Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở từ thực tiễn huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta, đổi mới HTCT là nhiệm vụ rất quan trọng. Nhiệm vụ đó đã được Đảng ta khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991: “Toàn bộ hệ thống chính trị ở nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”. Như vậy, quyền lực của nhân dân lao động có được đảm bảo hay không chính là tuỳ thuộc chủ yếu ở HTCT có được đổi mới và hoàn thiện hay không. Khi công cuộc đổi mới ngày càng đi vào chiều sâu, Đảng ta chủ trương hướng mạnh về cơ sở, quan tâm củng cố cơ sở xã hội của chính trị, đề cao các sáng kiến và tính chủ động từ cơ sở. Tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, XI và XII đặc biệt coi trọng đổi mới HTCT ở cơ sở, nhất là ở cơ sở nông thôn (xã, thị trấn). Đây cũng là thể hiện nhận thức mới của Đảng về đổi mới HTCT. Những nguyên tắc, yêu cầu, nội dung, phương thức đổi mới HTCT cấp vĩ mô chi phối quá trình đổi mới HTCT cấp cơ sở và sự đổi mới HTCT cơ sở có tác động tích cực trở lại HTCT nói chung.
Trong suốt hơn 30 năm đổi mới, nhất là từ khi nước ta phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, vấn đề dân chủ, nhà nước pháp quyền và đổi mới HTCT được quan tâm nổi bật, tạo mối quan hệ giữa dân chủ với HTCT, dân chủ với HTCT ở cơ sở (xã, phường, thị trấn).
HTCT ở cơ sở giữ vị trí rất quan trọng trong HTCT nước ta. Với hơn 85% trong tổng số các đơn vị hành chính cấp cơ sở, cơ sở xã, phường, thị trấn là nơi mà toàn bộ nhân dân cư trú, sinh sống và diễn ra mọi hoạt động của đời sống xã hội. Vì vậy, HTCT cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, huy động mọi khả năng để phát triển KT-XH và tổ chức cuộc sống cộng đồng dân cư, góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn và thành thị.
Tuy nhiên, hiện nay hoạt động của HTCT cơ sở đang là khâu yếu nhất, là điểm xung yếu nhất của thể chế chính trị nước ta. HTCT cơ sở vẫn còn nhiều mặt yếu kém, bất cập trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức, thực hiện và vận động quần chúng. Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong HTCT chưa được xác định rành mạch, trách nhiệm còn chồng chéo; nội dung và phương thức hoạt động chậm được đổi mới, còn nhiều biểu hiện của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp.
Đối với huyện Sơn Tịnh, HTCT cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức nhân dân trên địa bàn thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở một cách thực sự. Trình độ của đội ngũ cán bộ xã còn thấp, nội dung và phương thức hoạt động chậm được đổi mới, hiệu quả hoạt động chưa cao đã làm cho HTCT cấp cơ sở kém hiệu lực và đang đặt ra nhiều vấn đề bức xúc. Mặc dù Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của HTCT cơ sở, nhưng việc cụ thể hóa và thực thi những vấn đề trên địa bàn vẫn còn nhiều bất cập. Vì vậy, HTCT cấp cơ sở ở huyện Sơn Tịnh hiện nay đang là một trong những nhiệm vụ cần phải được nghiên cứu, giải quyết nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, tránh những bất cập và đem lại hiệu quả cao trong công tác lãnh đạo, quản lý.
Để đánh giá đúng thực tiễn tình hình tổ chức và hoạt động của HTCT cơ sở huyện Sơn Tịnh hiện nay cũng như nêu ra một số vấn đề, giải pháp phù hợp nhằm góp phần hoàn thiện tổ chức và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HTCT cơ sở trên địa bàn này, chúng tôi lựa chọn đề tài “Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở từ thực tiễn huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận phân tích, đánh giá làm rõ thực tiễn tổ chức và hoạt động của HTCT cơ sở từ thực tiễn huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, đề tài nghiên cứu nhằm củng cố thêm về tổ chức và hoạt động của HTCT cơ sở ở huyện Sơn Tịnh nói riêng, ở các địa phương khác nói chung hiện nay trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đi lên CNXH ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Đề tài tập trung làm rõ nội dung, bản chất của các khái niệm: cơ sở, HTCT, HTCT cơ sở, cấu trúc, nguyên tắc hoạt động của HTCT cơ sở,…, phân tích, đánh giá thực tiễn tổ chức và hoạt động của HTCT cơ sở thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, đồng thời đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu ứng dụng vào thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của HTCT cơ sở trong giai đoạn hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là tổ chức và hoạt động của HTCT cơ sở trên địa bàn huyện Sơn Tịnh hiện nay, bao gồm các tổ chức cơ sở Đảng, chính quyền nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể chính trị – xã hội ở các xã thuộc huyện Sơn Tịnh trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: HTCT cơ sở thuộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi từ 2010 đến nay, nhất là từ sau khi thực hiện Nghị quyết 123/NQ-CP ngày 12/12/2013 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Sơn Tịnh, huyện Tư Nghĩa để mở rộng thành phố Quảng Ngãi và thành lập phường Trương Quang Trọng và tổ chức và hoạt động của HTCT cơ sở của huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Đề tài lấy chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về tổ chức và hoạt động của HTCT nói chung, HTCT cơ sở nói riêng để làm sáng tỏ vấn đề.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu của đề tài là sự kết hợp của các phương pháp lịch sử, phương pháp nghiên cứu chuyên ngành quản lý, phương pháp xã hội học như: phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê hệ thống, phân tích tài liệu thông qua các báo cáo của huyện,… nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu hoàn thành đề tài này.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của HTCT cơ sở ở một địa bàn cụ thể (huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi) sẽ làm phong phú thêm lý luận về cơ sở, HTCT, HTCT cơ sở,…; sự cần thiết phải đổi mới tổ chức và hoạt động của HTCT cơ sở nói chung và HTCT cơ sở huyện Sơn Tịnh nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu hoàn thiện HTCT hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Phân tích thực tiễn và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các tổ chức trong HTCT cơ sở trên địa bàn huyện Sơn Tịnh trong tiến trình hoàn thiện HTCT ở nước ta hiện nay.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở
Chương 2: Thực tiễn tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở huyện sơn tịnh, tỉnh Quảng Ngãi
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở từ thực tiễn huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
1.1.1. Khái niệm hệ thống chính trị cơ sở
Có thể nói HTCT cơ sở là toàn bộ các thiết chế chính trị cấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc xác định, gắn bó hữu cơ, thống nhất với nhau về mục đích, chức năng, nhiệm vụ nhằm thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở.
HTCT ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển kinh tế – xã hội, tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư.
1.1.2. Đặc điểm của hệ thống chính trị cơ sở
Thứ nhất, HTCT cơ sở là hệ thống gắn trực tiếp với cộng đồng dân cư trên địa bàn.
Thứ hai, HTCT cơ sở là nơi triển khai thực hiện đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước đến với nhân dân, là nơi đánh giá để điều chỉnh chủ trương, chính sách.
Thứ ba, HTCT cơ sở là cấp có tổ chức bộ máy lãnh đạo, chỉ đạo được hình thành theo hệ thống đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương.
Thứ tư, HTCT ở cơ sở có bộ máy đơn giản nhất và cán bộ biên chế được hưởng sinh hoạt phí thấp nhất.
Thứ năm, HTCT cơ sở là cấp có đội ngũ cán bộ, công chức dễ biến động nhất, trình độ học vấn và văn hoá, trình độ lý luận và chuyên môn nghiệp vụ thấp nhất.
Thứ sáu, HTCT cơ sở là cấp dễ bị tác động mạnh nhất trong quan hệ dòng họ, văn hoá làng xã, quan hệ dân tộc, tôn giáo và có ảnh hưởng đáng kể đến quan hệ nội bộ trong tổ chức và hiệu quả hoạt động của HTCT cơ sở.
1.1.3. Vai trò của hệ thống chính trị cơ sở
Thứ nhất, HTCT cơ sở vừa là cấp cuối cùng trong quản lý xét theo cấp độ của HTCT.
Thứ hai, HTCT cơ sở là cấp trực tiếp nhất chịu sự chi phối của nhân dân.
– Thứ ba, HTCT cơ sở là nơi diễn ra cuộc sống của dân, nơi chính quyền và các đoàn thể tổ chức cuộc sống, hoạt động và các phong trào của cộng đồng dân cư để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hành dân chủ của chính mình.
Thứ tư, cơ sở không phải là cấp hoạch định đường lối, chính sách nhưng cơ sở là cấp hành động, tổ chức hành động, đưa đường lối, nghị quyết chính sách vào cuộc sống.
1.2.1. Về tổ chức của hệ thống chính trị cơ sở
HTCT ở nước ta là tổ chức của chính trị và dân chủ, được xác lập bởi tổ chức và hoạt động của một hệ thống thống nhất các thiết chế.
HTCT nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam (là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội); Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân; Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; Các tổ chức chính trị – xã hội khác (Công đoàn Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam).
TCCSĐ ở xã có vai trò hạt nhân trong lãnh đạo chính trị, lãnh đạo HTCT, bảo đảm cho đường lối, chính sách của Đảng được cụ thể hóa và được thực hiện thắng lợi ở cơ sở.
Chính quyền cơ sở (gồm HĐND và UBND), thực thi chính sách pháp luật của Nhà nước theo thẩm quyền luật định.
Hệ thống chính quyền nhà nước ta bao gồm bốn cấp từ Trung ương đến cơ sở, trong đó, chính quyền cấp cơ sở ở xã có vị trí rất quan trọng.
HĐND xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đồng thời là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân.
UBND ở cấp xã do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
1.2.2. Về hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở
Với vai trò, vị trí và tầm quan trọng của cơ sở, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng, củng cố HTCT cơ sở, coi việc đổi mới tổ chức và hoạt động của HTCT cơ sở là một nhiệm vụ quan trọng, nhằm nâng cao vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nền dân chủ XHCN.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở
1.3.1. Yếu tố chính trị, pháp lý
1.3.2. Yếu tố tổ chức, cán bộ
1.3.3. Đặc điểm địa lý, dân cư, văn hóa
1.3.4. Yếu tố kinh tế

CHƯƠNG 2
THỰC TIỄN TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG
CHÍNH TRỊ CƠ SỞ HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế
2.1.3. Về mặt văn hóa – xã hội
2.1.4. Về quốc phòng, an ninh
2.1.5. Về chính trị, pháp lý
2.1.6. Về tổ chức, cán bộ
Thứ nhất, Trước khi thực hiện Nghị quyết 123 của Chính phủ, Đảng bộ huyện có 59 TCCSĐ với 4456 đảng viên. Sau khi chuyển giao 1.888 đảng viên của 10 đảng bộ xã, thị trấn và 03 chi bộ trường trung học phổ thông về Thành uỷ Quảng Ngãi, đến 03/2018, Đảng bộ huyện có 48 TCCSĐ trực thuộc; trong đó, có 11 đảng bộ xã, 03 đảng bộ cơ sở (Đảng bộ Quân sự, Đảng bộ Công an và Đảng bộ Bệnh viên Đa khoa huyện), 34 chi bộ cơ sở, với 2.785 đảng viên (xã 2137, cơ quan 479). Chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở là 129 (xã 111, cơ quan 18).
Thứ hai, HĐND các xã hiện nay ở huyện Sơn Tịnh đều có Thường trực HĐND và các Ban của HĐND xã (Ban pháp chế, Ban kinh tế – xã hội), các tổ Đại biểu HĐND và đại biểu HĐND. Thường trực HĐND xã gồm 01 Chủ tịch HĐND xã kiêm nhiệm, một Phó Chủ tịch HĐND hoạt động chuyên trách. Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên của các Ban của HĐND xã hoạt động kiêm nhiệm. Thường trực HĐND, các Ban của HĐND xã và các Đại biểu HĐND xã thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo Luật định.
Thứ ba, UBND có các phòng, ban, ngành trực thuộc có chức năng tham mưu cho HĐND và UBND. Cơ cấu của UBND xã từ 03 – 05 thành viên, gồm có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và 02 ủy viên, gồm Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự và Trưởng Công an xã thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo Luật định. Hiện nay, huyện có 02 xã loại I có 02 Phó Chủ tịch, 09 xã loại II có 01 Phó Chủ tịch. UBND xã là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp, là cơ quan hành chính ở địa phương, có nhiệm vụ thực hiện quản lý Nhà nước một cách toàn diện trên địa bàn.
Thứ tư, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được tổ chức ở xã có Ban Công tác Mặt trận thôn, tổ, được tổ chức theo địa bàn lãnh đạo của chi bộ. Tổ chức và hoạt động của Ban Công tác Mặt trận do Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định. Cơ cấu tổ chức Ban Công tác Mặt trận xã hiện nay hầu hết thực hiện đúng theo quy định của Điều lệ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ 7 – 15 thành viên.
Thứ năm, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh được tổ chức, hoạt động theo địa bàn xã, dưới có các chi đoàn thôn, một số cơ sở thành lập thêm phân đoàn.
Thứ sáu, Hội liên hiệp phụ nữ huyện có 12 cơ sở hội (11 chi hội xã và 01 chi hội Công an huyện), có 62 chi hội trực thuộc Hội phụ nữ xã; số lượng ủy viên ban chấp hành là 119, cơ cấu theo các xã từ 9 – 15 người, ban thường vụ là 37 (02 xã có 05 ủy viên thường vụ, 09 xã có 03 ủy viên thường vụ). Cán bộ Hội Liên hiệp phụ nữ xã tham gia Đảng ủy các xã nhiệm kỳ 2015 – 2020 là 10/11 người; đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã nhiệm kỳ 2016 – 2021 là 56/293 người; là chủ chốt trong UBND cấp xã nhiệm kỳ 2016 – 2021 là 05 người và tham gia hầu hết các Hội đồng, Ban chỉ đạo ở cơ sở. Hiện nay, có 91,67% Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ xã đạt chuẩn chức danh về trình độ chuyên môn, 100% đạt chuẩn về lý luận chính trị.
Thứ bảy, Hiện nay, số hội viên của Hội nông dân huyện là 13.306; có 11 cơ sở hội, 65 chi hội trực thuộc cơ sở và 253 tổ hội. Ban Chấp hành Hội cơ sở do đại hội Hội Nông dân xã bầu ra, nhiệm kỳ 5 năm. Ban Chấp hành cơ sở hội gồm 01 Chủ tịch, 01 Phó Chủ tịch, 03 đến 05 ủy viên thường vụ và 09 đến 15 ủy viên Ban Chấp hành; một số ủy viên Ban Chấp hành trực tiếp làm chi hội trưởng và một số khác được cơ cấu từ một số ngành có liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân.
Thứ tám, Hội Cựu chiến binh được tổ chức, hoạt động theo Điều lệ của Hội. Hội Cựu chiến binh huyện có 11 hội cơ sở xã, 63 chi hội trực thuộc cơ sở và 04 đơn vị khối 487. Số lượng hội viên là 2553 (các xã là 2509, khối 487 là 44). Số lượng ủy viên Ban Chấp hành các xã là 111 (7 xã có 09 ủy viên, 3 xã có 11 ủy viên, 1 xã có 15 ủy viên).
Thứ chín, Công đoàn cơ sở là “cấp” đầu tiên của hệ thống tổ chức công đoàn, là nơi trực tiếp tiếp xúc với đoàn viên, tổ chức các hoạt động thực hiện các chức năng của Công đoàn, là nơi trực tiếp tuyên truyền phát triển đoàn viên.
Ngoài các cơ quan tổ chức nói trên thì HTCT cơ sở huyện Sơn Tịnh còn có các hội đặc thù khác.
2.3.1. Về nội dung, phương thức lãnh đạo của tổ chức đảng
Với vai trò là hạt nhân lãnh đạo của HTCT cơ sở, các chi, đảng bộ ở xã đã nhận thức và xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức đảng trong HTCT; đồng thời, đảm bảo vai trò lãnh đạo toàn diện trên mọi lĩnh vực ở cơ sở.
Để lãnh đạo KT-XH, các cấp ủy, chính quyền cơ sở trên địa bàn huyện đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách, quan điểm, nghị quyết để lãnh đạo HTCT của huyện và cơ sở.
Phương thức lãnh đạo của Đảng được chú trọng đổi mới. Các cấp uỷ, tổ chức đảng cơ sở luôn tuân thủ Quy chế làm việc, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ và thực hiện nghiêm túc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, lãnh đạo, chỉ đạo thông qua các nghị quyết, chỉ thị và chủ trương đã được thống nhất.
Công tác nhận xét, đánh giá cán bộ, phân loại chất lượng tổ chức đảng và đảng viên hàng năm được thực hiện thực chất hơn, đảm bảo đúng quy định.
Công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện kết quả, kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý những tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Điều lệ, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần tích cực trong xây dựng tổ chức đảng, đảng viên và HTCT trong sạch vững mạnh.
2.3.2. Về hoạt động của chính quyền cơ sở
Lãnh đạo chính quyền đã đảm bảo được vai trò lãnh đạo toàn dân của Đảng đối với hoạt động của HĐND, UBND; nội dung của các cuộc họp đã đảm bảo sát với thực tế đời sống nhân dân hơn.
Trong tổ chức và hoạt động của HĐND, hầu hết các xã trong huyện đều đảm bảo họp đúng định kỳ theo luật định; chất lượng của các kỳ họp của HĐND ngày càng cao.
Các nghị quyết của HĐND xã được thông qua tại các kỳ họp, đúng trình tự được quy định tại Điều 85 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và đúng thẩm quyền ban hành của HĐND cấp xã.
Trước mỗi kỳ họp HĐND, Thường trực HĐND xã đều ban hành văn bản phân công nhiệm vụ thẩm tra cho các Ban của HĐND xã.
Thông qua các hội nghị trực báo, trao đổi kinh nghiệm giữa Thường trực HĐND huyện với Thường trực HĐND các xã (được tổ chức định kỳ 02 lần/năm), HĐND xã đã kịp thời nắm bắt thông tin về tình hình hoạt động của HĐND huyện cũng như hoạt động của HĐND các xã trong toàn huyện.
Công tác quản lý, điều hành của UBND được bảo đảm duy trì, đã phát huy được tính dân chủ và tinh thần tập thể trong công tác lãnh đạo và điều hành.
Trên cơ sở quy định của Huyện ủy, các xã trong toàn huyện đã tổ chức ký cam kết thực hiện Quy định trách nhiệm và xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị.
Từ tháng 7/2014 đến nay, Bí thư Đảng ủy các xã cũng đã tổ chức các buổi tiếp xúc đối thoại trực tiếp với nhân dân tại các thôn, các ý kiến của người dân đã được các bí thư đảng ủy chỉ đạo giải quyết trong thẩm quyền của địa phương, một số ý kiến thuộc thẩm quyền cấp trên được chuyển kịp thời cho các cơ quan chức năng, qua đó, tạo sự đồng thuận cao, kịp thời tháo gỡ những bức xúc, thắc mắc của người dân.
Việc thực hiện pháp lệnh, quy chế dân chủ ở cơ sở đã đem lại kết quả tốt.
Hiện nay, trên địa bàn huyện, đội ngũ cán bộ, công chức, người hoạt động bán chuyên trách tương đối đông, hoạt động theo Luật Cán bộ, công chức.
2.3.3. Công tác Mặt trận và các đoàn thể chính trị
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đã xây dựng được quy chế hoạt động, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và từng bước đổi mới nội dung, phương thức hoạt động.
Trong những năm gần đây, Mặt trận ở các địa phương đã thực hiện việc tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND, UBND cấp xã nhằm góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở.
Đoàn thanh niên là lực lượng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển, đổi mới HTCT cơ sở.
Hội phụ nữ là tổ chức không kém phần quan trọng trong HTCT cơ sở trên địa bàn huyện.
Hội Cựu chiến binh cơ sở đã động viên hội viên tích cực học tập, phát huy tiềm năng, kinh nghiệm của mình cùng các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia phát triển kinh tế, văn hóa – xã hội, xóa đói, giảm nghèo.
Hội nông dân cơ sở đã tổ chức thực hiện có kết quả Đề án nâng cao vai trò, trách nhiệm của Hội Nông dân trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới và xây dựng giai cấp nông dân Việt Nam theo Kết luận số 61-KL/TW ngày 03/12/2009 của Ban Bí thư và Quyết định 673/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ.
Công đoàn cơ sở các xã đã bám sát chức năng, nhiệm vụ của mình, tổ chức thực hiện tốt vai trò đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên và người lao động.
2.3.4. Công tác an ninh, quốc phòng
Sau khi thực hiện Nghị quyết số 123 của Chính phủ, địa bàn huyện bị thu hẹp nhưng tình hình an ninh, trật tự vẫn còn diễn biến rất phức tạp; cơ sở hạ tầng của huyện lỵ mới chưa được xây dựng, các cơ quan Đảng, cơ quan hành chính còn ở trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi đã gây khó khăn cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo, nhất là công tác đảm bảo an ninh, trật tự.
2.4.1. Ưu điểm
Một là, HTCT cơ sở huyện luôn thực hiện nghiêm túc và vận dụng đầy đủ các quy định của Đảng, Nhà nước trong việc hình thành tổ chức, bộ máy, bố trí đội ngũ cán bộ trong HTCT cơ sở.
Hai là, đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở đa số được rèn luyện, thử thách trong thực tiễn công tác, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý thức tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, có tinh thần đoàn kết, phấn đấu hoàn thành chức trách nhiệm vụ được phân công.
Ba là, công tác xây dựng tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên ở cơ sở luôn được chú trọng.
Bốn là, qua đánh giá cán bộ hàng năm từ HTCT cơ sở đã thể hiện tính nghiêm túc tự phê bình và phê bình, làm rõ ưu điểm, khuyết điểm về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống.
Năm là, HTCT cơ sở đã thực hiện tốt vai trò là giúp cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo toàn diện nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Sáu là, nội dung, phương thức hoạt động của HTCT cơ sở dần được đổi mới, tổ chức các hoạt động gắn kết chặt chẽ với các phong trào thi đua của các đoàn thể.
Bảy là, hoạt động của HTCT thực hiện các chính sách phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng hệ thống cơ sở, kết cấu hạ tầng cũng như nâng cao khả năng phòng, chống thiên tai, dịch bệnh trên địa bàn.
2.4.2. Những tồn tại, hạn chế
– Chức năng, nhiệm vụ của các thành tố trong HTCT chưa được xác định rõ ràng.
– Lề lối làm việc, hoạt động của một số tổ chức, đơn vị chưa có nhiều đổi mới.
– Hoạt động của các tổ chức đảng ở cơ sở gặp nhiều khó khăn.
– Hoạt động giám sát của HĐND các xã hiệu quả chưa cao, có lúc, có nơi cũng còn một số hạn chế
– Quản lý của UBND còn nhiều lúng túng không đáp ứng được với yêu cầu quản lý hành chính hiện nay.
– Hoạt động của các đoàn thể chính trị ở một số nơi chưa thường xuyên, thụ động, còn mang tính hình thức, chưa thiết thực.
– Năng lực, trình độ chuyên môn, lý luận của cán bộ, công chức cơ sở còn hạn chế.
– Công tác cán bộ ở cơ sở còn hạn chế.
– Điều kiện kinh tế – xã hội còn khó khăn và trình độ dân trí còn thấp.
– Thiếu sự quan tâm của cấp trên, đặc biệt là cấp huyện.
– Tổ chức, điều hành chưa hợp lý, phối hợp chưa đồng bộ và vướng mắc về cơ chế.
– Bộ máy cồng kềnh, sự phân công công việc không hợp lý.
– Công tác tư tưởng và công tác lý luận còn nhiều yếu kém, bất cập.
– Công tác nhận xét, đánh giá cán bộ không thường xuyên, chưa đạt yêu cầu
– Một số Đảng bộ xã vẫn còn có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
– Công tác quy hoạch cán bộ còn nhiều bất cập, chất lượng quy hoạch thấp.
– Công tác đào tạo, bồi dưỡng còn nhiều bất cập.
– Công tác bố trí, sử dụng cán bộ còn chưa phù hợp
– Công tác thẩm tra, xác minh, xác nhận lịch sử chính trị phục vụ việc phát triển đảng viên, bổ nhiệm, đề bạt cán bộ còn thiếu chặt chẽ
– Trong một số trường hợp, nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách chưa được phát huy một cách đúng mức.
– Một số cấp ủy ở cơ sở còn xem nhẹ công tác kiểm tra, giám sát, không coi đó là nhiệm vụ của cấp ủy.
2.4.3. Nguyên nhân của ưu điểm và tồn tại, hạn chế
* Nguyên nhân của ưu điểm
Sự lãnh đạo của Huyện ủy và UBND huyện Sơn Tịnh, các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước được HTCT cơ sở triển khai thực hiện một cách đúng đắn, kịp thời.
Các cấp ủy đảng đã chú trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên.
Mặt trận và các hội, đoàn thể từ huyện đến cơ sở thường xuyên tiếp xúc với các tầng lớp nhân dân, biết lắng nghe tiếng nói của quần chúng nhân dân, biết khơi dậy và phát huy tính tích cực của quần chúng.
* Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế
Trên địa bàn huyện, hậu quả thiên tai nặng nề, thời gian khắc phục kéo dài, nguồn kinh phí hạn hẹp.
Trong đầu tư phát triển còn dàn trải, chưa xác định rõ và chưa tập trung cho những lĩnh vực trọng tâm cần ưu tiên các nguồn lực, nhằm tạo đòn bẫy cho sự phát triển của các lĩnh vực khác.
Tổ chức bộ máy ở nhiều cơ quan, đơn vị còn chưa hợp lý, biên chế cán bộ, công chức tăng thêm, nhiệm vụ của một số cơ quan chưa đủ rõ, còn chồng chéo.
Đảng chưa làm tốt việc lãnh đạo cụ thể hoá nghị quyết của Đảng về xây dựng nhà nước để có chủ trương kịp thời xử lý những vấn đề phát sinh trong thực tiễn đổi mới.
Việc phân cấp, phân quyền còn chưa hợp lý, còn tình trạng vừa chồng chéo, vừa bỏ trống trong thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương.
Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số Đảng bộ xã còn hạn chế; bộ máy vận hành thiếu đồng bộ, hiệu quả…
Hoạt động của HĐND ở cơ sở nhìn chung còn hạn chế, chất lượng các nghị quyết của HĐND chưa cao.
Hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể còn yếu, nhất là tổ chức đoàn thanh niên, tình trạng hành chính hóa khá phổ biến…
Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở chưa gắn kết chặt chẽ với yêu cầu, nhiệm vụ và quy hoạch cán bộ.
Việc khắc phục, sửa chữa những khuyết điểm, tồn tại, yếu kém qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình và việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chưa được chỉ đạo kiên quyết, thường xuyên, chưa đi vào chiều sâu thực chất.
Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của một số cấp uỷ đảng ở cơ sở chưa thực sự được chú trọng.
Cơ cấu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan khối Đảng, đoàn thể ở một số bộ phận công việc chưa thực sự phù hợp.
Hầu hết đại biểu HĐND huyện và cơ sở hoạt động kiêm nhiệm, lại nặng về công tác chuyên môn của cơ quan, đơn vị, ít dành thời gian tham gia các hoạt động của HĐND

PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC
VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CƠ SỞ TỪ THỰC TIỄN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI
3.1.1. Phương hướng đổi mới mô hình tổng thể tổ chức và hoạt động của HTCT cơ sở ở Việt Nam hiện nay
– Đổi mới phương thức tổ chức HTCT ở các cấp từ HTCT cơ sở đến HTCT quốc gia phải đặt trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng
– Sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của HTCT
– Xác định rõ trách nhiệm của tập thể và cá nhân, nhất là người đứng đầu
– Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của HTCT tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả
– Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền hợp lý giữa cấp trên và cấp dưới, giữa Trung ương và địa phương, gắn quyền hạn với trách nhiệm.
– Mục tiêu cụ thể đến năm 2021 là sửa đổi, bổ sung một số quy định cần thiết liên quan đến tổ chức bộ máy.
– Từ năm 2021 và những năm tiếp theo là tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa một số chủ trương của Đảng liên quan đến đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy thành các quy định của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước để thực hiện.
– Tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên tạo sự thống nhất nhận thức và hành động trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân.
– Thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát của tổ chức đảng, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và của nhân dân về phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.
– Đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin.
3.1.2. Phương hướng đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở
– Đối với hệ thống tổ chức của Đảng, rà soát, bổ sung quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của cấp ủy cơ sở; ban hành quy chế làm việc của cấp ủy sát với địa phương.
– Xây dựng mô hình tiêu biểu đổi mới tổ chức và hoạt động của HTCT cơ sở huyện.
– Tiếp tục kiến nghị hoàn thiện và ban hành các văn bản, nghị quyết của huyện phù hợp với tình hình, nhiệm vụ chính trị của địa phương.
– Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
– Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý.
– Đánh giá lại năng lực, trình độ, phẩm chất của cán bộ, đảng viên trong HTCT cơ sở.
– Thực hiện việc bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, bố trí cán bộ cấp ủy và các cấp chính quyền.
– Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể chính trị – xã hội và hội quần chúng theo hướng tập trung cho cơ sở, sâu sát
– Việc thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở phải đi đôi với tăng cường giám sát của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên.
– Tiếp tục đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh và đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý tận tuỵ, trách nhiệm, có uy tín cao trong nhân dân.
3.2.1. Giải pháp chung
Bảo đảm tăng cường vai trò lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển của huyện trong thời kỳ mới. Đổi mới, hoàn thiện HTCT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng…
3.2.2. Một số giải pháp cụ thể tiếp tục nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở từ thực tiễn huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi
* Đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, phối hợp
Thứ nhất, cần đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo một cách đúng đắn đối với HTCT cơ sở, đưa các chủ trương, chính sách, pháp luật đi vào cuộc sống.
Thứ hai, lãnh đạo, chỉ đạo khắc phục, sửa chữa những khuyết điểm, tồn tại, yếu kém đã chỉ ra sau kiểm điểm.
Thứ ba, lãnh đạo cấp ủy và chính quyền huyện, xã cần quan tâm thực hiện thông qua các biện pháp như: theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kỷ luật, kỷ cương hành chính và trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức.
Thứ tư, lãnh đạo, chỉ đạo các cấp uỷ, tổ chức đảng ở xã tổ chức quán triệt nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện và nghị quyết đại hội chi, đảng bộ cấp mình nhiệm kỳ 2015 – 2020.
Thứ năm, nâng cao vai trò công tác lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức chính trị, xã hội.
* Đổi mới tổ chức và hoạt động của Đảng ủy các xã
– Thứ nhất, cần xác định mô hình tổ chức của Đảng ủy xã hiện nay, nhất là về cấu trúc tổ chức.
– Thứ hai, rà soát chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, nhà nước, kịp thời bổ sung hoàn chỉnh theo quy định mới của Đảng, Nhà nước.
– Thứ ba, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng.
– Thứ tư, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng và cả HTCT.
– Thứ năm, Đảng ủy cơ sở cần tổ chức các hội nghị chuyên đề, tiếp xúc, đối thoại với nhân dân về các vấn đề bức xúc của địa phương
– Thứ sáu, tập trung đổi mới cách thức làm việc của cấp ủy xã, đảm bảo tính khoa học và nghệ thuật lãnh đạo.
– Thứ bảy, hiện nay, cấp ủy cơ sở thường tập trung chủ yếu vào giải quyết các sự việc liên đến thủ tục, các quy định về mặt đảng vụ; vấn đề này ciếm khá lớn thời gian, thường là 70 – 80%.
– Thứ tám, tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX); Nghị quyết Trung ương 6 (khóa X); Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII...
* Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền xã
– Đổi mới việc ban hành văn bản hành chính đảm bảo đúng quy định của pháp luật và đảm bảo sự công bằng, tính pháp lý của nó trong quá trình triển khai thực hiện, nhất là văn bản hành chính của xã..
– Đổi mới cải cách thủ tục hành chính, thực hiện từng bước hiện đại hóa nền hành chính, triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chỉ đạo, điều hành của hệ thống hành chính nhà nước ở cơ sở
– Tập trung rà soát, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật từ huyện đến xã, đảm bảo đúng thẩm quyền, có chất lượng phù hợp thực tế, có tính khả thi nhằm tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong quan hệ giữa cơ quan hành chính với tổ chức và công dân.
– Tổ chức và hướng dẫn các hình thức nhân dân tự quản ở cơ sở và khu vực dân cư đối với những việc dân tự làm hoặc do Nhà nước uỷ thác cho dân làm với sự hỗ trợ của Nhà nước
– Định rõ phận sự, thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị về kết quả hoạt động của bộ máy do mình phụ trách; xác định rõ trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan nhà nước trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân.
– Phát huy mạnh mẽ vai trò của hệ thống chính quyền Nhà nước trong việc mở rộng và thực hiện dân chủ, hoàn thiện cơ chế dân chủ, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở.
– Phát huy vai trò của HĐND xã trong việc xem xét, quyết định các nhiệm vụ về kinh tế, xã hội, an ninh trật tự, đời sống nhân dân, về ngân sách và giám sát việc điều hành của UBND.
– Chính phủ quy định nguyên tắc chung, còn mức phụ cấp cụ thể cho mỗi chức danh cán bộ xã, huyện cần đề nghị HĐND tỉnh quyết định cho sát hợp với điều kiện thực tế của từng xã.
– Kiện toàn và củng cố HĐND, UBND xã để đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ và thẩm quyền đã được phân cấp.
– Cần nghiên cứu phân biệt sự khác nhau giữa hoạt động của chính quyền đô thị với hoạt động của chính quyền ở nông thôn để đa dạng hoá mô hình tổ chức chính quyền cơ sở xã.
– Huyện cần chủ động xây dựng đề án hợp đồng lao động đối với lực lượng sinh viên đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng các chuyên ngành phù hợp và có kế hoạch bồi dưỡng những kiến thức căn bản về lý luận chính trị, tạo điều kiện xây dựng nguồn công chức và cán bộ lãnh đạo, quản lý kế thừa hội đủ phẩm chất, năng lực.
* Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân:
– Kiện toàn lại lãnh đạo của Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội hiện nay trên địa bàn xã đảm bảo những người đứng đầu phải đảm bảo yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, có như vậy mới phát huy năng lực của các cơ quan này trong việc hỗ trợ, thúc đẩy HTCT cơ sở xã ngày càng vững mạnh.
– Mặt trận và các đoàn thể nhân dân ở xã phải hướng mạnh vào việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động sao cho thiết thực. Tránh tình trạng phí thì cứ thu mà chẳng thấy hoạt động gì ngoài hoạt động thu phí của hội viên.
– Đổi mới phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng “hành chính hóa”, quan liêu, xa dân, tăng cường chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động của chính quyền xã; thực hiện tốt việc phản ảnh ý kiến và nguyện vọng của nhân dân.
– Mặt trận và các đoàn thể chính trị – xã hội cần tập trung hướng mạnh về cơ sở; lãnh đạo thực hiện tốt quy chế dân chủ, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân; tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đổi mới hình thức tuyên truyền, vận động nhân dân.
– Tích cực phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận, các đoàn thể trong công tác xây dựng Đảng, chính quyền.
* Về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở cơ sở trên địa bàn huyện
– Triển khai thực hiện tốt công tác rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ nhiệm kỳ 2015 – 2020 và quy hoạch cán bộ cho nhiệm kỳ 2020 – 2025; đưa ra khỏi diện quy hoạch những cán bộ không đủ tiêu chuẩn.
– Tiếp tục đẩy mạnh việc đổi mới, kiện toàn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở.
– Để hoạt động có hiệu quả thì chất lượng của đội ngũ cán bộ xã, thôn, nhất là cán bộ chủ chốt phải cao.
– Cán bộ cơ sở của huyện cần thực hiện nghiêm Quyết định số 519-QĐ/HU ngày 16/6/2016 của Ban Thường vụ Huyện ủy và Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư.
– Cán bộ lãnh đạo xã phải được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức toàn diện; được bố trí, điều động theo nhu cầu và lợi ích của huyện.
– Tăng cường công tác tạo nguồn cán bộ quy hoạch dài hạn kết hợp với nguồn cán bộ trong biên chế.
– Xác định rõ người có năng lực, cần cử đi đào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn quy hoạch.
– Bên cạnh đó, huyện cần chủ động xây dựng và thực hiện đề án hợp đồng lao động đối với lực lượng sinh viên đã tốt nghiệp và có kế hoạch bồi dưỡng những kiến thức căn bản về lý luận chính trị.
– Có kế hoạch, giải pháp phối hợp, khuyến khích, hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ.
– Việc sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức xã cần thực hiện cụ thể theo các phương án của Đề án vị trí việc làm của huyện theo tinh thần Nghị quyết số 39-NQ/TW, ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị; bảo đảm đến năm 2021 tỷ lệ tinh giản tối thiểu là 10% tổng biên chế hưởng lương ngân sách nhà nước.
– Đối với cán bộ không chuyên trách cấp xã: Xác định cơ cấu chức danh cán bộ không chuyên trách từng xã đảm bảo hợp lý về số lượng; tăng cường kiêm nhiệm các chức danh không chuyên trách tại xã để thực hiện tinh giản.
Qua nghiên cứu đề tài luận văn ta thấy, HTCT cơ sở hiện nay đã và đang đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết. Qua phân tích một số tài liệu do địa phương cung cấp và qua khảo sát tình hình, đề tài đã vạch ra những điểm mạnh và điểm yếu của HTCT cơ sở hiện nay, qua đó trình ra những giải pháp có tính định hướng về đổi mới và cải cách hành chính nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của HTCT cơ sở trong thời gian tới.
Tuy nhiên, đối chiếu trước yêu cầu mới của nhiệm vụ kinh tế – xã hội, nhiệm vụ chiến lược đặc biệt quan trọng về an ninh, quốc phòng của khu vực và của quốc gia cho thấy: HTCT cơ sở chưa được vững mạnh và hoạt động ở nhiều xã còn bộc lộ nhiều yếu kém, mối quan hệ giữa các bộ phận cấu thành HTCT cơ sở còn nhiều bất cập trong phối hợp, chưa rõ ràng, cũng như tính chủ động của mỗi tổ chức còn nhiều hạn chế; các tổ chức còn lúng túng trong hình thức tổ chức và phương thức hoạt động chưa ngang tầm với yêu cầu thực tiễn hiện nay, cán bộ ở cấp trên ít hướng về chăm lo cơ sở.
Với việc đề ra phương hướng cơ bản và một số giải pháp đổi mới cả về mặt nhận thức và mặt thực tiễn được đề cập chủ yếu ở nội dung trên (của Chương 3 luận văn), cần được triển khai một cách đồng bộ thì mới mang lại hiệu quả trong quá trình hoàn thiện HTCT cơ sở hiện nay.
Đổi mới, nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của HTCT cơ sở hiện nay là nhằm tạo ra những bước đột phá trong phát triển kinh tế – xã hội, ổn định chính trị, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, các lĩnh vực của đời sống nhân dân ngày càng phát triển cũng chính là mục đích hướng tới của đề tài nghiên cứu này.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 7\HANH CHINH\NGUYEN THAI SON


