Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

1. Tính cấp thiết của đề tài

Quảng Ngãi là một tỉnh duyên hải miền Trung trung bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm của miền Trung. Những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nhiều chương trình, dự án đã được đầu tư xây dựng, tạo điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

Song, cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội thì tình hình tội phạm luôn diễn biến phức tạp, nhất là tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu; trong đó, đáng chú ý là tình hình tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xảy ra trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong những năm qua tuy không nhiều như các loại tội phạm khác, nhưng nó đã để lại nhiều hệ lụy cho xã hội. Mặc dù là một trong những tội xâm phạm sở hữu không có tính chất chiếm đoạt (tư lợi); song, hậu quả của nó là làm cho thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, làm cho tài sản đó không còn giá trị hoặc giá trị sử dụng, gây thiệt hại lớn về kinh tế đối với tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh, làm ảnh hưởng tình hình ANTT ở địa phương.

Theo thống kê của TAND tỉnh Quảng Ngãi thì trong 05 năm (từ 2011 – 2015), Toà án nhân dân cấp quận, huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã đưa ra xét xử sơ thẩm hình sự 1.986vụ/3.851 bị cáo. Số vụ án hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản được đưa ra xét xử trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2015 là 75vụ/113 vụ hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản được phát hiện, chiếm khoảng 66,37% và 143 bị cáo/186 người, chiếm khoảng 76,88% số người hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản bị phát hiện. Chúng ta cũng thấy rằng số vụ hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản và số người hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản bị phát hiện nhưng không bị xử lý hình sự chiếm 33,63% số vụ và 23,12% số người hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Theo đó, tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là một trong nhóm 10 tội có tình hình tội phạm phức tạp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

Qua nghiên cứu thực tiễn công tác đấu tranh, xử lý đối với loại tội phạm này của các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi cho thấy vẫn còn có những hạn chế. Trong khi đó, tội phạm hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản lại tăng lên theo hàng năm (năm sau cao hơn năm trước).

Việc tìm kiếm các giải pháp để phòng ngừa có hiệu của đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi là cấp thiết, đòi hỏi phải có sự nghiên cứu cụ thể về thực trạng và nguyên nhân của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đề từ đó đề ra các giải pháp, biện pháp có hiệu quả, phù hợp với thực tế công tác phòng ngừa tình hình tội phạm hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

Do đó, tác giả đã chọn đề tài “Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa” để làm đề tài nghiên cứu nhằm góp phần tìm ra các giải pháp phòng ngừa tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

2. Tình hình nghiên cứu

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích Đề tài là trên cơ sở nghiên cứu tổng quát tình hình tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, nhân thân người phạm tội; phân tích, đánh giá làm sáng tỏ những nguyên nhân, điều kiện tình hình tội phạm này để đề xuất các giải pháp phòng ngừa hiệu quả đối với loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu, luận văn làm rõ một số vấn đề sau đây: Nghiên cứu đánh giá một cách chi tiết về tình hình tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian 5 năm (2011-2015); phân tích đánh giá, tìm ra nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” trên địabàn tỉnh Quảng Ngãi; dự báo tình hình tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản” và đề xuất một số giải pháp phòng ngừa hiệu quả đối với tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản”.

4. Đối tượng và phạm vi phiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn này tập trung nghiên cứu về tình hình tội Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi thông qua các vụ án đã được các Tòa án huyện, Thành phố xét xử sơ thẩm từ năm 2011 – 2015; các đặc điểm nhân thân về người phạm tội, các đặc điểm môi trường tác động tiêu cực đến người phạm tội…

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn này nghiên cứu về tình hình, nguyên nhân của tội Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã được xét xử sơ thẩm từ năm 2011 – 2015.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng các phương pháp sau đây để thu thập, phân tích và xử lý thông tin: Phương pháp nghiên cứu thực tiễn thông qua các tài liệu báo cáo, tổng kết của các cơ quan chức năng..; thống kê hình sự để nghiên cứu tình hình tội phạm xâm phạm sở hữu nói chung, tội Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nói riên trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng; nghiên cứu vụ án điển hình nhằm đánh giá tình hình, tìm ra nguyên nhân, điều kiện nảy sinh tội phạm này; từ đó, đề xuất các giải pháp phòng ngừa. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, chuyên gia… để thực hiện Đề tài.

6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

6.1. Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần bổ sung vào lý luận về phòng chống tội Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho các cơ quan chức năng nắm được tình hình tội phạm hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi để có giải pháp phòng ngừa hiệu quả; đồng thời, góp phần bổ sung vào kinh nghiệm công tác đấu tranh với loại tội phạm này của lực lượng CAND. Luận văn cũng có giá trị tham khảo trong học tập, nghiên cứu về tội phạm học.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 03 chương:

Chương 1. Tình hình tội phạm nói chung và tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Chương 2. Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Chương 3. Các giải pháp phòng ngừa tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Chương 1

TÌNH HÌNH TỘI PHẠM NÓI CHUNG VÀ TỘI

HỦY HOẠI HOẶC CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (2011 – 2015)

    1. 1.1. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam

Điều 8, BLHS nước CHXHCN Việt Nam quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật XHCN”.

Từ đó có thể thấy: “Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý xâm phạm sở hữu của người khác”.

Theo nhận thức chung, “Huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là hành vi làm cho tài sản bị mất giá trị sử dụng hoặc làm giảm đáng kể giá trị sử dụng của tài sản”. Đây là tội phạm gồm hai hành vi độc lập nhưng lại cùng tính chất, nên nhà làm luật quy định chung trong cùng một điều luật. Do đó, tuỳ từng trường hợp cụ thể mà xác định người phạm tội huỷ hoại tài sản (nếu làm cho tài sản mất toàn bộ giá trị) hay chỉ cố ý làm hư hỏng tài sản (nếu làm cho tài sản mất một phần giá trị).

* Các dấu hiệu pháp lý của tội phạm

– Khách thể của tội phạm là sở hữu của người khác. Tài sản bị hủy hoại hoặc bị cố ý làm hư hỏng là tài sản “của người khác”. Khách thể của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng là một điểm khác với một số tội xâm phạm sở hữu khác.

– Các dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm: Mặt khách quan của tội hủy hoại tài sản là hành vi làm cho tài sản mất hẳn giá trị sử dụng, không thể khôi phục lại được hoặc khó có thể khô phục lại được và như vậy toàn bộ giá trị tài sản không còn.

– Các dấu hiệu về chủ thể của tội phạm: Đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, chủ thể của tội phạm là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ độ tuổi chịu TNHS.

– Các dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm: Lỗi của người thực hiện hành vi phạm tội hủy hoại tài sản hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là lỗi cố ý.

1.2. Tình hình tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

      1. 1.2.1. Thực trạng (mức độ) của tình hình tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2011 – 2015

Theo số liệu thống kê của TAND tỉnh Quảng Ngãi, từ năm 2011 đến năm 2015, Toà án nhân dân cấp quận, huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã đưa ra xét xử sơ thẩm hình sự 1.986vụ/3.851 bị cáo. Riêng tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản đã đưa ra xét xử 75vụ/143 bị cáo. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là một trong nhóm 10 tội có tình hình tội phạm phức tạp trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

      1. 1.2.2. Động thái (diễn biến) của tình hình tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Qua nghiên cứu cho thấy số vụ án cũng như bị cáo do Toà án cấp huyện, thành phố đưa ra xét xử từ năm 2011 đến năm 2015 tăng lên theo từng năm, từ 8 vụ, 17 bị cáo năm 2011 lên 22 vụ, 43 bị cáo năm 2015 và theo đó là tăng liên tục theo từng năm, điều này cho thấy nguy cơ gia tăng tội phạm này trong những năm tiếp theo.

      1. 1.2.3. Cơ cấu của tình hình tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2011 đến năm 2015

1.2.3.1. Cơ cấu của THTP hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo mức độ nguy hiểm của THTP chung và THTP xâm phạm sở hữu đã được TAND tỉnh đưa ra xét xử từ năm 2011 đến năm 2015

Qua phân tích ta thấy cơ cấu của THTP tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản được xếp thứ 06 theo thứ tự mức độ nguy hiểm của THTP nói chung và xếp thứ 04 theo thứ tự mức độ nguy hiểm của THTP xâm phạm sở hữu.

1.2.3.2. Cơ cấu của THTP tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản từ năm 2011 đến năm 2015 được tính toán trên cơ sở số dân của các huyện, thành phố trong tỉnh Quảng Ngãi

Qua nghiên cứu thấy rằng, số dân trên bị cáo càng thấp thì tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản ở huyện, thành phố đó càng cao. Theo đó, huyện Bình Sơn có mức độ phạm tội cao nhất, cứ 4266,8 người dân thì có một bị cáo phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Trong khi đó huyện Sơn Hà cứ 17.086,2 người dân mới có một bị cáo phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Chính vì thế mà huyện Bình Sơn có vị trí đầu tiên; các huyện khác như Trà Bồng, Minh Long, Sơn Tây, Tây Trà và Lý Sơn không xảy ra THTP hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nên không có bị cáo nào.

1.2.3.3. Cơ cấu THTP hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản từ năm 2011 đến năm 2015 được tính toán trên cơ sở diện tích của các đơn vị hành chính của tỉnh Quảng Ngãi

Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2011 đến năm 2015 cứ 9.345,96 người dân thì có 01 bị cáo phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Mật độ tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2011 đến năm 2015 là 0,027 bị cáo trên 1km2.

1.2.3.4. Cơ cấu THTP hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản từ năm 2011 đến năm 2015 được tính toán trên cơ sở kết hợp dân cư và diện tích của 14 huyện, thành phố thuộc tỉnh Quảng Ngãi

Xét về cấp độ nguy hiểm của THTP hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản từ năm 2011 đến năm 2015 trong sự so sánh 14 địa bàn huyện, thành phố thuộc tỉnh Quảng Ngãi thì đứng đầu là huyện Bình Sơn, thứ hai là huyện Sơn Tịnh, thứ ba là Tp Quảng Ngãi, thứ tư là huyện Đức Phổ và thứ năm là huyện Nghĩa Hành.

1.2.3.5. Cơ cấu tình hình tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2011 đến năm 2015 được tính theo đơn vị hành chính, lãnh thổ

Nếu so sánh phân tích các vụ án hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xảy ra theo địa bàn chúng ta nhận thấy, tình hình hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xảy ra chủ yếu ở huyện Bình Sơn 23 vụ (30,66%), thành phố Quảng Ngãi 13 vụ (chiếm 17,33%), Sơn Tịnh xảy ra 11 vụ (chiếm 14,66%), Tư Nghĩa xảy ra 09 vụ (chiếm 12%), Đức Phổ xảy ra 08 vụ (chiếm 10,66%), Mộ Đức xảy ra 05 vụ (chiếm 6,66%), Nghĩa Hành xảy ra 03 vụ (chiếm 4%).

1.2.3.6. Cơ cấu tình hình tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2011 đến năm 2015 được tính toán theo tính chất địa bàn (đô thị, đồng bằng, miền núi, hải đảo)

Địa bàn thành thị: Tp Quảng Ngãi xảy ra 13 vụ (chiếm 17,33%); địa bàn đồng bằng: các huyện Bình Sơn xảy ra 23 vụ (30,66%), Sơn Tịnh xảy ra 11 vụ (chiếm 14,66%), Tư Nghĩa xảy ra 09 vụ (chiếm 12%), Đức Phổ xảy ra 08 vụ (chiếm 10,66%), Mộ Đức xảy ra 05 vụ (chiếm 6,66%); địa bàn miền núi, hải đảo: Ba Tơ xảy ra 02 vụ (chiếm 2,66%), Sơn Hà xảy ra 01 vụ (chiếm 1,33%), các huyện Minh Long, Tây Trà, Sơn Tây, Trà Bồng và huyện đảo Lý Sơn không có tình hình tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản.

1.2.3.7. Cơ cấu của tình hình tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2014 đến năm 2015 được xác định theo hình phạt đã áp dụng đối với người phạm tội

Cải tạo không giam giữ là 10 (chiếm 6,99%), cho hưởng án treo là 41 (chiếm 28,67%), bị phạt ở khung hình phạt từ 3 năm trở xuống là 59 bị cáo (chiếm 41,25%); số bị cáo bị áp dụng mức hình phạt từ trên 3 năm đến dưới 7 năm tù là 26 bị cáo (chiếm 18,18%); số bị cáo bị áp dụng mức hình phạt từ 7 năm đến 15 năm là 07 bị cáo (chiếm 4,89).

1.2.4. Tính chất của tình hình tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2011 đến năm 2015

Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản chiếm tỷ lệ khá cao trong nhóm tội xâm phạm sở hữu và đứng đầu trong nhóm tội xâm phạm sở hữu không có tính chất tư lợi tại tỉnh Quảng Ngãi. Số vụ, số người phạm tội biến động trong biên độ hẹp và xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Phương thức, thủ đoạn của tội phạm ngày càng tinh vi, xảo quyệt. Thành phần tham gia phạm tội đa dạng, với nhiều độ tuổi, thành phần khác nhau. Tình hình tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản tại tỉnh Quảng Ngãi, chưa chiếm tỷ lệ cao trong tổng số các vụ phạm pháp hình sự. Tuy nhiên, nó luôn tiềm ẩn những yếu tố nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, văn hóa và phát triển xã hội; chứa đựng nhiều nguy cơ tiềm ẩn phát sinh tội phạm khác làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội của tỉnh.

      1. 1.2.5. Đặc điểm nhân thân người phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

Trong thực tiễn điều tra khám phá tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, việc xác minh làm rõ và nghiên cứu đặc điểm nhân thân của người phạm tội có ý nghĩa rất quan trọng. Từ năm 2011 đến năm 2015, Công an tỉnh Quảng Ngãi đã điều tra khám phá 75 vụ, bắt 143 đối tượng, được phân tích như sau:

1.2.5.1. Theo giới tính

Qua nghiên cứu thực tiễn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2011 đến năm 2015, người phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản phần lớn là nam giới (tỷ lệ trung bình 05 năm là 97,99%); còn lại là nữ giới chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng 2,09%. Tỷ lệ giới tính trong tình hình tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài san đang được nghiên cứu ở đây có sự chênh lệch quá lớn giữa nam và nữ; tỷ lệ nữ là rất thấp, chỉ chiếm 2,09% so với nam 97,99%.

1.2.5.2. Theo độ tuổi

Theo kết quả khảo sát, độ tuổi người phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 18 đến 30 tuổi: 98 người, chiếm tỷ lệ 68,53%, kế tiếp là độ tuổi từ 30 tuổi trở lên: 42 người, chiếm tỷ lệ 29,37%. Bên cạnh đó, độ tuổi từ 14 đến dưới 18 cũng chiếm một tỷ lệ đáng quan tâm: 03 người, chiếm tỷ lệ 2,097 %.

1.2.5.3. Theo trình độ học vấn

Trong số đối tượng được khảo sát thì số có trình độ học vấn cấp tiểu học và phổ thông cơ sở chiếm tỷ lệ cao nhất với 62,23%; thấp nhất là số người có trình độ cao đẳng, đại học chỉ có 3,49%; không biết chữ có 10,49%; cấp phổ thông trung học có 23,77%.

1.2.5.4. Theo thành phần xã hội, nghề nghiệp và hoàn cảnh gia đình

Số người phạm tội có nghề nghiệp ổn định chiếm tỷ lệ cao nhất 59,09%; nghề nghiệp không ổn định chiếm tỷ lệ 20,63% và số người phạm tội không có nghề nghiệp chiếm 20,26%.

Đáng chú ý, số người phạm tội có địa vị xã hội, cán bộ công nhân viên chức, đối tượng nghiện hút… phạm tội này chiếm tỷ lệ không nhỏ (31,77%).

1.2.5.5. Theo điều kiện hoàn cảnh sống và tâm lý cá nhân của tội phạm

Điều kiện hoàn cảnh sống và tâm lý cá nhân đã tác động một phần không nhỏ vào quá trình hình thành các hành vi hủy hoại hoặc làm hư hỏng tài sản của người khác.

1.2.5.6. Theo tiền án, tiền sự

Số người phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản phần lớn là chưa có tiền án, tiền sự, số này là 108 người (chiếm 73,70%), số còn lại là 35 người (chiếm 26,30%) có tiền án, tiền sự về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản hoặc các tội phạm khác.

1.2.5.7. Theo động cơ, mục đích phạm tội

Qua nghiên cứu cho thấy, những người thực hiện hành vi phạm tội thường xuất phát từ những nhóm động cơ phổ biến như sau: Nhóm động cơ mong muốn thỏa mãn nhu cầu trả thù cá nhân. Nhóm động cơ này thường xuất hiện ở hầu hết các đối tượng phạm tội này; nhóm động cơ nhằm giải tỏa bức xúc trước hành động sai trái hoặc có tính khiêu khích của người khác (bị hại); nhóm động cơ nhằm thỏa mãn tính tò mò, thích mạo hiểm (làm để biết), đây là nhóm động cơ mang tính đặc trưng ở lứa tuổi từ 18 đến 30,; nhóm động cơ thứ tư nhằm thỏa mãn nhu cầu đề cao vai trò của bản thân, thể hiện mình trước ai đó hoặc các nhóm tập thể, bạn bè.

Trên đây là những nhóm động cơ đặc trưng của loại tội phạm hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong 05 năm qua. Điều đó liên quan tới công tác giáo dục, quản lý của gia đình, các ngành, các cấp trong xã hội, nhằm tiến tới xóa bỏ những yếu tố tác động hình thành những động cơ sai trái dẫn đến vi phạm pháp luật.

      1. 1.2.6. Phần ẩn của tình hình tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2011 – 2015

Tội phạm ẩn theo quan điểm của đa số các nhà nghiên cứu về tội phạm học cho thấy rằng có thể bao gồm:

1.2.6.1. Tội phạm ẩn khách quan: Số vụ, số người phạm tội tuy đã xảy ra trên thực tế nhưng không bị phát hiện xử lý. Đây là phần ẩn lớn nhất và chủ yếu của tình hình các tội XPSH nói chung và tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nói riêng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

1.2.6.2. Phần ẩn chủ quan: Phần ẩn tiếp theo là những vụ phạm tội, người thực hiện tội phạm đã bị phát hiện nhưng vì lý do khác nhau mà cơ quan Tư pháp lại cho rằng đó không phải là tội phạm hoặc hành vi đó không cấu thành tội phạm.

1.2.6.3. Phần ẩn thống kê: Ngoài hai dạng ẩn nêu trên, tội phạm ẩn còn bao gồm cả các số liệu các vụ phạm tội, con người phạm tội tuy đã bị xử lý hình sự nhưng vì lý do nào đó mà không có trong số liệu thống kê. Khi nghiên cứu tình hình tội phạm phải nghiên cứu cả về tội phạm rõ và tội phạm ẩn.

Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Chương 2

NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI

HỦY HOẠI HOẶC CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

    1. 2.1. Quan niệm về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm

Qua nghiên cứu THTP hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản có thể xác định được các nguyên nhân phát sinh THTP hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản chủ yếu là các nguyên nhân về tâm lý – xã hội ; kinh tế ; văn hóa – giáo dục; pháp luật v.v…

    1. 2.2. Các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
      1. 2.2.1. Nguyên nhân và điều kiện về kinh tế – xã hội

Đối với tỉnh Quảng Ngãi, sở dĩ nguyên nhân và điều kiện về kinh tế – xã hội ảnh hưởng đến tình hình tội phạm nói chung, đến tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nói riêng là do nó ảnh hưởng từ các khía cạnh như: Phân bố dân cư, tỷ lệ lao động, tỷ lệ thất nghiệp, mật độ dân số, cơ cấu dân số…

Qua nghiên cứu, thấy rằng tình hình hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xảy ra chủ yếu ở huyện Bình Sơn 23 vụ (30,66%), thành phố Quảng Ngãi 13 vụ (chiếm 17,33%), Sơn Tịnh xảy ra 11 vụ (chiếm 14,66%), điều này cũng rất dễ hiểu, bởi lẽ: các địa phương trên đều là những địa phương có tốc độ phát triển kinh tế vào loại hàng đầu của tỉnh, là nơi thu hút nhiều chương trình dự án, hình thành rất nhiều khu công nghiệp, khu kinh tế, trường học, bệnh viện, dân cư đông đúc, đủ thành phần và đây cũng là nơi xảy rất nhiều tội phạm, trong đó có tội phạm hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Sự tác động của những tiêu cực phát sinh từ mặt trái nền kinh tế thị trường tới mọi mặt đời sống xã hội trong những năm qua đã làm phát sinh tình trạng phạm tội do xuất phát từ những nguyên nhân này.

Hệ thống các chính sách kinh tế-xã hội của Nhà nước ta vẫn còn có những sơ hở, bất cập, từ đó đã có tác động tiêu cực đến xã hội nói chung và là nguyên nhân xã hội của tội phạm hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Việc phát hiện và giải quyết các mâu thuẫn trong nội bộ quần chúng nhân dân không kịp thời hoặc không triệt để, dẫn đến mâu thuẫn và hành động hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác là một cách để giải quyết mâu thuẫn đó.

Chính những điều kiện tự nhiên kinh tế – xã hội cũng như hệ thống chính sách kinh tế – xã hội đó đã làm phát sinh và phát triển tội phạm nói chung và tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nói riêng. Đồng thời gây ra nhiều khó khăn cho công tác đấu tranh phòng chống tình hình tội này.

      1. 2.2.2. Nguyên nhân và điều kiện về văn hóa, giáo dục

Công tác quản lý các loại hình dịch vụ văn hóa giải trí điện tử… của các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh còn nhiều bất cập dẫ đến sự xâm nhập của các loại văn hóa phẩm độc hại, các loại trò chơi bạo lực. Bên cạnh đó là sự thiếu quan tâm dạy dỗ, giáo dục của cha mẹ do bị cuốn hút vào guồng máy của nền kinh tế thị trường hay để kiếm kế sinh nhai. Những vấn đề trên là một trong những nguyên nhân của tội phạm có sử dụng bạo lực trong tầng lớp thanh, thiếu niên hiện nay. Chất lượng công tác quản lý giáo dục trong các trường học bị giảm sút, chất lượng giáo dục chưa cao. Công tác giáo dục công dân trong hệ thống trường học còn chưa được chú trọng đúng mức; nhà trường chưa chú trọng đến sự phối hợp, liên lạc thường xuyên với gia đình Công tác tuyên truyền giáo dục của các cơ quan chức năng chưa đem lại hiệu quả tích cực.

2.2.3. Nguyên nhân và điều kiện về quản lý xã hội

Công tác quán triệt, triển khai và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ở một số nơi, một số lĩnh vực còn hạn chế, bị buông lỏng, đây chính là nguyên nhân và điều kiện để tội phạm nói chung và tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nói riêng tồn tại và phát triển.

Công tác của các cơ quan bảo vệ pháp luật như Công an, Tòa án, Viện Kiểm sát còn có những thiếu sót, có mặt còn yếu chưa đáp ứng được với tình hình. Sự gia tăng dân số cơ học do quá trình đô thị hóa, sự phát triển của các khu – cụm công nghiệp, các trường đại học, cao đẳng, trường dạy nghề… trên địa bàn tỉnh gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý cư trú. Nhận thức của một số cơ quan, đơn vị và cá nhân về công tác phòng ngừa thanh, thiếu niên phạm tội chưa đầy đủ, chưa sâu sắc. Cấp ủy đảng, chính quyền ở một số nơi chưa thực sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo nên chưa huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong công tác phòng ngừa tội phạm nói chung và tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản nói riêng. Các tổ chức đoàn thể chưa thật sự quan tâm và đầu tư cho các hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh cho thanh, thiếu niên cũng như toàn xã hội; công tác quản lý, giúp đỡ, giáo dục người đã thi hành xong án phạt tù tái hòa nhập cộng đồng và ngăn ngừa họ tái phạm còn nhiều bất cập.

Các hoạt động tuần tra kiểm soát của các cơ quan chức năng và các tổ chức quần chúng chưa thật sự hiệu quả.

      1. 2.2.4. Nguyên nhân và điều kiện về pháp luật

Những quy định của pháp luật hình sự, nhất là vấn đề định lượng giá trị tài sản bị xâm hại cao lên (từ năm trăm nghìn lên hai triệu đồng) đã làm nảy sinh một số vấn đề bất cập. Những chủ trương, chính sách pháp luật có liên quan đến hoạt động phòng ngừa, xử lý đối với loại tội phạm hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản còn bất cập, quá trình áp dụng pháp luật đối với tội này khó khăn, công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm của các cơ quan bảo vệ pháp luật còn một số hạn chế, thiếu sót nhất định. Công tác giáo dục, cải tạo tại các trại tạm giam, trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng hiệu quả thấp, tỷ lệ tái phạm số số này còn cao, thậm chí phạm tội nguy hiểm hơn.

2.2.5. Nguyên nhân và điều kiện thuộc về nạn nhân (bị hại): Thực tiễn nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, một số vụ án hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xảy ra nguyên nhân là do nạn nhân (bị hại) có những hành vi, xử sự không đúng chuẩn mực đạo đức, thuần phong, mỹ tục, trái pháp luật, thậm chí vi phạm pháp luật; từ đó, tạo điều kiện thuận lợi hoặc thúc đẩy hành vi phạm tội được thực hiện.

Tóm lại, từ những hạn chế, khiếm khuyết như đã phân tích ở trên là các yếu tố tiêu cực đã làm phát sinh tình hình tội phạm hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2011 đến 2015.

Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Chương 3

CÁC GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA TỘI HỦY HOẠI

HOẶC CỐ Ý LÀM HƯ HỎNG TÀI SẢN TRÊN ĐỊA BÀN

TỈNH QUẢNG NGÃI TRONG THỜI GIAN TỚI

    1. 3.1. Dự báo tình hình tội phạm hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới
      1. 3.1.1. Cơ sở dự báo

Với vị trí là một vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, có Nhà máy lọc dầu Dung Quất nên tỉnh Quảng Ngãi cũng là một trong những địa phương có dân số đông và thu hút được nhiều nguồn lao động… điều này gây khó khăn cho công tác quản lý nắm người, nắm hộ, quản lý về an ninh trật tự trên địa bàn.

Qua kết quả nghiên cứu tại Chương 1 cho thấy tình hình tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi vẫn còn diễn biến phức tạp, cần phải tiếp tục có biện pháp phòng ngừa trong thời gian tới.

3.1.2. Nội dung dự báo

– Tình hình tội phạm sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, xu hướng ngày càng gia tăng. Nhất là các địa bàn như TP Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ, Nghĩa Hành, Ba Tơ…;

– Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản cũng sẽ tiếp tục chiếm tỷ lệ cao trong nhóm tội xâm phạm sở hữu và đứng đầu trong nhóm tội xâm phạm sở hữu không có tính chất tư lợi.

– Đối tượng hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản ngày càng đa dạng và phức tạp.

– Về phương thức, thủ đoạn hoạt động phạm tội của loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới cơ bản vẫn không có gì thay đổi; song tính chất, mức độ ngày càng phức tạp, táo bạo và liều lĩnh hơn. Đặc biệt, số đối tượng phạm tội trong lúc đã sử dụng chất kích thích như: rượu, bia, ma túy… có xu hướng tăng cao.

– Địa bàn hoạt động đa dạng, tính manh động, liều lĩnh trong việc sử dụng các loại công cụ, phương tiện để phạm tội cũng tăng lên như chất nổ, chất cháy, búa, gậy, đá…

    1. 3.2. Các biện pháp phòng ngừa tình hình tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Từ thực trạng, nguyên nhân của tình hình tội phạm hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 – 2015, cũng như những dự báo xu hướng về tình hình tội phạm hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trong thời gian đến, theo tác giả cần phải tập trung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các biện pháp cơ bản sau:

      1. 3.2.1. Các biện pháp về kinh tế – xã hội

Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc phát triển kinh tế bền vững trên địa bàn tỉnh, trong đó phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị phải gắn liền với giải quyết việc làm và thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn toàn tỉnh.

3.2.2. Các biện pháp về văn hóa – giáo dục

3.2.2.1. Các biện pháp văn hoá

Đối với các hoạt động văn hóa lành mạnh, có ý nghĩa xã hội tích cực, cần phải có sự đầu tư xây dựng, mở rộng các khu vui chơi, giải trí, các trung tâm văn hóa, thể thao… để hướng cho mọi tàng lớp nhân dân, nhất là lớp trẻ vào lối sống lành mạnh, có văn hóa…

Đối với các cơ sở kinh doanh các dịch vụ văn hóa có tính nhạy cảm (thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự), trước khi cấp giấy phép kinh doanh đối với những cơ sở này cần có sự nghiên cứu đánh giá kỹ lưỡng tác động của nó đối với xã hội nói chung và giới trẻ nói riêng, kiên quyết thu hồi giấy phép kinh doanh đối với những cơ sở kinh doanh không lành mạnh, vi phạm các quy định của pháp luật.

3.2.2.2. Các biện pháp giáo dục

Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho các tầng lớp nhân dân, trong đó cần tập trung tuyên truyền pháp luật cho đối tượng thanh, thiếu niên. Gia đình là nơi có tác động nhiều nhất và trực tiếp đến các đối tượng, nhất là vấn đề đạo đức. Giáo dục tại gia đình có tác dụng hình thành nhân cách cho giới trẻ. Nhà trường cần tập trung đẩy mạnh giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, sinh viên. Đổi mới giáo dục đạo đức, nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của nhà trường bằng các biện pháp phù hợp.Tăng cường tuyên truyền giáo dục ý thức cộng đồng và nghĩa vụ công dân về vấn đề phòng ngừa tội phạm, đặc biệt là tội phạm có sử dụng bạo lực như hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản… nhằm động viên quần chúng tích cực tham gia phòng ngừa, phát hiện và tố giác tội phạm này.Trong việc tuyên truyền giáo dục ý thức cộng đồng cần xây dựng tinh thần cảnh giác bảo vệ lẫn nhau, tham gia giáo dục những người có qúa khứ lầm lỗi, tạo công ăn việc làm giúp đỡ họ có điều kiện tiến bộ để tái hòa nhập cộng đồng; tạo điều kiện để mỗi người, mỗi gia đình trong cộng đồng trực tiếp thực hiện các biện pháp phòng ngừa tội phạm sử dụng bạo lực để bảo vệ lấy chính mình và cuộc sống của cộng đồng.

3.2.3. Các biện pháp về quản lý xã hội

Tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi. Các cấp, các ngành cần kịp thời phát hiện và giải quyết triệt để các mẫu thuẫn trong nội bộ nhân dân không để mẫu thuẫn kéo dài âm ỉ và bùng nổ thành xung đột bạo lực. Tăng cường các biện pháp nghiệp vụ trinh sát của lực lượng Cảnh sát nhân dân. Kết hợp chặt chẽ công tác phòng ngừa và chủ động tiến công trấn áp tội phạm; nâng cao hiệu quả họat động điều tra khám phá các vụ án có sử dụng bạo lực nói chung, vụ hủy hoại hoặc cố ý lam hư hỏng tài sản nói riêng, từ đó làm giảm tỷ lệ tội phạm ẩn và kịp thời truy bắt những đối tượng phạm tội này còn đang lẩn trốn ngoài vòng pháp luật. Các cơ quan tiến hành tố tụng cần áp dụng đúng đắn, linh hoạt các quy định của Bộ luật Hình sự về chính sách xử lý đối với tội phạm hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản để một mặt đấu tranh có hiệu quả với THTP; mặt khác tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục các đối tượng phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội, không mặc cảm với sai lầm, tội lỗi do mình gây nên. Viện Kiểm sát nhân dân: Tăng cường công tác định hướng điều tra, tránh bỏ lọt tội phạm. Tòa án nhân dân chú trọng việc nâng cao chất lượng xét xử, áp dụng đúng đắn các quy định của pháp luật. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên, tổ chức đoàn thể phối hợp với Công an cùng cấp có biện pháp cảm hóa, giáo dục, giúp đỡ những người lầm lỗi. Tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình tự quản của nhân dân trong tham gia phòng, chống tội phạm theo vùng, miền, làm chuyển biến địa bàn phức tạp về an ninh trật tự.

3.2.4. Các biện pháp về pháp luật

3.2.4.1. Hoàn thiện Điều 143 Bộ luật hình sự và hướng dẫn áp dụng Điều 143 Bộ luật hình sự

– Nên chăng đổi lại tên tội thành tội huỷ hoại tài sản. Bởi vì: Huỷ hoại hay cố ý làm hư hỏng chỉ thể hiện các mức độ khác nhau của một hành vi cùng bản chất pháp lý. Huỷ hoại có thể một phần hay toàn bộ tài sản. Trong mọi trường hợp chỉ cần xác định thiệt hại tài sản để định tội, định khung hình phạt; với tên gọi này sẽ hạn chế được khó khăn trong trường hợp áp dụng pháp luật đối với phạm tội chưa đạt; một số tội tương tự trong BLHS cũng không phân biệt huỷ hoại hay làm hư hỏng. Ví dụ tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 231 BLHS).

– Cần hướng dẫn cụ thể việc định giá tài sản, nhất là khi tài sản đã bị huỷ hoại.

3.2.4.2. Nâng cao chất lượng, hiệu quả khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

– Tăng cường tiếp nhận và nâng cao hiệu quả công tác xử lý tố giác, tin báo về tội phạm của các cơ quan bảo vệ pháp luật; tập trung điều tra, xử lý nghiêm các vụ án hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản với tinh thần kiên quyết không bỏ lọt tội phạm; quyết định hình phạt phù hợp đối với người phạm tội. Chú ý tăng cường áp dụng hình phạt tiền bổ sung; tăng cường quan hệ phối hợp cũng như chế ước giữa các cơ quan bảo vệ pháp luật trong phát hiện, xử lý tội phạm; cần thống nhất quan điểm trong xử lý tội phạm hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản giữa các cơ quan tiến hành tố tụng; tăng cường sự giám sát của hội đồng nhân dân các cấp, sự giám sát của các tổ chức và công dân trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án về tội phạm này…

      1. 3.2.5. Các biện pháp tái hòa nhập cộng đồng đối với người phạm tội

Thực hiện công tác hướng tiện cho phạm nhân gắn với nâng cao hiệu quả công tác tái hòa nhập cộng đồng cho người chấp hành xong án phạt tù, giúp họ trở thành người lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội… Tăng cường công tác quản lý, giáo dục, giúp đỡ người chấp hành xong án phạt tù thông qua việc tiếp nhận, phân công trách nhiệm quản lý, giáo dục, hỗ trợ các thủ tục pháp lý, hướng dẫn đăng ký hộ khẩu, cấp giấy chứng minh nhân dân, xóa án tích; đồng thời thực hiện có hiệu quả công tác quản lý, giám sát, kịp thời phát hiện, xử lý khi có hành vi vi phạm pháp luật.

KẾT LUẬN

1. Tình hình tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản tại tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2011 đến năm 2015 xảy ra khá phổ biến và diễn biến phức tạp. Số vụ, số người phạm tội tuy biến động không lớn nhưng có xu hướng gia tăng và chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng số tội phạm về xâm phạm sở hữu và đứng đầu trong nhóm tội XPSH không có tính tư lợi tại tỉnh Quảng Ngãi.

Cơ cấu tình hình tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi cũng khá phức tạp về địa bàn, hệ số, tính chất, mức độ nguy hiểm, động cơ, mục đích… thể hiện tình hình chung cũng như những yếu tố đặc thù của tỉnh Quảng Ngãi về kinh tế-xã hội, địa lý, dân cư, văn hoá.

Cùng với phần hiện, mặc dù không lớn, nhưng phần ẩn của tình hình tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh quảng Ngãi cũng được phân tích làm rõ, bao gồm cả ẩn khách quan, ẩn chủ quan và ẩn thống kê.

2. Nghiên cứu nhân thân người phạm tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản ở Quảng Ngãi cho thấy có những đặc điểm như tội phạm do nam giới thực hiện; lứa tuổi phạm tội chủ yếu từ 18 đến 30; trình độ văn hoá phần lớn là tiểu học và trung học cơ sở; đa số có nghề nghiệp và kinh tế ổn định… Các yếu tố về nhân thân người phạm tội nêu trên là cơ sở quan trọng để xem xét, cân nhắc các biện pháp phòng ngừa đối với tội phạm này.

3. Tình hình tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi xảy ra do nhiều nguyên nhân, điều kiện khác nhau. Có thể nghiên cứu các nguyên nhân, điều kiện đó theo các nhóm về kinh tế-xã hội, về văn hoá, giáo dục, về quản lý nhà nước, về pháp luật và về xử lý tội phạm xảy ra. Các nguyên nhân, điều kiện đó liên quan chặt chẽ với nhau góp phần làm phát sinh hoặc tạo ra hoàn cảnh để tội phạm xảy ra. Phân tích toàn diện, đầy đủ các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định các biện pháp phòng ngừa.

4. Trên cơ sở nghiên cứu tình hình tội phạm (bao gồm cả nhân thân người phạm tội), nguyên nhân, điều kiện của tình hình phạm tội và dự báo tình hình tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản, tác giả đưa ra năm nhóm biện pháp phòng ngừa tội phạm này trên địa bàn Quảng Ngãi thời gian tới. Các biện pháp đó bao gồm các biện pháp kinh tế-xã hội; các biện pháp văn hoá, giáo dục; các biện pháp quản lý nhà nước; các biện pháp pháp luật và các biện pháp giáo dục, tái hoà nhập cộng đồng người bị kết án…

Quá trình nghiên cứu tác giả nhận thấy rằng dù bản thân đã có nhiều nỗ lực, cố gắng trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, nhưng kết quả nghiên cứu này chỉ mới ở bước đầu, cho nên không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, khuyết điểm. Vì vậy, để luận văn được hoàn thiện hơn, tác giả kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến từ các nhà khoa học, cán bộ trực tiếp làm công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thực tiễn, các bạn đồng nghiệp./.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\TOI PHAM HOC\TRAN HONG THAI

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *