I. Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh: Phản ánh toàn bộ dòng tiền vào và chi ra chủ yếu của doanh nghiệp, có liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các khoản thu bằng tiền như: tiền thu bán hàng, thu từ các khoản thu thương mại; chi phí bằng tiền như: tiền trả cho nhà cung cấp, tiền thanh toán cho công nhân viên, chi phí khác bằng tiền.
Phần II. Lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư: Phản ánh toàn bộ dòng tiền vào và chi ra chủ yếu của doanh nghiệp, có liên quan trực tiếp đến hoạt động đầu tư của doanh nghiệp. Hoạt động đầu tư của doanh nghiệp gồm 2 phần: đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho bản thân doanh nghiệp, đầu tư vào các đơn vị khác.
Phần III. Lưu chuyển từ hoạt động tài chính: Phản ánh toàn bộ dòng tiền vào và chi ra chủ yếu của doanh nghiệp, có liên quan trực tiếp đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp. Hoạt động tài chính bao gồm các nghiệp vụ làm thay đổi quy mô và kết cấu nguồn vốn của doanh nghiệp như chủ doanh nghiệp góp vốn, vay vốn, phát hành cổ phiếu trái phiếu…
1.3.1.4. Thuyết minh báo cáo tài chính :
Thuyết minh báo cáo tài chính là một báo cáo kế toán tài chính tổng quát nhằm mục đích giải trình và bổ sung, thuyết minh những thông tin về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình tài chính của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo, mà chưa được trình bày chi tiết, đầy đủ trong báo cáo tài chính khác.
1.3.2. Nguồn thông tin bên ngoài:
Trên thực tế, phân tích báo cáo tài chính là nội dung chủ yếu để tiến hành phân tích tài chính khách hàng. Tuy nhiên, ngoài các báo cáo tài chính cán bộ tín dụng của ngân hàng có thể phân tích tài chính khách hàng thông qua các nguồn thông tin như: thông tin từ kết quả xếp hạng tín dụng của ngân hàng cho vay, thông tin lưu giữ tại CIC, thông tin từ các cuộc điều tra, phỏng vấn trực tiếp khách hàng (tham quan trực tiếp nhà xưởng, văn phòng, gặp trực tiếp các lãnh đạo, người lao động trong doanh nghiệp…), thông tin từ các ngân hàng đã có quan hệ tín dụng với khách hàng, thông tin từ các đối thủ cạnh tranh.
Nói chung thông tin phục vụ cho quá trình phân tích tài chính khách hàng có được từ nhiều nguồn khác nhau, không phải chỉ từ các báo cáo tài chính mà khách hàng cung cấp. Có những thông tin chính xác có những thông tin không chính xác, vì thế cán bộ tín dụng cần sáng suốt, có trình độ chuyên môn để nắm bắt, lựa chọn những thông tin tốt nhất phục vụ cho quá trình phân tích. Việc có được những nguồn thông tin sạch là hết sức quan trọng đối với cán bộ tín dụng nhằm tránh những rủi ro có thể cho ngân hàng.
1.4. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH :
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong việc phân tích tình hình tài chính khách hàng. Trong đó, có thể kể đến hai cách tiếp cận đó là dựa vào mục đích và theo loại phân tích.
- Phân tích nhu cầu nguồn vốn của doanh nghiệp.
- Phân tích tình hình tài chính và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp.
- Phân tích rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp
Quyết định nhu cầu nguồn vốn của doanh nghiệp
Hình 1.1 : Khuôn khổ phân tích tài chính dựa vào mục đích
Phân tích tỷ số:
- Tỷ số thanh khoản
- Tỷ số nợ
- Tỷ số chi phí tài chính
- Tỷ số hoạt động
- Tỷ số khả năng sinh lợi
- Tỷ số tăng trưởng
Phân tích so sánh:
- So sánh xu hướng
- So sánh trong ngành
- Phân tích cơ cấu
- Phân tích chỉ số
Hình 1.2 : Khuôn khổ phân tích tài chính dựa vào loại phân tích.
Trong khuôn khổ phân tích tài chính dựa vào loại phân tích, các cán bộ tín dụng thường sử dụng phương pháp so sánh, phương pháp tỷ số …
1.4.1. Phương pháp so sánh
So sánh là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích để đánh giá kết quả, xác định vị trí và xu hướng biến động của các chỉ tiêu phân tích. Trong phân tích báo cáo tài chính, phương pháp so sánh thường được sử dụng bằng cách so sánh ngang, so sánh dọc. So sánh nganh báo cáo tài chính là việc so sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu của từng báo cáo tài chính; còn so sánh dọc là việc sử dụng các tỷ suất, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu trong từng báo cáo tài chính và giữa các báo cáo để rút ra kết luận. Để áp dụng phương pháp so sánh cần chú ý những điều kiện sau:
- Điều kiện so sánh được của chỉ tiêu: phải thống nhất về nội dung phản ánh, về phương pháp tính toán, về thời gian và đơn vị đo lường.
- Gốc so sánh: việc xác định gốc so sánh tùy thuộc vào mục đích phân tích. Gốc so sánh thường được xác định về mặt thời gian, không gian. Về mặt thời gian có thể lựa chọn kỳ kế hoạch, kỳ trước, cùng kỳ này năm trước hay lựa chọn các điểm thời gian (năm, tháng, ngày cụ thể)…Về mặt không gian có thể lựa chọn các bộ phận của tổng thể, lựa chọn các đơn vị khác có cùng điều kiện tương đương.
Quá trình phân tích có thể thực hiện theo các hình thức sau:
- So sánh ngang: là việc so sánh, đối chiếu tình hình biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối trên từng chỉ tiêu, trên từng báo cáo tài chính.
- So sánh dọc: là việc sử dụng các tỷ lệ, các hệ số thể hiện mối tương quan giữa các chỉ tiêu.
- So sánh xác định xu hướng và tính chất liên hệ giữa các chỉ tiêu: là việc xem xét trong mối quan hệ với các chỉ tiêu phản ánh quy mô chung để phản ánh rõ hơn xu hướng phát triển của các hiện tượng kinh tế – tài chính của doanh nghiệp.
1.4.2. Phương pháp tỷ số:
Phương pháp tỷ số là phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến trong phân tích tài chính doanh nghiệp. Nó có tính hiện thực cao, giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loạt tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo giai đoạn.
Các tỷ số tài chính chủ yếu được phân thành các nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán – phản ánh khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp, nhóm chỉ tiêu về khả năng cân đối vốn – phản ánh mức độ ổn định và tự chủ tài chính cũng như khả năng sử dụng nợ vay của doanh nghiệp, nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động – phản ánh việc sử dụng tài nguyên, lao động.., nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lãi – phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp nhất của doanh nghiệp.
Mỗi nhóm chỉ tiêu lại bao gồm những tỷ số riêng lẻ phản ánh từng bộ phận của hoạt động tài chính. Trong mỗi trường hợp, tùy thuộc vào mục tiêu phân tích tài chính mà ngân hàng sẽ chú trọng các chỉ tiêu khác nhau. Chẳng hạn đối với những khoản vay ngắn hạn, ngân hàng đặc biệt chú ý đến khả năng thanh toán của người vay. Trong khi đó, với những khoản vay dài hạn thì ngân hàng thường quan tâm nhiều đến khả năng hoạt động, hiệu quả sản xuất – kinh doanh.
1.4.3. Phương pháp DUPONT:
Ngoài hai phương pháp trên, để phân tích tài chính khách hàng, cán bộ tín dụng có thể sử dụng phương pháp Dupont. Đây là phương pháp phân tích các chỉ số tài chính dựa trên tỷ lệ so với doanh thu. Phương pháp này được sử dụng hiệu quả tại công ty Dopont do đó được gọi là phương pháp Dupont. Thực chất phương pháp này là tách một tỷ số có mối quan hệ nhân quả với nhau. Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đối số tổng hợp, từ đó có thể nhận biết được nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt xấu trong hoạt động của doanh nghiệp
Mô hình :
- Thu nhập trên tổng tài sản (ROA).
Sức sinh lời trên đầu tư = Khả năng sinh lời trên DS x Hiệu suất của tài sản
Đo lường hiệu quả trong việc sử dụng tài sản để tạo ra doanh thu.
Đo lường hiệu quả chung về khả năng sinh lợi bằng tài sản hiện có.
Thu nhập trên đầu tư
=
Lợi nhuận ròng sau thuế
Tổng tài sản
Đo lường khả năng sinh lợi trên doanh thu.
Lợi nhuận ròng biên
Lợi nhuận ròng sau thuế
Doanh thu thuần
=
Vòng quay của tài sản
Doanh thu thuần
Tổng tài sản
=
ROE là thông số dùng để đo lường hiệu suất chung của doanh nghiệp, cho biết hiệu quả của doanh nghiệp trong việc tạo ra thu nhập cho các cổ đông của họ
Tỷ suất lợi nhuận theo tài sản
Tỷ lệ lãi theo doanh thu
Tổng tài sản
Doanh thu thuần
Doanh thu thuần
Lợi nhuận thuần
Tổng chi phí
Doanh thu thuần
Tổng TS dài hạn
Tổng TS ngắn hạn
Vốn bằng tiền, phải thu
Vốn vật tư hàng hóa
Chi phí sản xuất
Chi phí ngoài sản xuất
Tỷ lệ lãi theo tài sản
Hình 1.3 :Mô hình phân tích Dupont
b)Thu nhập trên vốn chủ (ROE).
ROE xem xét lợi nhuận ròng trên mỗi đồng tiền của vốn chủ sở hữu mang đi đầu tư, nói cách khác đó là phần trăm lợi nhuận thu được của chủ sở hữu trên vốn đầu tư của mình.
1.5. NỘI DUNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA KHÁCH HÀNG
1.5.1. Phân tích các tỷ số thanh toán :
Các chỉ tiêu phản ánh là tỷ số đo lường khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của công ty. Các tỷ số này xác định từ dữ liệu của bảng cân đối kế toán là đủ. Đứng trên góc độ ngân hàng, các tỷ số này rất quan trọng vì nó giúp ngân hàng đánh giá được khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp.
(1) Thước đo tiền mặt = Tồn quỹ tiền mặt + Những tài sản có thể bán
bình quân chuyển thành tiền dễ dàng
Cho biết khả năng thanh toán các khoản nợ thường xuyên, nếu bằng hoặc lớn hơn số nợ phải thanh toán thường xuyên hàng tháng là tốt.
TSLĐ và đầu tư ngắn hạn
(2) Hệ số khả năng thanh toán hiện hành = ——————————-
Nợ ngắn hạn
Hệ số này cho biết khách hàng có đủ tài sản lưu động để đảm bảo trả nợ ngắn hạn. Một doanh nghiệp không thể đáp ứng được nhu cầu thanh toán ngắn hạn thì doanh nghiệp đó dù có các số liệu tài chính bên ngoài lành mạnh và có lãi cũng có thể bị buộc phải dừng mọi hoạt động kinh doanh vì mất khả năng thanh toán.
Các ngân hàng thường yêu cầu chỉ tiêu này của doanh nghiệp phải lớn hơn 1 nhưng lớn hơn bao nhiêu thì tốt còn phụ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp ở từng ngành nghề khác nhau.
Sử dụng hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn để đánh giá khả năng thanh toán hiện hành có nhược điểm là có thể bị méo mó bởi thủ thuật của nhà quản lý bởi giá trị và mức luân chuyển của hàng tồn kho và nợ phải thu không đòi được (khó chuyển hóa thành tiền). Do đó, cần loại bỏ hai yếu tố đó khi tính khả năng thanh toán, chỉ tiêu sử dụng sẽ là: hệ số khả năng thanh toán nhanh.
Đầu tư ngắn hạn + tiền
(3) Hệ số khả năng thanh toán nhanh = ——————————–
Nợ ngắn hạn
Hệ số này cho biết khả năng huy động các nguồn tiền có thể huy động nhanh và các chứng khoán có thể dễ dàng chuyển được thành tiền để trả nợ. Tỷ lệ này > 0,5 là tốt.
Tóm lại, nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp nhằm xác định khả năng sẵn sàng trả nợ của doanh nghiệp, điều này rất quan trọng đối với ngân hàng khi ra quyết định cho vay khách hàng và đảm bảo chất lượng tín dụng của khoản vay.
1.5.2. Phân tích các tỷ số hiệu quả hoạt động
Tỷ số hoạt động là những tỷ số tài chính được xác định dựa vào thông rút ra từ cả bảng cân đối tài sản và báo cáo kết quả kinh doanh. Nhóm chỉ tiêu này bao gồm:
Doanh thu thuần
(4) Vòng quay của vốn lưu động = ————————————–
Tài sản lưu động bình quân
Chỉ tiêu này cho biết trong kỳ kinh doanh số vốn lưu động quay được mấy vòng. Nếu số vòng quay chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại. Do đó, chỉ số này càng lớn càng tốt.
Các khoản phải thu
(5) Chu kỳ thu hồi vốn trung bình = ————————————
Tiền bán hàng trung bình 1 ngày
Cho biết chất lượng các khoản nợ phải thu, thời gian đọng vốn có hợp lý hay không, tỷ lệ này càng nhỏ càng tốt.
Doanh thu thuần
(6) Hệ số quay vòng các khoản phải thu: = ——————————-
Các khoản phải thu bình quân
Tỷ số này cho thấy một cái nhìn sâu vào chất lượng các khoản phải thu và tốc độ thu hồi các khoản nợ. Hệ số quay vòng nhanh thì tốc độ thu hồi các khoản nợ nhanh. Nhưng cần lưu ý rằng chỉ tiêu này có thể không phản ánh được thời hạn tín dụng bình thường trong năm của doanh nghiệp nếu bảng cân đối được lập ra ở một thời điểm đặc biệt. Chẳng hạn như vào đầu năm doanh nghiệp bán chịu cho khách hàng, ứng tiền trước cho nhà cung cấp nên các khoản phải thu sẽ lớn. Cuối năm các khoản phải thu sẽ nhỏ hơn vì các doanh nghiệp đang thu hồi. Cán bộ tín dụng khi phân tích phải nắm rõ chu kỳ sản xuất kinh doanh của các đơn vị để xác định vòng quay các khoản phải thu cho chính xác.
Giá vốn hàng bán
(7) Hệ số vòng quay hàng tồn kho = ———————————–
Hàng tồn kho bình quân
Chỉ tiêu này cho cán bộ tín dụng biết doanh nghiệp có quản lý hàng tồn kho hiệu quả hay không. Nó đo lường số lần vốn đầu tư vào hàng tồn kho quay vòng trong năm, cho biết chu kỳ luân chuyển vật tư hàng hoá bình quân. Nếu vòng quay hàng tồn kho quá cao thì rất có thể là do mức tồn kho của doanh nghiệp dưới mức tối ưu và điều này có thể dẫn đến tình trạng hàng tồn kho không đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh và bỏ lỡ cơ hội bán hàng. Nhưng nếu như chỉ tiêu này quá thấp có thể doanh nghiệp đã mua sắm hàng hóa, sản xuất hoặc kiểm soát hàng tồn kho không tốt.
1.5.3. Phân tích các tỷ số khả năng sinh lời.
Khả năng sinh lời của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng trả nợ và lãi. Do vậy, khi cho vay cán bộ tín dụng cũng cần quan tâm đến phân tích
khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Tùy theo mục tiêu phân tích khả năng sinh lời, có thể sử dụng các tỷ số sau đây:
Lợi tức trước thuế
(8) Khả năng sinh lời tổng tài sản = ————————————–
Tổng tài sản
Cho biết khả năng sinh lời của tổng tài sản, mỗi đồng giá trị tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Lợi nhuận sử dụng trong công thức trên có thể là lợi nhuận sau thuế hoặc lợi nhuận trước thuế tùy mục tiêu phân tích. Tỷ lệ này càng cao càng tốt.
Lợi nhuận sau thuế
(9) Khả năng sinh lời vốn chủ sở hữu = —————————
Vốn chủ sở hữu
Cho biết mức lợi nhuận đạt được trên vốn chủ sở hữu. Một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Lợi nhuận sau thuế
(10) Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu = ——————————-
Doanh thu bán hàng
Cho biết năng lực kinh doanh, cạnh tranh của doanh nghiệp trong việc tạo ra lợi nhuận, tỷ suất càng cao càng tốt.
- Nhóm các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu vốn
Trong khi tiến hành hoạt động đầu tư và kinh doanh dù ban đầu doanh nghiệp đã có kết cấu các loại vốn tối ưu nhưng tỷ trọng này luôn bị phá vỡ. Nghiên cứu cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu tài sản, tỷ suất tự tài trợ sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quát về sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
Tổng số nợ phải trả
(11) Hệ số nợ = ———————————————–
Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp
Hệ số nợ cho biết sự góp vốn của chủ sở hữu so với số nợ vay. Nó là chỉ tiêu phản ánh cơ cấu, không trực tiếp phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, nhưng sự thay đổi của nó lại có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp. Điều này phụ thuộc vào chính sách nợ của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp chỉ chạy theo mục đích sinh lời mà không quan tâm đến sự cân bằng tài trợ của mình có thể sẽ buộc phải ngưng hoạt động hoặc bị phá sản. Vì vậy, để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cần thiết phải nghiên cứu và sử dụng chỉ tiêu này.
Hệ số thể hiện mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp đối với các chủ nợ. Đối với doanh nghiệp họ thường mong muốn hệ số nợ cao vì họ được sử dụng một lượng tài sản lớn mà chỉ đầu tư vào một lượng vốn nhỏ, nhưng dưới giác độ ngân hàng, các ngân hàng mong muốn hệ số nợ thấp, càng nhỏ so với trung bình ngành càng tốt. Hệ số này có thể được chấp nhận ở mức nhỏ hơn hoặc bằng 0,5.
Vốn chủ sở hữu
(12) Chỉ tiêu tỷ suất tự tài trợ = ——————————–
Tổng tài sản
Nó cho biết một đồng tài sản hình thành từ nguồn vốn của doanh nghiệp có bao nhiêu đồng là do các chủ nợ tài trợ. Trị số của chỉ tiêu này càng nhỏ mức độ độc lập về mặt tài chính của doanh nghiệp càng cao và ngược lại. Thông thường các ngân hàng thích tỷ lệ nợ trên tổng tài sản vừa phải, thường yêu cầu chỉ tiêu này nhỏ hơn hoặc bằng 0,5 tức là có ít nhất một nửa tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ vốn chủ sở hữu.
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay
(13) Hệ số khả năng thanh toán lãi vay = —————————–
Lãi vay phải trả
Chỉ số này thể hiện mức độ sẵn sang trả tiền lãi vay của doanh nghiệp cho ngân hàng. Hệ số này càng, hiệu quả sử dụng vốn vay càng tốt. Trong trường hợp hệ số này thấp phải tìm hiểu nguyên nhân là do hoạt động kinh doanh kém hiệu quả (lợi nhuận thấp) hay do doanh nghiệp đã đi vay quá nhiều để từ đó ngân hàng sẽ tìm biện pháp giúp doanh nghiệp điều chỉnh cơ cấu vốn cho hợp lý.
(15) Các chỉ tiêu cho biết cơ cấu vốn của doanh nghiệp:
Tài sản lưu động
= —————————————
Tổng tài sản
Tài sản cố định
= —————————————
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết cơ cấu vốn có hợp lý hay không.
(16) Vốn lưu động thường xuyên = Tài sản lưu động – Nợ ngắn hạn
Cho biết phần nguồn vốn ổn định dùng vào việc tài trợ cho nhu cầu kinh doanh. Chỉ tiêu này càng lớn càng an toàn.
Trên đây là nhóm các chỉ tiêu cơ bản mà các ngân hàng thương mại thường sử dụng khi phân tích tài chính khách hàng vay vốn. Nhưng trong quá trình tiến hành phân tích các tỷ số tài chính, cán bộ tín dụng cần chú ý một số điểm sau:
- Tính xác thực, hợp lý của tỷ số phụ thuộc vào độ chính xác của số liệu báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
- Phân tích tỷ số tài chính chỉ là bắt đầu việc xem xét tình hình tài chính của doanh nghiệp chứ không phải là kết thúc việc phân tích. Điều quan trọng là phải rút ra nhận định về xu thế phát triển của doanh nghiệp.
- Các tỷ số tài chính đều có những hạn chế nhất định ví dụ như chỉ phản ánh sự kiện, hoàn cảnh trong quá khứ. Sự khác nhau giữa giá trị sổ sách và giá trị thị trường của tài sản, nguồn vốn nhất là trong điều kiện lạm phát cao làm cho nhận định tài chính kém chính xác. Do đó, cần phân tích các tỷ số trong mối quan hệ tổng thể giữa các hệ số với nhau trong một quá trình và trong bối cảnh của nền kinh tế. Qua đó mới đánh giá đầy đủ về tình hình tài chính của doanh nghiệp để đưa ra những dự đoán và quyết định hợp lý, khả thi.
- Phân tích dòng tiền của doanh nghiệp :
Phân tích biến động các dòng tiền với mục đích tìm ra khả năng, xu hướng cân đối dòng tiền cho nhu cầu của từng hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ cấu dòng tiền của từng hoạt động. Từ đó giúp người phân tích nhận thức được dòng tiền dùng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong thanh toán, trong hoàn trả lãi, trong hoàn trả vốn huy động.
Phân tích biến động các dòng tiền sẽ hướng vào các vấn đề cơ bản sau:
– Xem xét các về giá trị, tỷ trọng từng dòng tiền trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ

1.6. Những nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính
Công tác phân tích tài chính là một công tác quan trọng trong quy trình thẩm định tín dụng. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác này, chúng ta xem xét các yếu tố này dưới các góc độ: nhân tố từ phía ngân hàng, nhân tố từ phía khách hàng.
1.6.1. Nhân tố từ ngân hàng:
- Quan điểm của lãnh đạo ngân hàng đây là nhân tố có vai trò chủ đạo. Nếu việc ra quyết định cho vay của lãnh đạo ngân hàng phụ thuộc nhiều vào kết quả phân tích tài chính của cán bộ tín dụng thì công tác phân tích tài chính khách hàng vay vốn sẽ luôn được quan tâm đúng mức, lãnh đạo sẽ luôn động viên, khích lệ đối với cán bộ tín dụng. Nếu việc cho vay không phụ thuộc vào kết quả phân tích thì công tác phân tích sẽ bị xem nhẹ.
- Trình độ của cán bộ tín dụng. Công tác phân tích tài chính đòi hỏi cán bộ tín dụng không những nắm chắc những kiến thức chuyên môn – việc đọc hiểu các báo cáo tài chính mà còn phải am hiểu nhiều lĩnh vực, nhiều ngành nghề kinh doanh khác nhau. Ngoài ra, phải có sự nhạy bén, linh hoạt trong công việc thì mới có thể tiếp cận được sự đa dạng trong ngành nghề kinh doanh của khách hàng.
- Công nghệ, trang thiết bị của ngân hàng. Khi mà khoa học, công nghệ ngày càng phát triển vượt bậc, đã đem lại rất nhiều sản phẩm hỗ trợ lớn cho người sử dụng thì với cán bộ tín dụng công nghệ và các trang thiết bị cũng là nguồn bổ trợ rất lớn trong công tác phân tích tài chính. Trang thiết bị hiện đại, phù hợp với trình độ của nhân viên sẽ thúc đẩy tiến độ làm việc cũng như góp phần nâng cao chất lượng công việc cho nhân viên.
- Phương pháp phân tích. Việc sử dụng phương pháp phân tích được thực hiện khác nhau đối với các khách hàng khác nhau. Có nhiều phương pháp để phân tích tài chính khách hàng. Mỗi phương pháp khác nhau sẽ cho biết những thông tin khác nhau về tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có quy mô lớn, nhu cầu tín dụng lớn thì đòi hỏi công tác phân tích phải kỹ càng hơn, sử dụng kết hợp nhiều phương pháp hơn so với một doanh nghiệp nhỏ, nhu cầu tín dụng nhỏ. Đối với những doanh nghiệp mới thành lập không thể sử dụng phương pháp phân tích theo thời gian vì số liệu để sử dụng không đủ, thay vào đó có thể sử dụng phương pháp phân tích theo không gian để đánh giá năng lực của doanh nghiệp.
- Sự phối hợp của cán bộ, các bộ phận trong ngân hàng. Đây là nhân tố mang tính kết hợp trong bộ máy hoạt động của ngân hàng. Nhân tố này góp phần bổ sung, hỗ trợ cho công việc của các cán bộ, bộ phận trong ngân hàng. Đối với một ngân hàng mà hoạt động trên cơ sở chuyên môn hóa cao thì nhân tố này có vai trò quan trọng.
1.6.2. Nhân tố từ khách hàng:
- Tính trung thực của bộ hồ sơ vay vốn. Để có một kết quả phân tích chính xác về tình hình tài chính của doanh nghiệp thì điều đầu tiên là nguồn thông tin từ khách hàng phải đảm bảo trung thực. Khi nguồn thông tin dùng làm cơ sở dữ liệu không chính xác sẽ ảnh hưởng đến công tác phân tích, từ đó ảnh hưởng đến quyết định của cán bộ tín dụng. Việc cung cấp một bộ hồ sơ vay vốn có độ tin cậy cao sẽ giúp cho quá trình phân tích dễ dàng, nhanh chóng, không những giảm thiểu thời gian, chi phí phân tích mà còn góp phần củng cố mối quan hệ cũng như niềm tin giữa ngân hàng và khách hàng.
- Chính sách bảo mật của doanh nghiệp. Đối với quá trình phân tích tài chính khách hàng thì nguồn thông tin được thu thập từ khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, nguồn thông tin đầu tiên mà cán bộ tín dụng tiếp cận đó là nguồn thông tin từ nội bộ doanh nghiệp. Do đó, việc có được nguồn thông tin đầy đủ, nhanh chóng và dễ dàng hay không phụ thuộc nhiều vào chính sách bảo mật của doanh nghiệp, tức là phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có sẵn sàng cung cấp thông tin, số liệu tài chính hay không?
Ngoài các nhân tố trên, còn nhiều nhân tố ảnh hưởng đến công tác phân tích tài chính khách hàng vay vốn. Đó là các nhân tố về môi trường pháp lý như: quy định của Ngân hàng Nhà Nước, hệ thống các chuẩn mực kế toán Việt Nam hay môi trường kinh tế, xã hội như sự cạnh tranh của các ngân hàng, việc phát triển ngành nghề đơn giản hay phức tạp, tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi hay khó khăn, nền kinh tế tăng trưởng hay tụt hậu, xã hội ổn định hay bất ổn…
Tất cả đều tác động trực tiếp hay gián tiếp đến việc khai thác thông tin, đến quan điểm, nhận thức của mọi người về công tác phân tích tài chính.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Công tác phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại có vai trò vô cùng quan trọng, là một bước bắt buộc trong quy trình tín dụng của bất kỳ một ngân hàng thương mại nào. Công tác phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại có tác dụng cung cấp những cơ sở cần thiết để cán bộ tín dụng đưa ra những quyết định đề xuất cho vay chính xác, hạn chế rủi ro cho ngân hàng và đem lại lợi ích cho cả doanh nghiệp. Các ngân hàng thương mại cần phải thực hiện công tác này một cách nghiêm túc, hiệu quả để chất lượng tín dụng trở nên tốt hơn, đảm bảo vốn cho ngân hàng là yếu tố quyết định sống còn đối với mọi ngân hàng thương mại.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\BUI THI HIEU


