Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nghị quyết 49-NQ-TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định nhiệm vụ: “Trước mắt, Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp”. Để tiếp tục thực hiện chủ trương này, ngày 28 tháng 11 năm 2013, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII đã thông qua Hiến pháp 2013. Theo đó, tại khoản 1 Điều 107 của Hiến pháp quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Đồng thời, tại khoản 1 Điều 2 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 cũng quy định: “Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Như vậy, thực hành quyền công tố là một trong hai chức năng cơ bản của VKSND. Những năm qua, công tác thực hành quyền công tố của VKSND từng bước được nâng lên. Kiểm sát viên đã chủ động, tích cực hơn trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, hạn chế được tình trạng bỏ lọt tội phạm hay làm oan người vô tội, được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận.
Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, công tác thực hành quyền công tố vẫn có những hạn chế, bất cập trong lý luận và thực tiễn, chưa ngang tầm với nhu cầu và đòi hỏi của nhân dân, còn nhiều trường hợp bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội. Nguyên nhân, do một số KSV chưa nhận thức đúng về quyền công tố, chủ quan, thụ động trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Bên cạnh đó, pháp luật tố tụng hình sự hiện hành chưa quy định rõ về quyền công tố trong từng giai đoạn giải quyết vụ án, cơ chế pháp lý cho KSV thực hiện vai trò của mình trong việc chứng minh tội phạm và người phạm tội. Đặc biệt, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, quyền công tố của VKS chưa thể hiện rõ ràng, có sự chồng chéo giữa chức năng buộc tội của VKS với chức năng xét xử của Tòa án, chưa tạo điều kiện cho VKS chủ động thực hiện quyền của mình để chứng minh tội phạm…
Trước thực trạng nêu trên, VKSNDTC đã tổ chức nhiều hội thảo để nghiên cứu về quyền công tố, thực hành quyền công tố của VKS trong các giai đoạn tố tụng hình sự nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng nhằm tạo sự thống nhất về mặt nhận thức để áp dụng vào thực tiễn công tác của ngành Kiểm sát. Tuy nhiên, cũng còn nhiều ý kiến khác nhau về quyền công tố và phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nên việc vận dụng vào thực tiễn gặp rất nhiều khó khăn, đã hạn chế đến chất lượng công tác kiểm sát của Ngành.
Đối với huyện Hoài Nhơn, là đơn vị hành chính nằm ở phía Bắc của tỉnh Bình Định, toàn huyện có 15 xã và 2 thị trấn, có tổng diện tích tự nhiên 41.295ha, dân số 228.000 người, đa dạng các thành phần lao động nên tình hình vi phạm pháp luật và tội phạm ngày càng gia tăng, diễn biến rất phức tạp. Trong những năm qua, công tác thực hành quyền công tố trong giải quyết các vụ án hình sự nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm nói riêng đã đạt những kết quả tích cực, hình ảnh người KSV tại phiên tòa được xã hội ghi nhận. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế cần phải được khắc phục kịp thời để nâng cao chất lượng hoạt động công tố. Là một cán bộ đang công tác tại VKSND huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định, bản thân tác giả luôn muốn được tiếp tục nghiên cứu cả lý luận và thực tiễn hoạt động thực hành quyền công tố, đặc biệt là trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, từ đó đề ra các giải pháp, kiến nghị nhằm góp phần nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án hình sự. Với mục đích đó, tác giả lựa chọn đề tài “Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực tiễn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định” làm luận văn Thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luận văn đề xuất những giải pháp đảm bảo thực hành đúng quyền công tố trong giai đoạn này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, Luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
– Phân tích những vấn đề về lý luận về quyền công tố, thực hành quyền công tố nói chung và thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng.
– Phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
– Phân tích, đánh giá thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2015.
– Dự báo tình hình tội phạm và đề xuất các giải pháp đảm bảo nhằm thực hành đúng quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các quan điểm khoa học, các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu dưới góc độ Luật hình sự và Tố tụng hình sự.
Không gian nghiên cứu: huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2011 đến năm 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về tố tụng hình sự; tư pháp, tư pháp hình sự, cải cách tư pháp hình sự.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Ngoài ra, tác giả còn vận dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể: thống kê và phân tích số liệu, tổng kết thực tiễn để làm rõ những nội dung của Luận văn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của Luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện những vấn đề lý luận về quyền công tố, thực hành quyền công tố nói chung và thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn còn là kết quả nghiên cứu, tổng kết thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định; giúp cho các KSV nhận thức rõ hơn nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượng khâu công tác này.
Mặt khác, các kiến nghị, đề xuất của Luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu chuyên sâu, hướng dẫn công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự hoặc làm tài liệu để giảng dạy, tập huấn công tác kiểm sát.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung của luận văn được kết cấu gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Chương 2: Thực trạng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp đảm bảo thực hành quyền công tố đúng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM
VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái quát chung về thực hành quyền công tố và giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
1.1.1. Khái niệm, phạm vi, nội dung thực hành quyền công tố
Quyền công tố là quyền thuộc về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là VKS) nhằm phát hiện tội phạm, truy cứu TNHS đối với người phạm tội và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên tòa.
Để quyền công tố đi vào cuộc sống, phải có hoạt động được tiến hành bởi chủ thể có quyền năng nhất định. Chủ thể đó là Viện kiểm sát nhân dân. Hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân được gọi là hoạt động “thực hành quyền công tố”.
1.1.1.2. Phạm vi thực hành quyền công tố
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức VKSND năm 2014: phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ khi giải quyết tố giác, tin báo tội phạm và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị, hoặc vụ án được đình chỉ theo quy định của pháp luật TTHS.
Phạm vi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự bắt đầu từ khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án và kết thúc khi Bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
1.1.1.3. Nội dung thực hành quyền công tố
Thứ nhất, ở giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, nội dung thực hành quyền công tố được quy định tại Điều 12 Luật Tổ chức VKSND năm 2014.
Thứ hai, ở giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự, nội dung thực hành quyền công tố được quy định tại Điều 14 Luật Tổ chức VKSND năm 2014.
Thứ ba, ở giai đoạn truy tố, nội dung thực hành quyền công tố được quy định tại Điều 16 Luật Tổ chức VKSND năm 2014.
Thứ tư, trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, nội dung thực hành quyền công tố được quy định tại Điều 18 Luật Tổ chức VKSND năm 2014.
1.1.2. Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự tiếp theo giai đoạn truy tố, đây là giai đoạn bao gồm hai phần cơ bản: chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa. Chuẩn bị xét xử là tiền đề cần thiết, quan trọng cho việc mở phiên tòa và tiến hành phiên tòa; còn phiên tòa sơ thẩm là hình thức đặc trưng của giai đoạn này, là nơi thể hiện đậm nét nhất nội dung của các nguyên tắc tố tụng hình sự, thể hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự: chức năng buộc tội, chức năng bào chữa, chức năng xét xử; trong đó, chức năng xét xử có vai trò quyết định.
1.1.3. Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Kiểm sát hoạt động tư pháp là chức năng Hiến định của Viện kiểm sát nhân dân. Mục đích của kiểm sát hoạt động tư pháp là nhằm đảm bảo cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Theo quy định, những quyền năng pháp lý mà Viện kiểm sát tự quyết định có liên quan đến việc buộc tội bị can, bị cáo thì đó là những quyền năng thuộc nội dung thực hành quyền công tố. Những quyền năng pháp lý mà Viện kiểm sát sử dụng để phát hiện và yêu cầu xử lý những vi phạm pháp luật của cơ quan, người tiến hành tố tụng là những quyền thuộc chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp luôn đan xen lẫn nhau, quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau, có tác dụng hỗ trợ cho nhau trong suốt quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, đảm bảo việc xét xử đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
1.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Như đã phân tích trên đây, phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự là biểu hiện đặc trưng của giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Theo quy định tại Điều 18 Luật tổ chức VKSND năm 2014 và Điều 266 BLTTHS năm 2015, khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, KSV phải thực hiện những nội dung sau: Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa; xét hỏi, xem xét vật chứng, xem xét tại chỗ; thực hiện việc luận tội đối với bị cáo; tranh luận tại phiên tòa; kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
1.3. Các yếu tố tác động (ảnh hưởng) đến thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Những yếu tố như: Ý thức chính trị, đạo đức của Kiểm sát viên; kinh nghiệm thực tiễn của Kiểm sát viên; ý thức pháp luật của Kiểm sát viên; kỹ năng nghề nghiệp của Kiểm sát viên; tác động từ dư luận, những tiêu cực xã hội và từ chính sách đãi ngộ cho Kiểm sát viên.
Kết luận Chương 1
Qua nội dung Chương 1, bằng phương pháp tổng hợp, nghiên cứu lịch sử; luận văn đã khái quát cơ sở lý luận như khái niệm, phạm vi, nội dung thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; mối quan hệ với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Bên cạnh đó, luận văn còn nghiên cứu lịch sử thực hành quyền công tố, quy định của pháp luật hiện hành và các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Qua nghiên cứu, có thể khẳng định rằng: Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất được Nhà nước giao thực hành quyền công tố nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng. Giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự tiếp theo giai đoạn truy tố, đây là giai đoạn bao gồm hai phần cơ bản là chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa. Chuẩn bị xét xử là tiền đề cần thiết, quan trọng cho việc xét xử tại phiên tòa và phiên tòa sơ thẩm là biểu hiện đặc trưng của giai đoạn xét xử sơ thẩm. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Kiểm sát viên phải thực hiện các nội dung theo quy định tại Điều 18 Luật tổ chức VKSND năm 2014 và Điều 266 BLTTHS năm 2015. Nắm bắt được những nội dung cơ bản trên sẽ giúp cho KSV nhận thức được các quy trình phải thực hiện khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, góp phần nâng cao kỹ năng và vai trò của KSV trong giai đoạn tố tụng này.

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
2.1. Khái quát về tình hình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
Tình hình tội phạm trên địa bàn huyện Hoài Nhơn ngày càng diễn biến phức tạp, khó lường, thủ đọan thực hiện tinh vi; các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn huyện Hoài Nhơn đã có nhiều cố gắng trong điều tra, khám phá án. Vì vậy, hàng năm, số lượng án hình sự xét xử sơ thẩm luôn chiếm tỷ lệ cao. Cụ thể số liệu xét xử trong 05 năm (2011-2015) như sau: năm 2011 đã xét xử 70 vụ/125 bị cáo, năm 2012 xét xử 90 vụ/142 bị cáo, năm 2013 xét xử 84 vụ/164 bị cáo, năm 2014 xét xử 64 vụ/108 bị cáo và năm 2015 xét xử 62 vụ/98 bị cáo.
2.2. Thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định
2.2.1. Thực tiễn thực hành quyền công tố đúng và nguyên nhân
2.2.1.1. Thực tiễn công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn tại phiên tòa sơ thẩm
Việc xây dựng cáo trạng đảm bảo đúng về nội dung và hình thức. Tại phiên tòa, KSV đã đọc cáo trạng to, rõ ràng, mạch lạc, chính xác, tạo được vị thế và hình ảnh của người KSV; giúp cho KSV tự tin hơn trong tranh luận và đối đáp để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo.
2.2.1.2. Thực tiễn hoạt động xét hỏi
Trước khi tham dự phiên tòa, KSV đã chuẩn bị kỹ đề cương xét hỏi, dự kiến những tình huống có thể xảy ra tại phiên tòa. Tại phiên tòa, KSV ghi chép cẩn thận các câu hỏi của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng khác; đặt câu hỏi ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với nội dung vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo; linh hoạt, chủ động, nhanh nhạy đưa ra những câu hỏi phù hợp theo diễn biến của phiên tòa.
2.2.1.3. Thực tiễn hoạt động tranh luận
Tranh luận được bắt đầu sau khi KSV luận tội đối với bị cáo, đưa ra quan điểm giải quyết vụ án. Trong những năm qua, luận tội của KSV đã bám sát nội dung, yêu cầu của Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự. Khi trình bày luận tội, KSV đã đọc to, rõ ràng, sử dụng từ ngữ chuẩn xác, thể hiện sự tôn nghiêm qua tư thế, tác phong, lời nói của mình. Chất lượng tranh luận của KSV tại phiên tòa từng bước được nâng lên, KSV đã tích cực, chủ động đối đáp với những lập luận sắc bén để bác bỏ ý kiến và những đề nghị không đúng của bị cáo, người bào chữa…nhằm bảo vệ quan điểm truy tố của VKS.
2.2.1.4. Thực tiễn hoạt động kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án
Trong những năm qua, công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự tại VKSND huyện Hoài Nhơn đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả đáng khích lệ như: số lượng kháng nghị tăng lên đáng kể; hình thức, nội dung đúng quy định, viện dẫn đầy đủ căn cứ pháp luật, chất lượng kháng nghị được Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định chấp nhận đạt tỷ lệ cao.
2.2.2. Thực tiễn thực hành quyền công tố sai và nguyên nhân
2.2.2.1. Thực tiễn thực hành quyền công tố sai
Thứ nhất, có một số vụ án, KSV dự thảo Cáo trạng không phản ánh hết hành vi phạm tội của bị cáo; chưa nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án nên không phát hiện được những vi phạm về tố tụng, bỏ lọt tội phạm hay thiếu chứng cứ để chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo; dẫn đến Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Thứ hai, kinh nghiệm tham gia phiên tòa của một số KSV còn ít nên khi công bố Cáo trạng chưa đọc rõ ràng, rành mạch; ngắt nhịp, ngắt câu không hợp lý nên chưa thuyết phục và thu hút người nghe.
Thứ ba, việc tham gia xét hỏi tại phiên tòa của một số KSV còn thiếu sự nhạy bén, qua loa, đại khái, không sát với nội dung vụ án, chưa giữ được thái độ bình tĩnh khi xét hỏi, đặt những câu hỏi mang tính móm cung, gợi ý.
Thứ tư, một số KSV chưa chú trọng đến việc luận tội, luận tội viết không theo mẫu, thường lặp lại toàn bộ nội dung cáo trạng, chưa phân tích, đánh giá các chứng cứ chứng minh tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; chất lượng tranh tụng của KSV tại một số phiên tòa còn hạn chế; dẫn đến có vụ án bị hủy do chưa chứng minh được hành vi phạm tội của bị cáo hay bỏ lọt tội phạm.
Thứ năm, KSV chưa nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án, đề nghị mức hình phạt không tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo; bản án Tòa tuyên không phù hợp với quy định của pháp luật nhưng KSV không đề xuất kháng nghị phúc thẩm. Vì vậy, một số vụ án đã bị VKSND tỉnh Bình Định kháng nghị phúc thẩm theo hướng tăng hình phạt hoặc không cho bị cáo hưởng án treo.
2.2.2.2. Nguyên nhân dẫn đến thực hành quyền công tố sai
* Nguyên nhân khách quan
Một là, hệ thống quy phạm pháp luật làm cơ sở cho KSV thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự chưa hoàn thiện, có nhiều vướng mắc. Cụ thể như: pháp luật quy định về chức năng của VKS là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nhưng trên thực tế chưa giải thích hay quy định thống nhất; việc xét hỏi tại phiên tòa vẫn do chủ tọa phiên tòa thực hiện nên chưa phát huy được vai trò tích cực, chủ động của KSV.
Hai là, do biên chế ít nên ngoài thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thì KSV còn phải thực hiện những nhiệm vụ khác, dẫn đến bị quá tải, phần nào cũng ảnh hưởng đến chất lượng công tác.
Ba là, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho KSV còn nhiều khó khăn, chế độ lương, thưởng đã được quan tâm nhưng vẫn còn thấp, chưa đảm bảo được cuộc sống nên KSV bị chi phối bởi những công việc khác ngoài xã hội.
Bốn là, mô hình thông khâu trong giải quyết vụ án hình sự còn những hạn chế nhất định, KSV có tư tưởng bảo thủ hoặc chủ quan khi tranh tụng do lệ thuộc vào quan điểm đã đề xuất truy tố khi KSĐT, có những KSV kiểm sát điều tra giỏi nhưng lại hạn chế về kỹ năng khi tranh tụng tại phiên toà.
Năm là, ý thức pháp luật của bị can, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác còn hạn chế, chưa hiểu biết pháp luật để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình. Một số luật sư bào chữa không tôn trọng sự thật khách quan của vụ án.
Sáu là, trình độ năng lực, kinh nghiệm, đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận Thẩm phán vẫn còn hạn chế nhất định. Không ít Thẩm phán điều khiển phiên tòa, tiến hành xét hỏi, tổ chức hoạt động tranh luận thiếu trách nhiệm, qua loa, đại khái.
* Nguyên nhân chủ quan
Một là, một số KSV, nhất là các KSV mới được bổ nhiệm chưa nhận thức đầy đủ các yêu cầu của cải cách tư pháp, còn có biểu hiện chủ quan, chưa quan tâm đến việc nghiên cứu, học tập để nâng cao trình độ, năng lực, chuyên môn nghiệp vụ; tâm lý không vững vàng khi tranh luận tại phiên tòa.
Hai là, lãnh đạo VKSND huyện Hoài Nhơn có lúc chưa quan tâm, sâu sát trong quản lý, chỉ đạo điều hành, sắp xếp, bố trí KSV; chưa giành nhiều thời gian để trực tiếp tham dự, theo dõi các phiên tòa nhằm kịp thời trao đổi, rút kinh nghiệm những thiếu sót của KSV trong thực hiện các khâu công tác nói chung và thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng.
Kết luận Chương 2
Trong Chương 2, luận văn đã khái quát bằng số liệu tình hình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án nhân dân huyện Hoài Nhơn và kết quả thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Nhơn. Nhìn chung, trong 05 năm (2011-2015), Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Nhơn đã có nhiều cố gắng trong công tác, hình ảnh người Kiểm sát viên tại phiên tòa được xã hội ghi nhận, Kiểm sát viên đã bảo vệ được Cáo trạng truy tố, chưa để xảy ra trường hợp Tòa tuyên bị cáo không có tội…Bên cạnh đó, vẫn còn những hạn chế, thiết sót cần phải khắc phục như: có vụ chưa đủ căn cứ để truy tố bị can, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, bỏ lọt tội phạm, mức án tuyên không tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo…bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định hay Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định kháng nghị phúc thẩm dẫn đến án bị hủy để điều tra, xét xử lại.
Đồng thời, qua thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, luận văn đã phân tích những nội dung thực hành quyền công tố đúng và sai; xác định nguyên nhân để làm cơ sở cho việc nghiên cứu các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng khâu công tác này.

CHƯƠNG 3
CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐÚNG TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
3.1. Dự báo các yếu tố tác động đến thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn huyện Hoài Nhơn
Trong những năm tới, những yếu tố tác động đến chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như: Tình hình kinh tế-xã hội; công tác xây dựng Đảng, xây dựng thể chế; tình hình tội phạm; cải cách tư pháp.
3.2. Những yêu cầu đối với thực hành quyền công tố đúng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Thứ nhất, trong quá trình giải quyết vụ án, KSV phải nắm vững nội dung, các tình tiết của vụ án, chứng cứ buộc tội, gỡ tội đối với từng bị cáo; mối liên hệ giữa các chứng cứ với tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra; dự lường những tình huống phát sinh trong quá trình tranh tụng để có hướng giải quyết cho phù hợp, tránh bị động tại phiên tòa.
Thứ hai, KSV phải nắm vững các quy định của pháp luật để áp dụng đối với hành vi phạm tội của từng bị cáo, chủ động dùng pháp luật để xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Sự am hiểu toàn diện các quy định của pháp luật sẽ giúp cho KSV có được tâm lý tự tin để bảo vệ quan điểm truy tố của VKS.
Thứ ba, KSV phải được đào tạo cơ bản về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có thâm niên công tác để am hiểu các mặt của đời sống xã hội, tâm lý tội phạm; có kỹ năng để thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như: kỹ năng xét hỏi, tranh luận, đối đáp, ghi chép, tổng hợp và văn hóa ứng xử.
Thứ tư, KSV phải có phẩm chất đạo đức tốt, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác, có niềm tin nội tâm, kiên quyết đấu tranh bảo vệ công lý và phải đặt mình trong hoàn cảnh của người phạm tội đề đưa ra hướng xử lý cũng như mức hình phạt phù hợp, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm hay làm oan người vô tội.
Thứ năm, sự quan tâm chỉ đạo, tin tưởng, ủng hộ KSV của lãnh đạo đơn vị, cấp ủy và chính quyền địa phương cũng là điều kiện cần thiết để KSV tự tin khi thực hiện nhiệm vụ kiểm sát nói chung và thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng.
3.3. Các giải pháp đảm bảo thực hành quyền công tố đúng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
3.3.1. Tăng cường nhận thức lý luận và pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Nhơn cần tổ chức triển khai sâu rộng quy định của Hiến pháp năm 2013 về nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử. Đồng thời, KSV phải thống nhất nhận thức pháp luật về mục đích, ý nghĩa, phạm vi, nội dung, phương pháp thực hành quyền công tố; mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự để áp dụng vào thực tiễn công tác.
3.3.2. Nâng cao năng lực thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Thứ nhất, nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự.
Chất lượng tranh tụng của KSV tại phiên tòa phụ thuộc rất nhiều vào các chứng cứ thu thập được ở giai đoạn điều tra; nếu chứng cứ được thu thập đầy đủ sẽ giúp cho KSV nắm chắc các tình tiết, nội dung của vụ án. Do đó, KSV cần phải làm tốt chức trách, nhiệm vụ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Thứ hai, nâng cao kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án của KSV
Nghiên cứu hồ sơ vụ án là nhiệm vụ quan trọng của KSV khi được phân công thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Việc nghiên cứu kỹ hồ sơ, nắm vững nội dung vụ án sẽ đảm bảo cho KSV thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình, chủ động hơn trong các phiên tòa. Nếu qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, xét thấy các chứng cứ buộc tội không đủ thì KSV phải báo cáo ngay với lãnh đạo đơn vị để kịp thời xem xét rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố, đảm bảo không để xay ra oan sai trong giải quyết vụ án.
Thứ ba, nâng cao chất xây dựng đề cương xét hỏi và kỹ năng xét hỏi của KSV tại phiên tòa
Trước khi tham gia phiên tòa, KSV phải dự thảo đề cương xét hỏi để làm rõ nội dung của vụ án như: hành vi, thời gian, địa điểm, động cơ, mục đích, hậu quả, phương tiện, thủ đoạn phạm tội…Nội dung các câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn, không đặt các câu hỏi mớm cung, dụ cung.
Thứ tư, nâng cao chất lượng xây dựng dự thảo luận tội của KSV
Luận tội là quan điểm của KSV về tội trạng của bị cáo nhằm bảo vệ cáo trạng đã truy tố. Do vậy, luận tội phải có tính thuyết phục cao, có tình, có lý, không những để giáo dục, cải tạo bị cáo mà còn là lời cảnh tỉnh đối với người khác, răn đe, phòng ngừa tội phạm; phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên toà, đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự để cân nhắc lựa chọn điều, khoản của BLHS để đề nghị Toà án áp dụng chính xác theo thứ tự: đề nghị hình phạt chính, hình phạt bổ sung và bồi thường thiệt hại (nếu có).
Thứ năm, nâng cao kỹ năng trình bày Cáo trạng của KSV tại phiên tòa
Khi đọc cáo trạng, KSV cần đứng dậy, hướng về phía những người tham dự phiên tòa; nếu bị cáo ngồi thì phải đề nghị Chủ tọa phiên tòa cho đứng dậy để nghe cáo trạng. KSV phải đọc nguyên văn cáo trạng, không được tự ý bớt xén lời văn hoặc sửa chữa từ ngữ; phải đọc to, rõ ràng, mạch lạc, chính xác, ngắt câu đúng lúc, đúng chỗ…Để nâng cao kỹ năng trình bày cáo trạng, KSV cần phải được tập huấn, đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện khả năng đọc trước công chúng.
Thứ sáu, nâng cao kỹ năng tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa
Để đảm bảo tranh luận của KSV đạt chất lượng, VKSND huyện Hoài Nhơn và ngành cấp trên cần tổ chức những đợt tập huấn nghiệp vụ, chọn các phiên tòa hình sự rút kinh nghiệm chung; đồng thời, KSV phải tự mình học tập, nghiên cứu các văn bản pháp luật để nâng cao trình độ chuyên môn; rèn luyện khả năng hùng biện để tạo tính chủ động, tự tin trước phiên tòa.
Thứ bảy, nâng cao kỹ năng phát hiện vi phạm để kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án
Để nâng cao kỹ năng, KSV được phân công thực hành quyền công tố tại phiên tòa phải thực hiện tốt việc kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án. Đặc biệt, phải xem xét nội dung bản án về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và phần trách nhiệm dân sự….Phát hiện kịp thời những vi phạm trong bản án, quyết định của Tòa án, báo cáo lãnh đạo xem xét, quyết định việc kháng nghị hay không kháng nghị.
3.3.3. Nâng cao năng lực, đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành đối với hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Để làm được điều này, lãnh đạo VKSND huyện Hoài Nhơn cần tăng cường sự kiểm tra, đánh giá kết quả thực hành quyền công tố của KSV có đúng theo quy định pháp luật và Quy chế của ngành hay không. Việc kiểm tra, đánh giá phải làm thường xuyên đối với tất cả các vụ án từ đơn giản đến phức tạp. Từ đó, kịp thời phát hiện những sai phạm, thiếu sót của KSV để nhắc nhở, chấn chỉnh nhằm nâng cao chất lượng giải quyết án.
3.3.4. Tăng cường phối hợp trong nội bộ ngành kiểm sát ở giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
BLTTHS năm 2015 quy định phạm vi thực hành quyền công tố bắt đầu từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo tội phạm; điều đó có nghĩa là để đạt được chất lượng, hiệu quả cao trong thực hành quyền công tố, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ, toàn diện giữa các bộ phận nghiệp vụ như: thực hành quyền công tố trong giải quyết tin báo, tố giác tội phạm với thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Để đảm bảo thực hiện tốt quan hệ phối hợp giữa các bộ phận nghiệp vụ, đòi hỏi phải có sự chỉ đạo sâu sát, thường xuyên của Viện trưởng VKS, sự phối hợp giữa các Phó viện trưởng phụ trách trên cơ sở chỉ đạo chung của Viện trưởng.
Giữa VKS cấp huyện với VKS cấp tỉnh cũng phải có sự phối hợp trong hoạt động nghiệp vụ và quản lý, chỉ đạo, điều hành. Đặc biệt, trong công tác kháng nghị phúc thẩm án hình sự để đảm bảo các kháng nghị có chất lượng, được cấp tỉnh bảo vệ và Tòa phúc thẩm chấp nhận.
3.3.5. Tăng cường hướng dẫn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự
Thứ nhất, Điều 103 Hiến pháp 2013 và Điều 26 BLTTHS năm 2015 quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Lần đầu tiên, tranh tụng được quy định là một nguyên tắc trong xét xử. Để thực hiện quy định này, cần thiết phải xây dựng các chế định làm rõ nội dung, phạm vi, quyền hạn và trách nhiệm của VKS, Luật sư, Thẩm phán trong phiên tòa hình sự; trình tự thu thập và cung cấp chứng cứ của luật sư; nâng cao hơn nữa trách nhiệm KSV trong tranh tụng tại phiên tòa…nhằm đảm bảo cơ chế để hoạt động tranh tụng thực sự dân chủ.
Thứ hai, nhà làm luật cần đưa ra khái niệm thống nhất về “quyền công tố” và “thực hành quyền công tố” trong BLTTHS để tạo cơ sở pháp lý cho việc nhận thức về vai trò, vị trí, chức năng của VKS; qua đó, giúp KSV có hành lang pháp lý để nâng cao chất lượng hoạt động thực hành quyền công tố.
Thứ ba, Liên ngành trung ương cần quy định về trình tự thực hiện quyền đọc, ghi chép tài liệu của bị can, bị cáo…theo quy định tại Điều 60, Điều 61 BLTTHS năm 2015 và thủ tục để Tòa án trên một cấp giải quyết kháng nghị của VKS đối với quyết định khởi tố của HĐXX.
3.3.6. Hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến thực hành quyền công tố trong giai đoan xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Theo Điều 307 BLTTHS năm 2015 quy định “chủ tọa phiên tòa hỏi trước sau đó quyết định để Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện việc hỏi”. Xét về lý luận, bên nào thực hiện việc buộc tội thì bên đó phải có nghĩa vụ xét hỏi, đưa ra chứng cứ để chứng minh. Tuy nhiên, quy định chủ tọa phiên tòa hỏi trước đã chuyển trách nhiệm chứng minh tội phạm của VKS sang Tòa án; vì vậy, chưa tạo điều kiện để phát huy tính chủ động, tích cực và trách nhiệm của bên buộc tội trong thực hiện chức năng tố tụng của mình. Để thể hiện đúng vai trò và nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của KSV tại phiên tòa, tạo điều kiện để KSV kiểm tra công khai những chứng cứ đã thu thập được trong giai đoạn điều tra, nên quy định KSV và người bào chữa xét hỏi là chủ yếu.
3.3.7. Tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho Ngành kiểm sát nhân dân
Đảng và Nhà nước cần quy định chính sách tiền lương, đãi ngộ phù hợp cho cán bộ, KSV để họ có điều kiện nuôi sống bản thân, gia đình, an tâm công tác; cấp thêm phương tiện đi lại khi thực thi công vụ cho KSV, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động nghiệp vụ bằng cách trang bị thêm nhiều máy tính xách tay, các thiết bị để phục vụ việc ghi âm, ghi hình… theo yêu cầu của BLTTHS năm 2015.
3.3.8. Tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự giám sát của Hội đồng nhân dân ở địa phương
Cấp ủy Đảng cần chú trọng lãnh đạo về công tác cán bộ; quan tâm hơn nữa việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng; lựa chọn những cán bộ có năng lực, tâm huyết và bản lĩnh chính trị vững vàng để bố trí vào các chức vụ lãnh đạo trong cơ quan tiến hành tố tụng nhằm đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế.
Hoạt động giám sát của HĐND đối với VKSND phải luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự phối hợp giữa Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể, tổ chức xã hội. VKSND phải thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo; tiếp thu, trả lời đầy đủ, kịp thời các chất vấn của Hội đồng nhân dân cùng cấp và kiến nghị của cử tri; có biện pháp để khắc phục thiếu sót, hạn chế trong công tác kiểm sát nhằm nâng cao chất lượng giải quyết án, phục vụ cho yêu cầu nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Kết luận Chương 3
Trong Chương 3, luận văn đã dự báo các yếu tố tác động đối với công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự trên địa bàn huyện Hoài Nhơn trong thời gian tới như: tình hình kinh tế-xã hội thay đổi; tình hình tội phạm ngày càng gia tăng với những thủ đoạn tinh vi hơn, tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng và phức tạp hơn; yêu cầu cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước đòi hỏi Ngành kiểm sát nhân dân cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp…Những yếu tố tác động này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Để nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố trong giai đoạn này, luận văn đã đề ra những yêu cầu và các giải pháp đảm bảo thực hành đúng quyền công tố; đồng thời, đề xuất phương hướng cụ thể để tiếp tục hoàn thiện những quy định của pháp luật tố tụng hình sự chưa phù hợp như: việc Tòa án trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung, hậu quả pháp lý việc rút quyết định truy tố, thẩm quyền khởi tố vụ án của HĐXX, trình tự xét hỏi tại phiên tòa…Từ đó, nhằm xác định rõ vị trí, vai trò của thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, đáp ứng với tiến trình cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.
KẾT LUẬN
Ngày 26/07/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Lệnh công bố Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, đánh dấu sự ra đời của Viện kiểm sát nhân dân trong hệ thống bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trải qua quá trình phấn đấu và trưởng thành, ngành kiểm sát nhân dân đã không ngừng lớn mạnh và thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, trở thành công cụ đấu tranh sắc bén trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền tự do dân chủ và những lợi ích chính đáng của nhân dân, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.
Trước những yêu cầu của tình hình mới, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 về “một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 về “chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, với mục tiêu là “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao”.
Trong thời gian qua, VKSND huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đã hoàn thành tốt công tác thực hành quyền công tố nói chung và thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng, đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự ra tòa xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, chưa có trường hợp Tòa tuyên bị cáo không phạm tội, quan điểm giải quyết các vụ án của VKS được chính quyền địa phương đồng tình ủng hộ, hình ảnh người KSV đã đi vào lòng nhân dân, được nhân dân tin yêu, quý mến. Tuy nhiên, trước yêu cầu cải cách tư pháp của Đảng và Nhà nước thì công tác thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế, cần phải nhìn nhận nghiêm túc để nâng cao hơn nữa chất lượng khâu công tác này.
Do vậy, luận văn nghiên cứu để làm rõ những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố nói chung và trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng. Đồng thời, qua thực tiễn thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tại huyện Hoài Nhơn, luận văn phân tích những nội dung thực hành quyền công tố đúng và sai, dự báo các yếu tố tác động để đề ra những giải pháp đảm bảo thực hành đúng quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; kiến nghị tiếp tục hoàn thiện những quy định của pháp luật chưa phù hợp như: mối quan hệ giữa VKS và Tòa án khi trả hồ sơ điều tra bổ sung, giải quyết trường hợp VKS rút quyết định truy tố, vấn đề khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử, trình tự thủ tục xét hỏi tại phiên tòa…
Từ việc nghiên cứu luận văn, có thể kết luận rằng: Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất được Nhà nước giao thực hành quyền công tố nói chung và thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng. Để thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, KSV cần phải thực hiện các nội dung quy định tại Điều 18 Luật tổ chức VKSND năm 2014 và Điều 266 BLTTHS năm 2015. Đây là các nội dung lớn, đòi hỏi KSV phải tự đào tạo để nâng cao kỹ năng nghề nghiệp; bên cạnh đó, Ngành kiểm sát nhân dân phải không ngừng đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ cho KSV, xây dựng đội ngũ cán bộ, KSV “vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, công tâm và bản lĩnh, kỷ cương và trách nhiệm”, đảm bảo hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Tác giả tin tưởng rằng, trong thời gian tới, công tác thực hành quyền công tố nói chung và thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nói riêng sẽ đạt được những kết quả tốt hơn, đáp ứng với tiến trình cải cách tư pháp và sự đòi hỏi, kỳ vọng của nhân dân, vì mục tiêu chung là “phụng công, thủ pháp, chí công vô tư”, góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm./.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\LUAT HINH SU\NGUYEN HUU PHUOC\SAU BAO VE


