“Bảo đảm quyền con người của người bị bắt theo pháp luật tố tụng hình sự Việt nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình
1.Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ quyền con người là một nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững của một quốc gia. Mỗi quốc gia đều xây dựng một hệ thống pháp luật riêng cho quốc gia của mình dựa trên các điều kiện chính trị, kinh tế – xã hội và các giá trị truyền thống văn hóa của quốc gia để bảo đảm các quyền con người được thực hiện một cách tốt nhất và đầy đủ nhất. Bảo đảm quyền con người không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận nó mà còn phải thực thi nhiều biện pháp đồng bộ, được mọi cấp, mọi ngành, mọi người tham gia.
Hoạt động áp dụng BPNC bắt người là hoạt động phức tạp, nhạy cảm, là hoạt động mà quyền con người dễ bị xâm phạm nhất. Bắt người là một chế định pháp lý trong luật tố tụng hình sự Việt Nam. Đây thực chất là các biện pháp ngăn chặn nhằm hạn chế một số quyền của công dân, quyền của con người. Mục đích của các BPNC là để đảm bảo cho các CQTHTT thực hiện được tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong công tác đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo trật tự pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các biện pháp ngăn chặn này cũng nhằm bảo vệ các quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nhưng mặt khác, những BPNC cũng như các hoạt động của các CQTHTT, NTHTT cũng rất dễ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công dân, đến quyền con người. Cho nên vấn đề đặt ra là CQTHTT, NTHTT cần có nhận thức đầy đủ về quyền con người và tầm quan trọng của việc bảo đảm nó. Đồng thời cần phải hiểu rõ các quy định pháp luật về việc đảm bảo quyền con người, bên cạnh nó cần nắm bắt trình tự thủ tục cũng như điều kiện áp dụng BPNC bắt người. Đây vấn đề rất quan trọng để các chủ thể thực thi pháp luật tránh những vi phạm về quyền con người, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà Hiến pháp đã quy định. Ngoài ra còn nâng cao nhận thức của công dân tự bảo vệ những quyền cơ bản của mình trong hoàn cảnh bị áp dụng BPNC bắt người, từ đó có những phản hồi tích cực giúp cơ quan tiến hành tố tụng đảm bảm quyền con người hơn nữa trong hoạt động tố tụng của mình. Thực tiễn tại tỉnh Quảng Bình trong những năm qua cho thấy có nhiều trường hợp vi phạm QCN đối với người bị bắt trong quá trình tiến hành tố tụng. Những vi phạm đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có những bất cập, hạn chế của pháp luật, cơ chế, nhận thức, thái độ của người tiến hành tố tụng, các quy định về chế độ trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng đối với người bị bắt. Vì vậy trên cơ sở thực tiễn, những quy định của pháp luật tố tụng về việc áp dụng BPNC bắt người cũng như việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động này, nhận thấy đây là vấn đề cấp thiết và vô cùng quan trọng cho sự phát triển bền vững. Đặc biệt trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì đây là yếu tố cần được chú ý quan tâm hơn nữa. Với lý do nêu trên tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Bảo đảm quyền con người của người bị bắt theo pháp luật tố tụng hình sự Việt nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình” làm luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Mục đích của luận văn là nhằm đưa ra những giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị bắt theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là làm sáng tỏ một số cơ sở lý luận quy định về bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng nói chung và trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người nói riêng.
Hai là đánh giá thực tiễn bảo đảm quyền con người trong hoạt động áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người của cơ quan tiến hành tố tụng tại tỉnh Quảng Bình qua đó chỉ ra những điểm còn thiếu sót, chưa hợp lý trong quy định của pháp luật áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người với việc bảo đảm quyền con người.
Ba là đề xuất những giải pháp hoàn thiện các quy định của bộ luật tố tụng hình sự và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là bảo đảm quyền con người của người bị bắt theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài mà tác giả chọn để nghiên cứu được bao quát trong phạm vi liên quan đến vấn đề bảo đảm quyền con người của người bị bắt trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Bình giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016. Do giới hạn của luận văn chỉ nghiên cứu bảo đảm quyền của người bị bắt theo quy định của BLTTHS nên tác giả chỉ nghiên cứu bảo đảm quyền của người bị bắt gồm: Người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, quả tang, truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam và bắt người bị yêu cầu dẫn độ.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Việc nghiên cứu đề tài dựa trên phương pháp luận, thế giới quan của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp cụ thể được sử dụng trong quá trình nghiên cứu kết hợp việc sử dụng các phương pháp như phương pháp lý luận, phân tích, so sánh, chứng minh…được sử dụng để làm rõ những vẫn đề lý luận chung về bảo đảm quyền con người của người bị bắt.
Phương pháp nghiên cứu, lý luận, phân tích, hệ thống, đối chiếu, suy luận, logic … được sử dụng để làm rõ các vấn đề thực trạng về quyền con người của người bị bắt từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm, phân tích, suy luận logic được sử dụng để kiến nghị hoàn thiện các giải pháp bảo đảm quyền con người của người bị bắt.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn đã góp phần làm rõ thêm nhiều vấn đề lý luận về quyền con người và bảo đảm quyền con người của người bị bắt trong pháp luật tố tụng hình sự.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đã phân tích các quy định của pháp luật và đánh giá khách quan thực tiễn bảo đảm quyền con người trong hoạt động áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người, từ đó đã chỉ ra những bất cập, hạn chế trong hoạt động trên. Đồng thời đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự quy định về áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người và tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị bắt trong luật tố tụng hình sự Việt nam.
Ngoài lời cam đoan, bảng chữ viết tắt, phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm ba chương:
– Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người của người bị bắt.
– Chương 2: Thực trạng bảo đảm quyền con người của người bị bắt trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
– Chương 3: Các giải pháp bảo đảm quyền con người của người bị bắt
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM
QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ BẮT
1.1. Một số khái niệm liên quan đến bảo đảm quyền con người của người bị bắt
1.1.1. Khái niệm quyền con người và bảo đảm quyền con người
Quyền con người là những nhu cầu, lợi ích vốn có, tự nhiên. Được áp dụng cho tất cả mọi cá nhân, không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào. Mọi quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, việc bảo đảm các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc và tác động lẫn nhau. Được ghi nhận trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
Bảo đảm quyền còn người là: là sự ghi nhận, thực hiện và bảo vệ quyền con người, để quyền con người được tôn trọng và thực thi trên thực tế, mặt khác có những biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn những nguy cơ, hành vi có thể xâm phạm đến quyền con người. Bên cạnh đó bảo đảm cũng có thể hiểu là phải chắc chắn và luôn được thực hiện.
1.1.2. Khái niệm người bị bắt, phân loại người bị bắt
Người bị bắt là người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, bao gồm bị can, bị cáo, người đang bị truy nã, người đang bị dẫn độ hoặc thậm chí là người chưa bị khởi tố về hình sự có thể bị áp dụng trong những trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang, nhằm kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 109 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Các trường hợp bắt người gồm bắt người bị tạm giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ”.
1.1.2.1. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam
Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là bắt người đã bị khởi tố về hình sự hoặc người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử để tạm giam nhằm ngăn chặn bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
- Bắt người trong trường hợp khẩn cấp
Bắt người trong trường hợp khẩn cấp là bắt người khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của họ hay bắt người sau khi thực hiện tội phạm mà người đó bỏ trốn, cản trở việc điều tra, khám phá tội phạm.
- Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã
Bắt người phạm tội quả tang là bắt người khi người đó đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện hoặc đuổi bắt. Phạm tội quả tang có đặc điểm là hành vi phạm tội cụ thể, rõ ràng không cần phải điều tra, xác minh.
- Bắt người bị yêu cầu dẫn độ.
Dẫn độ tội phạm được hiểu là việc một quốc gia chuyển giao cho quốc gia khác người có hành vi phạm tội đang có mặt trên lãnh thổ của quốc gia mình để quốc gia được chuyển giao tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự (TNHS) hoặc thi hành bản án (THA) đã có hiệu lực pháp luật đối với người đó.
Khái niệm bảo đảm quyền con người của người bắt
Bảo đảm quyền con người của người bị bắt trong tố tụng hình sự là việc các cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho một người trước và sau khi bị bắt được thực hiện trên thực tế các quyền con người một cách đầy đủ và hợp pháp.
1.2. Bảo đảm quyền con người của người bị bắt theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam
1.2.1. Các quyền con người của người bị bắt theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.2.1.1.Các quyền con người, quyền công dân của người bị bắt
Quyền được tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (Điều 4),Quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 5); Quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 6); Quyền được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản (Điều 7); Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín (Điều 8); Quyền được suy đoán vô tội (Điều 9); Quyền được bào chữa (Điều 11); Quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự quyền lợi khi bị oan, sai (Điều 29, 30); Quyền được khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự (Điều 31); Ngoài ra, BLTTHS năm 2015 còn qui định bổ sung các quyền con người, quyền công dân mà người bị bắt được hưởng gồm: Quyền được tôn trọng và bảo vệ quyền con người và lợi ích hợp pháp (Điều 8); Quyền được Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình (Điều 12); Bên cạnh đó BLTTHS 2015 còn quy định về quyền im lặng, chi tiết cụ thể tại các Điều 58 khoản 1 điểm d, Điều 59 khoản 2 điểm c, Điều 60 khoản 1 điểm d, Điều 61 khoản 2 điểm h. Một trong những điểm mới đáng chú ý, thể hiện tinh thần bảo hiến một cách rõ ràng là việc người bị bắt “được thực hiện quyền bầu cử theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân theo quy định của Luật trưng cầu ý dân” (quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 9 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam)
1.2.1.2 Các quyền tố tụng của người bị bắt
* Quyền được biết lý do mình bị bắt: Người bị nghi ngờ phạm tội cần được biết lý do mình bị cơ quan có thẩm quyền bắt giữ về hành vi gì, phạm vào điều luật nào của BLHS thì họ mới có thể đưa ra các chứng cứ gỡ tội cho mình.
* Quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ: Các CQTHTT, NTHTT phải giải thích cho người bị bắt hiểu rõ họ có những quyền và nghĩa vụ gì khi tham gia vào quá trình tố tụng, để khiến họ yên tâm, tin tưởng vào pháp luật và có thể sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
* Quyền trình bày lời khai của người bị bắt: Việc trình bày lời khai của người bị bắt là quyền chứ không phải nghĩa vụ, người bị bắt sử dụng quyền này của mình để khai báo những tình tiết có lợi cho mình nhằm chứng minh mình vô tội hoặc phạm tội ở mức độ nhẹ hơn tội đã bị khởi tố hay đưa ra những tình tiết, lý do để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho mình.
* Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa: Khi tham gia vào quá trình tố tụng, ngoài việc người bị bắt đưa ra những lý lẽ, chứng cứ để “gỡ tội” cho mình thì người bị bắt còn thực hiện quyền tự bào chữa của mình thông qua việc thực hiện các quyền như quyền trình bày lời khai, quyền đưa ra tài liệu, đồ vật yêu cầu.
* Quyền được đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu: Quy định này của pháp luật chỉ rõ người bị bắt có quyền đưa ra những tài liệu, đồ vật nhằm chứng minh họ không liên quan đến vụ việc mà họ bị bắt giữ, họ cũng có quyền yêu cầu xác minh lại sự việc, yêu cầu CQĐT đưa ra những bằng chứng được coi là có căn cứ bắt giữ họ.
* Quyền trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền THTT kiểm tra, đánh giá: BLTTHS 2015 đã bổ sung thêm quyền trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền THTT kiểm tra, đánh giá.
* Quyền khiếu nại vê việc bắt, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng: Người bị bắt thực hiện quyền này nếu thấy việc mình bị bắt là sai, trái với quy định của pháp luật và không có căn cứ, các quyết định khác có liên quan như khám nhà, khám người, tạm giữ đồ vật, tài liệu khi khám xét; trong quá trình lấy lời khai, cán bộ điều tra đã có những hành vi bức cung, mớm cung, nhục hình hoặc không bảo đảm các quyền của người bị bắt theo quy định của pháp luật.
1.2.2. Nội dung bảo đảm quyền con người của người bị bắt theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
1.2.2.1. Bảo đảm các quyền con người, quyền công dân chung của người bị bắt
Một là, quy định đúng đắn, hợp lý về nội dung và thực hiện các nguyên tắc tố tụng hình sự. Hai là, cần phải quy định đầy đủ, hợp lý địa vị pháp lý của các chủ thể tố tụng hình sự. Ba là, quy định hợp lý các biện pháp cưỡng chế tố tụng. Tính cưỡng chế trong tố tụng hình sự hiển diện ở nhiều hình thức, biện pháp tố tụng khác nhau như các biện pháp ngăn chặn, thủ tục tiến hành các biện pháp điều tra (khám xét, xem xét dấu vết, thu giữ vật chứng…). Bốn là, quy định các thủ tục tố tụng hình sự dân chủ, công khai. Dân chủ hóa các mặt đời sống xã hội, trong đó có hoạt động tố tụng là xu thế tất yếu của Nhà nước pháp quyền. Năm là, quy định và thực hiện việc giám sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động của cơ quan, người tiến hành tố tụng; Sáu là, quy định cụ thể quyền khiếu nại của người bị bắt người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đối với hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng; Bảy là, quy định đầy đủ và chặt chẽ chế độ trách nhiệm đối với việc vi phạm quyền con người trong tố tụng hình sự.
1.2.2.2. Bảo đảm các quyền tố tụng của người bị bắt
Là nhằm xây dựng cơ sở pháp lý và tạo điều kiện trên thực tế để những người đó có khả năng chứng minh bác bỏ sự nghi ngờ phạm tội từ phía người và cơ quan có thẩm quyền, bác bỏ sự buộc tội của cơ quan có thẩm quyền và làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với tội phạm mà người đó thực hiện.
1.2.3. Các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền của người bị bắt theo pháp luật TTHS Việt Nam
1.2.3.1. Bảo đảm về mặt pháp lý
Thứ nhất, cần thiết bảo đảm tuân thủ, thực hiện tốt các nguyên tắc bảo đảm quyền con người của người bị bắttheo pháp luật TTHS Việt Nam.
Thứ hai, cần quy định hợp lý cụ thể địa vị pháp lý của người bị bắt, quy định cụ thể quyền hạn, trách nhiệm cuả CQTHTT, NTHTT trong từng giai đoạn tố tụng.
Thứ ba, cần có quy định đầy đủ và hợp lý về quá trình thu thập những tài liệu, chứng cứ và quyền trình bày ý kiến về chứng cứ của người bị bắt.
Thứ tư, cần quy định cụ thể về điều kiện, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng nói chung, các biện pháp ngăn chặn nói riêng đối với người bị bắt.
Thứ năm, cần quy định đầy đủ và chặt chẽ chế độ trách nhiệm đối với NTHTT, giải quyết nhanh những trường hợp bị bắt oan, sai.
1.2.3.2. Bảo đảm về mặt tổ chức, cơ chế thực hiện
Thứ nhất, cần nhanh chóng bổ sung đủ số lượng đồng thời nâng cao chất lượng điều tra viên, kiểm sát viên đáp ứng đòi hỏi yêu cầu của công tác điều tra, giải quyết các vụ án hình sự.
Thứ hai, phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tham gia quá trình bắt, giải quyết vụ án đảm bảo tính khách quan, đúng pháp luật.
Thứ ba, bảo đảm trách nhiệm chứng minh tội phạm và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị bắt.
Thứ tư, đối với VKS chỉ phê chuẩn lệnh bắt khi đã xác định rõ căn cứ chứng tỏ người bị bắt đó sẽ gây khó khăn cho công tác điều tra vụ án.
1.2.3.3. Bảo đảm về mặt nhận thức, năng lực thực hiện của các chủ thể bảo đảm quyền con người của người bị bắt
Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức của CQTHTT, NTHTT trong việc nhận thức đúng tầm quan trọng về quyền của người bị bắt và bảo đảm các quyền của người bị bắt được thực hiện.
Thứ hai, quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cần phải bảo đảm thực hiện một cách triệt để hiệu quả và được các chủ thể THTT nhận thức đúng nội dung, ý nghĩa và tầm quan trọng của nó.
Thứ ba, thực tiễn trong hoạt động TTHS vẫn còn xuất hiệu nhiều trường hợp, tư tưởng xem nhẹ vai trò của người bào chữa và một số biểu hiện cản trở gây khó khăn cho luật sư khi tham gia tố tụng điều này vô tình làm giảm đi hiệu quả trong công cuộc đấu tranh chống tội phạm.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA NGƯỜI BỊ BẮTTRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1. Tổng quan thực trạng bảo đảm quyền con người của người bị bắt trong tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
2.1.1. Tổng quan tình hình chính trị, kinh tế và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung ở tỉnh Quảng Bình
Tỉnh Quảng Bình là một tỉnh ven biển thuộc Bắc Trung Bộ, phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Hà Tỉnh, phía Nam tiếp giáp với tỉnh Quảng Trị, phía Tây tiếp giáp tỉnh Savanakhet và Khăm Muộn của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, phía Đông tiếp giáp với biển Đông. Tỉnh Quảng Bình với diện tích tự nhiên 8.065 km2, dân số hiện tại trên 872.925 người. Tỉnh có bờ biển dài 116,04 km ở phía Đông và có chung biên giới với Lào 201,87 km ở phía Tây. Có rất nhiều thành phần dân cư ở nhiều địa phương của những tỉnh khác và cả khách du lịch nước ngoài đến tỉnh Quảng Bình với nhiều mục đích như định cư lập nghiệp, tạm trú để làm ăn buôn bán, du lịch… nền kinh tế của tỉnh ngày càng được phát triển đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng lên. Theo đó tình hình tội phạm cũng phát triển theo chiều hướng gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp. Đặc biệt do sự cố môi trường biển dẫn đến một số bộ phận dân cư không có công ăn việc làm hoặc việc làm không ổn định là điều kiện làm phát sinh tội phạm ngày càng nhiều làm cho tình hình trật tự, trị an trên địa bàn tỉnh hết sức phức tạp. Trong thời gian qua, tỉnh Quảng Bình đã đề ra nhiều kế hoạch chỉ đạo, tập trung lực lượng, áp dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ và tuyên truyền nhân dân tích cực tham gia đấu tranh, phòng, chống tội phạm.
2.1.2. Tổng quan tình hình bảo đảm quyền con người của người bị bắt trong tố tụng hình sự trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
Trong thời gian qua, việc bắt người tuân theo các trình tự, thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự của các cơ quan THTT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đảm bảo có căn cứ, đúng pháp luật, phục vụ tốt công tác điều tra, xét xử, không để xảy ra việc phê chuẩn áp dụng các biện pháp ngăn chặn sau đó bị oan sai hoặc từ chối phê chuẩn không có căn cứ dẫn đến người bị bắt bỏ trốn gây khó khăn cho công tác điều tra, thời hạn tố tụng nhìn chung được bảo đảm. VKS thực hiện tốt các chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, kịp thời hủy bỏ các quyết định trái pháp luật, xâm phạm quyền con người của người bị bắt.
2.2. Thực trạng các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền con người của người bị bắt trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
2.2.1.Yếu tố cơ sở pháp lý và triển khai hướng dẫn pháp luật
Hiện nay khung pháp lý cho hoạt động bảo vệ quyền con người của người bị bắt trong tố tụng hình sự ngày một được hoàn thiện. Ngoài các quy định trong BLTTHS 2003, các nghị định và trong thời gian tới BLTTHS 2015, Luật tạm giữ, tạm giam năm 2015 có hiệu lực thi hành sẽ góp phần hoàn thiện hơn trong việc bảo đảm quyền con người của người bị bắt, là cơ sở pháp lý cao hơn những văn bản pháp lý hiện hành nhằm bảo vệ đầy đủ quyền lợi cho người bị bắt.
2.2.2. Yếu tố về mặt tổ chức, cơ chế thực thiện
2.2.2.1. Công tác tổ chức cán bộ
Nhằm thực hiện yêu cầu về công tác cán bộ theo tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách công tác tư pháp đến năm 2020, trong thời gian qua các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã kiện toàn tổ chức cán bộ, bồi dưỡng nâng cao năng lực công tác; thực hiện công tác điều động, luân chuyển, sắp xếp bổ nhiệm, tái bổ nhiệm và tuyển dụng mới cán bộ đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ. Chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức được đảm bảo theo đúng quy định của Nhà nước, của các Ngành.
2.2.2.2. Về cơ sở vật chất
Thực tế do những khó khăn về kinh tế ở nước ta nói chung và tỉnh Quảng Bình nói riêng, hiện nay còn thiếu các điều kiện để chăm sóc sức khỏe, các điều kiện sống, sinh hoạt đối với người bị bắt tạm giữ, tạm giam chưa được bảo đảm, một số nhà tạm giữ, trại tạm giam bị xuống cấp nghiêm trọng, do điều kiện kinh tế từng địa phương và giá cả thị trường ngày một tăng cao nên các quy định đó chưa phù hợp với thực tế, dẫn đến chế độ ăn chưa được đảm bảo đối với người bị bắt tạm giữ, tạm giam.
2.2.3. Yếu tố về mặt nhận thức, năng lực thực hiện của chủ thể đảm bảo quyền con người của người bị bắt
Trong thời gian qua các CQTHTT, NTHTT trên địa bàn tỉnh Quảng Bình đã nhận thức một cách đầy đủ về nội dung, ý nghĩa và tầm quan trọng quyền con người của người bị bắt. Do đó, quyền con người của người bị bắt luôn được bảo đảm thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, đồng thời tạo điều kiên thuận lợi để người bị bắt thực hiện các quyền của mình, bảo đảm thực hiện hiệu quả.
2.3. Những kết quả, vi phạm, sai lầm và nguyên nhân
Qua thực tiễn áp dụng BLTTHS trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, thời gian qua cho thấy nhiều quy định trong BLTTHS và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan chưa chặt chẽ, có quy định còn lạc hậu so với sự phát triển của xã hội theo xu hướng hội nhập, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế; thủ tục bắt; chế độ tạm giữ, tạm giam; việc tham gia tố tụng của người bào chữa; vấn đề thu thập chứng cứ cũng còn nhiều điểm bất cập làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị bắt. Kể từ khi có BLTTHS 2015 thì việc đảm bảo quyền con người của người bị bắt cũng được cũng cố hơn tuy nhiên trên thực tế thì BLTTHS 2015 vẫn chưa có hiệu lực thi hành, nó chỉ được thi hành những điều có lợi cho người thực hiện hành vi phạm tội.
2.3.1. Những kết quả đạt được
Bảng 2.1: Bảng thống kê các trường hợp bắt và tạm giữ
từ năm 2012 – 2016
| Năm | 2012 | 2013 | 2014 | 2015 | 2016 | |
| Các hình thức bắt | Khẩn cấp | 184 | 125 | 127 | 111 | 90 |
| Quả tang | 117 | 115 | 113 | 97 | 161 | |
| Truy nã | 26 | 12 | 13 | 10 | 9 | |
| Tổng số | 327 | 252 | 253 | 218 | 260 | |
| Đầu thú, tự thú | 26 | 23 | 22 | 8 | 4 | |
| Tổng số tạm giữ | 353 | 275 | 275 | 226 | 264 | |
| Giải quyết | Khởi tố áp dụng biện pháp ngăn chặn khác | 44 | 47 | 50 | 37 | 44 |
| Trả tự do (xử lý hành chính) | 03 | 02 | 7 | 8 | ||
| Chuyển tạm giam | 246 | 223 | 225 | 179 | 212 | |
| Tỷ lệ giải quyết | 83% | 98% | 100% | 98% | 100% | |
Nguồn: Phòng thống kê – Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình
Từ số liệu bảng thống kê cho thấy trong 05 năm trở lại đây số người bị bắt trong các trường hợp khẩn cấp, quả tang, truy nã tăng giảm không ổn định. Năm 2012 tăng 31 người so với năm 2011. Năm 2013 giảm 75 người so với năm 2012. Năm 2014 tăng 01 người so với năm 2013. Năm 2015 giảm 35 người so với năm 2014. Năm 2016 tăng 42 người so với năm 2015. Điều đáng quan tâm nhất là số lượng người bị tạm giữ liên tục giảm từ năm 2013 đến năm 2015. Điều này cho thấy NTHTT đã rất thận trọng trong khi bắt tạm giữ một đối tượng mà bị nghi thực hiện tội phạm và có hành vi bị nghi là phạm tội. Tuy nhiên đến năm 2016 thì lại tăng cao nhưng nhìn chung thì vẫn giảm nhẹ so với năm 2014 đây cũng là do sự tác động không hề nhỏ của bộ luật TTHS 2015 về những quy định có lợi cho người bị bắt.Tỷ lệ phân loại bắt giữ hàng năm đều đạt tỷ lệ 100%, tỷ lệ giải quyết số người bị bắt và tạm giữ qua các năm đều đạt trên 83%. Đặc biệt, trong những năm trở lại đây đã chấm dứt hoàn toàn tình trạng bắt giữ người không có lệnh hợp pháp.
Bảng 2.2: Bảng thống kê các trường hợp bắt và tạm giam từ năm 2012 – 2016
| Năm | 2012 | 2013 | 2014 | 2015 | 2016 | |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Tổng số tạm giam | 717 | 560 | 582 | 647 | 519 | |
| Bắt bị can bị cáo để tạm giam | 187 | 180 | 190 | 251 | 161 | |
| Giải quyết | 507 | 457 | 397 | 489 | 387 | |
| Hình thức giải quyết | Hủy bỏ tạm giam | 06 | 07 | 11 | ||
| Thay đổi biện pháp ngăn chặn | 126 | 115 | 112 | 192 | 116 | |
| Hội đồng xét xử trả tự do (Cho hưởng án treo; Hình phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thơi gian tạm giam) | 24 | 12 | 5 | 11 | 10 | |
| Án có hiệu lực chuyển trại | 351 | 323 | 269 | 286 | 261 | |
| Tỷ lệ giải quyết | 70% | 81% | 68% | 75% | 74% | |
Nguồn: Phòng thống kê – Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình.
Theo số liệu thống kê về tình hình kiểm sát việc bắt bị can, bị cáo tạm giam, 05 năm gần đây số lượng người bị bắt tạm giam có chiều hướng giảm đáng kể từ năm 2012 bắt 187 người thì đến năm 2016 chỉ còn 161 người. Tỷ lệ giải quyết tạm giam về cơ bản tăng dần qua các năm từ 70% năm 2012 lên 74% năm 2016. Nguyên nhân qua các năm tỷ lệ giải quyết tăng là do thời gian qua tỉnh đã quán triệt thực hiện chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới.
Số tỷ lệ được trả tự do trên tổng số đã giải quyết giảm dần qua các năm từ 24 người năm 2012 xuống còn 10 người năm 2016 chứng tỏ tỷ lệ bắt tạm giam oan, nhầm hoặc người bị bắt phạm tội đến mức độ không phải tạm giam đã giảm dần. Đó chính là nhờ kết quả của việc đảm bảo quyền con người của người bị bắt ngày càng được chú trọng.
2.3.2. Những khó khăn, vướng mắc, vi phạm và sai lầm
Thứ nhất, tuy đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong công tác kiểm sát việc bắt và tạm giữ, tạm giam đối với người bị bắt trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong những năm qua, song việc bắt và tạm giữ, đối với người bị bắt bị tình nghi thực hiện tội phạm vẫn còn nhiều hạn chế, từ đó dẫn đến tình trạng cơ quan có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ hình sự sau phải trả tự do cho người bị tạm giữ vẫn còn xảy ra.
Thứ hai, thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy các cơ quan tiến hành tố tụng đã quá lạm dụng biện pháp ngăn chặn bắt.
Thứ ba, chúng ta có thể thấy người bị bắt là người chỉ bị nghi thực hiện tội phạm (trừ trường hợp bắt bị can, bị cáo để tạm giam, hay bắt theo lệnh truy nã) cho nên việc họ bị cơ quan tiến hành tố tụng bắt sẽ ảnh hưởng rất lớn đến uy tính, danh dự, ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của họ.
Thứ tư, chúng ta cần nhận thấy rằng bắt bị can, bị cáo để tạm giam và tạm giam là hai biện pháp ngăn chặn hoàn toàn độc lập với nhau. Thế nhưng thực tế cơ quan tiến hành tố tụng lại không có sự phân định rõ ràng giữa hai quy định này mà gộp thành một đó là bắt để tạm giam luôn như vậy thực tế thời điểm tạm giam được tính từ thời điểm bắt.
Thứ năm, thực tế trên địa bàn tỉnh Quảng Bình trong thời gian qua các trường hợp bắt quả tang lập biên bản nhưng không có chữ ký của người bị hại, người làm chứng hoặc lập biên bản bắt khẩn cấp mà không có chữ ký của đại diện chính quyền địa phương, người láng giềng làm chứng.
Thứ sáu,thực tế cho thấy vẫn còn tình trạng lạm dụng biện pháp bắt tạm giam. Nhiều trưởng hợp, căn cứ tạm giam chưa thể hiện cụ thể.
Thứ bảy, người bị tạm giữ, tạm giam sau khi bị bắt là người bị nghi thực hiện tội phạm, chưa phải là người bị kết tội theo bản án của Tòa án, việc họ bị hạn chế một số quyền nhất định như việc người bị tạm giữ, tạm giam phải ở trong một căn phòng với diện tích chật hẹp ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt cũng như sức khỏe của họ.
Thứ tám, việc bảo đảm quyền khiếu nại của người bị bắt phụ thuộc rất nhiều vào CQTHTT và NTHTT.
2.3.3. Nguyên nhân dẫn đến những vi phạm và sai lầm trong quá trình thực hiện đảm bảo quyền con người của người bị bắt
Thứ nhất, công tác xây dựng pháp luật của nước ta còn chậm, kỹ thuật lập pháp chưa cao.
Thứ hai, xuất phát từ ý chí chủ quan của các chủ thể áp dụng pháp luật, bởi lẽ nhận thức về việc bảo đảm quyền con người trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn là một trong những yếu tố quyết định hiệu quả của cơ chế bảo vệ quyền của người bị bắt
Thứ ba, quy định trách nhiệm chưa được rõ ràng, minh bạch và nghiêm minh đối với các vi phạm quyền con người của người bị bắt từ phía người tiến hành tố tụng.
Thứ tư, theo quy định của BLTTHS có các quyền của người bị bắt nhưng không có quy định cụ thể để người bị bắt thực hiện quyền đó như thế nào
Thứ năm, một số vấn đề khách quan ảnh hưởng tới quyền con người trong việc áp dụng pháp luật đó là: các điều kiện về phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật hay chế độ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử chưa được ưu tiên đầy đủ.

CHƯƠNG 3
CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦANGƯỜI BỊ BẮT
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người đối với người bị bắt
3.1.1. Hoàn thiện nguyên tắc bất khả xâm phạm về thân thể
Thứ nhất, Cần phải tôn trọng quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, Nhà nước quy định chỉ trong trường hợp phạm tội quả tang thì công dân mới bị bắt.
Thứ hai, Việc bắt và giam giữ người phải theo quy định của bộ luật TTHS. Bên cạnh việc yêu cầu về thẩm quyền ra quyết định bắt người và trường hợp đặc biệt được bắt khi chưa có lệnh bắt thì luật còn quy định về trình tự, thủ tục tiến hành chưa rõ ràng và cụ thể.
Thứ ba, Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình. Khi một người bị bắt hay giam giữ thì quyền công dân hay các quyền cơ bản khác của con người vẫn được pháp luật bảo vệ và buộc các cá nhân, tổ chức tôn trọng.
3.1.2. Hoàn thiện nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa, quyền có người bào chữa của người bị bắt
Thứ nhất: Điều 16 BLTTHS 2015 quy định vẫn chưa có chế tài cụ thể với việc trách nhiệm giải thích của CQTHTT về quyền của người bị buộc tội vì thế cần phải thêm quy định chế tài đối với các hành vi quên hoặc cố tình quyên việc thông báo, giải thích các quyền lợi của người bị bắt
Thứ hai: việc quy định về chủ thể là “người bị buộc tội” là một quy định vắn tắt và quá chung chung. Pháp luật nên quy định rõ ràng và chi tiết hơn cho từng đối tượng bị bắt, có thể nhiều câu chữ hơn nhưng người dân, người bị bắt sẽ dễ hiểu hơn để áp dụng quyền lợi của mình
Thứ ba: BLTTHS mới chỉ quy định quyền và nghĩa vụ của người bào chữa khi bào chữa chứ chưa quy định cơ chế để họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
3.1.3. Hoàn thiện chế định quyền im lặng của người bị bắt
Cần quy định bổ sung một điều luật trong Bộ luật tố tụng hình sự ghi nhận người bị bắt có quyền im lặng. Tuy nhiên cũng cần phải cẩn thận với quyền “ im lặng” nếu nói về để đảm bảo quyền con người thì nó rất tốt vì quyền này giúp cho người bị bắt không bị mớm cung dẫn tới việc không có tội lại trở thành có tội theo như ý muốn của các ĐTV. Mặt khác nếu quá coi trọng quyền “ im lặng” thì việc điều tra của cơ quan điều tra sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
3.1.4. Hoàn thiện chế định các biện pháp ngăn chặn
Cần bổ sung quy định về cơ chế, thủ tục áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác biện pháp tạm giam. Bên cạnh đó, cần quy định thêm điều kiện để áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam nhằm hạn chế việc lạm dụng biện pháp tạm giam trong tố tụng hình sự.
3.1.5. Hoàn thiện chế định liên quan đến các biện pháp và thủ tục đảm bảo quyền con người của người bị bắt
Pháp luật TTHS 2015 nên có thêm việc trình bày của người bị bắt về các chứng cứ liên quan đến vụ án là cần phải có người làm chứng hoặc có ghi hình và ghi âm lại các lời khai của người bị bắt. Tránh trường hợp một số người tiến hành tố tụng lợi dụng chức vụ quyền hạn để hủy bằng chứng và làm sai lệch vụ án.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người của người bị bắt
3.2.1. Nâng cao ý thức pháp luật, trình độ nhận thức, chuyên môn nghiệp vụ của các chủ thể tiến hành tố tụng
Thứ nhất, Nâng cao chất lượng kiểm sát, sự phối hợp trong việc giải quyết các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Trên cơ sở quy định của Bộ Luật TTHS và các văn bản hướng dẫn thi hành
Thứ hai, Nâng cao chất lượng công tác kiểm sát trong quá trình khởi tố, điều tra, xử lý án hình sự.
Thứ ba, Hoàn thiện hệ thống quy chế nghiệp vụ công tác kiểm sát VKS nhân dân tỉnh chỉ đạo việc nghiên cứu tổng hợp, đề xuất VKSNDTC từng bước hoàn thiện các quy chế công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử các vụ án hình sự.
3.2.2. Tăng cường giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật TTHS
Thứ nhất, tăng cường hướng dẫn áp dụng BLTTHS:
Hướng dẫn chi tiết, cụ thể các biện pháp ngăn chặn không giam giữ như bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm nhằm giúp cho CQTHTT nên tăng cường áp dụng các biện pháp này.
Các cơ quan tiến hành tố tụng cần hướng dẫn cụ thể thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa; sự tham gia của người bào chữa vào quá trình tố tụng và nhất là trong giai đoạn điều tra.
Thứ hai, cần chú trọng công tác nâng cao nhận thức, trình độ của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Để bảo đảm quyền con người của người bị bắt phụ thuộc nhiều vào sự hoàn thiện của các quy định pháp luật và việc hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật.
Thứ ba, chú trọng tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ nhất là về các kỹ năng tố tụng cho đội ngũ ĐTV, KSV.
3.2.3. Hoàn thiện chế độ trách nhiệm đối với người tiến hành tố tụng
Đẩy mạnh hoàn thiện chế độ trách nhiệm đối với NTHTT. Nâng cao trách nhiệm của Nhà nước trước công dân giải pháp quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện các quyền của công dân.
Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm hình sự đối với các hành vi xâm phạm quyền con người trong hoạt động tư pháp nói chung và từng bước hoàn thiện pháp luật về bồi thường thiệt hại trong trường hợp oan, sai trong tố tụng hình sự.
Hoàn thiện chế độ kỷ luật đối với hành vi xâm phạm quyền con người trong TTHS.
3.3. Một số giải pháp khác
Tăng cường công tác phối hợp liên ngành thực hiện nghiêm túc các quy định của BLTTHS. Quy chế phối hợp đã ký kết giữa CQĐT-VKS-TA đảm bảo nguyên tắc phối kết hợp và chế ước.
Tăng cường Công tác chỉ đạo, điều hành lãnh đạo đơn vị phải sâu sát, chỉ đạo kịp thời nhất là những vụ án phức tạp, tùy theo tính chất của từng vụ án để phân công Kiểm sát viên cho phù hợp, tăng cường công tác kiểm tra phát hiện sai sót để chấn chỉnh kịp thời.
Các Cơ quan tố tụng cấp trên thường xuyên kiểm tra, uốn nắn chấn chỉnh kịp thời, tăng cường việc hướng dẫn nghiệp vụ, thông báo rút kinh nghiệm, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho cấp dưới.
Kiện toàn bổ sung số lượng Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán. Xây dựng đội ngũ cán bộ có chức danh tư pháp “vừa hồng, vừa chuyên” đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp trong tình hình mới.
Đề nghị Các cơ quan Trung ương sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật, văn bản hướng dẫn kịp thời, tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao trình độ nhận thức pháp luật cho nhân dân. Thường xuyên mở các lớp tập huấn, đào tạo bồi dưỡng cho cán bộ làm công tác pháp luật.
KẾT LUẬN
Khi con người được sinh ra thì quyền con người được bảo đảm thực hiện như một lẽ tự nhiên. Do đó, quyền con người không chỉ là vấn đề trọng yếu trong luật pháp quốc tế mà còn là chế định pháp lý cơ bản trong pháp luật của mỗi quốc gia, trong khi nhà nước ta đang xây dựng một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thì bảo đảm quyền con người là một trong những nội dung cũng như mục đích chính của công cuộc xây dựng nhà nước. Bảo đảm quyền con người chính là bảo đảm nền dân chủ, bảo đảm được hiệu quả, hiệu lực của Nhà nước cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi công dân. Để đánh giá chất lượng cuộc sống, trình độ văn minh của một quốc gia thì được thể hiện ở sự dân chủ, sự thoả mãn và bảo đảm quyền tự do cá nhân của mỗi công dân của quốc gia đó, cho nên hơn bất kỳ một hoạt động nào khác, trong hoạt động tố tụng hình sự mà đặc biệt là việc áp dụng BPNC thì quyền con người luôn phải được đặt lên hàng đầu theo đó hoạt động áp dụng BPNC bắt người là hoạt động đầu tiên, làm cơ sở nền tảng cho các hoạt động tố tụng tiếp theo, với tầm quan trọng đó đòi hỏi hoạt động này cần phải khách quan, chính xác, nhạy bén và đặc biệt quyền con người của những người bị bắt phải được bảo đảm. Việc bảo đảm quyền con người là nhân tố cho sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.Luận văn đã đạt được một số kết quả, đó là: Đã góp phần làm rõ thêm một số vấn đề lý luận chung về bảo đảm QCN trong TTHS; Đã phân tích các quy định của BLTTHS hiện hành và những điểm mới BLTTHS 2015 về bảo đảm quyền của người bắt, trên cơ sở đánh giá thực tiễn và đưa ra những kết quả đạt được,đồng thời nêu lên những hạn chế, bất cập tồn tại, nguyên nhân của những tồn tại bất cập; Những ý kiến góp phần hoàn thiện các quy định trong pháp luật TTHS Việt Nam và các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả của việc bảo đảm quyền con người của người bị bắt. Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu bảo đảm quyền con người của người bị bắt thực tiễn tại tỉnh Quảng Bình, mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế và khiếm khuyết. Tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp của các quý Thầy, Cô, các đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn, tác giả xin chân thành cảm ơn.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 6\LUAT HINH SU VA TO TUNG HINH SU\LE NGOC DIEN\SAU BAO VE


