Luận văn Giám sát phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xuất phát từ những yêu cầu về lý luận và thực tiễn, có tính cấp thiết và có ý nghĩa thời sự quan trọng trong giai đoạn hiện nay, nên tôi chọn đề tài “Giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận văn Thạc sĩ Luật học, với mong muốn rằng sẽ góp phần nhỏ bé của mình vào việc tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội của HNDVN nói chung và của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam nói riêng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Mục đích tổng quát của đề tài là xây dựng luận cứ khoa học cho việc đề xuất các giải pháp tăng cường giám sát, phản biện xã hội của HNDVN từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam góp phần phát huy dân chủ, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên nông dân.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu làm sáng tỏ cơ sở lý luận của hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam. Phân tích, đánh giá đúng thực trạng giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam (giai đoạn 2014 -2017); làm rõ nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế trong giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam. Xác định các quan điểm và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội của HNDVN nói chung và Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam nói riêng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Các quan niệm khoa học về giám sát, phản biện xã hội và về vai trò của các tổ chức xã hội nói chung, của Hội Nông dân Việt Nam nói riêng; các chủ trương, chính sách, pháp luật về giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam; thực tiễn hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam đối với một số đề án, dự án, chủ trương, chính sách trong quá trình xây dựng và phát triển tỉnh Quảng Nam; kinh nghiệm hoạt động giám sát, phản biện xã hội của HNDVN tại một số tỉnh, thành phố ở Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
– Phạm vi nội dung: Nghiên cứu những vấn đề lý luận về giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam và thực tiễn giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam đối với một số đề án, dự án, chủ trương, chính sách quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển tỉnh Quảng Nam.
– Phạm vi không gian: Nghiên cứu hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam tại tỉnh Quảng Nam trên cơ sở Hiến pháp 2013, Quyết định số 217, 218 của Bộ Chính trị, Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam.
– Phạm vi thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn từ năm 2014 – 2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Luận văn nghiên cứu dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin.
Cơ sở nhận thức lý luận để triển khai các nội dung của luận văn là tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền lực nhân dân, phát huy dân chủ, về kiểm soát quyền lực nhà nước và vai trò tham gia quản lý nhà nước của các tổ chức chính trị – xã hội ở Việt Nam…
5.1. Phương pháp nghiên cứu: Các phương pháp nghiên cứu cụ thể của luận văn bao gồm: Phân tích, tổng hợp; so sánh; hệ thống; xã hội học pháp luật; kết hợp lý luận với thực tiễn…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Góp phần vào việc nâng cao nhận thức lý luận về vị trí, vai trò và chức năng giám sát, phản biện xã hội của HNDVN. Có giá trị ứng dụng trong tổ chức thực hiện chức năng giám sát, phản biện của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam.
6.1. Ý nghĩa thực tiễn: Dùng làm tài liệu tham khảo trong hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại các cơ sở đào tạo luật học và đối với hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ Hội Nông dân ở Việt Nam hiện nay.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam tại tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM
1.1. Khái quát về Hội Nông dân Việt Nam
Hội Nông dân Việt Nam tiền thân là Nông hội đỏ, thành lập ngày 14 tháng 10 năm 1930, trải qua các thời kỳ cách mạng luôn trung thành với Đảng và dân tộc. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, HNDVN là trung tâm, nòng cốt cho phong trào nông dân và công cuộc xây dựng nông thôn mới.
1.1.1. Vị trí, vai trò của Hội Nông dân Việt Nam
Tại Khoản 2, Điều 9 Hiến pháp năm 2013 ghi nhận: Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị – xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình, cùng các tổ chức thành viên khác của Mặt trận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Điều lệ Hội Nông dân Việt Nam khẳng định: Hội Nông dân Việt Nam là đoàn thể chính trị – xã hội của giai cấp nông dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; cơ sở chính trị của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Hội Nông dân Việt Nam có vai trò tập hợp đoàn kết nông dân, xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh về mọi mặt, xứng đáng là lực lượng tin cậy trong khối liên minh vững chắc công, nông, trí, bảo đảm thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn.
1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của Hội Nông dân Việt Nam
Tập hợp, vận động, giáo dục hội viên nông dân phát huy quyền làm chủ, tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực về mọi mặt; đại diện giai cấp nông dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc; chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của HVND, tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ nông dân trong sản xuất, kinh doanh và đời sống.
Nhiệm vụ của Hội là: Tuyên truyền, vận động cán bộ, hội viên nông dân hiểu và tích cực thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nghị quyết, chỉ thị của Hội. Khơi dậy và phát huy truyền thống yêu nước, ý chí cách mạng, tinh thần tự lực, tự cường, lao động sáng tạo của hội viên nông dân; vận động, tập hợp, làm nòng cốt tổ chức các phong trào phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh; xây dựng nông thôn mới; chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của hội viên, nông dân. Trực tiếp thực hiện một số chương trình, đề án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn; hướng dẫn phát triển các hình thức kinh tế tập thể trong nông nghiệp, nông thôn. Tổ chức các hoạt động dịch vụ, tư vấn, hỗ trợ, dạy nghề, khoa học công nghệ giúp nông dân phát triển sản xuất, nâng cao đời sống, bảo vệ môi trường; đoàn kết, tập hợp đông đảo nông dân vào tổ chức Hội, phát triển và nâng cao chất lượng hội viên. Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh về mọi mặt; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh. Tham gia giám sát và phản biện xã hội; mở rộng hoạt động đối ngoại theo quan điểm, đường lối của Đảng.
1.1.3. Cơ cấu tổ chức và các mối quan hệ phối hợp hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam
Về cơ cấu tổ chức, Hội Nông dân Việt Nam được tổ chức ở các cấp, trong đó ở trung ương có Trung ương Hội Nông dân Việt Nam; ở địa phương có Hội Nông dân tỉnh, thành phố; Hội Nông dân huyện, quận, thị xã, thành phố; Hội Nông dân xã, phường, thị trấn. Ở mỗi cấp có ban chấp hành, ban thường vụ Hội Nông dân; ở thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc, tổ dân phố, khu phố…có chi hội nông dân do Hội Nông dân xã, phường, thị trấn thành lập, trong chi hội được chia ra nhiều tổ hội. Các cấp Hội Nông dân đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng, chịu sự chỉ đạo về chuyên môn, nghiệp vụ của Hội cấp trên và sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền, các ban, ngành cùng cấp trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao.
1.2. Lý luận và pháp luật về giám sát của HNDVN
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò giám sát của HNDVN
1.2.1.1. Khái niệm giám sát của Hội Nông dân Việt Nam: Là hoạt động của Hội Nông dân Việt Nam nhằm theo dõi, phát hiện, xem xét, đánh giá, kiến nghị nhằm tác động đối với cơ quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
1.2.1.2. Đặc điểm giám sát của Hội Nông dân Việt Nam: Tính chất, giám sát của Hội Nông dân Việt Nam là giám sát chính trị – xã hội, mang tính nhân dân, không mang tính quyền lực. HNDVN sử dụng nhiều hình thức, biện pháp để vận động đông đảo hội viên nông dân tham gia giám sát, dựa vào sự theo dõi, phát hiện và cung cấp thông tin, các ý kiến, kiến nghị của hội viên để giám sát. Hoạt động giám sát của HNDVN chủ yếu để nhắc nhở, cảnh báo, răn đe, phòng ngừa vi phạm; chủ động phát hiện để kịp thời kiến nghị khắc phục những bất cập, vướng mắc. Chủ thể giám sát của HNDVN rất rộng, đây là quyền và trách nhiệm của tổ chức Hội các cấp, của toàn thể cán bộ Hội và hội viên nông dân. Đối tượng, phạm vi, nội dung giám sát của HNDVN được mở rộng, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Phương pháp giám sát của HNDVN là sự giám sát, theo dõi bên ngoài là chủ yếu.
1.2.1.3. Vai trò giám sát của Hội Nông dân Việt Nam: Giám sát của HNDVN góp phần đảm bảo quyền lực nhân dân, phát huy dân chủ trong quản lý nhà nước và xã hội; góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước; khắc phục tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, lạm quyền; góp phần nâng cao vị thế của HNDVN, là môi trường rèn luyện, nâng cao năng lực và bản lĩnh của cán bộ, HVND.
1.2.2. Chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức và trình tự giám sát của Hội Nông dân Việt Nam
1.2.2.1. Chủ thể giám sát: Chủ thể giám sát của Hội Nông dân Việt Nam ở các cấp được cấu thành gồm 2 thành phần, đó là: Tổ chức Hội ở các cấp từ Trung ương đến cơ sở và cán bộ, hội viên, nông dân.
1.2.2.2. Đối tượng giám sát: Đối tượng giám sát là các cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến cơ sở và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước.
1.2.2.3. Nội dung giám sát
– Hội Nông dân các cấp chủ trì giám sát đối với cơ quan, tổ chức việc tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, nông dân; chức năng, nhiệm vụ của Hội.
– Đối với các cá nhân: Ngoài việc giám sát việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước còn giám sát việc rèn luyện, trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, vai trò tiền phong, gương mẫu, trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhà nước, đại biểu dân cử ở nơi công tác và ở nơi cư trú.
1.2.2.4. Hình thức và trình tự giám sát
– Về hình thức giám sát: Giám sát thường xuyên của cán bộ, hội viên nông dân ở cơ sở; Thành lập đoàn giám sát của Hội hoặc đoàn giám sát liên ngành do Hội Nông dân ở các cấp chủ trì.
– Về trình tự giám sát:
Thứ nhất, đối với giám sát các cơ quan, tổ chức: Trình tự giám sát được thực hiện như sau: Xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát; chương trình, kế hoạch giám sát được báo cáo với cấp ủy cùng cấp trước khi triển khai; thống nhất với cơ quan quản lý nhà nước liên quan để hỗ trợ triển khai thực hiện; tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch giám sát; báo cáo kết quả giám sát; theo dõi việc giải quyết kiến nghị của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền về những kiến nghị của Hội.
Thứ hai, đối với giám sát cá nhân, trình tự giám sát được tiến hành cụ thể như sau: Tổ chức tuyên truyền, vận động để cán bộ, hội viên, nông dân thường xuyên giám sát đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nhà nước, đại biểu dân cử trong việc thực thi công vụ, đạo đức lối sống, vai trò tiền phong, gương mẫu ở nơi công tác và nơi cư trú; Ban Thường vụ Hội Nông dân các cấp thường xuyên tiếp nhận ý kiến phản ánh, kiến nghị, đơn thư khiếu nại, tố cáo của cơ quan, tổ chức, cán bộ, hội viên, nông dân về những hành vi vi phạm; theo dõi việc giải quyết kiến nghị của Hội.
1.3. Lý luận và pháp luật về phản biện xã hội của HND Việt Nam
1.3.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam
1.3.1.1. Khái niệm phản biện xã hội của HND Việt Nam: Là việc Hội Nông dân Việt Nam tổ chức nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
1.3.1.2. Đặc điểm phản biện xã hội của HND Việt Nam: Tính chất phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam mang tính nhân dân, khách quan, xây dựng, khoa học và thực tiễn. Chủ thể phản biện xã hội mở ra cho tất cả các cấp Hội từ trung ương đến cơ sở; phản biện xã hội là quyền và trách nhiệm của tổ chức Hội từ trung ương đến cơ sở. Đối tượng phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam được mở rộng, đa dạng, hầu hết các lĩnh vực của đời sống chính trị, xã hội. Nội dung phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam chủ yếu là phản biện sự cần thiết, tính cấp thiết; sự phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; tính đúng đắn, khoa học, khả thi. Hoạt động phản biện xã hội được thực hiện theo nguyên tắc dân chủ, công khai, minh bạch, bảo đảm sự tham gia của cán bộ Hội, hội viên nông dân.
1.3.1.3. Vai trò phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam: Phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam góp phần bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của hội viên nông dân và của tổ chức Hội; góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc tham mưu, hoạch định các chủ trương, chính sách, kế hoạch…Nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Đảng, Nhà nước và của cán bộ, công chức, viên chức; là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với HVND; góp phần nâng cao vị thế của HNDVN trong hệ thống chính trị; góp phần quan trọng cùng nhiều kênh phản biện xã hội khác giúp cho Đảng và Nhà nước hoạch định, đảm bảo hài hòa các lợi ích xã hội.
1.3.2. Chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức và trình tự phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam
1.3.2.1. Chủ thể phản biện xã hội: Chủ thể phản biện xã hội của HNDVN là tổ chức Hội ở các cấp từ Trung ương đến cơ sở.
1.3.2.2. Đối tượng phản biện: Đối tượng phản biện của HND Việt Nam là các văn bản dự thảo về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật, các quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Nhà nước phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Hội.
1.3.2.3. Nội dung phản biện xã hội: Sự cần thiết, tính cấp thiết của văn bản dự thảo cần phản biện xã hội; sự phù hợp của văn bản dự thảo với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tính đúng đắn, khoa học, phù hợp với thực tiễn nông nghiệp, nông dân, nông thôn và tính khả thi của văn bản dự thảo; dự báo tác động của chủ trương, chính sách đến nông nghiệp, nông thôn và đời sống nông dân của văn bản dự thảo; tham gia phản biện xã hội các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước, nhất là các dự án luật, pháp lệnh, các dự thảo chương trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, của từng địa phương.
1.3.2.4. Hình thức và trình tự phản biện xã hội
– Về hình thức phản biện xã hội: Tổ chức hội nghị; tổ chức hội thảo khoa học lấy ý kiến của cán bộ Hội, các nhà khoa học, cán bộ quản lý, các chuyên gia; gửi văn bản dự thảo đến Hội Nông dân cấp dưới hoặc cấp trên, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để lấy ý kiến phản biện.
– Về trình tự phản biện xã hội: Xây dựng kế hoạch phản biện; tổ chức phản biện; Gửi kết quả phản biện; theo dõi việc tiếp thu ý kiến phản biện.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng tới giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam
1.4.1. Mức độ ổn định của chế độ chính trị và vị thế của Hội Nông dân Việt Nam trong hệ thống chính trị Việt Nam
Giám sát, phản biện xã hội thể hiện quan hệ hợp tác, phối hợp giữa chủ thể và đối tượng, vì vậy cần có sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn Đảng, nhà nước và xã hội, nhất là trong cán bộ, công chức và hội viên nông dân.
1.4.2. Mức độ hoàn thiện của pháp luật về Hội và pháp luật về giám sát, phản biện xã hội
Mức độ hoàn thiện của pháp luật là cơ chế hữu hiệu đảm bảo cho HNDVN thực hiện quyền giám sát, phản biện xã hội, bảo đảm cho hội viên nông dân kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước, cũng như thực hiện việc phản biện xã hội đối với quá trình xây dựng, hoạch định các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng về mở rộng dân chủ, tạo điều kiện để HVND tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng.
1.4.3. Mức độ hợp lý về bộ máy và các mối quan hệ phối hợp trong giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam Để thực hiện tốt công tác giám sát, phản biện xã hội mà Đảng đã giao cho Hội Nông dân Việt Nam, các cấp Hội Nông dân Việt Nam phải có con người với đầy đủ kiến thức pháp luật, nhiệt huyết, thực thi nhiệm vụ trên tinh thần lợi ích chính đáng của hội viên nông dân. Cần phải có sự quan tâm lãnh chỉ đạo sâu sát của các cấp ủy Đảng, sự tạo điều kiện của các cấp chính quyền và sự phối hợp chặt chẽ của các ban, ngành chức năng chuyên môn.
1.4.4. Nguồn lực thực hiện giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam
Xây dựng lực lượng nòng cốt làm nhiệm vụ tiên phong đột phá, phải xây dựng cho được những người thực sự có đức, có tài, có dũng khí, dám phản biện và biết phản biện. Có chính sách quy hoạch đào tạo và thu hút cán bộ có năng lực, đạo đức làm công tác Hội.
Kết luận Chương 1
Chương 1 văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và pháp luật về giám sát, phản biện xã hội của HNDVN; những vấn đề này làm cơ sở cho việc phân tích, đánh giá đúng thực trạng về giám sát, phản biện xã hội của HNDVN nói chung và của HND tỉnh Quảng Nam nói riêng.

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA HỘI NÔNG DÂN VIỆT NAM TẠI TỈNH QUẢNG NAM
2.1. Các yếu tố đặc thù của tỉnh Quảng Nam có ảnh hưởng tới hoạt động giám sát, phản biện xã hội của HNDVN
2.1.1. Đặc điểm địa lý – dân cư, tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Quảng Nam
Quảng Nam phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và nước Lào, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi. Quảng Nam có 15 huyện, 1 thị xã và 2 thành phố, trong đó có 9 huyện miền núi, 2 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện đồng bằng. Diện tích tự nhiên của tỉnh là 10.438 km2. Tính đến năm 2017, dân số Quảng Nam là 1.480.300 người, với mật độ dân số trung bình là 142 người/km2; với 81,4% dân số sinh sống ở nông thôn, có trên 887.000 lao động, chiếm 62% dân số toàn tỉnh, trong đó lao động ngành nông nghiệp chiếm 61,57%, ngành công nghiệp và xây dựng là 16,48% và ngành dịch vụ là 21,95%. Điều kiện tự nhiên, truyền thống lịch sử và những đặc điểm về kinh tế – xã hội trên đây đã tạo nhiều thuận lợi song cũng gây ra không ít khó khăn đối với sự nghiệp phát triển của Quảng Nam trong quá trình CNH, HĐH.
2.1.2. Hệ thống tổ chức của HNDVN tại tỉnh Quảng Nam
Hệ thống tổ chức của HNDVN tại tỉnh Quảng Nam được hình thành theo đơn vị hành chính từ tỉnh đến cơ sở. Theo đó Hội Nông dân các cấp được tổ chức tại 18 huyện, thị xã, thành phố; 243/244 cơ sở Hội; có 1.702 chi Hội, 7.181 tổ Hội; tính đến cuối năm 2017, toàn tỉnh có 221.852 hội viên, chiếm 96% so với hộ nông dân. Ở mỗi cấp có Ban chấp hành là cơ quan lãnh đạo giữa hai kỳ đại hội. Ban Thường vụ thay mặt Ban Chấp hành chỉ đạo các cấp Hội tổ chức thực hiện nghị quyết Đại hội và các nghị quyết của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ.
2.2. Thực trạng giám sát của Hội Nông dân Việt Nam tại tỉnh Quảng Nam
2.2.1. Giám sát quá trình xây dựng chính sách, pháp luật có liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Hằng năm HND tỉnh Quảng Nam xây dựng kế hoạch đi cơ sở, tham gia sinh hoạt với hội viên nông dân để tiếp cận, gần gũi, gắn bó sâu sát với HVND, qua đó lắng nghe, tiếp nhận ý kiến, kiến nghị, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của hội viên nông dân để có những đề xuất, kiến nghị với Đảng, Nhà nước có những chủ trương, chính sách phù hợp với nhu cầu thực tiễn của hội viên nông dân.
2.2.2. Giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật có liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn của các cơ quan nhà nước
2.2.2.1. Giám sát thông qua cử đại diện tham gia các đoàn giám sát: Các cấp Hội Nông dân trong tỉnh đã tham gia cùng với các đoàn giám sát của Đoàn đại biểu Quốc Hội – HĐND tỉnh tiến hành 81 cuộc giám sát tại 67 cơ quan, đơn vị.
2.2.2.2. Giám sát thông qua việc tổng hợp các ý kiến, kiến nghị của cán bộ Hội, hội viên, nông dân: Các cấp HND thường xuyên bám sát cơ sở, chi tổ Hội và hội viên nông dân để kịp thời nắm bắt những tâm tư, nguyện vọng chính đáng và những bất cập trong việc tổ chức thực thi các chính sách, pháp luật của nhà nước để có những kiến nghị, đề xuất kịp thời với Đảng, chính quyền. Đơn cử năm 2017, Hội Nông dân tỉnh đã có những động thái thích đáng để yêu cầu công ty bảo hiểm Bảo Long giải quyết dứt điểm và chi trả tiền bảo hiểm tai nạn cho 140 hội viên nông dân với số tiền 183 triệu đồng. Tham gia trợ giúp pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của ngư dân Trần Văn Liên (xã Bình Minh, huyện Thăng Bình) khởi kiện ra tòa và đã thắng kiện trước Công ty CP đóng tàu Bảo Duy và Công ty TNHH Dịch vụ kỹ thuật Liên Á buộc phải bồi thường cho ngư dân với số tiền 2,8 tỷ đồng do để xảy ra sự cố hư hỏng máy tàu.
2.2.2.3. Giám sát thông qua tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân: Tham gia 51 buổi tiếp công dân định kỳ và 45 buổi giải quyết khiếu nại của công dân tại trụ sở tiếp công dân UBND tỉnh. Tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp cho 45.410 lượt hội viên nông dân, phối hợp giải quyết 2.536 đơn thư khiếu nại tố cáo, hòa giải thành 1.623 vụ việc mâu thuẫn trong nội bộ nông dân, thực hiện 147 cuộc kiểm tra quy chế dân chủ ở cơ sở.
2.2.2.4. Giám sát độc lập theo chương trình giám sát hàng năm: Thực hiện Chương trình phối hợp liên tịch, hằng năm Ban Thường vụ Hội Nông dân tỉnh xây dựng Kế hoạch phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Sở Công thương; Sở Nông nghiệp & PTNT tổ chức giám sát vật tư nông nghiệp tại 4 địa phương: Thăng Bình, Núi Thành, Duy Xuyên, Điện Bàn. Bên cạnh giám sát vật tư nông nghiệp, các cấp HND trong tỉnh đã chủ trì, thực hiện giám sát các nội dung: Giám sát việc thực hiện Nghị quyết 22/2011/NQ-HĐND ngày 09/12/2011 của HĐND tỉnh Quảng Nam về quy định mức khoán kinh phí hoạt động của UBMTTQ VN và các đoàn thể xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam; giám sát việc thực hiện Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ v/v hỗ trợ người có công cách mạng về nhà ở; giám sát việc thực hiện Nghị định 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý, sử dụng đất trồng lúa; giám sát việc thực hiện Quyết định số 35/QĐ-UBND ngày 21/12/2012 của UBND tỉnh Quảng Nam v/v quy định thực hiện cơ chế khuyến khích phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hoá, an toàn dịch bệnh trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2012 – 2015; giám sát việc thực hiện Quyết định số 33/2011/QĐ-UBND ngày 17/11/2011 của UBND tỉnh Quảng Nam v/v quy định cơ chế hỗ trợ đẩy mạnh cơ giới hóa một số khâu trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011 – 2015; thực hiện Kết luận số 61 của Ban Bí thư, Quyết định số 673 của Thủ tướng Chính phủ…
2.2.3. Giám sát cán bộ công chức, đảng viên
Từ năm 2014 – 2017, đã tiến hành 8 cuộc kiểm tra việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với việc thực hiện Nghị quyết TW 4 (khoá XI, XII) đối với cán bộ đảng viên; kiểm tra công tác thu – chi đảng phí…08 cuộc giám sát về thực hiện nhiệm vụ đảng viên theo Điều lệ Đảng, chức trách, quyền hạn được chi bộ phân công; Đảng viên giữ mối liên hệ với cấp ủy nơi cư trú, thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú…
Các cấp Hội tham gia, phối hợp giám sát cán bộ, công chức, đảng viên và đã đề nghị các cơ quan chức năng liên quan thu hồi tiền nộp ngân sách nhà nước 383.549.000đồng, xuất toán 285.000.000 đồng; đề nghị thanh toán đúng theo thực tế so với hồ sơ quyết toán, làm lợi ngân sách nhà nước 1.160.573.000 đồng và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý một số trường hợp vi phạm. Cụ thể: Ông Hồ Thanh Khoa-PCT UBND xã Tam Hải, Núi Thành; 01 trường hợp kiến nghị cơ quan chức năng kiểm tra, xử lý cảnh cáo đối với bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh, công chức Tài chính-Kế toán xã Bình Dương, Thăng Bình có hành vi sai phạm trong thực thi nhiệm vụ được giao.
2.3. Thực trạng phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam tại tỉnh Quảng Nam
2.3.1. Phản biện xã hội theo đề nghị của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành các cấp
Các cấp HND trong tỉnh đã chủ trì, phối hợp, tham gia phản biện xã hội của các dự thảo: Đề án “Tăng cường năng lực giám sát của Ban Thanh tra nhân dân và Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng đối với công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng ở các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2016-2020”; Phương án xây dựng chợ Duy Thành trong Đề án xây dựng Nông thôn mới tại xã Duy Thành giai đoạn 2015-2018; Đồ án qui hoạch chi tiết (1/500) cụm công trình văn hoá, thể thao, du lịch trước tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng; Đề án chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững giai đoạn 2014 – 2015 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam; Đề án sửa đổi, bổ sung giá dịch vụ khám, chữa bệnh; Đề án tuyên truyền, phổ biến và chấp hành Luật Đất đai; Đề án xây dựng nông thôn mới; Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất…
Bên cạnh đó theo đề nghị của HĐND và UBND các cấp và các sở, ngành, các cấp HND trong tỉnh tổ chức góp ý gần 360 dự thảo các văn bản do địa phương ban hành.
2.3.2. Phản biện xã hội từ thực tiễn cuộc sống, sản xuất của hội viên nông dân
Hội viên nông dân là lực lượng đông đảo trong xã hội, mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều tác động trực tiếp đến hội viên nông dân. Vì vậy các cấp Hội Nông dân thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của Hội là thống nhất, tập hợp, thu hút nông dân vào Hội. Để thông qua các cuộc sinh hoạt, hội viên nông dân phát huy dân chủ, tích cực tham gia vào việc xây dựng đảng, xây dựng chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh, tích cực xây dựng tổ chức Hội vững mạnh về tổ chức và hành động.
2.4. Đánh giá chung về thực trạng giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân tại tỉnh Quảng Nam
2.4.1. Ưu điểm và nguyên nhân
Khơi dậy và phát huy được ý thức dân chủ của hội viên nông dân và tích cực tham gia giám sát công việc của Nhà nước. Góp phần tích cực vào công tác xây dựng Đảng, xây dựng và củng cố chính quyền, mở rộng và phát huy dân chủ, ý thức và trách nhiệm của công dân tham gia công việc của nhà nước. Hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong hệ thống chính trị và trong đời sống xã hội.
Có được kết quả rất đáng khích lệ đó là nhờ sự quan tâm lãnh đạo, hướng dẫn về nghiệp vụ của Trung ương HNDVN và sự lãnh đạo trực tiếp của các cấp ủy Đảng, đã tạo điều kiện cho các cấp Hội tổ chức thực hiện công tác giám sát, phản biện xã hội. Bên cạnh đó là sự nổ lực của các cấp Hội đã nghiên cứu, áp dụng nghiêm túc quy chế về công tác giám sát, phản biện xã hội. Sâu sát, gắn bó với cơ sở để gợi mở, phát huy dân chủ, khuyến khích động viên cán bộ Hội và hội viên nông dân tích cực tham gia vào công tác giám sát, phản biện xã hội.
2.4.2. Những hạn chế và nguyên nhân
Việc triển khai thực hiện Quy chế ở một số địa phương còn chậm, lúng túng. Phạm vi, đối tượng giám sát, phản biện xã hội còn bị giới hạn; hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam vẫn còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, chưa hướng vào những vấn đề kinh tế – xã hội bức xúc của xã hội. Nhận thức của cán bộ Hội, của cấp ủy, chính quyền địa phương ở một số nơi cũng chưa đầy đủ về hoạt động giám sát, phản biện xã hội.
Những hạn chế trên đây của hoạt động giám sát, phản biện của Hội Nông dân Việt Nam nói chung và của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam nói riêng xuất phát từ một số nguyên nhân cơ bản sau: Cơ chế pháp lý chưa đầy đủ và đồng bộ để đảm bảo cho việc thực hiện giám sát, phản biện xã hội thực sự hiệu quả. Nhận thức của các cấp uỷ đảng và chính quyền chưa thực sự đầy đủ về hoạt động giám sát, phản biện xã hội. Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam chưa thực sự đủ mạnh để thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội.
Qua phân tích, đánh giá thực trạng công tác giám sát, phản biện xã hội từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam cho thấy thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả tích cực, tuy nhiên vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần phải khắc phục nếu không nó sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả hoạt động giám sát, làm cho hoạt động này chưa tương xứng với mong mỏi của Đảng, Nhà nước và hội viên nông dân. Vì vậy trong thời gian đến cần phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế, tồn tại sẽ được giải quyết bằng các giải pháp cơ bản trong chương 3 của luận văn này để công tác giám sát, phản biện xã hội hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu trong tình hình hiện nay, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của hội viên nông dân.

QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIÁM SÁT,
PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA HNDVN TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM
3.1. Quan điểm tăng cường giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
3.1.1. Giám sát, phản biện xã hội của HND tỉnh Quảng Nam phải đảm bảo phát huy dân chủ, góp phần vào sự nghiệp xây dựng nông thôn mới.
Hoạt động giám sát, phản biện xã hội của HND tỉnh Quảng Nam là hoạt động tham gia xây dựng Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Bởi vậy, khi tiến hành hoạt động này, nhất thiết HND tỉnh Quảng Nam phải phát huy được vai trò làm chủ của HVND, khuyến khích, động viên tinh thần, trí tuệ, năng lực của HVND, xứng đáng là chủ thể xây dựng nông thôn mới.
3.1.2. Giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam phải nhằm nâng cao vị thế, vai trò của Hội Nông dân trong hệ thống chính trị.
HNDVN phải đủ mạnh, đủ uy tín, đại diện cho giai cấp nông dân giám sát, phản biện xã hội để góp phần hoàn chỉnh hơn, phản ánh được tâm tư, nguyện vọng chính đáng của HVND đối với các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.
3.1.3. Giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam phải mở rộng nội dung, đối tượng liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
HND các cấp trên địa bàn tỉnh cần có sự đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động. Chú ý chọn những vấn đề bức xúc, điểm nóng, liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân để tổ chức giám sát, phản biện xã hội.
3.2. Giải pháp tăng cường giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam
3.2.1. Nhóm giải pháp chung
3.2.1.1. Đổi mới nhận thức của các cấp ủy Đảng, chính quyền về vai trò, vị trí của HNDVN trong hệ thống chính trị. Hoạt động giám sát, phản biện xã hội là nhu cầu tất yếu của quá trình dân chủ hóa đời sống chính trị xã hội. Đó là yêu cầu mở ra khả năng để HVND kiểm soát được quyền lực của mình đã uỷ quyền cho nhà nước để chống lại sự lạm quyền, tha hóa quyền lực. Đảng và nhà nước phải nhận thức được việc tiếp nhận giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam là nhu cầu tự thân của công tác xây dựng Đảng và xây dựng nhà nước pháp quyền.
3.2.1.2. Hoàn thiện cơ chế pháp lý về hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam. Cơ chế pháp lý là điều kiện cần thiết để đảm bảo cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam thực hiện được.
3.2.1.3. Chủ động phối hợp với nhà nước trong việc thực hiện hoạt động giám sát, phản biện xã hội. HND chủ động phản ánh với chính quyền về tâm tư nguyện vọng, kiến nghị của hội viên nông dân về chương trình hoạt động, về đời sống, sản xuất, xây dựng nông thôn mới, nhiệm vụ giám sát, phản biện xã hội. Chính quyền có trách nhiệm thông báo về tình hình phát triển kinh tế – xã hội, về triển khai nhiệm vụ chính trị, về việc thực hiện các chương trình phối hợp, giải quyết các ý kiến, kiến nghị của Hội Nông dân.
3.2.1.4. Kiện toàn, củng cố nâng cao chất lượng hoạt động của các cấp Hội Nông dân. Cấp cơ sở, chi, tổ Hội giữ vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng, là nơi đại bộ phận nhân dân cư trú sinh sống; là nơi diễn ra mối quan hệ trực tiếp giữa nhân dân với chính quyền, với hệ thống chính trị; là nơi khởi nguồn những yêu cầu thực tiễn cuộc sống làm động lực nảy sinh ra các chủ trương, chính sách đồng thời cũng là nơi thực hiện và kiểm định giá trị thực tiễn của mọi chủ trương, chính sách.
3.2.1.5. Xây dựng chương trình ký kết liên tịch trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội. Hoạt động giám sát, phản biện xã hội là nhiệm vụ quá mới mẻ được Đảng, Nhà nước giao cho Hội Nông dân Việt Nam. Để đảm đương nhiệm vụ này ngoài nhân lực, vật lực của hệ thống Hội cần có những chương trình ký kết với các ngành chức năng có chuyên môn sâu để phối hợp tổ chức giám sát, phản biện xã hội có hiệu quả.
3.2.1.6. Nâng cao nhận thức của cán bộ, HVND về vai trò và vị trí của HND trong công tác giám sát, phản biện xã hội. Để thực hiện tốt công tác giám sát, phản biện xã hội, cán bộ, hội viên nông dân phải nhận thức đầy đủ, đúng đắn về vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Hội Nông dân, ý thức, trách nhiệm của từng đồng chí cán bộ Hội, của từng hội viên nông dân.
3.2.1.7. Mở rộng đối tượng, nội dung giám sát, phản biện xã hội. Mở rộng nội dung giám sát trên tất cả các lĩnh vực có liên quan đến nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đời sống, văn hóa…để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của hội viên nông dân.
3.2.2. Nhóm giải pháp cụ thể
3.2.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, sự tạo điều kiện của chính quyền trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân tỉnh Quảng Nam. Các cấp ủy Đảng từ tỉnh đến cơ sở tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra, định hướng Hội Nông dân các cấp trong tỉnh xây dựng kế hoạch, tổ chức giám sát, phản biện xã hội. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền tăng cường đối thoại trực tiếp với nhân dân. UBND, các ban, ngành tích cực phối hợp, tạo điều kiện đảm bảo kinh phí cũng như các điều kiện thuận lợi để các cấp Hội Nông dân thực hiện tốt công tác giám sát, phản biện xã hội.
3.2.2.2. Tuyên truyền nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, HVND về nhiệm vụ giám sát, phản biện xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, hội viên, nông dân về nhiệm vụ giám sát, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Chú trọng xây dựng chuyên trang, chuyên mục, đăng tải nội dung liên quan đến việc thực hiện công tác giám sát, phản biện xã hội, tích cực tuyên truyền về các điển hình tốt, sáng tạo. Tập huấn nâng cao trình độ, kỹ năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ giám sát, phản biện xã hội.
3.2.2.3. Kiện toàn, củng cố, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội Nông dân các cấp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Sắp xếp, cơ cấu lại cho hợp lý và bố trí cán bộ Hội khoa học, phù hợp với sở trường, năng lực của từng đồng chí. Đặc biệt bố trí cán bộ tham mưu công tác giám sát, phản biện xã hội phải là những người có kiến thức chuyên ngành luật, có uy tín xã hội, có năng lực, luôn gần gũi, tiếp cận với hội viên nông dân, biết lắng nghe, biết khơi dậy và phát huy được tính tích cực xã hội của HVND. Cần quan tâm và có chính sách hợp lý đối với cán bộ HND cấp cơ sở.
3.2.2.4. Đảm bảo tính công khai, minh bạch, dân chủ trong hoạt động lãnh đạo của Đảng và hoạt động quản lý của nhà nước. Cần phải bổ sung những quy định mới về thủ tục, trình tự xây dựng các văn bản pháp luật, chính sách; ban hành Luật về công khai và minh bạch trong hoạt động hành chính nhà nước; sử dụng công nghệ thông tin, báo chí, xây dựng cơ chế khuyến khích hội viên nông dân tham gia hiến kế, phản biện đối với hoạt động của Nhà nước. Ngoài ra, cần công bố minh bạch, công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng những ý kiến mà các cấp HND đóng góp, và ý kiến của cơ quan có trách nhiệm giải trình, tiếp thu để hội viên nông dân theo dõi.
3.2.2.5. Xác định và lựa chọn vấn đề trọng tâm để giám sát, phản biện xã hội. Lựa chọn, xác định những vấn đề trọng tâm, trọng điểm, những bức xúc, nổi cộm, có ảnh hưởng lớn đến hội viên nông dân để trình cấp ủy Đảng thống nhất nội dung giám sát, phản biện xã hội. Để qua đó đề xuất, kiến nghị các bên có liên quan kịp thời chấn chỉnh, có biện pháp khắc phục hiệu quả.
3.2.2.6. Từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội của các cấp HND trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Chú trọng công tác tuyên truyền, vận động hội viên nông dân nâng cao nhận thức về mọi mặt, nắm bắt thông tin kịp thời, chính xác, nhất là các vấn đề gây bức xúc, nhức nhối, bất cập trong nông nghiệp, nông dân, nông thôn để tổ chức thực hiện giám sát, phản biện xã hội ngày càng nâng cao hiệu lực, hiệu quả, đạt yêu cầu đề ra.
3.2.2.7. Đảm bảo kinh phí cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội. Các cấp chính quyền cân đối, cấp kinh phí ngân sách nhà nước để các cấp Hội có đủ kinh phí để tổ chức thực hiện.
3.2.2.8. Hướng về cơ sở, lấy cơ sở, chi, tổ Hội làm đơn vị hành động, đi đôi với nâng cao chất lượng hội viên. Chăm lo, sâu sát chỉ đạo, hướng dẫn cơ sở tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, nâng cao chất lượng hoạt động của cơ sở, chi, tổ Hội gắn với nâng cao chất lượng hội viên. Từng bước nâng cao trình độ dân trí, phát huy dân chủ, tạo điều kiện để hội viên nông dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền ngày càng trong sạch vững mạnh.
Kết luận Chương 3
Chương 3 của luận văn đã tập trung phân tích, làm rõ quan điểm cũng như đề ra các nhóm giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội của Hội Nông dân Việt Nam nói chung và của Hội Nông dân tỉnh nói riêng trong thời gian đến. Tổ chức thực hiện đồng bộ các giải pháp sẽ nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội, nâng cao vai trò, vị thế của tổ chức Hội trong hệ thống chính trị, đem lại lòng tin trong hội viên nông dân, phát huy dân chủ, tính tích cực của hội viên nông dân, tham gia xây dựng nông thôn mới, xây dựng tổ chức Hội, xây dựng Đảng, Nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh.
KẾT LUẬN
Để thực hiện công tác giám sát, phản biện xã hội mang lại hiệu quả thiết thực, đáp ứng yêu cầu đề ra, trước hết đòi hỏi HND tỉnh Quảng Nam phải đổi mới toàn diện về nhận thức, về tổ chức – cán bộ và phương thức hoạt động, phải xác định giám sát, phản biện xã hội là một công tác quan trọng góp phần nâng cao vị thế, vai trò của tổ chức Hội. Tăng cường đề xuất, kiến nghị với các cấp ủy, chính quyền đối với sự định hướng nhận thức xã hội về vị trí, vai trò Hội Nông dân; bổ sung, hoàn thiện từng bước cơ chế pháp lý và những điều kiện cần thiết đảm bảo cho việc thực hiện giám sát, phản biện xã hội hiệu quả./.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 7\HANH CHINH\THAI THI BICH PHIN\New folder


