“Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện An Lão, tỉnh Bình Định
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là một hiện tượng mang tính toàn cầu, nó là một trong những rào cản lớn làm giảm khả năng phát triển con người, cộng đồng cũng như mỗi quốc gia. Do đó, xóa đói giảm nghèo luôn được xác định là một nhiệm vụ lâu dài và thường xuyên của mọi quốc gia. Đối với Việt Nam nói riêng, xóa đói giảm nghèo toàn diện, bền vững luôn được Đảng và Nhà nước xác định là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến chính sách giảm nghèo. Đến nay đã thực hiện qua 04 giai đoạn. Giai đoạn 2011-2015, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước là 14,2 % giảm xuống còn 5,97% vào năm 2014, năm 2015 ước còn khoảng 4,5 %. Đối với các huyện nghèo tỉ lệ hộ nghèo còn dưới 30 %. Tính bình quân trong 5 năm từ 2011- 2015, tỉ lệ hộ nghèo cả nước giảm hàng năm 2%
Cùng với cả nước nói chung, huyện An Lão, tỉnh Bình Định cũng đang triển khai thực hiện Nghị quyết 80/NQ-CP của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011- 2020; thực hiện Đề án về giảm nghèo nhanh bền vững theo Nghị quyết 30a/NQ-CP của Chính phủ. Đến nay, toàn huyện đã giảm được số hộ nghèo đáng kể, tỷ lệ hộ nghèo từ 57,42% vào cuối năm 2011, xuống còn 47,67% năm 2014
Tuy nhiên, chính sách giảm nghèo hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề bất cập như: Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh nhưng chưa bền vững; nhiều chính sách, chương trình giảm nghèo đã ban hành còn mang tính ngắn hạn, chồng chéo; còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại, không muốn vươn lên thoát nghèo để được thụ hưởng các chế độ chính sách. Đó là một trong những rào cản trong công tác giảm nghèo ở nước ta hiện nay.
Để chính sách giảm nghèo bền vững đem lại hiệu quả, trong thời gian đến, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực hiện các chính sách, công cụ giảm nghèo đối với cả nước nói chung và huyện An Lão, tỉnh Bình Định nói riêng là thật sự cần thiết.
Vì vậy, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững từ thực tiễn huyện An Lão, tỉnh Bình Định” để làm luận văn Thạc sĩ Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng lý luận chính sách giảm nghèo bền vững để xem xét thực tiễn thực hiện chính sách ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định, tìm ra những bất cập trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững thời gian qua ở đây, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trong những năm tiếp theo.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nghiên cứu cơ sở lý luận về chính sách giảm nghèo bền vững và thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam.
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng thực hiện các chính sách giảm nghèo trên quan điểm bền vững từ thực tiễn tại huyện An Lão, tỉnh Bình Định.
Thứ ba, Đề ra mục tiêu, định hướng, giải pháp tiếp tục thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững của Nhà nước ta được thực thi trên địa bàn một huyện cụ thể.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Tại huyện An Lão, tỉnh Bình Định, nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trong 05 năm từ năm 2011 đến năm 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành XHH và vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công ở khâu tổ chức thực hiện và đánh giá chính sách công.
5.5. Phương pháp nghiên cứu
– Đề tài vận dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp.
– Kết hợp các phương pháp thống kê, khái quát thực tiễn suy luận logic….
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Bổ sung kiến thức lý thuyết về chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam; đồng thời biết vận dụng các lý thuyết về chính sách công để đánh giá thực tiễn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở địa phương.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu đề tài minh chứng cho việc vận dụng các lý thuyết chính sách công vào nghiên cứu thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở địa phương.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở huyện An Lão, tỉnh Bình Định.
Chương 3: Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững thời gian tới từ thực tiễn huyện An Lão, tỉnh Bình Định.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM
1.1.1. Khái niệm nghèo: Hội nghị chống đói nghèo khu vực châu Á- Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc- Thái Lan tháng 9/1993 đưa ra khái niệm “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế- xã hội và phong tục tập quán của địa phương”.
Theo tác giả đây là khái niệm chung nhất về nghèo, có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện những nét chính phổ biến về nghèo, được các học giả, nhà nghiên cứu, chuyên gia trong, ngoài nước đồng tình và được Chính phủ thừa nhận.
1.1.2. Khái niệm nghèo đa chiều
Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra quan điểm: “Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất. Nghèo không chỉ gồm các chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khoẻ, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, không có quyền phát ngôn và không có quyền lực”. Như vậy, khái niệm nghèo đa chiều xuất phát từ quan niệm nghèo là một hiện tượng đa chiều, tình trạng nghèo cần được nhìn nhận là sự thiếu hụt/không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người.
1.1.3. Khái niệm về giảm nghèo bền vững
Khái niệm giảm nghèo: Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Hay giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo lên mức sống cao hơn.
Khái niệm giảm nghèo bền vững:
Theo quan điểm của PGS. TS Trần Đình Thiên-Viện trưởng viện Kinh tế Việt Nam: “Không thể giúp người nghèo bằng cách tặng nhà, tặng phương tiện sống… Đây là cách giảm nghèo, xóa nghèo nhanh nhưng chỉ tức thời, không bền vững. Muốn giảm nghèo, xóa nghèo bền vững thì Nhà nước, cơ quan chức năng cần phải cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới mà tự họ không thể tiếp cận và duy trì. Bên cạnh đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa, loại trừ các yếu tố gây rủi ro chứ không chỉ là sự nỗ lực khắc phục hậu quả sau rủi ro. Đặc biệt, sự hỗ trợ giảm nghèo này phải được xác lập trên nguyên tắc ưu tiên cho các vùng có khả năng, điều kiện thoát nghèo nhanh và có thể lan tỏa sang các vùng lân cận”.
Tác giả luận văn đồng ý với các quan niệm trên về giảm nghèo bền vững và theo quan điểm cá nhân của tác giả: “Giảm nghèo bền vững là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống về vật chất và tinh thần, đảm bảo thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người (trên chuẩn nghèo) một cách ổn định lâu dài và không còn nguy cơ tái nghèo”.
1.1.4. Khái niệm về chính sách giảm nghèo bền vững
Chính sách giảm nghèo bền vững là tập hợp các quyết định của Chính phủ nhằm đưa ra các giải pháp, công cụ chính sách để giải quyết các vấn đề về cải thiện đời sống vật chất và tinh thần đối với người nghèo, góp phần thu hẹp khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư, thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của đất nước.
1.1.5. Chuẩn nghèo và đo lường nghèo
Chuẩn nghèo (hay ngưỡng nghèo, đường nghèo) là một mức thu nhập tối thiểu cần thiết để đảm bảo những nhu cầu vật chất cơ bản cho con người để có thể tiếp tục tồn tại. Chuẩn nghèo được quy định trong từng thời điểm khác nhau, phù hợp với tình hình thực tế của mỗi nước.
1.2. Các bước tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
1.2.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện
1.2.2. Phổ biến, tuyên truyền chính sách
1.2.3. Phân công phối hợp thực hiện chính sách
1.2.4. Duy trì chính sách
1.2.5. Điều chỉnh chính sách
1.2.6. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
1.2.7. Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách
1.3. Cách tiếp cận và phương pháp thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
1.3.1. Cách tiếp cận
Có sự tham gia của người nghèo, cộng đồng người dân và các chủ thể tham gia công tác giảm nghèo bền vững.
1.3.2. Phương pháp thực hiện
Có 4 phương pháp: Phương pháp kinh tế; Phương pháp tuyên truyền, giáo dục- đào tạo/huấn luyện; Phương pháp hành chính- tổ chức. Trong thực tiễn 4 phương pháp trên thường được kết hợp chung với nhau mới phát huy hiệu quả cao nhất.
1.4. Những nhân tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
1.4.1. Nhân tố khách quan
– Trình độ phát triển của nền kinh tế nước ta còn thấp.
Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu, trải qua chiến tranh, bị tàn phá nặng nề, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật; nguồn lực của Nhà nước chưa đáp ứng với yêu cầu hỗ trợ các địa phương và người nghèo, do đó làm cho người nghèo và vùng nghèo phải gánh chịu những khó khăn đó, không thể tự thoát ra khỏi tình trạng nghèo.
– Sự phân hóa giàu nghèo có xu hướng gia tăng và sinh kế của người nghèo thường phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên có xu hướng ngày càng trở nên bất lợi, khó khăn hơn
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, tình trạng chênh lệch giàu nghèo giữa các nhóm xã hội, các vùng miền ngày càng cao. Chất lượng môi trường tự nhiên bị suy thoái, ô nhiễm làm ảnh hưởng trực tiếp tới sinh kế, thu nhập của người nghèo.
– Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa và đô thị hóa ảnh hưởng đến đói nghèo
CNH và đô thị hóa đi kèm với việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất và thu hồi đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ và các công trình công cộng; làm cho người dân mất nguồn sinh kế, gây ra nhiều rủi ro về kinh tế và xã hội.
- Biến đổi khí hậu với tác động ngày càng rõ rệt và gia tăng đang tạo ra thêm các nguy cơ cho giải quyết vấn đề nghèo đói
Thiên tai lại thường xảy ra và tập trung ở khu vực nông thôn, miền núi, ven biển nơi tập trung đa phần người nghèo, làm cho việc giảm nghèo hết sức khó khăn.
1.4.2. Nhân tố chủ quan
– Sự hạn chế, bất cập trong chính sách phát triển và năng lực tổ chức thực hiện chính sách là một tác nhân có tác động ảnh hưởng ảnh hưởng trực tiếp đến đói nghèo
– Sự hạn chế về năng lực của bản thân người nghèo, nhóm nghèo cũng là một tác nhân quan trọng khác của nghèo đói và giảm nghèo.
– Tâm lý thụ động, an phận, trông chờ của cả bản thân người nghèo
– Năng lực của đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo có ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện chính sách.
1.5. Chính sách giảm nghèo bền vững của Việt Nam
1.5.1. Quan điểm, mục tiêu giảm nghèo bền vững ở Việt Nam
– Quan điểm về giảm nghèo bền vững ở Việt Nam
Đại hội XI của Đảng khẳng định “Tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xoá đói, giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Đa dạng hoá các nguồn lực và phương thức xoá đói, giảm nghèo gắn với phát triển nông nghiệp, nông thôn, phát triển giáo dục, dạy nghề và giải quyết việc làm để xoá đói, giảm nghèo bền vững; tạo điều kiện và khuyến khích người đã thoát nghèo vươn lên làm giàu và giúp đỡ người khác thoát nghèo”
Trên cơ sở định hướng chỉ đạo của Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng về công tác giảm nghèo, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến 2020 và phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012- 2015.
– Mục tiêu giảm nghèo bền vững
Nghị quyết 80/NQ-CP khẳng định “Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của chiến lược phát triển KT- XH 2011-2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là khu vực miền núi, vùng đồng bào DTTS; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư”.
1.5.2. Chuẩn nghèo và tiêu chí xác định nghèo ở Việt Nam
* Giai đoạn 2011- 2015: Chuẩn nghèo và tiêu chí xác định chuẩn nghèo theo Quyết định 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tưởng Chính phủ
* Chuẩn nghèo và tiêu chí xác định chuẩn nghèo mới theo hướng tiếp cận đa chiếu, giai đoạn từ 2016- 2020 theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg, của Thủ tướng chính phủ.
1.5.3. Các chính sách giảm nghèo bền vững ở Việt Nam
– Chính sách tín dụng đối với hộ nghèo, cận nghèo
– Chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở
– Chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo
– Chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo
– Chính sách hỗ trợ đất sản xuất, nước sinh hoạt
– Chính sách hỗ trợ về trợ giúp pháp lý đối với người nghèo
– Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh, bền vững theo Nghị quyết 30a
– Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững theo Quyết định số 1489/2012/QĐ-TTg ngày 18/10/2012 của Thủ tướng Chính phủ
1.6. Chủ thể, các bên liên quan trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
1.6.1. Chủ thể thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
Cơ quan nhà nước; người nghèo; và các tổ chức kinh tế, xã hội, chính trị.
1.6.2. Các bên liên quan trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
– Chính phủ thống nhất quản lý, chỉ đạo điều hành thực hiện chương trình giảm nghèo. Ban Chỉ đạo chương trình giảm nghèo được thành lập theo cấp từ Trung ươngg đến các tỉnh, thành, các huyện/thành phố thuộc tỉnh, rồi đến cấp cơ sở.
– Mặt trận và các hội đoàn thể (thanh niên, phụ nữ, nông dân… ) với chức năng là tổ chức chính trị – xã hội thông qua các phong trào, tham gia tích cực vào hoạt động giảm nghèo, tham gia giám sát công tác giảm nghèo ở địa phương.
1.7. Kinh nghiệm thực hiện giảm nghèo ở một số địa phương
1.7.1. Kinh nghiệm ở tỉnh Ninh Bình
1.7.2. Kinh nghiệm ở tỉnh Đồng Nai
1.7.3. Kinh nghiệm ở tỉnh Thừa Thiên- Huế
1.7.4. Bài học kinh nghiệm rút ra

CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG Ở HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH
2.1. Quan điểm, mục tiêu, chính sách giảm nghèo bền vững tỉnh Bình Định
2.1.1. Quan điểm, mục tiêu giảm nghèo bền vững
– Quan điểm của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh Bình Định
– Quan điểm của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện An Lão
Về mục tiêu cụ thể giai đoạn 2011- 2015:
– Đến năm 2015 giảm tỷ lệ hộ nghèo chung trên địa bàn tỉnh xuống còn dưới 8%, bình quân mỗi năm giảm 2% (theo chuẩn nghèo hiện hành). Riêng các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, thôn, bản đặc biệt khó khăn giảm từ 4-5%.
Các chỉ tiêu chủ yếu cần đạt được đến năm 2015
– Đến năm 2015 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn dưới 8%, bình quân mỗi năm giảm 2% (theo chuẩn nghèo của Chính phủ giai đoạn 2011-2015).
2.1.2. Các văn bản chính sách về giảm nghèo bền vững của tỉnh Bình Định
Nghị quyết chuyên đề số 52/2011/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Bình Định .
Quyết định số 53/2011/QĐ-UBND của UBND tỉnh Bình Định.
Đối với huyện An Lão: Đề án 13/ĐA-UBND, ngày 31/7/2009 “Đề án phát triển KT- XH huyện An Lão giảm nghèo nhanh và bền vững giai đoạn 2009- 2020”.
2.1.3. Hệ thống tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo
– Thực hiện chính sách giảm nghèo, tỉnh Bình Định đã có chủ trương tăng cường phân cấp và xác định rõ trách nhiệm cho các cấp, các sở/phòng và từng cá nhân.
– Thực hiện cơ chế phân cấp quản lý và sử dụng kinh phí cho cấp huyện, xã.
– Bảo đảm tính công khai dân chủ, minh bạch về tài chính theo nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra và dân được hưởng lợi”.
– Các tổ chức, đoàn thể trong hệ thống chính trị các cấp dưới sự lãnh đạo của tổ chức Đảng cũng được huy động tham gia thực hiện chính sách giảm nghèo.
– Các thiết chế tài chính trên địa bàn Tỉnh, huyện cũng được huy động cung cấp và hỗ trợ nguồn lực tài chính cho công tác giảm nghèo.
2.2. Tổ chức thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện An Lão, tỉnh Bình Định thời gian qua
2.2.1. Thực trạng nghèo tại huyện An Lão thời gian qua
2.2.1.1. Điều kiện tự nhiên, dân số huyện An Lão:
An Lão là huyện miền núi vùng cao tỉnh Bình Định thuộc 62 huyện nghèo của cả nước; huyện có 10 đơn vị hành chính 8/10 xã đặc biệt khó khăn, dân số là 31.332 người; đồng bào DTTS chiếm tỉ lệ 36 %. Qua điều tra cuối năm 2014, tổng số hộ dân cư trên địa bàn toàn huyện là 8196 hộ/31.332 khẩu. Tổng số hộ nghèo: 3.907 hộ/14.627 khẩu, chiếm tỷ lệ 47,67%;
2.2.1.2. Vấn đề nghèo ở huyện An Lão
– Thu nhập của hộ nghèo còn thấp:.
– Người nghèo không có vốn để sản xuất và không biết cách làm ăn.
– Người dân không có đất để sản xuất trồng trọt tạo
– Người dân không có việc làm để tạo ra thu nhập
2.2.1.3. Nguyên nhân nghèo tại huyện An Lão: Có 9 nguyên nhân chủ yếu sau:
Thiếu vốn sản xuất; thiếu đất canh tác; thiếu phương tiện sản xuất; thiếu lao động chính; không biết cách làm ăn; đông con; không có việc làm; chây lười, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước; ốm đau nặng, bị bệnh hiểm nghèo, mắc các tệ nạn xã hội
2.2.2. Thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện An Lão.
2.2.2.1. Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện
UBND huyện xây dựng Kế hoạch thực hiện Đề án giảm nghèo, nêu rõ ràng, cụ thể về tiến độ, thời gian thực hiện, các bước tổ chức thực hiện, nguồn lực thực hiện, trách nhiệm của các bên tham gia trong việc thực hiện Đề án.
2.2.2.2. Phổ biến, tuyên truyền chính sách
UBND huyện đã tổ chức hội nghị triển khai, quán triệt nội dung của Đề án giảm nghèo của huyện cho cán bộ lãnh đạo các cơ quan, ban ngành đoàn thể có liên quan, trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.
2.2.2.3. Phân công phối hợp, duy trì, theo dõi, kiểm tra thực hiện chính sách
Công tác chỉ đạo, điều hành được tổ chức thực hiện từ cấp huyện đến cơ sở. Trong quá trình thực hiện có sự phối hợp tích cực MTTQ và các hội, đoàn thể các cấp.
Các chính sách giảm nghèo ngày càng được hoàn thiện; Nhà nước có nhiều ưu đãi hơn cho các chương trình; dự án giảm nghèo được tổ chức thực hiện công khai, dân chủ, giúp người nghèo ngày được thụ hưởng đầy đủ chính sách ưu đãi của Nhà nước.
Việc thành lập Ban Chỉ đạo giảm nghèo từ huyện đến xã là một trong những thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách, góp phần thực hiện đạt mục tiêu giảm nghèo các địa phương đã đề ra hằng năm.
2.2.2.4. Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm thực hiện chính sách
Hàng năm UBND huyện đều sơ kết đánh giá việc thực hiện chính sách, đánh giá những mặt làm được, những hạn chế, tồn tại, nguyên nhân và giải pháp thực hiện trong năm tiếp theo. Năm 2015, tổ chức Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011- 2015 và định hướng tiếp tục triển khai thực hiện giai đoạn 2016- 2020 theo hướng tiếp cận đa chiều.
2.2.3. Kết quả đạt được và đánh giá
2.2.3.1. Kết quả thực hiện các chính sách
– Về thực hiện chính sách tín dụng
Từ năm 2011 đến 2015: Ngân hàng CSXH huyện đã giải ngân 213.119 triệu đồng cho 11.255 lượt hộ vay vốn, tổng dư nợ: 609.783 triệu đồng cho 29.403 lượt hộ vay.
Tuy nhiên, chính sách tín dụng đối với hộ nghèo vẫn còn một số bất cập:
– Nguồn vốn cho hộ nghèo vay còn thấp, khó có cơ hội đầu tư làm ăn lớn..
– Về đối tượng vay chỉ dành cho hộ nghèo nên khi hộ nghèo vừa được thoát nghèo sẽ không có cơ hội vay vốn, thiếu tính bền vững đối với hộ vừa thoát nghèo.
– Đối với chính sách cho vay tín dụng đối với học sinh, sinh viên: Vấn đề hiện nay là cho vay học sinh, sinh viên gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn đối; vì vay tiền đi học khi tốt nghiệp không tìm được việc làm không có khả năng trả nợ vay.
– Về thực hiện chính sách hỗ trợ y tế
Trong thời gian 5 năm, huyện đã thực hiện mua thẻ bảo hiểm y tế cho 56.431 lượt người nghèo và dân tộc thiểu số, kinh phí 32.979,8 triệu đồng; hỗ trợ mua thẻ BHYT cho 11.705 lượt người cận nghèo, kinh phí 5.575,7 triệu đồng.
Tuy nhiên, còn xảy ra sai sót như: Cấp trùng thẻ, trùng đối tượng gây lãng phí ngân sách Nhà nước. Việc khám điều trị cho người nghèo vẫn còn gặp khó khăn do trình độ chuyên môn của đội ngũ y bác sỹ ở các trạm y tế xã chưa đảm bảo.
– Về thực hiện chính sách hỗ trợ giáo dục cho con em hộ nghèo
Thực hiện Nghị định số 49/2010/NĐ-CP của Chính phủ, trong 05 năm, toàn huyện có 14.215 lượt học sinh, sinh viên được hỗ trợ học phí và chi phí học tập kinh phí thực hiện trên 9.956,39.000đ. Năm 2015, kinh phí miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập, hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ em 3, 4, 5 tuổi, hỗ trợ học sinh bán trú là 1.700.738.000đ, kinh phí chưa có nguồn chi trả là 227.460.000đ.
Trong 5 năm qua, huyện đã cử đi học cử tuyển 76 sinh viên, trong đó có 73 em là người dân tộc thiểu số. Vấn đề tồn tại hiện nay đó là không xác định nhu cầu đầu ra, nên khi đưa đi đào tạo đại trà, một số ngành học không bố trí, sắp xếp được việc làm cho sinh viên khi ra trường gây lãng phí nguồn lực.
– Về thực hiện chính sách hỗ trợ cải thiện nhà ở cho hộ nghèo
Theo Quyết định 167/QĐ-TTg, huyện An Lão có 472 hộ xây dựng nhà ở, đạt 46,87%; kinh phí thực hiện 13.570 triệu đồng, còn 535 hộ cần hỗ trợ nhà ở.
– Về thực hiện các chính sách, dự án theo NQ số 80/NQ-CP của Chính phủ
UBND tỉnh đã phê duyệt chương trình, song chưa có kinh phí bố trí để huyện An Lão thực hiện gồm: Việc thực hiện các nội dung này đối với người nghèo được lồng ghép thông qua các chương trình KT- XH, chương trình mục tiêu quốc gia khác.
– Về thực hiện chính sách hỗ trợ tiền điện theo Quyết định 289/QĐ-TTg. Trong 5 năm đã hỗ trợ tiền điện cho 100% hộ nghèo với kinh phí 7.147.272 triệu đồng .
– Chính sách hỗ trợ dạy nghề miễn phí cho người nghèo gắn với giải quyết việc làm.
Trong 5 năm huyện đã mở 25 lớp dạy nghề miễn phí cho 1.247 người tham dự; hiện có 978 lao động có việc làm ổn định.
Thừ năm 2011- 2015 thực hiện Quyết định 71/QĐ-TTg của Chính phủ đã có 188 lao động đăng ký XKLĐ, hiện nay đã xuất cảnh lao động 93 trường hợp. Thị trường xuất khẩu chủ yếu là các nước Malaisia, Hàn Quốc, Nhật Bản.
– Về thực hiện chính sách an sinh xã hội
Đã trợ cấp đột xuất, cứu đói giáp hạt, hỗ trợ khắc phục thiên tai cho 15.508 nhân khẩu nghèo với 926,3 tấn gạo, kinh phí thực hiện 6.676,65 triệu đồng. Thực hiện Nghị định 67/NĐ-CP, Nghị định 13/NĐ-CP, Nghị định 06/NĐ-CP : Đã giải quyết cho đối tượng BTXH thuộc diện hộ nghèo với tổng kinh phí thực hiện là 7.697,115 triệu đồng.
– Về thực hiện các chính sách đặc thù và hỗ trợ trực tiếp
Theo Quyết định 1592/QĐ-TTg thì sự hỗ trợ đặc thù gồm hỗ trợ đất sản xuất và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào DTTS nghèo đời sống khó khăn. UBND huyện đã phê duyệt kế hoạch kinh phí thực hiện là 327.793 triệu đồng (vốn đầu tư phát triển 273.945, vốn sự nghiệp 54.848 triệu đồng), trong đó ngân sách Tung ương hổ trợ 231.332, ngân sách địa phương và huy động các nhà hảo tâm 96.461 triệu đồng.
– Kết quả thực hiện lồng ghép các chính sách giảm nghèo khác
Trong 5 năm qua, huyện đã thực hiện các nguồn vốn lồng ghép khác để thực hiện chính sách giảm nghèo với tổng kinh phí 115.916,9 triệu đồng.
2.2.3.2. Đánh giá
– Ưu điểm: UBND huyện An Lão đã xây dựng Đề án giảm nghèo nhanh bền vững của huyện giai đoạn 2009- 2020 theo Nghị quyết 30a từ rất sớm (năm 2009), xây dựng Kế hoạch thực hiện chương trình giảm nghèo; đồng thời thành lập Ban chỉ đạo triển khai thực hiện chương trình. Các xã, thị trấn đều củng cố bộ máy và bố trí cán bộ làm công tác giảm nghèo chuyên trách hoặc kiêm nhiệm. Trên cơ sở đề án, hàng năm huyện đều có chỉ đạo điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với chuẩn nghèo trong từng giai đoạn. Bình quân giai đoạn 2011- 2015, tỉ lệ hộ nghèo của huyện giảm 4%/năm
– Hạn chế: Tỉ lệ hộ nghèo còn cao (năm 2014 theo chuẩn cũ: 47,67 %); công tác giảm nghèo vẫn chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo ở một số hộ còn cao. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh nhưng khoảng cách giàu nghèo có xu hướng gia tăng.
Cán bộ làm công tác giảm nghèo từ huyện đến xã đều kiêm nhiệm rất nhiều việc, chất lượng công việc hạn chế.
– Nguyên nhân:
a. Tác động của tăng trưởng kinh tế đến đói nghèo
Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở huyện chậm, thu nhập bình quân đầu người còn thấp, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm là rất lớn.
b. Thu hồi đất cho phát triển các cụm công nghiệp
Trong những năm qua, huyện An Lão đã kêu gọi đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng vào các cụm công nghiệp; việc thu hồi đất của nhân dân để phát triển các cụm công nghiệp trên địa bàn huyện, người dân bị thu hồi đât để xây dựng các cụm công nghiệp, các cụm công nghiệp thu hút đầu tư rất ít gây lãng phí về đất đai, không giải quyết được việc làm cho lực lượng lao động dôi dư tại địa phương.
c. Môi trường bị ô nhiễm, thiên tai bão lũ
Huyện An Lão là địa bàn miền núi, rất nhiều sông suối, thường xuyên bị lũ ống, lũ quét, bão lụt xãy ra hàng năm ở vùng ven sông, suối nên ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của người dân, gây thiệt hại về tài sản, nên nguy cơ đói nghèo gia tăng.
2.2.4. Những vấn đề đặt ra trong thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững tại huyện An Lão, tỉnh Bình Định trong thời gian tới
2.2.4.1. Những vấn đề về cụ thể hóa chính sách
Quyết định của 1614/QĐ-TTg chuyển đổi từ nghèo đơn chiều sang đa chiều bắt đầu thực hiện từ 2016 đòi hỏi rà soát, điều chỉnh, bổ sung các chính sách, quy định hiện hành liên quan tới người nghèo được tiếp cận các dịch vụ XH cơ bản cho phù hợp.
Đối với cấp địa phương cần nắm rõ các văn bản của cấp trên để xây dựng kế hoạch thực hiện sát đúng, xây dựng cơ chế thực hiện chính sách, phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong thực hiện chính sách giảm nghèo.
2.2.4.2. Những vấn đề về tổ chức thực hiện chính sách
Một là, Phân cấp và xác định rõ trách nhiệm các cấp, các ngành và từng cá nhân nhưng phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các bên liên quan trong thực hiện chính sách.
Hai là, cơ chế phân bổ nguồn lực cần được hoàn thiện sao cho công bằng và có tính khuyến khích, tạo điều kiện cho các địa phương chủ động trong việc huy động, lồng ghép các nguồn lực.
Ba là, thiết kế cụ thể các khung chính sách hỗ trợ, giám sát, đánh giá quá trình triển khai thực hiện chương trình giảm nghèo bền vững theo tiêu chí và chuẩn nghèo mới (nghèo đa chiều) giai đoạn 2016- 2020.
Bốn là, việc xây dựng mô hình chính sách chưa phù hợp với tình hình thực tế. Khi xây dựng các mô hình hỗ trợ sản xuất không nên rập khuôn, máy móc.
2.2.4.3. Những vấn đề về huy động nguồn lực cho thực hiện chính sách
Đảm bảo tính công khai, minh bạch trong huy động và phân bổ, sử dụng vốn vay đúng đối tượng, xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm gây thất thoát, lãng phí.

CHƯƠNG 3
GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG THỜI GIAN TỚI TỪ THỰC TIỄN HUYỆN AN LÃO, TỈNH BÌNH ĐỊNH
3.1. Quan điểm và mục tiêu giảm nghèo bền vững của huyện An Lão, tỉnh Bình Định
3.1.1. Quan điểm
Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động, giảm nghèo nhanh, bền vững theo Nghị quyết 30a và Nghị quyết 80/NQ-CP của Chính phủ.
3.2.2. Các mục tiêu giai đoạn 2016 – 2020
– Đối với tỉnh Bình Định: Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn dưới 10% (theo tiêu chí cũ)
– Đối với huyện An Lão: Tỷ lệ hộ nghèo giảm 5%/năm.
3.2. Các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững
3.2.1. Hoàn thiện thể chế chính sách
Cần rà soát lại các chính sách, công cụ, giải pháp để tăng cường sự kết nối, lồng ghép chính sách, loại bỏ sự trùng lắp, ít phù hợp với địa phương trên 3 phương diện: (i) nội dung chính sách; (ii) đối tượng thụ hưởng và (iii) thời gian thực hiện chính sách. Để giảm sự chồng chéo của chính sách, khi tiến hành xây dựng các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách nên xây dựng văn bản liên tịch thay cho các hướng dẫn riêng lẻ.
Đối với bộ máy thực hiện chính sách giảm nghèo: Cần tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương; đồng thời Mặt trận Tổ quốc, các hội đoàn thể như: phụ nữ, thanh niên, cựu chiến binh phải phát huy vai trò, trách nhiệm trong công tác vận động nhân dân trong thực hiện công tác giảm nghèo.
3.2.2. Hoàn thiện các công cụ thực hiện chính sách
Đối với chính sách cho hộ nghèo vay vốn
– Cần tăng cường nguồn vốn vay đối với hộ nghèo có người trong độ tuổi lao động, gắn với tăng cường hỗ trợ việc dạy nghề, tạo việc làm, hướng dẫn kỹ thuật, giúp hộ nghèo biết vận dụng vốn vay đúng mục đích, tăng thu nhập cho gia đình. Đối với những hộ nghèo được vay vốn sản xuất, đã thoát nghèo cần tiếp tục hỗ trợ cho họ vay vốn để duy trì, không để họ thiếu hụt dẫn đến tái nghèo.
– Tăng cường nguồn vốn cho vay đối với hộ nghèo, số vốn cho vay đủ để đảm bảo hỗ trợ cho việc đầu tư sản xuất. Nhà nước cần quan tâm có chính sách hỗ trợ cho người thoát nghèo được tiếp tục vay vốn để người nghèo giữ ổn định trong SXKD.
– Chính sách cho vay tín dụng đối với học sinh, sinh viên: tăng cường triển khai đồng bộ chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm cho con em hộ nghèo sau khi tốt nghiệp và thời gian trả nợ vay phải tính từ sau khi các em hoàn thành xong thời gian thử việc.
Đối với chính sách hỗ trợ về y tế
Người nghèo hiện nay đã được hỗ trợ cấp thẻ BHYT 100% để khám chữa bệnh lúc ốm đau. Tuy nhiên, cơ sở y tế, trang thiết bị khám chữa bệnh không đảm bảo, do đó người nghèo phải đi khám vượt tuyến, tốn kém. Cần tăng cường đầu tư cơ sở y tế và trang thiết bị khám chữa bệnh cho các cơ sở y tế tại địa phương nghèo. Có chính sách ưu đãi đối với đội ngũ y bác sĩ về huyện nghèo công tác.
Đối với chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo được cấp thẻ BHYT: Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc điều trị cho các trạm y tế xã trên địa bàn huyện; tăng cường chính sách thu hút đội ngũ bác sĩ về địa phương làm việc tại các trạm y tế xã để phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân.
Đối với các dự án dạy nghề cho người nghèo
Tăng cường rà soát các ngành nghề phù hợp với điều kiện phát triển ở địa phương, đào tạo có chất lượng, để đảm bảo 100% người nghèo được học nghề, sau khi hoàn thành khóa học, đều biết làm việc và có được việc làm ổn định.
Đối với chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo
Chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo theo Nghị định 49/NĐ-CP của Chính phủ hiện nay cần bổ sung đối tượng sinh viên là con hộ nghèo được hỗ trợ học phí (không phải vay tiền đi học như được áp dụng chính sách tín dụng cho học sinh, sinh viên).
Các bộ, ngành cần có sự phối hợp trong việc triển khai thực hiện chính sách hỗ trợ giáo dục cho người nghèo, tránh tình trạng mỗi bộ, ngành triển khai hướng dẫn thực hiện cùng một chính sách nhưng không đồng bộ về mặt thủ tục hành chính.
Đối với chính sách hỗ trợ về tiền điện sinh hoạt
Tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ tiền điện sinh hoạt, cần tăng số tiền hỗ trợ theo tình hình thực tế. Tiếp tục hỗ trợ tiền nước sinh hoạt theo hướng tập trung quản lý nguồn nước sinh hoạt đảm bảo an toàn sức khỏe cho nhân dân. Cần có chính sách hỗ trợ tiền nước cho hộ nghèo phải chi trả hàng tháng (như việc hỗ trợ tiền điện hiện nay).
Đối với chính sách về trợ giúp pháp lý đối với người nghèo
Cần tăng cường đầu tư kinh phí triển khai các chương trình trợ giúp pháp lý cho người nghèo, chuyên sâu vào từng lĩnh vực, tạo điều kiện để người nghèo được hỗ trợ pháp lý một cách đầy đủ, kịp thời, nâng cao nhận thức về pháp luật cho người nghèo.
3.2.3. Nâng cao năng lực chủ thể thực hiện chính sách
3.2.3.1. Nâng cao năng lực đối với cơ quan nhà nước
Đối với cơ quan Thường trực Chương trình giảm nghèo các cấp cần tăng cường 01- 02 cán bộ chuyên trách trong công tác giảm nghèo để đáp ứng với yêu cầu thực hiện chính sách. Để nâng cao năng lực cho chủ thể là các cơ quan nhà nước trong công tác giảm nghèo cần phải lưu ý 2 vấn đề:
Thứ nhất, đối với cán bộ chuyên trách phải có hình thức đào tạo dài hạn, hiểu đầy đủ về chủ trương, chính sách giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, có năng lực, kỹ năng hiểu biết theo dõi, giám sát, tổng hợp các chính sách, dự án giảm nghèo của địa phương.
Thứ hai, phải thường xuyên tập huấn cho các thành viên tham gia Ban Chỉ đạo giảm nghèo các cấp; tập huấn, đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ làm công tác giảm nghèo, cán bộ trực tiếp thực hiện các chính sách, dự án giảm nghèo cấp tỉnh và huyện.
Để đánh giá toàn diện việc thực hiện chính sách, các Bộ ngành cấp trên cần phải có cơ chế, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá cụ thể, phù hợp có thể định lượng được; thực hiện cải cách hành chính trong công tác giảm nghèo, nâng cao năng lực thực hiện đánh giá báo cáo về công tác giảm nghèo.
3.2.3.2. Đối với người nghèo
Tăng cường tổ chức các buổi tuyên truyền, vận động trực tiếp về chủ trương, đường lối của Đảng đối với mục tiêu giảm nghèo và các chính sách, dự án giảm nghèo; giúp người nghèo có được nhận thức về công tác giảm nghèo, để bản thân họ phải tự ý thức vươn lên thoát nghèo không phải trông chờ, ỷ lại vào chính sách của Nhà nước.
3.2.3.3. Đối với sự tham gia của các tổ chức chính trị – xã hội
Tăng cường mở lớp tập huấn ngắn hạn cho đối tượng này về kỹ năng giám sát, đánh giá chính sách giảm nghèo để tham gia thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững ở địa phương. Xây dựng cơ chế giám sát phù hợp để các tổ chức đoàn thể chính trị – xã thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của cơ quan.
3.2.3.4. Đối với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước
Nhà nước tăng cường mối quan hệ hợp tác, tạo điều kiện để các tổ chức này hoạt động phát triển mạnh hơn, phát huy quan hệ hợp tác quốc tế để có thể đóng góp nguồn lực về tài chính cùng Chính phủ tham gia tích cực trong công tác giảm nghèo.

3.2.4. Tăng cường nguồn lực cho thực hiện chính sách
Tăng cường rà soát, khắc phục những nguồn lực còn đang dàn trãi, tập trung nguồn lực cho hiệu quả đối với từng chính sách, dự án, tránh để lãng phí.
Nên phân cấp nguồn vốn và giao quyết định liên quan đến giảm nghèo cho cấp tỉnh nhằm tạo ra tính linh hoạt, sự chủ động trong việc thực hiện ở từng địa phương.
Để phân cấp trong thiết kế và xây dựng các chính sách giảm nghèo ở cấp địa phương cần thiết phải thực hiện mô hình hỗ trợ tài chính trọn gói, phân cấp về sử dụng nguồn vốn giảm nghèo cho các địa phương..
3.2.5. Một số giải pháp khác
3.2.5.1. Tăng cường đổi mới phương pháp đánh giá chính sách giảm nghèo
Để việc đánh giá chinh sách giảm nghèo đạt chất lượng và hiệu quả cao, cần tăng cường bố trí và đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác đánh giá chính sách cấp huyện và xã về phương pháp đánh giá chính sách công nói chung và chính sách giảm nghèo nói riêng, để đề xuất, tham mưu xây dựng chính sách phù hợp với điều kiện cụ thể ở từng địa phương.
3.2.5.2. Cần tách biệt người nghèo, người bị bệnh hiểm nghèo và đối tượng bảo trợ xã hội
Cần tách biệt nhóm đối tượng bị bệnh hiểm nghèo với người nghèo. Nhà nước phải có chính sách hỗ trợ riêng đối với người bị bệnh hiểm nghèo; không được xếp vào diện người nghèo. Đối với đối tượng bảo trợ xã hội, hiện nay cần xem xét đối với đối tượng bảo trợ xã hội khác là người cao tuổi; Nhà nước cần tăng khoản trợ cấp hàng tháng đối với người cao tuổi thay vì để họ vào diện người nghèo có thu nhập dưới chuẩn nghèo mà chính sách giảm nghèo không thể hỗ trợ cho họ.
3.2.5.3. Chính sách giảm nghèo cần tăng cường giảm thiểu rủi ro thiên tai cho người nghèo
Các chính sách như hỗ trợ về nhà ở cho hộ nghèo, cần xây dựng nhà ở đảm bảo cho việc phòng tránh bão, lũ đối với hộ nghèo đang sinh sống ở những vùng thường xuyên bị thiệt hại thiên tai gây ra.
KẾT LUẬN
Chính sách giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2015 ở nước ta đã từng bước đem lại những thành quả đáng kể. Việt Nam tự hào là một Quốc gia về đích sớm trong việc thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hiệp quốc về giảm nghèo. Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững vẫn còn những hạn chế, cần tập trung khắc phục; tỷ lệ giảm nghèo nhanh nhưng chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao.
Trên cơ sở đánh giá thực hiện chính sách giảm nghèo của huyện An Lão, luân văn đã nêu một số giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững, nhằm góp phần hoàn thiện việc thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững huyện An Lão từ nay đến năm 2020 với mong muốn nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giảm nghèo, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo theo hướng bền vững của địa phương.
Trong thời gian đến, để đảm bảo ổn định xã hội thì đảm bảo ASXH là mục tiêu hàng đầu. Để đạt được mục tiêu này, việc nghiên cứu, rà soát lại các chính sách giảm nghèo trong thời gian qua là thật sự cần thiết. Nhìn một cách tổng quan, các chính sách giảm nghèo ở nước ta hiện nay là rất rộng, dàn trãi ở nhiều lĩnh vực, nhưng phân tán, hiệu quả hạn chế, chưa thực sự khuyến khích cho hộ nghèo vươn lên. Hướng tới mục tiêu giảm nghèo bền vững, các Bộ ngành Trung ương cần rà soát lại các chính sách giảm nghèo hiện nay, nhằm hoàn thiện chính sách giảm nghèo bền vững thật phù hợp với từng vùng, từng địa phương, bên cạnh đó cần thiết kế khung giám sát, đánh giá, xây dựng đội ngũ nhà chính sách, giúp Đảng và Nhà nước ta hoạch định một cách chính xác các chính sách giảm nghèo phù hợp với từng giai đoạn, điều kiện từng địa phương đem lại hiệu quả cao nhất cho mục tiêu giảm nghèo bền vững ở Việt Nam.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 4\CHINH SACH CONG]\CHAU VAN HIEU\New folder


