Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, tình hình kinh tế xã hội nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ, kéo theo sự thay đổi về mọi mặt trong đời sống xã hội, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng về kinh tế, từ đó tạo ra vị thế ổn định và phát triển đi lên. Nhu cầu càng lớn thì sự hấp dẫn của chủ thể đối với lợi ích càng lớn, do đó, động cơ tư tưởng thúc đẩy hành động của con người càng mạnh mẽ. Tất cả các lợi ích sẽ thúc đẩy và quyết định động cơ hành động của con người. Bên cạnh những mặt tích cực, năng động do nền kinh tế thị trường mang lại thì mặt trái của cơ chế thị trường đã có những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội như sự tha hoá trong lối sống, tiêu vực, tệ nạn xã hội và đặc biệt là tội phạm có điều kiện phát sinh, tồn tại. Trong đó, có tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đây là một trong những tội xâm phạm sở hữu có diễn biến phức tạp, xảy ra thường xuyên và ngày càng gia tăng với nhiều thu đoạn tinh vi xảo quyệt, từ chủ thể thực hiện tội phạm đến các đối tượng bị xâm hại đều rất đa dạng, tài sản bị chiếm đoạt có giá trị rất lớn, có những vụ lên đến hàng chục tỷ đồng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển kinh tế – xã hội, an ninh trật tự của đất nước. Trong đó, thành phố Đà Nẵng không phải là ngoại lệ.
Như chúng ta đã biết, Đà Nẵng là một thành phố biển nằm ở miền Trung Việt Nam, là một cửa ngõ quốc tế, trung tâm văn hoá, kinh tế, chính trị của khu vực miền Trung – Tây Nguyên với nhiều năm liền là quán quân năng lực cạnh tranh thu hút đầu tư cả nước. Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và xu hướng hội nhập quốc tế, kéo theo là tình hình lao động nhập cư tang đột biến trong thời gian qua, làm cho tình hình an ninh trật tự xã hội bị tác động lớn, tình hình tội phạm nhóm xâm phạm sở hữu nói chung, đặc biệt là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng tại TP Đà Nẵng ngày càng gia tăng cả về số vụ và mức độ hành vi, gây thiệt hại lớn về tài sản của cá nhân và tổ chức xã hội.
Trước tình hình tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản tác động tiêu cực trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,… cũng như trước sự đòi hỏi mới của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Những năm qua cùng với các cơ quan bảo vệ pháp luật của nước ta, các cơ quan bảo vệ pháp luật của TP Đà Nẵng đã tích cực đấu tranh nhằm ngăn chặn các hành vi xâm phạm sở hữu và cũng đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, với diễn biến phức tạp của loại tội phạm này, các cơ quan tiến hành tố tụng của TP Đà Nẵng đã nỗ lực nhưng vẫn còn những hạn chế nhất định như chưa kịp thời, chưa toàn diện và từ đó mới chỉ đáp ứng phần nào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Việc nghiên cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới một góc nhìn thực tiễn tại địa phương nhất định không chỉ có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa trong thực tiễn áp dụng của công tác định tội danh và QĐHP, hiệu quả phòng chống tội phạm nhằm đưa ra những giải pháp hoàn thiện chế định này trong BLHS Việt Nam. Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu làm đề tài luận văn Thạc sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích khái niệm, các dấu hiệu pháp lý và hình phạt của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam, nghiên cứu thực tiễn định tội danh và thực tiễn QĐHP đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn TP Đà Nẵng để đưa ra những đề xuất hoàn thiện BLHS Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục đích trên, trong quá trình thực hiện đề tài tác giả đặt ra cho mình các nhiệm vụ sau đây:
Một là, nêu và phân tích rõ khái niệm và các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam; Phân tích quy định về dấu hiệu định khung đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự hiện hành; Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác; Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Hai là, trình bày những vấn đề lý luận về áp dụng các quy định đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn TP Đà Nẵng trong 5 năm từ năm 2011 đến năm 2015.
Ba là, nêu và phân tích các yêu cầu đối với áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ đó đưa ra các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về loại tội phạm này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn lấy các quan điểm khoa học pháp lý hình sự, các quy định của pháp luật hình sự, thực tiễn định tội danh và thực tiễn QĐHP đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn TP Đà Nẵng để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung của luận văn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới góc độ pháp luật hình sự và hoạt động định tội danh cũng như QĐHP đối với loại tội phạm này trên địa bàn TP Đà Nẵng.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử; Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về Nhà nước và pháp luật.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình làm luận văn, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu của khoa học luật hình sự, cụ thể như: Phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử và hệ thống, phương pháp phân tích và so sánh,… Tác giả đã sử dụng các phương pháp một cách linh hoạt, đan xen lẫn nhau để đạt được kết quả nghiên cứu cao nhất.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Đề tài nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc với cái nhìn tổng quan nhất, đặt trong mối quan hệ biện chứng các vấn đề lý luận góp phần làm phong phú thêm lý luận nhận thức về các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, làm tài liệu tham khảo trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Đề tài này được nghiên cứu và đánh giá một cách khách quan, toàn diện qua thực tiễn hoạt động định tội danh và thực tiễn quyết định hình phạt của cơ quan tiến hành tố tụng đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại địa bàn TP Đà Nẵng. Kết quả nghiên cứu là một sự đánh giá về thực trạng, các vấn đề tích cực cần phát huy và qua nghiên cứu phát hiện được những hạn chế, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hoạt động tố tụng, đảm bảo các nguyên tắc của Luật hình sự, mục đích của hình phạt, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm.
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục các từ viết tắt, Danh mục bảng biểu, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Áp dụng các quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Các tội xâm phạm sở hữu được quy định tại Chương XIV từ Điều 133 đến Điều 145 của BLHS 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. BLHS không có khái niệm cụ thể thế nào là các tội xâm phạm sở hữu. Khái niệm này chỉ thể hiện trong các tài liệu khoa học. Khoa học luật hình sự đã đưa ra khái niệm chung với các tội xâm phạm sở hữu như sau: Các tội xâm phạm sở hữu là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS; do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong các tội phạm xâm phạm sở hữu. Vì vậy, khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải thoả mãn khái niệm chung của các tội xâm phạm sở hữu, đồng thời phải thoả mãn các dấu hiệu đặc thù riêng.
Theo Từ điển Tiếng việt thông dụng năm 1996 thì “lừa” được định nghĩa như sau: “Lừa là dung thủ đoạn mưu mẹo hoặc thủ đoạn gian dối làm cho người khác bị lầm mà tưởng thật. Trong đó, lừa bịp – lừa bằng thủ đoạn dối trá; Lừa dối – lừa bằng thủ đoạn nói dối; Lừa đảo – lừa bằng thủ đoạn xảo trá để chiếm đoạt của cải, tài sản; Lừa gạt – lừa để kiếm chác mưu lợi; Lừa lọc – lừa bằng mánh khoé, gian xảo nói chung” [38].
Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam viết: “Lừa đảo là hành vi gian dối để làm người khác tin nhằm thực hiện những mục đích vụ lợi, trái pháp luật. Động cơ của người thực hiện hành vi lừa đảo là nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác hoặc làm cho người khác hiểu sai sự thật mà tin tưởng ủng hộ mình. Để thực hiện thành công việc chiếm đoạt tài sản của người khác thì người có hành vi lừa đảo thường sử dụng những lời nói gian dối như: Thuyết trình, quảng cáo hay, tốt,… Nhưng tất cả những việc làm đó không đúng với bản chất của vật hoặc sự việc; Người lừa đảo còn sử dụng các thủ đoạn và các hành vi gian dối khác như: Giả danh những người có uy tín có trách nhiệm quyền hạn, có địa vị cao trong xã hội hoặc làm giả các loại công văn, giấy tờ, chữ ký của những người có thẩm quyền để làm cho người có tài sản tin tưởng vào họ và giao tài sản” [37].
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu, với mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác, người phạm tội đã dùng những thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật, có thể bằng lời nói hoặc hành động khiến người có tài sản hoặc người có trách nhiệm trông giữ tài sản vì tin nhầm, tưởng giả là thật, tưởng kẻ gian là người ngay, tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội.
Điều 139 BLHS 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chuyên nghiệp; c) Tái phạm nguy hiểm; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; g) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm tram triệu đồng; b) Gây hậu quả nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị năm trăm triệu đồng trở lên; b) Gây hậu quả nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm” [4].
Từ những nội dung trình bày trên, có thể hiểu khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: “Tội lừa đảo chiếm đoạt là một trong những tội xâm phạm sở hữu, có hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu về tài sản”.
Tuy nhiên, tội phạm là thể thống nhất của bốn yếu tố: Khách thể của tội phạm; Mặt khách quan của tội phạm; Chủ thể của tội phạm; Mặt chủ quan của tội phạm. Vì vậy, để hiểu hơn về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngoài khái niệm trên thì chúng ta cần làm rõ hơn các dấu hiệu pháp lý đặc trưng bao gồm: Khách thể của tội phạm; Mặt khách quan của tội phạm; Chủ thể của tội phạm và Mặt chủ quan của tội phạm.
1.1.2.1. Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại. Từ tội phạm được sử dụng ở đây là thuật ngữ định danh để mô tả một cấu thành tội phạm nhất định, vì vậy việc sử dụng thuật ngữ biểu thị một hành vi phạm tội được quy định trong BLHS là tội phạm không có nghĩa là người thực hiện hành vi đó là tội phạm, nếu không đủ các yếu tố cấu thành tội phạm và không có bản án có hiệu lực pháp luật của Toà án.
Bất kỳ tội phạm nào cũng đều xâm hại đến một hoặc một số quan hệ xã hội nhất định được luật hình sự bảo vệ bằng cách gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho những quan hệ được quy định tại Điều 1 và Điều 8 BLHS 1999, đó là: “Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, tính mạng, sức khoẻ, nhân thân, danh dự, tự do, tài sản, các quyền cũng như lợi ích hợp pháp của công dân; những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội của chủ nghĩa” [4].
Các tội xâm phạm sở hữu được quy định trong Chương XIV BLHS 1999 có khách thể bị xâm hại là quan hệ sở hữu, có nghĩa là các tội xâm phạm sở hữu phải là những hành vi gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu và sự gây thiệt hại này phải phản ánh được đầy đủ bản chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó. Sở hữu là quan hệ xã hội trong đó quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản được tôn trọng và bảo vệ. Theo Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 thì tài sản bao gồm: Vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Hành vi gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho quan hệ sở hữu là những hành vi xâm phạm các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt về tài sản.
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu. Đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản (Điều 133), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 134), tội cướp giật tài sản (Điều 136) BLHS 1999. Đặc điểm khác biệt này được thể hiện trong cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, các nhà làm luật không quy định về thiệt hại tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung hình phạt. Cụ thể hơn, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu TNHS về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.
Tài sản là đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể thuộc bất cứ hình thức sở hữu nào được pháp luật thừa nhận và phải được thể hiện dưới dạng vật chất vì những gì không thuộc về thế giới vật chất sẽ không thể là đối tượng của hành vi chiếm đoạt. Vì vậy, quyền về tài sản không phải mọi trường hợp đều là đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Ví dụ: Bản di chúc về quyền thừa kế tài sản của một người thì không phải là đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn những giấy tờ thể hiện về quyền tài sản như hoá đơn lĩnh hàng… vẫn có thể là đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong những trường hợp nhất định.
Tuy nhiên, cần phải lưu ý về các đặc điểm xuất phát từ tính năng, công dụng đặc biệt của tài sản mà một số tài sản không thể được coi là đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mà là đối tượng của hành vi phạm tội khác. Ví dụ như tài nguyên rừng, công trình, phương tiện giao thông vận tải, thông tin liên lạc, các chất ma tuý, các loại vũ khí quân dụng….
Đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu là các tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước, cá nhân, pháp nhân và chủ thể khác… Nếu đối tượng bị xâm hại là tài sản của Nhà nước thì đó là tình tiết tang nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, khoản 3, Điều 48 BLHS 1999.
Như vậy, pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng luôn bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp và chỉ bảo vệ quyền sở hữu hợp pháp nên về nguyên tắc tài sản được luật hình sự bảo vệ phải là tài sản hợp pháp. Nhưng điều đó không có nghĩa những hành vi xâm phạm tài sản bất hợp pháp khác của công dân không bị coi là tội phạm mà vẫn bị coi là trái pháp luật và có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, pháp luật hình sự xử lý những người phạm tội lừa đảo để bảo vệ quyền sở hữu mà không cần phân biệt người bị lừa đảo và người chủ sở hữu nhằm đảm bảo trật tự an toàn chung của xã hội.

1.1.2.2. Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Mặt khách quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố của tội phạm, vì nếu không có mặt khách quan thì cũng không có các yếu tố khác của tội phạm, do vậy cũng không có tội phạm. Do đó, việc nghiên cứu mặt khách quan của tội phạm có ý nghĩa thực tiễn rất lớn.
Mặt khách quan của tội phạm là biểu hiện ra bên ngoài của tội phạm, trong đó hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản nhất, các biểu hiện khác như hậu quả của tội phạm, công cụ, phương tiện… cũng chỉ thể hiện khi có hành vi khách quan, nói cách khác, ta chỉ nhận diện được chúng thông qua hành vi khách quan.
Mặt khách quan được quy định trong Luật hình sự có những nội dung sau:
Thứ nhất: Hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội;
Thứ hai: Hậu quả nguy hiểm cho xã hội;
Thứ ba: Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả nguy hiểm cho xã hội;
Thứ tư: Các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội (công cụ, phương pháp, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội,…).
Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có các dấu hiệu đặc trưng sau:
a. Dấu hiệu hành vi khách quan
Cũng giống như các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác, hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối làm cho người có tài sản tin đó là sự thật nên đã tự nguyện giao tài sản cho người có hành vi gian dối. Ta có thể hiểu, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thể hiện bởi hai yếu tố đó là: hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt.
Hành vi gian dối: là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật, tự nguyện trao tài sản cho người phạm tội.
Cụ thể, người phạm tội đã “gian dối” có chủ đích khi đưa ra những thông tin không đúng sự thật như dùng lời nói dối trá; giấy tờ giả mạo; giả danh người có chức vụ quyền hạn; giả danh các tổ chức để ký kết hợp đồng không ngay thẳng; nói có thành không, ít thành nhiều, xấu thành tốt, giả thành thật hoặc kết hợp tất cả các cách làm nói trên nhằm để cho chủ tài sản tin đó là sự thật mà trao tài sản.
Đặc điểm nổi bật của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người bị hại tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội vì tin tưởng vào những thông tin không đúng sự thật ấy. Nói cách khác là khi giao tài sản, chủ tài sản không biết mình bị lừa dối. Đây cũng là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác. Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng, hành vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là nhằm chiếm đoạt tài sản, những hành vi lừa dối nhằm mục đích khác, dù mục đích này có tư lợi cũng không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ví dụ: hành vi gian dối khi cân, đo, đong, đếm, cấu thành tội Lừa dối khách hàng – Điều 162 BLHS 1999.
Như vậy, để thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội phải có ý định chiếm đoạt tài sản từ trước, sau đó mới dùng thủ đoạn gian dối làm cho người quản lý tài sản tin mà trao tài sản cho người phạm tội để người phạm tội chiếm đoạt tài sản đó. Nếu thủ đoạn gian dối có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà có thể là hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Đây cũng là các dấu hiệu này hay bị nhầm lẫn với nhau khi áp dụng trên thực tế.
Hành vi chiếm đoạt: là hành vi cố ý dịch chuyển một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được coi là hoàn thành khi có hậu quả xảy ra, người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản. Đây là dạng tội ghép, tội phạm đồng thời phải thực hiện hai hành vi là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt. Coi là chiếm đoạt được khi:
Thứ nhất: Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản thì hành vi chiếm đoạt được là hành vi nhận tài sản từ người bị lừa dối. Vì đã tin tưởng vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã giao nhầm tài sản cho người phạm tội.
Ví dụ: Vì thiếu tiền tiêu xài nên A nảy sinh ý định chiếm đoạt xe máy của B để đem đi bán. Sau đó, A sang nhà B chơi và mượn xe của B với lý do đi đón con đi học về, B tưởng thật nên đã đồng ý giao xe cho A mượn. Sau khi mượn được xe, A đem ra tiệm cầm đồ bán lấy 10 triệu đồng, sau đó bỏ trốn. Như vậy, hành vi của A đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và hành vi chiếm đoạt được là hành vi nhận xe của B.
Thứ hai: Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì hành vi chiếm đoạt được là hành vi giữ lại tài sản đáng lẽ phải giao cho người bị lừa dối. Vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã nhận nhầm tài sản (nhận thiếu, nhận sai loại tài sản được nhận). Do đó, thủ đoạn gian dối phải gắn với hành vi chiếm đoạt tài sản.
Ví dụ: Vì bận công việc nên A không thể qua C lấy 40 triệu đồng tiền C nợ A nên đã nhờ B đi lấy. Khi tới C lấy tiền, thực chất C đã giao cho B đủ số tiền 40 triệu đồng, nhưng trên đường về, B đã đánh tráo cọc tiền 20 triệu thành 10 triệu đồng. Khi về đến nơi và giao tiền cho A, B giao số tiền đã đánh tráo cho A và nói có việc đột xuất phải về nhà gấp. Khi A về nhà kiểm tra lại số tiền thì mới phát hiện thiếu tiền. Khi đó B đã bỏ trốn.
Qua đó thấy được hành vi khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tương tự với hành vi khách quan của nhiều tội phạm khác. Vì vậy, để định tội danh chính xác phải đặt hành vi khách quan trong mối liên hệ với các yếu tố khác, nghiên cứu một cách toàn diện các yếu tố cấu thành tội phạm [15].
Hậu quả của tội phạm là thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra cho quan hệ xã hội là khách thể bảo vệ của luật hình sự, hậu quả của tội phạm nói chung có thể là thiệt hại về vật chất, về tinh thần, về trật tự quản lý Nhà nước,… Thiệt hại gây ra cho khách thể được thể hiện thông qua sự biến đổi tình trạng bình thường của các bộ phận cấu thành quan hệ xã hội là khách thể của tội phạm.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tội có cấu thành vật chất, nghĩa là trong cấu thành tội phạm có phản ảnh dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội, nhưng hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc, vì có những trường hợp hậu quả chưa xảy ra vẫn có thể cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ví dụ như trường hợp chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt. Hậu quả của tội phạm được phản ánh trong cấu thành tội phạm thông qua thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt, chính vì vậy việc xác định tài sản là đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc, đây là dấu hiệu định lượng để xác định cấu thành cơ bản hoặc cấu thành định khung tang nặng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Ngoài hậu quả là giá trị tài sản bị chiếm đoạt là dấu hiệu định tội thì thực tế hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn gây hậu quả nguy hiểm khác, đó là những thiệt hại về tài sản, về thể chất hoặc những hậu quả phi vật chất khác diễn ra ở những cấp độ khác nhau thể hiện mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Những hậu quả này thường phát sinh do việc tài sản bị chiếm đoạt (có mối quan hệ nhân quả giữa việc tài sản bị chiếm đoạt và hậu quả). Do đó, việc xác định hậu quả là thiệt hại về tài sản thì phải xảy ra ngoài giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Hậu quả phi vật chất ở đây được biểu hiện là những ảnh hưởng gây hậu quả về tính mạng, sức khoẻ; gây ảnh hưởng xấu đến đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; gây ảnh hưởng về an ninh trật tự, an toàn xã hội; gây bất ổn cho đời sống của người dân…
Theo quy định ở khoản 1 Điều 139 BLHS 1999 thì giá trị tài sản bị chiếm đoạt ở mức 2 triệu đồng là mức nguy hiểm đáng kể làm căn cứ truy cứu TNHS. Cụ thể, nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 2 triệu đồng trở lên luôn cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản bị chiếm đoạt có giá trị dưới 2 triệu đồng thì phải kèm theo là gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà vi phạm mới cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
c. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm
Việc định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không chỉ xác định hậu quả là giá trị tài sản bị chiếm đoạt mà còn đòi hỏi phải làm rõ mối quan hệ nhân quả giữa hành vi lừa đảo với hậu quả đó.
Con người chịu TNHS về hậu quả nguy hiểm cho xã hội khi hậu quả đó do chính hành vi của mình gây ra. Mối quan hệ nhân quả được hiểu là quan hệ lệ thuộc giữa nguyên nhân và kết quả trong chuỗi hành vi, cụ thể trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì hành vi gian dối phải diễn ra trước hành vi chiếm đoạt tài sản và hành vi gian dối là cơ sở chủ yếu quyết định việc chiếm đoạt được tài sản của người phạm tội.
Mối quan hệ nhân quả trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu như sau: Hành vi gian dối phải diễn ra trước hành vi chiếm đoạt tài sản; Hành vi gian dối là cơ sở chủ yếu quyết định việc chiếm đoạt được tài sản của người phạm tội.
Do đó, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản vừa có ý nghĩa về mặt định tội danh, vừa có ý nghĩa trong việc QĐHP vì việc chiếm đoạt được tài sản của người phạm tội có thể gây ra những hậu quả nguy hiểm khác cho xã hội.
1.1.2.3. Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tại Điều 2 BLHS 1999 quy định cơ bản của TNHS: “Chỉ người nào phạm tội hay nhiều tội đã được BLHS quy định mới phải chịu TNHS” và tại Điều 8 BLHS khái niệm tội phạm như sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm đến chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,…[4]. Qua đó, có thể thấy chủ thể của tội phạm là người có năng lực TNHS, đạt độ tuổi luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể. Ngoài ra, ở những tội nhất định còn đòi hỏi chủ thể phải có các dấu hiệu khác thể hiện những đặc điểm nhất định của chủ thể. “Bất cứ tội phạm cụ thể nào cũng phải có chủ thể, không có chủ thể thì không có tội phạm” [3].
Tội phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam phải có tính có lỗi, chỉ những người có lỗi trong khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mới có thể là chủ thể của tội phạm, đó là người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định.
Người có năng lực TNHS là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển được hành vi ấy. Theo luật hình sự Việt Nam, người có năng lực TNHS là người đạt độ tuổi chịu TNHS và không thuộc trường hợp ở trong tình trạng không có năng lực TNHS quy định tại Điều 13 BLHS 1999.
Điều 12 BLHS 1999 quy định độ tuổi chịu TNHS như sau:
1. “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm”.
2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” [4].
Theo đó, ta thấy được chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngoài việc thoả mãn về năng lực TNHS phải thoả mãn cả về độ tuổi: Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS trong mọi trường hợp phạm tội – quy định từ khoản 1 đến khoản 4 Điều 139 BLHS 1999; Người từ đủ 14 tuổi trở lên đến dưới 16 tuổi phải chịu TNHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 (đây là tội rất nghiêm trọng – mức cao nhất của khung hình phạt đến 15 năm tù), khoản 4 (là tội đặc biệt nghiêm trọng – mức cao nhất của khung hình phạt là chung than) Điều 139 BLHS 1999.
Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là chủ thể thường nên không có sự ngoại lệ đối với người nước ngoài, người không quốc tịch khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên lãnh thổ Việt Nam, trừ một số người được hưởng quyền miễn trừ tư pháp, TNHS của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.
Như vậy, chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người từ 14 tuổi trở lên, có năng lực TNHS và đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 BLHS 1999.
1.1.2.4. Mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tội phạm là một thể thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan, nếu như mặt khách quan là biểu hiện bên ngoài của tội phạm thì mặt chủ quan lại là hoạt động tâm lý bên trong của tội phạm. Mặt chủ quan của người phạm tội là trạng thái tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó gây ra.
Những dấu hiệu cơ bản của mặt chủ quan của tội phạm là: Lỗi, động cơ và mục đích phạm tội. Lỗi là dấu hiệu cơ bản nhất của mặt chủ quan của tội phạm và biểu hiện dưới hai hình thức là lỗi cố ý và lỗi vô ý, nó là hạt nhân về mặt chủ quan của tội phạm dù không bao hàm hết mặt chủ quan, nhưng yếu tố lỗi trả lời cho câu hỏi vì sao, động cơ nào người lại thực hiện hành vi phạm tội, và trong mọi trường hợp, lỗi chính là yếu tố chủ quan bắt buộc trong mọi cấu thành tội phạm. Ngoài ra, động cơ là nhân tố tâm lý bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện tội phạm. Mục đích phạm tội là khuynh hướng, là cái đích mà người phạm tội mong muốn đạt được. Mặt chủ quan của tội phạm là một trong bốn yếu tố bắt buộc của cấu thành tội phạm. Mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện do lỗi cố ý, mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản.
* Dấu hiệu lỗi trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
Trong luật hình sự Việt Nam, nguyên tắc lỗi được coi là nguyên tắc cơ bản. Theo nguyên tắc này, luật hình sự Việt Nam không chấp nhận việc truy cứu TNHS con người chỉ trên cơ sở hành vi khách quan mà không xét đến lỗi của họ, có nghĩa là một người phải chịu TNHS về hành vi nguy hiểm cho xã hội khi họ có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó. Người thực hiện hành vi bị coi là có lỗi nếu họ có sự tự do lựa chọn thực hiện hành vi đó trong khi họ có đủ điều kiện lựa chọn xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội: “Một hành vi gây thiệt hại cho xã hội sẽ bị coi là có lỗi, nếu hành vi đó là kết quả của sự lựa chọn và quyết định của chủ thể trong khi chủ thể có đủ điều kiện khách quan và chủ quan để lựa chọn và quyết định một xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội” [10].
Điều 139 BLHS 1999 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng không nêu dấu hiệu lỗi của người phạm tội. Tuy nhiên, xét theo bản chất và tính chất của hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì về mặt chủ quan của tội phạm được thể hiện do lỗi cố ý trực tiếp với mục đích chiếm đoạt tài sản.
Về mặt hình thức, lỗi gồm hai yếu tố cấu thành đó là: Lý trí – thể hiện khả năng nhận thức của chủ thể; Ý chí – thể hiện khả năng điều chỉnh hành vi của chủ thể, quá trình ý chí thể hiện khả năng định hướng các hành động nhằm đạt được mục đích đề ra, lý trí và ý chí là hai quá trình tồn tại song song, không đối lập nhau trong thực hiện tội phạm. Lỗi cố ý trực tiếp trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được biểu hiện như sau:
Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện là xâm phạm sở hữu của người khác, nhận thức rõ thủ đoạn đưa ra là hoàn toàn không có thật, nhằm làm cho chủ tài sản tin đó là sự thật. Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa dối đã có ý thức muốn chiếm đoạt được tài sản của người khác.
Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hành vi lừa dối có kết quả là chiếm đoạt được tài sản của người khác.
* Dấu hiệu động cơ, mục đích phạm tội trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
Động cơ và mục đích phạm tội là những dấu hiệu độc lập trong mặt chủ quan, động cơ và mục đích thường xuất hiện trước khi thực hiện tội phạm, vì bản chất động cơ và mục đích đều là các yếu tố bên trong và thông qua mặt khách quan của tội phạm, các hoạt động phạm tội mới hiện thức hoá động cơ mục đích đó.
Động cơ phạm tội được hiểu là động cơ bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội. Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể có nhiều động cơ khác nhau khi thực hiện hành vi phạm tội, có người chỉ để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng cá nhân, có người vì tham lam… và đó là động cơ tư lợi. Dấu hiệu động cơ luôn có trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng đó không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, nó không có ý nghĩa với định tội danh như một số tội khác, mà nó chỉ có ý nghĩa trong việc QĐHP.
Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội hướng tới nhằm đạt được khi thực hiện tội phạm. Mục đích của người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là mong muốn chiếm đoạt tài sản. Mục đích này bao giờ cũng có trước khi thực hiện hành vi phạm tội. Có thể nói rằng, mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nếu mục đích chiếm đoạt tài sản có sau khi nhận được tài sản thì đó sẽ không phải là cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, người phạm tội có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hay chấp nhận mục đích chiếm đoạt của đồng phạm khác thì người phạm tội cũng bị truy cứu TNHS về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Việc nghiên cứu khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa rất lớn trong việc phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 BLHS 1999, được xây dựng bốn khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội và sắp xếp theo trình tự tăng dần về độ nghiêm khắc. Đó là khung hình phạt cơ bản, khung hình phạt tăng nặng thứ nhất (khoản 2), khung tăng nặng thứ hai (khoản 3), khung tăng nặng thứ ba (khoản 4) và khung hình phạt bổ sung (khoản 5).

Khoản 1 Điều 139 BLHS 1999, quy định chế tài lựa chọn giữa hình phạt cải tạo không giam giữ và hình phạt tù. Đây là hai loại hình phạt khác nhau trong cùng một khung. Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể bị áp dụng biện pháp cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm khi thoả mãn một trong hai dấu hiệu sau:
Thứ nhất, chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng.
Thứ hai, chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm.
Cấu thành cơ bản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 139 BLHS 1999 có nhiều tình tiết là yếu tố định tội, làm ranh giới phân biệt giữa hành vi phạm tội với hành vi chỉ bị xử lý hành chính. Những dấu hiệu này được trình bày cụ thể trong phần “Thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo cấu thành tội phạm cơ bản” (Mục 2.1.2.1 Chương 2).
Khoản 2 Điều 139 BLHS 1999 quy định: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm tù khi khoả mãn một hoặc nhiều dấu hiệu sau: a) “Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Tái phạm nguy hiểm; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; g) Gây hậu quả nghiêm trọng” [3].
Đây là các dấu hiệu định khung tăng nặng theo quy định tại khoản 2, các dấu hiệu này được hiểu như sau:
Thứ nhất: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản “có tổ chức” – Đây là trường hợp phạm tội có đồng phạm và có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Theo khoản 3 Điều 2 BLHS 1999 thì “Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm” [4]. Nghĩa là, giữa những người đồng phạm vừa có sự liên kết chặt chẽ với nhau vừa có sự phân hoá vai trò, phân công nhiệm vụ tương đối rõ ràng và cụ thể. Nhóm tội phạm được hình thành với phương hướng hoạt động có tính lâu dài, bền vững. Trong nhóm tồn tại quan hệ chỉ huy – phục tùng. Trong đó, có người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức. Tuy nhiên, tuỳ trường hợp có thể chỉ có người tổ chức và người thực hành mà không có người xúi giục hoặc người giúp sức nhưng nhất định phải có người tổ chức và người thực hành thì mới thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức. Người thực hành trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người trực tiếp thực hiện thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.
Thứ hai: Lừa đảo tài sản “có tính chất chuyên nghiệp” – Tức là người phạm tội lấy việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản làm nguồn thu nhập chính và là phương tiện sinh sống của chính mình, người phạm tội phải thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhiều lần. Nếu phạm tội nhiều lần nhưng họ không lấy việc phạm tội là phương tiện sinh sống chủ yếu thì không coi là có tính chất chuyên nghiệp mà lại thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần (tình tiết tăng nặng TNHS quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 BLHS 1999).
Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của HĐTP TANDTC đã hướng dẫn cụ thể chỉ áp dụng tình tiết “phạm tội có tính chuyên nghiệp” khi có đầy đủ các điều kiện sau:
– Cố ý phạm tội từ năm lần trở lên về cùng một tội phạm không phân biệt đã bị truy cứu TNHS hay chưa bị truy cứu TNHS, nếu chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc chưa được xoá án tích.
– Người phạm tội đều lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống và lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn sống chính.
Thứ ba: Người phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” – Cũng giống như mọi trường hợp tái phạm nguy hiểm khác, đây là trường hợp người phạm tội đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 Điều 139 BLHS 1999 hoặc đã tái phạm chưa được xoá án tích mà lại phạm tội này (theo khoản 2 Điều 49 BLHS 1999) [4].
Thứ tư: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức” – Đây là trường hợp người phạm tội sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình như phương tiện để lừa dối hoặc núp dưới danh nghĩa cơ quan, tổ chức để thực hiện hành vi lừa dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Đây là tình tiết định khung hình phạt mới được quy định trên cơ sở tên tội danh của Điều 134a BLHS năm 1985 là điều được sửa đổi bổ sung vào ngày 10/5/1997 (Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản XHCN).
Thứ năm: “Dùng thủ đoạn xảo quyệt” để lừa đảo chiếm đoạt tài sản – Đây là trường hợp người phạm tội có những thủ đoạn tinh vi hoặc gian dối cao làm cho người bị hại và những người khác khó lường trước để đề phòng và cơ quan công an cũng khó điều tra, phát hiện.
Thứ sáu: “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng” – Đây là trường hợp lấy giá trị tài sản định khung hình phạt.
Thứ bảy: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản “gây hậu quả nghiêm trọng” – Là hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã gây ra những thiệt hại khác ngoài những thiệt hại mà điều luật đã quy định để cấu thành tội phạm. Để hiểu cụ thể về tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, xem mục 2.1.2.1 Chương 2.
Tại khoản 3 Điều 139 BLHS 1999 quy định chế tài lựa chọn từ 07 năm đến 15 năm tù khi thoả mãn một trong các dấu hiệu sau: a. “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; b. Gây hậu quả rất nghiêm trọng” [4].
Ở đây, ngoài tình tiết chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng, tình tiết lừa đảo chiếm đoạt tài sản “gây hậu quả rất nghiêm trọng” được hiểu là trường hợp hành vi tội lừa đảo chiếm đoạt tà sản đã gây thiệt hại về thể chất, về tài sản, thiệt hại phi vật chất cho người bị hại cũng như cho xã hội (ngoài những thiệt hại mà bộ luật quy định đủ để cấu thành tội phạm), cụ thể: “Làm chết hai người; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của năm đến bảy người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của những người này từ 101% đến 200%, nếu không thuộc các trường hợp nêu trên; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ năm trăm triệu đồng; Gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản mà hậu quả bao gồm từ hai đến ba tình tiến nêu trên” [28].
Ngoài những thiệt hại về sức khoẻ hoặc tài sản có thể xác định được nêu trên còn những thiệt hại phi vật chất cũng cần được xác định để đánh giá hậu quả do hành vi phạm tội gây ra như: Ảnh hưởng xấu đến việc thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; Gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội.
Tại khoản 4 Điều 139 BLHS 1999 quy định chế tài lựa chọn từ 12 năm đến 20 năm tù chung thân, khi thoả mãn một hoặc nhiều dấu hiệu sau:
a. “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b. Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” [4].
Tình tiết “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” được hiểu là trường hợp hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã gây ra những thiệt hại về thể chất, về tài sản, thiệt hại phi vật chất cho người bị hại cũng như cho xã hội (ngoài những thiệt hại mà điều luật quy định để cấu thành tội phạm), gồm những trường hợp sau: “Làm chết ba người trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của năm người trở lên với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của tám người trở lên với tỷ lê thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 201% trở lên, nếu không thuộc một trong các trường hợp nêu trên; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ một tỷ năm trăm triệu đồng trở lên; Gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản mà hậu quả thuộc bốn điểm trở lên (Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 61% trở lên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% đến 60%; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 61% đến 100%, nếu không thuộc các trường hợp nêu trên; Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% và còn gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 30 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; Gây thiệt hại về tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng); Gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ và tài sản mà hậu quả thuộc hai điểm trở lên (trong phần khung tăng nặng thứ hai nêu trên) [28].
Theo quy định tại khoản 5 Điều 139 BLHS thì ngoài hình phạt chính, người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội có tính chất xâm phạm đến sở hữu. Nó trực tiếp gây thiệt hại về vật chất cho chủ sở hữu, do vậy trong chế tài của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, các nhà lập pháp đã quy định hình phạt tiền là hình phạt bổ sung để Toà án tuỳ từng trường hợp lựa chọn áp dụng. Việc áp dụng chế tài này là tước đi một khoản tiền nhất định của người phạm tội để sung vào công quỹ Nhà nước.
Việc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản của người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải chú ý quy định tại Điều 40 BLHS 1999. Chỉ thu tài sản thuộc quyền sở hữu của người phạm tội, không thu các loại tài sản là đồ trang sức, vật kỷ niệm của người phạm tội và khi tịch thu tài sản của người phạm tội vẫn phải để lại cho người phạm tội và gia đình họ có điều kiện sinh sống.
Qua phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ta thấy đặc trưng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bằng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Song, trên thực tế, việc nhận biết thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản không đơn giản vì không phải trường hợp nào, hành vi nào cũng thể hiện một cách rõ ràng và thống nhất. Trong nhiều trường hợp, nếu các cơ quan tiến hành tố tụng không nắm rõ bản chất hành vi phạm tội sẽ dẫn đến việc định tội danh không đúng. Vì vậy, khi nghiên cứu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, không những cần nắm rõ về các dấu hiệu pháp lý của tội phạm mà còn cần phải phân biệt được tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm khác nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm.
a. Phân biệt Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 BLHS 1999 và tội lạm dụng tín nhiệm tài sản quy định tại Điều 140 BLHS 1999 có nhiều điểm giống nhau nhưng đây là hai tội độc lập, hoàn toàn khác nhau.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HINH SU\PHAM THI KIEU HANH


