Địa vị pháp lý của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xét xử các vụ án hình sự là một hoạt động thực hiện chức năng của Tòa án theo Hiến pháp và Luật tổ chức Tòa án nhân dân. Hoạt động này có vai trò quan trọng đối với toàn bộ quá trình TTHS vì nó có khả năng kiểm soát việc thực hiện các hoạt động tố tụng như điều tra, kiểm sát, giám định tư pháp, bào chữa… nhằm đảm bảo đạt được mục đích chung của tố tụng hình sự. Vì vậy, xét xử vụ án hình sự có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, là một trong những hình thức thực hiện quyền lực Nhà nước – quyền tư pháp.
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện cải cách tư pháp một cách toàn diện. Ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Nghị quyết xác định Tòa án giữ vai trò trung tâm trong hệ thống tư pháp, hoạt động của Tòa án là trọng tâm của hoạt động tư pháp nên nhiệm vụ của hệ thống Toà án là rất quan trọng. Để thực hiện được mục tiêu chung của chiến lược cải cách tư pháp thì hệ thống Tòa án phải “đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp”. Điều này tạo cho hệ thống Toà án Việt Nam nhiều cơ hội song cũng đặt ra nhiều thách thức.
Việc xác định địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự nói chung và trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng có ý nghĩa quan trọng, xét cả dưới góc độ lý luận và thực tiễn, không những góp phần vào việc xây dựng một hệ thống lý luận về hoạt động tư pháp nói chung và tổ chức, hoạt động của các chức danh tư pháp nói riêng, mà còn góp phần xây dựng các văn bản pháp luật về Tòa án, về Thẩm phán cũng như việc hướng dẫn, chỉ đạo hoạt động nghiệp vụ của hệ thống Tòa án. Trong TTHS, chế định địa vị pháp lý của Thẩm phán không chỉ liên quan và ảnh hưởng đến tổ chức và hoạt động của Tòa án mà còn liên quan đến những chế định quan trọng khác. Vì thế, có thể nói rằng hiệu quả của thủ tục TTHS phụ thuộc một phần không nhỏ vào việc xác định đúng đắn địa vị pháp lý của Thẩm phán trong tố tụng hình sự.
Mặt khác, địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự hiện nay chưa có cách hiểu thống nhất. Mặc dù Điều 39 Bộ luật TTHS năm 2003 đã quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Thẩm phán và quy định này đã được thực hiện trong nhiều năm với những hiệu quả nhất định, song qua thực tiễn thi hành cho thấy quy định này đã bộc lộ một số bất cập. Những bất cập này phần lớn đã được sửa đổi bổ sung trong Điều 45 của Bộ luật TTHS năm 2015 và sắp được thi hành với quy định mới về một số nhiệm vụ, quyền hạn của TPCTPT đang cần phải được làm rõ để thực hiện có hiệu quả hơn.
Quảng Ngãi là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung, có tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh là 5.153 km2, dân số 1,28 triệu người. Giai đoạn 2012 – 2016, thu ngân sách ước đạt 128.190 tỷ đồng, tăng bình quân 16,9%/năm. Từ một tỉnh nghèo, Quảng Ngãi vươn lên thành một trong 10 địa phương thu ngân sách cao, có điều tiết cho ngân sách trung ương. Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 ước đạt 2.485 USD.
Hòa cùng với sự chuyển mình mạnh mẽ của địa phương, trải qua 27 năm xây dựng và trưởng thành, hệ thống Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Ngãi cũng đã có những bước phát triển vượt bậc. Hằng năm, hai cấp Toà án đã thụ lý giải quyết trên bốn nghìn vụ án các loại. Tuy số lượng các loại án năm sau luôn cao hơn năm trước với nhiều vụ án rất phức tạp, nhưng tỉ lệ giải quyết các loại án của từng năm luôn đạt và vượt chỉ tiêu đề ra; chất lượng giải quyết án luôn được nâng cao. Trong xét xử án hình sự, hầu hết đảm bảo áp dụng đúng các quy định của pháp luật, không kết án oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, tình hình các loại tội phạm trong tỉnh có xu hướng diễn biến xấu; thủ đoạn phạm tội ngày càng xảo quyệt, tinh vi, phạm tội có đồng phạm với nhiều vai trò thường chiếm tỷ lệ cao, hậu quả do tội phạm gây ra tác động đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Đội ngũ Thẩm phán Tòa án hai cấp tỉnh Quảng Ngãi hiện nay đã được trẻ hóa, được đào tạo bài bản nhưng vẫn còn thiếu kinh nghiệm nên việc giải quyết các mâu thuẫn xã hội khi giải quyết án hình sự vẫn còn những hạn chế nhất định. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn tới tình trạng này thuộc về trách nhiệm của HĐXX, mà trước hết và chủ yếu là thuộc về TPCTPT.
Chính vì những lý do trên, học viên chọn đề tài: “Địa vị pháp lý của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ nhằm làm rõ thêm vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Đồng thời, đề tài cũng cho chúng ta cái nhìn khách quan về thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật qua xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, từ đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và các giải pháp khác bảo đảm thực hiện tốt địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích, làm rõ những quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự, phản ánh thực trạng thực hiện những quy định đó trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, từ đó đề ra một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật và các giải pháp khác bảo đảm thực hiện tốt địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích mà luận văn đề ra, các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra là:
– Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận như khái niệm, đặc điểm địa vị pháp lý của TPCTPT trong tố tụng hình sự Việt Nam…, phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự;
– Phân tích, đánh giá thực trạng về địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự ở tỉnh Quảng Ngãi; làm rõ những mặt tích cực, những mặt còn hạn chế, vướng mắc, bất cập trong việc thực hiện quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự ở tỉnh Quảng Ngãi;
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản, các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự và thực tiễn thực hiện ở tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: luận văn tập trung nghiên cứu những quy định của pháp luật hiện hành (Bộ luật TTHS năm 2003) về địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự trong mối liên hệ với Bộ luật TTHS năm 2015. Do Bộ luật TTHS năm 2015 đang lùi thời điểm thi hành nên luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quy định của Bộ luật TTHS năm 2003 về địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự tại tỉnh Quảng Ngãi.
Về thời gian: luận văn nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự tại tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2012 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp, về tổ chúc bộ máy nhà nước…
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp như: Hệ thống, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình khoa học đi sâu nghiên cứu có hệ thống lý luận và thực tiễn thực hiện địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự tại tỉnh Quảng Ngãi. Do đó luận văn bao hàm những ý nghĩa sau:
6.1. Ý nghĩa lý luận: Thông qua kết quả nghiên cứu những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật TTHS về địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự, tác giả mong muốn góp phần vào việc phát triển lý luận về địa vị pháp lý của Thẩm phán, đồng thời gợi mở một số vấn đề để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần lưu tâm trong việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đúng với mục tiêu mà Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị đã đề ra.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Trên cơ sở đánh giá thực trạng trong việc thực hiện quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp, luận văn góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự, từ đó nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử của hệ thống Tòa án.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ đang công tác tại Tòa án, đặc biệt là các Thẩm phán được phân công giải quyết án hình sự sơ thẩm. Bên cạnh đó, luận văn có thể được sử dụng trong việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học tại các trường có đào tạo chuyên ngành luật.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, trang phụ bìa, mục lục, danh mục bảng, luận văn có bố cục 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự;
Chương 2: Thực trạng thực hiện quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự tại tỉnh Quảng Ngãi;
Chương 3. Các giải pháp đảm bảo thực hiện địa vị pháp lý của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự ở tỉnh Quảng Ngãi.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1.1.1. Khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự bao gồm vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm mà pháp luật TTHS quy định nhằm bảo đảm để TPCTPT thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong quá trình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm này được phát sinh từ thời điểm Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên toà để xét xử vụ án và kết thúc sau khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
1.1.1.2. Đặc điểm địa vị pháp lý của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Như đã phân tích trên, TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ xét xử; được Chánh án phân công giải quyết, xét xử vụ án hình sự và có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán được quy định trong Bộ luật TTHS. Địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự có đặc điểm sau:
+ TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự là một chức danh tư pháp quan trọng, là người thực hiện quyền tư pháp.
+ TPCTPT là người thực hiện quyền xét xử chính tại một phiên tòa có thể là chủ tọa một mình trong trường hợp vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn hoặc một thành viên trong HĐXX gồm một Thẩm phán, hai Hội thẩm hoặc gồm hai Thẩm phán, ba Hội thẩm;
+ TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự là người điều khiển phiên tòa xét xử, đảm bảo mọi thủ tục, trình tự diễn ra theo quy định của pháp luật;
+ TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự thực hiện việc xét xử một cách không thiên vị tại phiên tòa công khai (trừ trường hợp xử kín) theo quy định của pháp luật;
Từ phân tích trên có thể đưa ra khái niệm địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự như sau: Địa vị pháp lý của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán từ thời điểm được phân công giải quyết, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đến khi kết thúc thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
- 1.1.2. Vị trí, vai trò của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
– Trong việc thực hiện quyền tư pháp
Thẩm phán có vị trí rất quan trọng và có vai trò không thể thay thế trong việc thực hiện một trong những quyền lực nhà nước – quyền tư pháp. Trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, TPCTPT có vị trí trung tâm trong việc thực hiện nhiệm vụ xét xử và có vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
– Trong việc thực hiện chức năng xét xử
TPCTPT là người thay mặt cho Nhà nước thực hiện chức năng xét xử, vì vậy thông qua hoạt động xét xử của mình, Thẩm phán có vai trò (góp phần) bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự, nhân phẩm của công dân.
– Trong việc bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa
Trong quá trình xét xử, Thẩm phán có vai trò quyết định trong việc bảo đảm chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.
Ngoài những vai trò, trên TPCTPT còn có vai trò trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật; vai trò trong việc xác định sự thật khách quan của vụ án; vai trò trong việc thực hiện các nguyên tắc khác của tố tụng hình sự…
- 1.1.3. Mối quan hệ giữa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự với một số chức danh tư pháp khác
– Quan hệ giữa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự với Chánh án, Phó Chánh án Tòa án
– Quan hệ giữa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự với Thẩm phán khác trong Hội đồng xét xử
– Quan hệ giữa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự với Hội thẩm nhân dân trong Hội đồng xét xử
– Quan hệ giữa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự với Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa
– Quan hệ giữa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự với thư ký Tòa án được phân công tiến hành tố tụng
– Quan hệ giữa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự với lực lượng bảo vệ phiên tòa
– Quan hệ giữa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự với các chức danh bổ trợ tư pháp khác
1.2.1.1. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa khi chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.2.1.2. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa tại phiên tòa sơ thẩm
– Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong phần tranh luận
– Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa khi nghị án và tuyên án
1.2.1.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sau khi kết thúc phiên tòa
- 1.2.2. Quy định về trách nhiệm của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Theo quy định của Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân thì Thẩm phán có trách nhiệm học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Tòa án; Thẩm phán phải tôn trọng nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; Thẩm phán phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật; Thẩm phán phải giữ bí mật nhà nước và bí mật công tác theo quy định của pháp luật; Thẩm phán phải gương mẫu trong trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật; Thẩm phán khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà gây thiệt hại thì Tòa án nơi Thẩm phán đó thực hiện nhiệm vụ xét xử phải có trách nhiệm bồi thường và Thẩm phán đã gây ra thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho Tòa án theo quy định của pháp luật.
Nếu có các vi phạm pháp luật nghiêm trọng từ phía Thẩm phán như cố ý ra bản án, quyết định trái pháp luật, cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án thì Thẩm phán có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các Điều 295 (Tội ra bản án trái pháp luật); Điều 296 (Tội ra quyết định trái pháp luật); Điều 300 (Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án) của BLHS năm 1999.
- 1.2.3. Đánh giá quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự
Qua thực tiễn xét xử cho thấy, các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự còn bộc lộ nhiều vấn đề bất cập cần được xem xét.
Mặt khác, việc Bộ luật TTHS quy định trình tự xét hỏi như hiện nay: “Khi xét hỏi từng người, chủ toạ phiên toà hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến KSV, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự…”, đã đưa đến một thực tế là, TPCTPT cứ ra sức xét hỏi theo hướng đấu tranh làm cho rõ những nội dung mà cáo trạng đã quy kết, ra sức bảo vệ cáo trạng cho KSV. Trong khi đó KSV thực hiện quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa chỉ tham gia xét hỏi mang tính bổ sung cho HĐXX, thậm chí là không tham gia xét hỏi vì cho rằng HĐXX đã hỏi rõ các vấn đề cần làm sáng tỏ. Điều này đã làm cho vai trò của chủ thể chính thực hiện chức năng buộc tội tại phiên tòa quá mờ nhạt, trong khi vai trò “trọng tài” của HĐXX lại không rõ ràng. Để đáp ứng được các yêu cầu của cải cách tư pháp thì việc quy định trình tự xét hỏi tại phiên tòa như trên là không phù hợp.
Quy định tại Điều 307 Bộ luật TTHS năm 2015 đã bổ sung quy định về việc tham gia xét hỏi của Thẩm phán không phải là chủ tọa phiên tòa nhưng vẫn không thay đổi gì về trình tự xét hỏi là chưa phù hợp.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TẠI TỈNH QUẢNG NGÃI
Thực tiễn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại tỉnh Quảng Ngãi những năm vừa qua đã đạt được kết quả như sau:
Bảng 2.1: Tình hình thụ lý và giải quyết án hình sự sơ thẩm tại tỉnh Quảng Ngãi
| Năm | Thụ lý | Tỉ lệ tăng, giảm so với năm trước | Giải quyết (Đạt tỉ lệ) | |||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Vụ | Bị cáo | Vụ | Bị cáo | Vụ | Bị cáo | |
| 2012 | 822 | 1554 | Giảm 11,4% | Giảm 16,8% | 813 (98,9%) | 1537 (98,9%) |
| 2013 | 840 | 1577 | Tăng 2,2% | Tăng 1,5% | 832 (99%) | 1551 (98,4%) |
| 2014 | 697 | 1248 | Giảm 17,0% | Giảm 20,9% | 692 (99%) | 1231 (99%) |
| 2015 | 698 | 1286 | Tăng 0,1% | Tăng 3,0% | 691 (99%) | 1270 (99%) |
| 2016 | 615 | 1074 | Giảm 11,9% | Giảm 16,5% | 611 (99%) | 1067 (99%) |
Nguồn: Báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
Kết quả giải quyết án hình sự sơ thẩm trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi không chỉ được thể hiện về số lượng và tỉ lệ giải quyết vụ án cao mà còn được thể hiện qua chất lượng của các vụ án đã giải quyết. Nhìn chung chất lượng các vụ án hình sự sơ thẩm đã giải quyết tương đối tốt.
Những kết quả đạt được trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán chủ tòa phiên tòa hình sự sơ thẩm:
– Ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, các Thẩm phán đã nghiên cứu kỹ hồ sơ, đánh giá một cách khách quan, đầy đủ cả về tính hợp pháp của các thủ tục tố tụng và các chứng cứ chứng minh tội phạm.
Trong vòng 5 năm, hệ thống Tòa án tỉnh Quảng Ngãi đã tiến hành trả hồ sơ điều tra bổ sung 320 vụ, trong đó số vụ được VKS chấp nhận là 307 vụ, chiếm tỉ lệ 95,94% (Bảng 2.2).
– Trong quá trình xét xử tại phiên tòa, các TPCTPT đã đảm bảo các quy định về trình tự, thủ tục xét xử sơ thẩm nhằm đảm bảo cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Trong giai đoạn xét hỏi, TPCTPT đã tạo điều kiện để những người tham gia tố tụng trình bày đầy đủ về các tình tiết của vụ án. Không có tình trạng dụ cung, mớm cung.
Việc tranh luận giữa KSV với bị cáo, người bào chữa, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác cũng đảm bảo tính dân chủ, bình đẳng.
– Sau khi kết thúc phiên tòa, TPCTPT đã kiểm tra, phát hành bản án đúng thời hạn luật định; chất lượng bản án ngày càng được nâng cao; thực hiện kiểm tra biên bản phiên tòa, hồ sơ vụ án, đơn kháng cáo; thực hiện việc thông báo kháng cáo, kháng nghị đúng quy định.
Thực tiễn tại địa phương, có những Thẩm phán đã thực hiện rất tốt nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án hình sự. Sự bản lĩnh và quyết đoán của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đã làm sáng tỏ bản chất nội dung vụ án, khắc phục được những sai sót trong quá trình điều tra, truy tố.
Những kết quả đạt được trong việc thực hiện trách nhiệm của TPCTPT:
Đội ngũ Thẩm phán ngày càng ý thức được trách nhiệm của mình, không ngừng rèn luyện để từng bước nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ được giao
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, các TPCTPT đều tập trung nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, nghiên cứu văn bản pháp luật, thực hiện đảm bảo các nguyên tắc trong xét xử nên các phán quyết đa số đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, được dư luận đồng tình.
Trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
Mặc dù đã đạt được những mặt tích cực như đã nói trên, nhưng việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán trong xét xử án hình sự sơ thẩm của Tòa án hai cấp ở tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua vẫn còn bộc lộ nhiều thiếu sót. Vẫn còn tình trạng Thẩm phán trong quá trình giải quyết án hình sự sơ thẩm đã vi phạm các quy định về luật nội dung cũng như vi phạm thủ tục tố tụng như: bỏ lọt tội phạm, định tội danh sai, trả hồ sơ điều tra bổ sung không đúng quy định. Có những trường hợp xử mức hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ, cho hưởng án treo không đúng quy định; việc tranh tụng tại phiên tòa trong một số vụ án còn mang tính hình thức, chất lượng chưa cao… Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả giải quyết án hình sự trên địa bàn tỉnh, đồng thời cũng là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ án bị hủy, cải sửa vẫn còn nhiều.
Từ thực tiễn xét xử tại tỉnh Quảng Ngãi cho thấy, bên cạnh những quy định của pháp luật TTHS về địa vị pháp lý của Thẩm phán còn chưa phù hợp, chặt chẽ, thiếu đồng bộ làm ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả giải quyết, xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự thì còn một yếu tố cũng tác động và làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và hiệu quả giải quyết án, yếu tố đó thuộc về chủ thể áp dụng pháp luật mà cụ thể là đội ngũ Thẩm phán trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình trong hoạt động thực tiễn. Một số Thẩm phán thực hiện chưa đúng, đầy đủ quyền hạn của mình mà pháp luật đã trao cho khi tiến hành giải quyết, xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, dẫn đến những sai sót cả về mặt nội dung cũng như thủ tục tố tụng.
Một số ít Thẩm phán vì năng lực chuyên môn nghiệp vụ hạn chế nên vẫn còn lệ thuộc vào kết quả điều tra, những thông tin, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Trong nhiều trường hợp, HĐXX tin vào kết quả điều tra có trong hồ sơ vụ án nên có thành kiến bị cáo có tội, từ đó đặt ra những câu hỏi mang tính áp đặt, buộc bị cáo khai đúng với lời khai trước đó…
Một số Thẩm phán chưa được chuẩn bị đầy đủ về kỹ năng nghề nghiệp theo yêu cầu cải cách tư pháp, chưa kịp thời đổi mới tư duy và phương pháp công tác nên việc thực hiện chức năng xét xử tại phiên toà vẫn theo “nếp cũ”. Mặt khác, do cơ chế làm việc, sự hạn chế về trình độ nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm của đội ngũ Thẩm phán nên nguyên tắc “Khi xét xử Thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” chưa có tính khả thi cao trên thực tế. Việc xét hỏi tại phiên toà chưa thực sự đổi mới theo tinh thần cải cách tư pháp của Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW mà chủ yếu vẫn do chủ toạ phiên toà thực hiện nên chưa phát huy được vai trò tích cực, chủ động của KSV, luật sư và những nguời tham gia tố tụng khác trong xét hỏi và tranh luận tại phiên toà để làm sáng tỏ các tình tiết, các chứng cứ, tài liệu về vụ án.
Một số Thẩm phán vẫn còn bị tác động từ các nhân tố bên ngoài tới việc xét xử như sự tác động của lãnh đạo cùng cấp hoặc cấp trên, sự tác động của các cấp ủy Đảng, của các cá nhân, tổ chức khác, của cơ quan báo chí, dư luận…
– Nguyên nhân từ bất cập trong quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự
+ Một số quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cụ thể của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự chưa phù hợp, thiếu chặt chẽ.
+ Quy định liên quan đến vị trí, vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử không phù hợp
+ Bộ luật TTHS hiện nay chưa quy định nguyên tắc tranh tụng như là nguyên tắc cơ bản của TTHS là một khoảng trống lớn cần được lấp đầy nhằm xác định sự thật của vụ án.
+ Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực xét xử của Thẩm phán còn hạn chế.
+ Cơ sở vật chất và chế độ, chính sách đối với Thẩm phán chưa đảm bảo.
– Các quy định về tuyển chọn, bổ nhiệm, bổ nhiệm lại Thẩm phán và nhiệm kỳ của Thẩm phán không phù hợp.
Vấn đề này trong thực tiễn những năm qua đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến tính độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật của Thẩm phán.
Theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 và Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân năm 2002 thì quy trình tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán phải thực hiện qua nhiều thủ tục rườm rà, phải có ý kiến của nhiều cơ quan, đơn vị liên quan. Quy trình này cộng với việc quy định nhiệm kỳ đầu của Thẩm phán là 5 năm, nhiệm kỳ tiếp theo là 10 năm đã tạo ra tâm lý không yên tâm làm việc của Thẩm phán. Thậm chí có nhiều trường hợp còn có tâm lý e ngại trước những tác động của những cơ quan, cá nhân có thẩm quyền xem xét, tuyển chọn, đề nghị bổ nhiệm, nhất là khi gần đến thời điểm tiến hành bổ nhiệm lại. Đây là một trong những nguyên nhân làm nguyên tắc “độc lập” của Thẩm phán khi xét xử bị ảnh hưởng

CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
Theo Nghị quyết số 41/2015/QH13 ngày 20/6/2017 thì Bộ luật TTHS năm 2015 sẽ có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2018, theo tác giả thì cần phải tăng cường các biện pháp triển khai thực hiện quy định của Bộ luật TTHS năm 2015 nhằm đồng bộ hóa các văn bản pháp luật, tránh sự chồng chéo và thiếu những văn bản hướng dẫn dưới luật gây lúng túng trong công tác xét xử, trong đó có quy định liên quan đến địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự.
Thứ nhất, TAND tối cao cần tập trung tiến hành rà soát, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật về TTHS liên quan đến địa vị pháp lý của TPCTPT
Thứ hai, TAND tỉnh Quảng Ngãi cần xây dựng văn bản hướng dẫn, triển khai tới TAND cấp huyện, cán bộ Tòa án, Thẩm phán nghiêm túc thực hiện các quy định của Bộ luật TTHS năm 2015 có lợi cho người phạm tội
Thứ ba, tiến hành rà soát các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến pháp luật hình sự, theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2015 thuộc thẩm quyền của TAND.
Thứ tư, tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ Tòa án, Thẩm phán.
Mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung bởi Bộ luật TTHS năm 2015, nhưng những quy định pháp luật liên quan đến địa vị pháp lý của TPCTPT hình sự sơ thẩm vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập.
Theo quy định của pháp luật TTHS hiện hành, chủ tọa phiên tòa không hạn chế thời gian tranh luận và phải tạo điều kiện thuận lợi để cho những người tham gia tố tụng trình bày hết ý kiến của mình, nhưng chủ tọa có quyền cắt những ý kiến không liên quan hoặc những ý kiến trùng lặp đã được đối đáp rồi. Đồng thời, chủ tọa cũng có quyền yêu cầu KSV phải đối đáp lại những ý kiến yêu cầu của người bào chữa hoặc của những người tham gia tố tụng khác nếu như những ý kiến đó chưa được tranh luận. Đây là quy định mới được bổ sung nhằm đảm bảo cho việc xét xử được công bằng, dân chủ, đáp ứng yêu cầu tranh tụng mà chiến lược cải cách tư pháp đã đề ra. Quy định này góp phần khắc phục những tồn tại trước đây khi tranh luận, nhiều trường hợp KSV không đưa ra được những lập luận để phản bác ý kiến của bị cáo, của người bào chữa cho bị cáo hoặc của những người khác, không đối đáp mà chỉ trả lời giữ nguyên ý kiến luận tội hoặc giữ nguyên quyết định truy tố. Tuy nhiên, quy định về thủ tục tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm vẫn còn một số bất cập cần được khắc phục, cụ thể là:
Thứ nhất, Bộ luật TTHS năm 2015 cần bổ sung thêm Điều 305 theo hướng quy định về người tham gia tố tụng yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc đưa thêm vật chứng và tài liệu ra xem xét trong bất kỳ thời điểm nào tại phiên tòa.
Thứ hai, sửa đổi các quy định về thủ tục xét hỏi theo hướng Tòa án chỉ là nơi phân xử, quyết định của HĐXX dựa trên kết quả xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa.
Thứ ba, bỏ quy định cho phép HĐXX quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc yêu cầu VKS khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm.
Chất lượng của Thẩm phán không những là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả xét xử mà còn là yếu tố ảnh hưởng đến địa vị của Thẩm phán. Do đó, để đảm bảo hiệu quả của hoạt động xét xử cũng như củng cố địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự, cần có những giải pháp nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và nhận thức của Thẩm phán như:
+ Việc tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán phải thực sự dân chủ, khách quan và công bằng.
+ Thường xuyên quan tâm công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực, trình độ cho Thẩm phán trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công việc này cần được tiến hành thường xuyên.
+ Bên cạnh công tác đào tạo bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ công tác thì việc giáo dục, nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ Thẩm phán cũng là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Cần chú ý đến văn hóa ứng xử của Thẩm phán trong quá trình tố tụng tại phiên tòa.
- 3.3.2. Đảm bảo cơ sở vật chất và xây dựng chế độ, chính sách phù hợp đối với Thẩm phán
Để hoạt động xét xử của Thẩm phán có chất lượng và hiệu quả, cần phải đảm bảo đủ cơ sở vật chất cần thiết, chế độ về tiền lương, trụ sở, trang thiết bị làm việc, phương tiện kỹ thuật… Mặc dù lương và chế độ đãi ngộ đối với Thẩm phán hiện nay đã phần nào được cải thiện, nhưng nhìn chung đời sống của Thẩm phán vẫn còn nhiều khó khăn. Lương trên thực tế chưa đủ nuôi Thẩm phán và gia đình, điều này dễ phát sinh tiêu cực đối với những người không vững vàng. Các chế độ đãi ngộ khác cũng quá thấp chưa tương xứng với tính chất đặc thù công việc và trách nhiệm ngày càng cao của Thẩm phán. Do vậy, nó vô tình hạn chế nguồn Thẩm phán và sự khuyến khích đội ngũ Thẩm phán phấn đấu vươn lên. Những bất cập trong chính sách tiền lương và các chính sách đãi ngộ khác cũng đã khiến cho việc điều động, biệt phái Thẩm phán gặp không ít khó khăn. Các trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật phục vụ cho công việc của Thẩm phán cũng còn hết sức nghèo nàn, chưa đáp ứng được yêu cầu của công việc. Để khắc phục tình trạng trên cần nghiên cứu sửa đổi một cách tổng thể chế độ chính sách đãi ngộ của Thẩm phán cũng như quan tâm đầu tư các trang thiết bị phục vụ cho công việc của Thẩm phán. Cần quan tâm điều chỉnh một cách căn bản tiền lương và các phụ cấp khác. Ngoài ra, cũng nên có chế độ vật chất ưu tiên đủ mạnh để thu hút Thẩm phán về các đơn vị tòa án cấp huyện, vùng sâu, vùng xa… như sửa đổi nâng cao chế độ phụ cấp khu vực, phụ cấp đặc biệt…tạo điều kiện cho Thẩm phán yên tâm công tác lâu dài.
- 3.3.3. Tăng cường công tác giám sát của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, của nhân dân đối với hoạt động xét xử của Thẩm phán
Phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với hoạt động tư pháp, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên tập trung làm tốt công tác giám sát, động viên nhân dân phát hiện những hạn chế, khuyết điểm trong hoạt động tư pháp, qua đó kiến nghị việc khắc phục, sửa chữa. Tăng cường vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, cung cấp thông tin về hoạt động tư pháp. Trong một nền tư pháp của nhân dân thì nhân dân phải được tiếp cận thông tin về hoạt động xét xử và giám sát hành vi của các Thẩm phán. Các tổ chức chính trị – xã hội có thể đóng vai trò giám sát tư pháp để làm tăng trách nhiệm của các Thẩm phán. Thực hiện công khai hóa bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, trừ những bản án, quyết định về vụ việc được Tòa án xét xử kín hoặc bản án, quyết định về vụ việc được Tòa án xét xử, giải quyết công khai nhưng có chứa đựng nội dung thuộc danh mục bí mật nhà nước theo quy định của Chính phủ hoặc chứa đựng những nội dung mà Nhà nước chưa công bố và nếu bị tiết lộ thì gây nguy hại cho Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
KẾT LUẬN
Hoạt động xét xử nói chung và xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự nói riêng là nơi thể hiện rõ nét nhất chất lượng hoạt động và uy tín của hệ thống các cơ quan tư pháp, nơi thể hiện rõ nhất bản chất nhân dân, tính công bằng, công lý và dân chủ trong hoạt động tư pháp, trong đó Thẩm phán có vai trò trung tâm, là thành phần chính tạo nên chất lượng, hiệu quả của hoạt động xét xử. Chất lượng và hiệu quả của hoạt động xét xử không chỉ phụ thuộc vào sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật về địa vị pháp lý của Thẩm phán, về cơ sở vật chất, phương tiện làm việc và các chế độ đãi ngộ đối với Thẩm phán mà còn phụ thuộc vào năng lực, trình độ chuyên môn và trách nhiệm nghề nghiệp của đội ngũ Thẩm phán.
Thực tiễn vẫn cho thấy hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ở nước ta hiện nay nói chung, ở tỉnh Quảng Ngãi nói riêng vẫn có những rào cản nhất định làm cho chất lượng và hiệu quả của hoạt động xét xử chưa cao. Từ những vấn đề thực tiễn đặt ra, luận văn đã cố gắng nghiên cứu sâu về các vấn đề liên quan đến địa vị pháp lý của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, từ đó đi tìm những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động xét xử cũng như địa vị pháp lý của Thẩm phán trong TTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp đã đặt ra.
Về phương diện lý luận, luận văn đã trình bày về những vấn đề lý luận về Thẩm phán, TPCTPT xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Qua đó làm rõ khái niệm địa vị pháp lý của Thẩm phán, vị trí, vai trò của Thẩm phán cũng như nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán nói chung và trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng. Trên cơ sở đó, giúp chúng ta có cái nhìn khái quát, tổng thể về địa vị pháp lý của Thẩm phán theo pháp luật hiện hành.
Phần thực tiễn, luận văn đề cập đến thực trạng thực hiện quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự tại tỉnh Quảng Ngãi. Qua đó, tác giả chỉ ra những kết quả đạt được, những ưu điểm cùng những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của Thẩm phán trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, các nguyên nhân của hạn chế bất cập, để từ đó đề ra các giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của Thẩm phán trong pháp luật cũng như trên thực tiễn.
Phần các giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự, luận văn đã đưa các giải pháp nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự. Theo đó để nâng cao địa vị pháp lý của TPCTPT sơ thẩm vụ án hình sự thì cần phải hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến vị trí, vai trò của Thẩm phán trong hoạt động xét xử; các quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán trong xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự. Bên cạnh đó cũng cần phải có các giải pháp khác như nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho Thẩm phán, đảm bảo về cơ sở vật chất và các chế độ đãi ngộ đối với Thẩm phán nhằm giải quyết công việc thuận lợi hơn và để Thẩm phán yên tâm công tác. Đồng thời tăng cường công tác giám sát của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và nhân dân đối với hoạt động xét xử của Thẩm phán.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 6\LUAT HINH SU VA TO TUNG HINH SU\LE THI MY GIANG\SAU BAO VE


