Thi hành hình phạt tù theo pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam

Thi hành hình phạt tù theo pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam từ thực tiễn

Thi hành hình phạt tù theo pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Thi hành hình phạt tù (THHPT) là một trong những khâu quan trọng của hoạt động tư pháp. Thông qua THHPT, lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân mới được tôn trọng và bảo vệ. Nếu bản án phạt tù có hiệu lực pháp luật của Tòa án không được thi hành thì không những lợi ích của Nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan không được bảo vệ mà còn giảm lòng tin của nhân dân với cơ quan bảo vệ pháp luật.

Nghiên cứu tình hình THHPT ở địa bàn thành phố Đà Nẵng cho thấy, hoạt động này mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng hiệu lực, hiệu quả chưa cao: Một số bản án phạt tù đã có hiệu lực pháp luật của TAND thành phố Đà Nẵng chưa được thi hành một cách nghiêm chỉnh; việc tổ chức THHPT có nơi, có lúc chưa hoặc không đúng nội dung của bản án; chưa có sự thống nhất cao trong việc áp dụng pháp luật về THHPT; công tác quản lý Nhà nước về THHPT chưa thật sự ngang tầm với những yêu cầu, đòi hỏi của tiến trình cải cách tư pháp… Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân liên quan đến cả nhận thức lý luận cũng như thực tiễn THHPT. Về mặt lý luận, vẫn còn một số vấn đề chưa được làm sáng tỏ một cách sâu sắc và toàn diện, đến nay vẫn còn những quan điểm khác nhau về bản chất pháp lý của THHPT.

Về mặt thực tiễn, hoạt động THHPT gặp không ít khó khăn và vẫn còn để xảy ra những thiếu sót nhất định… đòi hỏi phải có biện pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả của hoạt động THHPT.

Có thể thấy trong tình hình hiện nay với xu thế tăng cường bảo vệ quyền con người, kể cả người bị kết án phạt tù trong bối cảnh hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thì vấn đề THHPT là một vấn đề hết sức nhạy cảm, cần được quan tâm đặc biệt. Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề THHPT trong phạm vi cả nước nói chung và ở từng địa phương nói riêng, nhất là ở những thành phố lớn như Đà Nẵng để góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng, trên cơ sở đó tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của việc thi hành các bản án phạt tù của Tòa án là hướng nghiên cứu có tính cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.

Với lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Thi hành hình phạt tù theo pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu làm luận văn cao học của mình.

2. Tình hình nghiên cứu

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành hình phạt tù ở thành phố Đà Nẵng, luận văn hướng tới mục đích xây dựng các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định của pháp luật về thi hành hình phạt tù trong thời gian tới ở địa bàn thành phố Đà Nẵng cũng như trong phạm vi cả nước.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra và thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau:

+ Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về thi hành hình phạt tù;

+ Bình luận, đánh giá các quy định của pháp luật về thi hành hình phạt tù;

+ Khảo sát, đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về thi hành hình phạt tù ở thành phố Đà Nẵng.

+ Xây dựng các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định của pháp luật về thi hành hình phạt tù trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu: Vấn đề lý luận; quy định của pháp luật về hình phạt tù, về thi hành hình phạt tù và thực tiễn áp dụng các quy định đó trên thực tế.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề thi hành hình phạt tù với nghĩa là thi hành án phạt tù (tù có thời hạn, tù chung thân) do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2016.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cở sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp…

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để làm rõ từng nội dung nghiên cứu của luận văn gồm: Phân tích, tổng hợp; so sánh, thống kê, đàm thoại, phỏng vấn, v.v…

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Kết quả dạt được của luận văn góp phần là phong phú lý luận chuyên ngành thi hành án hình sự nói chung, thi hành án phạt tù nói riêng ở Việt Nam.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả đạt được của luận văn có thể được sử dụng như là chỉ dẫn khoa học trong việc hoàn thiện pháp luật về thi hành hình phạt tù cũng như đảm bảo áp dụng đúng các quy định đó trong thực tiễn.

Ngoài ra, luận văn còn có thể làm tài liệu tham khảo trong học tập, nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo ngành Luật, chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,… nội dung của luận văn được kết cấu thành ba chương:

Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về thi hành hình phạt tù.

Chương 2. Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về thi hành phạt tù tại thành phố Đà Nẵng.

Chương 3. Giải pháp hoàn thiện và đảm bảo áp dụng đúng quy định của pháp luật về thi hành hình phạt tù.

CHƯƠNG 1

   NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT

VỀ THI HÀNH HÌNH PHẠT TÙ

    1. 1.1. Khái niệm, đặc điểm thi hành hình phạt tù

1.1.1. Khái niệm hình phạt tù và thi hành hình phạt tù

Theo từ điển giải thích thuật ngữ của Trường Đại học Luật Hà Nội thì “Hình phạt tù” được hiểu là “Hình phạt tước quyền tự do của con người, buộc người bị kết án phải cách li khỏi cuộc sống bình thường của xã hội, sống trong môi trường riêng biệt có sự kiểm soát chặt chẽ (trại giam)” [35, tr.65].

“Thi hành hình phạt tù là thực hiện bản án phạt tù của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và đã có quyết định thi hành án, để tước tự do của người bị kết án, buộc họ phải cách ly cuộc sống bình thường ngoài xã hội, sống trong môi trường riêng biệt có sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền”.

1.1.2. Đặc điểm thi hành hình phạt tù

Thứ nhất, thi hành hình phạt tù là hoạt động áp dụng pháp luật vừa mang tính tố tụng hình sự, vừa mang tính hành chính – tư pháp.

Thứ hai, thi hành án phạt tù là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước

Thứ ba, thi hành án phạt tù là hoạt động mang tính thủ tục pháp lý

Thứ tư, thi hành án phạt tù là hoạt động mang tính định hướng, tính mục đích

Thứ năm, thi hành án phạt tù là hoạt động phức tạp, đa dạng bao gồm nhiều nội dung khác nhau.

Tính chất đa dạng, phức tạp của hoạt động thi hành án phạt tù trước hết được thể hiện ở chỗ: Nội dung của hoạt động thi hành án phạt tù rất phong phú. Đó là việc ra quyết định thi hành án phạt tù; tổ chức thực hiện các biện pháp giáo dục, cải tạo phạm nhân bằng lao động, dạy nghề, học văn hóa, v.v…

Tính chất Thi hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân thể hiện rõ tính cưỡng chế nghiêm khắc của nó là tước đi quyền tự do của người bị kết án. Những người này bị cách ly khỏi xã hội, phải chịu sự quản lý, cải tạo, giáo dục trong thời hạn bị phạt tù.

Có thể hiểu: “Thi hành án phạt tù là hoạt động áp dụng pháp luật mang tính quyền lực Nhà nước do cơ quan Nhà nước và người có thẩm quyền thực hiện trên những nguyên tắc nhất định để đưa bản án phạt tù của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế nhằm cải tạo, giáo dục người bị kết án tù trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội”.

    1. 1.2. Căn cứ thi hành án phạt tù

Thứ nhất, bản án phạt tù của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Thứ hai, có quyết định thi hành án phạt tù của người có thẩm quyền

    1. 1.3. Trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tù

Một trong những đặc trưng cơ bản của thi hành án là được tiến hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ, đó là thủ tục thi hành án hình sự. Thi hành hình phạt tù diễn ra theo một quá trình gồm nhiều hoạt động kế tiếp nhau, được bắt đầu bằng việc ra quyết định thi hành án, đưa người bị kết án đến trại giam để chấp hành hình phạt, tổ chức thực hiện các biện pháp cải tạo, giáo dục người chấp hành án, trả tự do cho người bị kết án tù.

1.3.1. Trình tự, thủ tục đưa bản án phạt tù đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành

Theo quy định của pháp luật, việc đưa bản án phạt tù đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành được thực hiện qua hai bước: Ra quyết định thi hành án phạt tù và thi hành quyết định thi hành án phạt tù (Điều 256 BLTTHS năm 2003 và Điều 21 Luật Thi hành án hình sự)

Sau khi quyết định thi hành án phạt tù được gửi cho các chủ thể nói trên, quyết định thi hành án phạt tù được đưa ra thi hành theo trình tự được quy định tại Điều 22 Luật Thi hành án hình sự

      1. 1.3.2. Trình tự, thủ tục đưa người bị kết án phạt tù có thời hạn đến trại giam tổ chức thực hiện các biện pháp cải tạo, giáo dục và trả tự do cho người đã chấp hành xong án phạt tù

Quy định tại Điều 25 Luật Thi hành án hình sự.

1.3.3. Vai trò trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào công tác thi hành án phát tù

+ Cơ quan Tòa án

Vai trò, trách nhiệm của cơ quan Tòa án được quy định tại Điều 20 Luật Thi hành án hình sự. Điều 173 Luật Thi hành án hình sự quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Toà án nhân dân tối cao trong thi hành án hình sự. Hướng dẫn Toà án các cấp trong việc ra quyết định thi hành án hình sự; phối hợp với cơ quan, tổ chức quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 10 của Luật này trong công tác thi hành án hình sự. Phối hợp với Bộ Công an, Bộ Quốc phòng trong việc tổng kết công tác thi hành án hình sự. Phối hợp với Bộ Công an trong việc thực hiện chế độ thống kê, báo cáo về công tác thi hành án hình sự.

+ Cơ quan Viện kiểm sát nhân dân

Điều 141 Luật Thi hành án hình sự quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong kiểm sát thi hành án hình sự. Điều 142 Luật Thi hành án hình sự quy định kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cá

+ Cơ quan thi hành án hình sự

Điều 10, khoản 2 Luật Thi hành án hình sự quy định cơ quan thi hành án hình sự. Điều 11 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an. Điều 13 Luật Thi hành án hình sự quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh. Điều 15 Luật Thi hành án hình sự quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện.

    1. 1.4. Trình tự thủ tục hoãn chấp hành án phạt tù, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, giảm thời hạn chấp hành án phạt tù; miễn chấp hành án phạt tù
      1. 1.4.1. Hoãn chấp hành án phạt tù

Hoãn chấp hành án phạt tù là việc Tòa án bằng quyết định cho phép người bị kết án tù mà bản án đã có hiệu lực pháp luật chưa phải đi chấp hành hình phạt khi có căn cứ do pháp luật quy định. Quyết định hoãn chấp hành hành hình phạt tù của Tòa án chỉ có tính chất tạm thời cho phép người bị kết án chưa chấp hành án phạt tù chứ không giải phóng người bị kết án phạt tù khỏi việc phải chấp hành án phạt tại trại giam, đồng thời chỉ có thể áp dụng đối với những người thuộc quy định tại Điều 61 Bộ luật Hình sự [40, tr.85].

Thủ tục hoãn chấp hành án phạt tù được quy định tại Điều 261 BLTTHS năm 2003. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng cho thấy, còn nhiều vấn đề chưa cụ thể, rõ ràng. Vì vậy, trên cơ sở của điều luật này, Điều 23 Luật Thi hành án hình sự đã quy định đầy đủ, cụ thể hơn về thủ tục hoãn chấp hành án phạt tù.

      1. 1.4.2. Miễn chấp hành án phạt tù

Miễn chấp hành án phạt tù là không buộc người bị kết án phạt tù phải chấp hành toàn bộ hoặc một phần của hình phạt tù mà tòa án đã tuyên trong bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật đối với họ khi có đủ căn cứ, điều kiện luật định ( Điều 57 BLHS năm 1999)

      1. 1.4.3. Giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù

Giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù là việc Tòa án quyết định rút ngắn thời hạn chấp hành phần hình phạt tù còn lại đối với người bị kết án khi có đủ căn cứ và điều kiện luật định.(Điều 58 BLHS năm 1999)

      1. 1.4.4. Tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù

Tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù là việc Tòa án cho người đang chấp hành án phạt tù thuộc các trường hợp do pháp luật quy định được tạm dừng chấp hành án phạt tù trong một thời gian nhất định (Điều 62 BLHS năm 1999).

Trình tự, thủ tục đề nghị và xét tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù được thực hiện theo quy định tại Điều 262, 263 BLTTHS năm 2003 và các văn bản khác có liên quan. Trên cơ sở kế thừa các quy định của văn bản pháp luật nêu trên, Luật Thi hành án hình sự năm 2010 đã quy định cụ thể hơn về thủ tục đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù. Theo đó, về thủ tục đề nghị tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, (Điều 31 Luật Thi hành án hình sự)

Thi hành hình phạt tù theo pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Thi hành hình phạt tù theo pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

VỀ THI HÀNH HÌNH PHẠT TÙ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

    1. 2.1. Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về hình phạt tù của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng
      1. 2.1.1. Những kết quả đạt được

Trong những năm qua, các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự của thành phố Đà Nẵng đã tích cực, chủ động phòng ngừa, phát hiện điều tra, xử lý tội phạm, góp phần bảo đảm an ninh, trật tự trên địa bàn thành phố. Qua công tác xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, Tòa án các cấp đã ra hàng trăm bản án, quyết định áp dụng hình phạt tù chính xác, kịp thời buộc các đối tượng phạm tội phải chịu hình phạt. Theo thống kê của TAND thành phố Đà Nẵng, trong 5 năm gần đây từ năm 2011 đến năm 2016 đã có 5.623 bị cáo bị kết án phạt tù (tù có thời hạn và tù chung thân), trong đó có: 3.849 bị cáo bị kết án phạt tù dưới 3 năm (chiếm tỷ lệ 68,45%); 1.207 bị cáo kết án phạt tù từ trên 3 năm đến 7 năm (chiếm tỷ lệ 21,46%); 481 bị cáo kết án phạt tù từ trên 7 năm đến 15 năm (chiếm 8,55%); 70 bị cáo bị kết án phạt tù từ trên 15 đến 20 năm (chiếm 1,24%) và 16 bị cáo kết án tù chung thân (chiếm 0,28%).

Những số liệu trên đây chủ yếu phản ánh về mặt định lượng, nhưng cũng phần nào phản ánh chất lượng xét xử nói chung, chất lượng quyết định áp dụng hình phạt tù nói riêng của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Tuy nhiên, không chỉ dừng lại một cách đơn giản ở con số những bị cáo bị Tòa án tuyên án phạt tù, bởi không thể phản ánh được đầy đủ chất lượng hoạt động quyết định hình phạt tù của Tòa án.

Thực tế cho thấy, bên cạnh tỷ lệ các vụ án được xét xử đạt mức cao cũng tồn tại không nhỏ các vụ án và bị can bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Qua khảo sát, đánh giá 205 bị cáo bị đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm cho thấy: Có 112 bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm (chiếm 54,63%), 37 bị cao sửa lại bản án sơ thẩm (chiếm 18,04%), trong đó có 35 bị cáo sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt; 02 bị cáo sửa bản án theo hướng tăng hình phạt. Tỷ lệ 54,63% y án sơ thẩm và 18,04% cải sửa án sơ thẩm mặc dù chưa đạt tới mong muốn nhưng cho thấy những cố gắng rất lớn của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng trong hoạt động xét xử vụ án hình sự nói chung, hoạt động quyết định áp dụng hình phạt nói riêng. Về cơ bản, hoạt động quyết định hình phạt tù của TAND thành phố Đà Nẵng đã bảo đảm thực hiện tốt chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước theo hướng đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện.

Hình phạt tù mà Tòa án áp dụng đối với bị cáo tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, phù hợp với đặc điểm nhân thân người phạm tội, với các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, hạn chế đến mức thấp nhất việc áp dụng sai, thiếu căn cứ.

2.1.2. Những mặt hạn chế, thiếu sót của hoạt động áp dụng hình phạt tù và nguyên nhân

* Những hạn chế, thiếu sót

Một là, mức hình phạt tuyên không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội (quá nặng hoặc quá nhẹ, cho hưởng án treo không đúng).

Hai là, một số trường hợp không đáng phải phạt tù có thời hạn nhưng Tòa án quyết định áp dụng phạt tù có thời hạn hoặc đáng được hưởng án treo thì bị phạt tù giam.

Ba là, một số trường hợp xử quá nhẹ, cho hưởng án treo không đúng pháp luật, không đúng với tinh thần của Nghị quyết 01/2013 ngày 06/11/2013 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 60 BLHS. Hơn nữa, thực tiễn xét xử trong những năm gần đây cho thấy, việc quyết định hình phạt quá nhẹ, cho hưởng án treo không đúng vẫn tồn tại khá nhiều, không được dư luận xã hội đồng tình, nhất là đối với những bị cáo phạm các tội về tham nhũng như: Tham ô, nhận hối lộ, lợi dụng chức vụ quyền hạn liên quan đến việc quản lý đất đai…, phạm tội về tổ chức đánh bạc.

Bốn là, có những trường hợp tính chất và mức độ phạm tội tương đương nhau nhưng việc quyết định hình phạt không thống nhất, có sự khác biệt giữa các Tòa án.

Năm là, có nhiều trường hợp lẽ ra Tòa án có thể áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhưng lại áp dụng hình phạt tù chung thân, hoặc ngược lại.

* Nguyên nhân của những hạn chế thiếu sót

Những hạn chế, thiếu sót trong áp dụng hình phạt tù nêu trên trước hết thuộc về chủ thể áp dụng, đó là Tòa án mà cụ thể là Hội đồng xét xử (Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân). Tuy nhiên, cần nhận thấy rằng việc quy mọi trách nhiệm cho Tòa án đối với những hạn chế, thiếu sót trong quyết định hình phạt tù là rất không công bằng vì có những sai lầm bắt nguồn từ những nguyên nhân không thuộc về Tòa án.

Những nguyên nhân khách quan dẫn tới những sai sót trong quyết định hình phạt tù bao gồm:

Thứ nhất, những hạn chế bất cập của những quy phạm pháp luật hình sự về hình phạt nói chung, về hình phạt tù nói riêng.

Thứ hai, những văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn áp dụng quy định của pháp luật hình sự chưa được ban hành kịp thời, đầy đủ.

Những nguyên nhân chủ quan dẫn đến những hạn chế, thiếu sót khi quyết định hình phạt tù tại thành phố Đà Nẵng, gồm:

Một là, không bảo đảm cơ sở thực tế của áp dụng pháp luật trong quyết định hình phạt tù.

Hai là, không bảo đảm cơ sở pháp lý của áp dụng pháp luật hình sự trong quyết định hình phạt.

Ngoài ra, việc không đảm bảo cơ sở pháp lý của áp dụng pháp luật trong quyết định hình phạt còn do vi phạm trình tự, thủ tục tố tụng hình sự.

    1. 2.2. Thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về thi hành hình phạt tù
      1. 2.2.1. Những kết quả dạt được

Hình phạt tù là hình phạt phổ hiến nhất, có tần suất áp dụng lớn trong hệ thống hình phạt. Theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng thấy rằng, trong vòng 06 năm (từ năm 2011 đến năm 2016) các cơ quan có thẩm quyền đã quyết định 5.179 người bị kết án phải thi hành án phạt tù. Cụ thể các năm như sau: Năm 2011 có 819 đối tượng; năm 2012 có 869 đối tượng; năm 2013 có 932 đối tượng; năm 2014 có 923 đối tượng. Trong số những đối tượng phải thi hành án phạt tù có đối tượng từ năm trước chuyển sang, có đối tượng mới thụ lý.

Một là, các cơ quan có trách nhiệm thi hành án hình sự đã phối hợp chặt chẽ với nhau tổ chức tốt việc thi hành án phạt tù.

Điều này được thể hiện ở chỗ, trong tổng số 5.179 đối tượng phải thi hành án phạt tù có 4.917 đối tượng đã chấp hành án, chiếm tỷ lệ 95%. Như vậy, số đối tượng đã chấp hành chiếm tỷ lệ khá cao. Chỉ có 257/5.179 đối tượng chưa thi hành án phạt tù vì các lý do khác nhau, chiếm khoảng 5%. Có được kết quả này là do các cơ quan giam giữ (trại giam, trại tạm giam) đã tổ chức tốt việc tiếp nhận người bị kết án phạt tù vào chấp hành hình phạt ngay sau khi có quyết định thi hành án của Tòa án có thẩm quyền theo đúng trình tự thủ tục luật định.

Hai là, về giáo dục, cải tạo phạm nhân

Trong những năm qua, quán triệt những quan điểm chỉ đạo của Nhà nước về thi hành án phạt tù, các cơ sở giam, giữ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã thực hiện tốt phương châm: “Trấn áp kết hợp với khoan hồng, trừng trị kết hợp với giáo dục, cải tạo; giáo dục bằng chính trị với giáo dục bằng lao động, dạy văn hóa, dạy nghề cho phạm nhân”.

Ba là, công tác đảm bảo công trang (quần áo, chăn màn…) cũng được các cơ sở giam giữ của thành phố quan tâm cấp phát phù hợp với vị trí địa lý, khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương.

Cùng với sự giúp đỡ, hỗ trợ của các ngành, các ấp, các doanh nghiệp, một số cơ sở giam giữ của thành phố đã tổ chức dạy nghề cho nhiều lượt phạm nhân để khi chấp hành xong hình phạt tù có điều kiện tìm việc làm, ổn định cuộc sống góp phần hạn chế tình trạng tái phạm.

      1. 2.2.2. Những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân

– Theo quy định hiện hành Bộ Công an vừa là cơ quan điều tra, vừa là cơ quan tổ chức giam giữ và cải tạo phạm nhân như vậy là chưa hợp lý, dể dẫn đến nguy cơ lạm quyền, gây khó khăn cho hoạt động của luật sư bào chữa.

– Công tác quản lý Nhà nước về thi hành án phạt tù còn sơ hở, thiếu sót; vẫn còn nhiều đối tượng có án phạt tù nhưng chưa thi hành án đang ở ngoài xã hội; số đối tượng trốn thi hành án, trốn trại vẫn chưa được giải quyết, thanh loại, truy nã triệt để.

– Chất lượng công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân chưa cao; chương trình nội dung giáo dục, cải tạo phạm nhân còn bất cập… Sự phối hợp giữa các cơ sở giam giữ với các ban ngành, đoàn thể xã hội của địa phương trong việc quản lý, giáo dục, giúp đỡ phạm nhân ổn định cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng sau khi ra trại thiếu đồng bộ, mang tính hình thức, chưa đi vào thực chất.

– Cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ công tác thi hành án phạt tù đã được quan tâm đầu tư nhưng do số lượng phạm nhân tăng nhanh nên hầu hết các cơ sở giam giữ tại thành phố đều trong tình trạng quá tải, vượt quá quy mô giam giữ theo quy định của pháp luật.

– Công tác cán bộ đã được củng cố, tăng cường nhưng so với quy định của pháp luật và yêu cầu thực tiễn thì vẫn chưa thực sự đáp ứng, nhiều cán bộ quản giáo phải phụ trách hàng trăm phạm nhân, có cơ sở giam giữ cán bộ quản giáo phải kiêm nhiệm cả nhiệm vụ tuần tra, canh gác, dẫn giải.

– Các biểu hiện vi phạm chế độ, nguyên tắc quản lý phạm nhân tuy không nhiều nhưng vẫn còn xảy ra như để phạm nhân trốn trại, phạm nhân đánh nhau gây thương tích hoặc gây mất trật tự nơi giam giữ; việc thực hiện chế độ lao động, học tập của phạm nhân có nơi, có lúc còn chưa thực hiện nghiêm theo quy định của pháp luật, nạn “Đầu gấu” cá biệt vẫn còn tồn tại.

– Một số thủ tục sau khi xét xử tiến hành chậm, không kịp thời, nhiều trường hợp đã xét xử xong nhưng phải chờ Tòa án chuyển bản sao bản án và quyết định thi hành án. Vướng mắc này dẫn đến không bảo đảm được chế độ cho người bị kết án theo quy định của pháp luật về thi hành án phạt tù.

– Quy định về thi hành án đối với người nước ngoài chưa thật sự hoàn thiện, đầy đủ.

Những tồn tại, thiếu sót trên đây có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan như:

+ Do điều kiện kinh tế – xã hội hiện tại của địa phương cũng như cả nước chưa đáp ứng được yêu cầu giam giữ, cải tạo phạm nhân.

+ Một số trình tự, thủ tục, điều kiện thi hành án phạt tù không còn phù hợp với thực tiễn chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời.

+ Lãnh đạo các cấp chưa thường xuyên quan tâm chỉ đạo công tác thi hành án phạt tù, đôi khi thiếu chủ động phối hợp với các ngành hữu quan để giải quyết những tồn tại, vướng mắc trong quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân.

+ Ý thức chấp hành pháp luật, chấp hành chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước của một số cán bộ quản giáo chưa cao; tình trạng vi phạm chế độ giam giữ vẫn còn xảy ra nhưng chưa được khắc phục kịp thời.

+ Công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật thi hành án phạt tù chưa thường xuyên và triệt để nhằm kịp thời phát hiện, khắc phục những vi phạm, sai sót trong ông tác thi hành án, v.v…

+ Việc xét miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù còn tồn tại những bất cập như: Về thẩm quyền miễn chấp hành hình phạt tù, trong trường hợp Tòa án nhân dân cấp huyện ra quyết định thi hành hình phạt tù, xét có điều kiện miễn chấp hành hình phạt tù nhưng lại phải báo cáo lên Tòa án nhân dân thành phố (tỉnh), quân khu để quyết định. …

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ ĐẢM BẢO ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH

HÌNH PHẠT TÙ

    1. 3.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về hình phạt tù, thi hành hình phạt tù
      1. 3.1.1. Hoàn thiện các quy định của BLHS hiện hành về hình phạt tù

Nghiên cứu Bộ luật Hình sự hiện hành có thể thấy, khung hình phạt được xây dựng theo kiểu tùy nghi lựa chọn. Nhiều chế tài quy định giới hạn tối thiểu và tối đa của hình phạt tù cách nhau đến 10 năm, ví dụ các điều 73, 74, 76, 78, 81, 83, 98, 101, 112, 129. Trong 69 cấu thành tội phạm có quy định hình phạt tù có thời hạn trong khung hình phạt thì có 32 cấu thành tội phạm có chế tài độc lập là hình phạt tù có thời hạn, có khoảng cách giữa mức tối thiểu và tối đa trong khung hình phạt là từ 10 đến 15 năm…

Bên cạnh đó BLHS năm 2015 mặc dù chưa có hiệu lực pháp luật nhưng đã thể hiện những tác động tiết bộ đến công tác thi hành án hình sự như:

Ngoài các nhiệm vụ được đề cập tại Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Hình sự năm 2015 bổ sung thêm nhiệm vụ sau: Bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước và Bảo vệ quyền con người. quyền con người là một nguyên tắc quan trọng trong việc xây dựng pháp luật và nguyên tắc này được cụ thể hóa từ hiến pháp năm 2013, trước đây quyền con người và quyền công dân được đánh đồng với nhau nhưng hiện nay pháp luật của chúng ta đã tách biệt hai khái niệm này, đây là một điểm tiến bộ rất lớn trong pháp luật hình sự nói chung và pháp luật thi hành án hình sự nói riêng.

Trong hệ thống hình phạt của luật hình sự thì hình phạt tiền trong Bộ luật Hình sự năm 2015 được tăng lên đáng kể tại Điều 35.

Bộ luật Hình sự năm 2015 cũng đã cụ thể hoá các các điều kiện miễn trách nhiệm hình sự áp dụng cho từng đối tượng chưa thành niên (người từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi và người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi), đồng thời bổ sung 03 biện pháp giám sát, giáo dục áp dụng trong trường hợp các em được miễn trách nhiệm hình sự. Đó là: (1) khiển trách; (2) hoà giải tại cộng đồng; (3) biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Đồng thời, Bộ luật Hình sự năm 2015 bổ sung chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện với những quy định hết sức chặt chẽ nhằm tạo cơ hội cho những phạm nhân tích cực cải tạo tốt trong quá trình chấp hành án ở các cơ sở giam giữ được sớm trở về với gia đình và tiếp tục chứng tỏ sự cải tạo của mình trong môi trường xã hội bình thường có sự giám sát của chính quyền địa phương và xã hội. Nếu trong thời gian thử thách mà người được tha tù trước thời hạn cố ý vi phạm nghĩa vụ hoặc phạm tội mới thì phải trở lại cơ sở giam giữ để chấp hành tiếp hình phạt tù còn lại chưa chấp hành. Theo tác giả đây là điểm tiến bộ trong pháp luật hình sự năm 2015. Quy định này góp phần thực hiện chủ trương của Đảng về việc giáo dục, cải tạo người phạm tội trong môi trường xã hội.

Ngoài ra trong pháp luật thi hành án hình sự năm 2015 còn quy định bãi bỏ quy định cấp Giấy chứng nhận khi được Tòa án xóa án tích.

Bổ sung quy định sau: “Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích”.

Bỏ trường hợp đương nhiên được xóa án tích đối với người được miễn hình phạt.

Sửa đổi lại nội dung quy định người bị kết án đương nhiên được xóa án tích. Được quy định cụ thể tại Điều 70 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bổ sung quy định: Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định đương nhiên được xóa án tích.

Điều này đã tạo cho người chấp hành án sau khi chấp hành xong hình phạt của mình có thể dễ dàng tái hòa nhập với cộng đồng, xã hội những cũng không mất đi mục đích của hình phạt.

3.1.2. Hoàn thiện các quy định của BLTTHS hiện hành về thủ tục thi hành án phạt tù

Hiến pháp năm 2013 đã có một số quy định như: khoản 1 Điều 31, khoản 4 Điều 31, khoản 5 Điều 31, khoản 7 Điều 103… Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 27/11/2015. Mà theo đó, rất nhiều những nội dung quy định có tính nguyên tắc được đưa vào Bộ luật này là sự cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, như:

Thứ nhất, cụ thể hóa quy định tại Điều 20 Hiến pháp năm 2013 vào Điều 8 BLTTHS thành Quy định về tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân

Thứ hai, cụ thể hóa khoản 5 Điều 31 Hiến pháp 2013 thành quy định tại Điều 11 BLTTHS về bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của cá nhân.

3.1.3. Hoàn thiện các quy định của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 về thi hành hình phạt tù

Để tăng cường hơn nữa việc bảo vệ quyền con người trong thi hành án phạt tù và để làm cho các quy phạm pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam phù hợp hơn với các tiêu chí quốc tế về quyền con người của phạm nhân, pháp luật nói chung và pháp luật thi hành án hình sự nói riêng của Việt Nam cần khắc phục một số bất cập như sau: Một là, trong quá trình thi hành án phạt tù, quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của phạm nhân là hết sức quan trọng và dễ bị xâm hại. Hai là, pháp luật thi hành án hình sự chưa quy định cụ thể về việc sử dụng dụng cụ giam giữ trong quá trình thi hành án và hỗ trợ tư pháp. Ba là, tinh thần bảo vệ quyền của phụ nữ là người chấp hành án phạt tù của Các quy tắc Bangkok của Liên Hợp quốc năm 2010 thông qua những quy định về bảo vệ các phạm nhân nữ trước nguy cơ bị xâm hại tình dục trong môi trường trại giam và về chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phạm nhân nữ trên cơ sở đặc thù giới tính chưa được phản ánh đậm nét trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án phạt tù của Việt Nam.

    1. 3.2. Giải pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định của pháp luật về thi hành hình phạt tù

3.2.1. Tăng cường giải thích hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến thi hành hình phạt tù

Tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, giải thích hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến thi hành hình phạt tù cho cán bộ áp dụng pháp luật, chính quyền địa phương, cán bộ đoàn thể, người giám sát, giáo dục, người bị kết án và gia đình người bị kết án để năng cao nhận thức về vai trò của việc thi hành án hình sự tại cộng đồng cần được triển khai mạnh mẽ.

Ngoài ra đội ngũ cán bộ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật phải từng bước được xây dựng, củng cố. Bên cạnh đội ngũ cán bộ chuyên trách của ngành tư pháp các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật liên quan đến thi hành hình phạt tù cần phải dần đi vào nề nếp theo kế hoạch, chương trình cụ thể với nhiều hình thức, biện pháp thực hiện phù hợp với từng nhóm đối tượng được phổ biến, giáo dục pháp luật và điều kiện của địa bàn thực hiện.

Bên cạnh đó cần sớm nghiên cứu quy định về việc giải thích pháp luật thay vì chỉ quy định việc giải thích Hiến pháp, pháp luật liên quan đến thi hành hình phạt tù như hiện nay để khắc phục tình trạng bỏ sót việc giải thích các VBQPPL khác hay đánh đồng giữa việc Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật với việc giải thích pháp luật. Cần có sự phân định về thẩm quyền giữa các chủ thể trong việc giải thích pháp luật theo hướng trao một phần thẩm quyền giải thích pháp luật liên quan đến thi hành hình phạt tù cho hệ thống toà án.

Và cần phải xây dựng một cơ chế hợp lý với sự tham gia của chính quyền địa phương và thu hút sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể, các tổ chức xã hội vào hoạt động tuyên truyền pháp luật thi hành án phạt tù có thời hạn, và nhất là công tác giúp đỡ người bị kết án phạt tù có thời hạn tái hòa nhập cộng đồng là một vấn đề cần quan tâm, coi đây là một biện pháp hiệu quả trong lĩnh vực cải tạo, giáo dục người bị kết án.

3.2.2. Định kỳ sơ kết, tổng kết công tác thi hành hình phạt tù

Việc lãnh đạo, chỉ đạo sơ kết, tổng kết công tác thi hành hình phạt tù luôn được cơ quan thi hành án hình sự tiến hành, để đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật. Bên cạnh việc sơ kết, tổng kết hằng năm, nửa nhiệm kỳ theo chỉ đạo của các cơ quan có thẩm quyền thì cơ quan thi hành án hình sự còn phối hợp với cơ quan Viện Kiểm sát tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết theo chuyên đề nhằm đánh giá, nhìn nhận những mặt được để phát huy, nhân rộng, mặt chưa được để khắc phục, sửa chữa, nhằm kịp thời nắm bắt tình hình, phát hiện, thống nhất biện pháp tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, tập trung cao độ vào việc thi hành hình phạt tù.

3.2.3. Kiện toàn củng cố mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan chức năng khi thi hành hình phạt tù

Kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án hình sự là một nhiệm vụ trọng yếu để nâng cao hiệu quả thi hành án.

Việc giải quyết khiếu tại tố cáo thuộc thẩm quyền cần phải có sự phối hợp chỉ đạo, thực hiện nghiêm túc giữa cơ quan thi hành án hình sự với viện kiểm sát.

3.2.4. Tăng cường kiểm tra giám sát hoạt động thi hành án phạt tù của Việm kiểm sát

Chú trọng kiểm sát việc phân loại giam giữ, kịp thời phát hiện và yêu cầu khắc phục tình trạng thi hành án phạt tù người đối với người chưa thành niên… nhằm chống thông cung, ngăn chặn hiện tượng trái pháp luật. Kiểm sát chặt chẽ công tác quản lý giam giữ nhằm hạn chế các trường hợp người bị thi hành án phạt tù chết do đánh nhau, tự sát, mang vật cấm vào nơi giam giữ, vi phạm nội quy, phạm tội mới tại nơi giam giữ…; chú trọng kiểm sát về chế độ đối với người bị giam giữ, chú ý đến việc thực hiện chế độ đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ nhằm hạn chế các hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của bị tạm giữ, người bị tạm giam; kịp thời phát hiện việc giam giữ người trái pháp luật, những trường hợp để quá hạn tạm giữ, tạm giam, tích cực phát hiện và làm rõ các hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ, tạm giam, xác định nguyên nhân, trách nhiệm để kiến nghị, kháng nghị yêu cầu khắc phục và đề xuất xử lý vi phạm.

Kiểm sát chặt chẽ việc ra quyết định thi hành án của Tòa án; kiểm sát việc ra Quyết định thi hành án hình sự của Tòa án trong thời hạn luật định; kiểm sát hồ sơ bị án bị phạt tù đang tại ngoại, không tự nguyện thi hành án; kịp thời phát hiện các quyết định thi hành án hình sự còn sai sót, các trường hợp chậm ra quyết định thi hành án, chậm áp giải, chậm ra quyết định truy nã. Ban hành kiến nghị, kháng nghị yêu cầu khắc phục nhằm bảo đảm bản án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm túc, kịp thời, đúng theo quy định.

Tăng cường quản lý, theo dõi chặt chẽ tình hình chấp hành pháp luật trong thi hành án phạt tù, phát hiện kịp thời các vi phạm pháp luật về thủ tục thi hành án; phối hợp chặt chẽ với Tòa án và Cơ quan thi hành án hình sự để nắm kết quả truy bắt, đề ra biện pháp nhằm giảm số bị kết án phạt tù trốn ngoài xã hội.

Nâng cao chất lượng các cuộc kiểm sát trực tiếp, tăng cường kiểm sát đột xuất, tập trung phát hiện vi phạm trong công tác quản lý giam giữ dẫn đến việc phạm nhân mang vật cấm vào nơi giam, vi phạm kỷ luật, phạm tội mới.

Kiểm sát việc thực hiện chế độ đối với phạm nhân, tập trung vào việc thực hiện chế độ lao động của phạm nhân.

Kiểm sát hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, hồ sơ miễn, hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ chấp hành án phạt tù, tập trung kiểm sát phát hiện những vi phạm trong việc đề nghị và xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, miễn, hoãn, tạm đình chỉ thi hành án; Tham gia các Hội đồng xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù; bảo đảm các trường hợp Viện kiểm sát đề nghị hoãn, miễn, tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đều được chấp nhận.

3.2.5. Xây dựng đội ngũ cán bộ có thẩm quyền thi hành án phạt tù

Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ có thẩm quyền thi hành án phạt tù là rất quan trọng. Thông qua giáo dục chính trị, quán triệt nhiệm vụ của đơn vị đặt ra yêu cầu phải được thực hiện nghiêm túc, với nhiều nội dung, hình thức phong phú, phù hợp với từng đối tượng; trong đó, đặc biệt chú trọng tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ về truyền thống vẻ vang của Đảng, dân tộc, Bộ Công an và trọng trách nặng nề, vinh dự lớn lao của đội ngũ cán bộ có thẩm quyền thi hành án phạt tù là rất quan trọng.

Yêu cầu xây dựng của thực tiễn là đội ngũ cán bộ có thẩm quyền thi hành án phạt tù phải bao gồm những người có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; có phẩm chất đạo đức trong sáng, tính kỷ luật và sự đoàn kết, thống nhất cao; có trình độ chuyên môn giỏi, nghiêm minh trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ; giải quyết hài hòa cái chung, cái riêng, góp phần tích cực trong bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ vững kỷ cương, kỷ luật trong quân đội, các tiêu chí đó đã được cấp ủy, chỉ huy cụ thể hóa, đưa vào kế hoạch và triển khai thực hiện nghiêm túc, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị.

Thi hành hình phạt tù theo pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Thi hành hình phạt tù theo pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng

KẾT LUẬN

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn, tác giả đưa ra kết luận sau:

Đề tài đã đưa ra và hệ thống được một số lý luận về Thi hành hình phạt tù theo pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam, cách tiếp cận nghiên cứu về vấn đề này, bằng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin, phương pháp điều tra thực tế thống kê so sánh, phân tích đánh giá về thực tiễn và lý luận khoa học. Đã chỉ ra được Thi hành hình phạt tù là thực hiện bản án phạt tù của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và đã có quyết định thi hành án, để tước tự do của người bị kết án, buộc họ phải cách ly cuộc sống bình thường ngoài xã hội, sống trong môi trường riêng biệt có sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Đặc điểm thi hành hình phạt tù: Là hoạt động áp dụng pháp luật vừa mang tính tố tụng hình sự, vừa mang tính hành chính – Tư pháp; là hoạt động phức tạp, đa dạng bao gồm nhiều nội dung khác nhau; là hoạt động có tính trừng trị nghiêm khắc liên quan đến quyền con người của người bị kết án phạt tù; là hoạt động được thực hiện bởi cơ quan, người có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục pháp lý chặt chẽ; là hoạt động mang tính định hướng, tính mục đích rõ ràng; đã chỉ ra được mục đích, vai trò và ý nghĩa của thi hành hình phạt tù; vai trò, ý nghĩa của thi hành hình phạt tù; căn cứ (điều kiện) thi hành hình phạt tù; trình tự, thủ tục thi hành hình phạt tù, tạm đình chỉ thi hành hình phạt tù, giảm thời hạn, miễn chấp hành hình phạt tù; đã chỉ ra được Quy định của pháp luật về thi hành hình phạt tù; thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về thi hành hình phạt tù tại Đà Nẵng và đánh giá thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về thi hành hình phạt tù. Trên phân tích thực trạng quy định của pháp luật về thi hành hình phạt tù; thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về thi hành hình phạt tù tại Đà Nẵng tác giả đưa ra những giải pháp để hoàn thiện pháp luật về hình phạt tù, thi hành hình phạt tù như: Hoàn thiện các quy định của pháp luật về hình phạt tù, thi hành hình phạt tù; đưa ra giải pháp đảm bảo áp dụng đúng các quy định của pháp luật về thi hành hình phạt tù; tăng cường giải thích hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến thi hành hình phạt tù; định kỳ sơ kết, tổng kết công tác thi hành hình phạt tù; kiện toàn củng cố mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan chức năng khi thi hành hình phạt tù.

Tuy nhiên luận văn không thể tránh khỏi những hạn chế tác giả huy vọng sẽ nhận được sự góp ý, phản biện chân thành để luận văn được hoàn thiện hơn, góp phần nâng cao hiệu quả Thi hành hình phạt tù theo pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng.

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của Học viên khoa học xã hội Việt Nam, Phòng đào tạo Học viện khoa học xã hội Việt Nam phân hiệu Đà Nẵng, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, Trại tạm giam Hòa Sơn Công an thành phố Đà Nẵng và Tiến sĩ Nguyễn Trung Thành. Tác giả xin được trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của Học viện khoa học xã hội Việt Nam, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng, Trại tạm giam Hòa Sơn Công an Đà Nẵng, Tiến sĩ Nguyễn Trung Thành và thầy cô của Học viện khoa học xã hội Việt Nam./.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HINH SU\HO TAN THANH\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *