Địa vị pháp lý của Điều tra viên theo pháp luật TTHS Việt Nam

Địa vị pháp lý của Điều tra viên theo pháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

Địa vị pháp lý của Điều tra viên theo pháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

1. Tính cấp thiết của đề tài

Qua gần ba mươi năm đổi mới, đất nước ta liên tục phát triển và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tình hình chính trị ổn định, nền kinh tế phát triển năng động, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên bên cạnh đó, những mặt trái của xã hội trong đó có tình hình tội phạm ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp với tính chất, quy mô ngày càng tinh vi, xảo quyệt, diễn biến phức tạp, nhiều loại tội phạm mới xuất hiện cùng với quá trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế. Đây chính là những yếu tố tiềm ẩn nguy cơ đe dọa và trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước. Đây cũng là một phần mục tiêu của chiến lược cải cách tư pháp đã được Đảng và Nhà nước quán triệt tại Nghị Quyết số 49 – NQ/TW ngày02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” [11].

Trong hoạt động TTHS ở nước ta, Điều tra viên là lực lượng trực tiếp tiến hành các hoạt động đầu tiên – giai đoạn khởi tố điều tra vụ án, giai đoạn này có vị trí hết sức quan trọng trong việc giải quyết một vụ án theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật và chính Điều tra viên là lực lượng chịu trách nhiệm chính trong việc ra những quyết định, thực hiện hành vi TTHS đầu tiên có tính căn cứ, đúng pháp luật, làm cơ sở nền tảng cho các giai đoạn TTHS tiếp theo.

Xác định việc nghiên cứu thực trạng, hoàn thiện các quy định về chức năng nhiệm vụ của Điều tra viên trong TTHS Việt Nam để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Điều tra viên là nội dung cần thiết. Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài “Địa vị pháp lý của Điều tra viên theo pháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Luật hình sự và TTHS nhằm đi sâu vào tìm hiểu về địa vị pháp lý của Điều tra viên trong Cơ quan điều tra nói riêng, hệ thống tư pháp nói chung, những quy định của pháp luật TTHS hiện hành điều chỉnh về địa vị pháp lý. Mặt khác, quá trình nghiên cứu đề tài cho chúng ta cái nhìn khách quan, toàn diện về thực trạng thực hiện các quy định của Điều tra viên từ thực tiễn ở một tỉnh như Quảng Ngãi, trên cơ sở đó tác giả mạnh dạn đề xuất một số giải pháp chung nhất nhằm nâng cao chất lượng thực hiện quy định của pháp luật TTHS về địa vị pháp lý của Điều tra viên trong giai đoạn hiện nay.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1. Mục đích của luận văn: Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện địa vị pháp lý của Điều tra viên trong TTHS ở tỉnh Quảng Ngãi, luận văn đưa ra những giải pháp đảm bảo thực hiện địa vị pháp lý của Điều tra viên trong TTHS.

3.2. Nhiệm vụ của luận văn: Trên cơ sở mục đích đặt ra, luận văn giải quyết những nhiệm vụ cơ bản sau:

Làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm địa vị pháp lý của Điều tra viên theo pháp luật TTHS.

Phân tích những quy định của pháp luật TTHS về nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Điều tra viên.

Phân tích, đánh giá đúng thực trạng, tình hình nguyên nhân của thực trạng thực hiện quy định của pháp luật TTHS về địa vị pháp lý của Điều tra viên từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Ngãi.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1. Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của Điều tra viên trong TTHS; hoạt động của Điều tra viên từ thực tế tại tỉnh Quảng Ngãi.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Tìm hiểu các quy định của TTHS Việt Nam về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên; quy định của pháp luật về một số hoạt động điều tra tố tụng đặc trưng của Điều tra viên.

Về thời gian: Tính từ ngày 01/01/2010 đến 31/12/2015.

Về địa bàn: Luận văn chọn địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Luận văn được trình bày dựa trên cơ sở nghiên cứu quan điểm, phương pháp luận của Chủ nghĩa Mac – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về đấu tranh phòng chống tội phạm, về điều tra xử lý tội phạm, hoạt động điều tra của Điều tra viên trong TTHS.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Lôgíc, thống kê, phân tích, tổng hợp, kết hợp với phương pháp so sánh, trao đổi, tham khảo ý kiến chuyên gia … để làm rõ các vấn đề đặt ra của đề tài.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về Điều ra viên với tư cách là chủ thể của hoạt động tố tụng hình sự, đặc biệt là mối quan hệ tố tụng giữa Điều tra viên với các chủ thể khác trong hoạt động tố tụng và các hoạt động điều tra của Điều tra viên.

Mạnh dạn đề xuất các giải pháp có tính khả thi và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Điều tra viên trong thời gian tới tại tỉnh Quảng Ngãi.

6.1. Ý nghĩa lý luận

Qua kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Điều tra viên. Thông qua kết quả nghiên cứu và các kiến nghị, nội dung luận văn góp phần vào việc phát triển lý luận về địa vị pháp lý của Điều tra viên và hoàn thiện những quy định của pháp luật TTHS hiện hành nhằm giúp Điều tra viên thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được quy định.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cán bộ đang công tác tại Cơ quan điều tra cấp huyện, cấp tỉnh đặc biệt là trong phạm vi một tỉnh như Quảng Ngãi.

7. Cơ cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu gồm 03 ch­ương:

Chương 1: Nhận thức chung về địa vị pháp lý của Điều tra viên trong TTHS hiện hành.

Chương 2: Quy định của pháp luật TTHS Việt Nam về địa vị pháp lý của Điều tra viên.

Chương 3: Thực trạng và giải pháp đảm bảo thực hiện quy định của pháp luật TTHS về địa vị pháp lý của Điều tra viên từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.

  1. Chương 1
  2. NHẬN THỨC CHUNG VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐIỀU TRA VIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN HÀNH
    1. 1.1. Khái niệm và đặc điểm địa vị pháp lý của Điều tra viên

1.1.1. Khái niệm địa vị pháp lý của Điều tra viên

Địa vị pháp lý của Điều tra viên trong TTHS là vị trí của người người tiến hành tố tụng thuộc Cơ quan điều tra có nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm theo quy định của pháp luật trong việc điều tra vụ án hình sự.

1.1.2. Đặc điểm địa vị pháp lý của Điều tra viên

Có thể xác định địa vị pháp lý của Điều tra viên tương tự các chức danh tư pháp thuộc các cơ quan tố tụng khác như: KSV, thẩm phán…. Điều tra viên là một trong số những người tiến hành tố tụng, được tiến hành áp dụng một số biện pháp điều tra khi được Thủ trưởng và Phó thủ trưởng cơ quan điều tra phân công điều tra vụ án hình sự và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi và quyết định của mình.

    1. 1.2. Vị trí, vai trò của Điều tra viên trong TTHS

Trong quá trình tố tụng, Cơ quan điều tra có nhiệm vụ áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật TTHS quy định để xác định tội phạm và người phạm tội, lập hồ sơ đề nghị truy tố, tìm ra nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan và tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục, phòng ngừa. Điều tra viên được phân công điều tra vụ án có trách nhiệm thực hiện các biện pháp điều tra, thu thập tài liệu chứng cứ, chứng minh tội phạm cũng như tình tiết khác của vụ án.

    1. 1.3. Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên

Theo quy định của Bộ luật TTHS, Pháp lệnh TCĐTHS và các văn bản liên quan, để chứng minh làm rõ những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự, Cơ quan điều tra và Điều tra viên được tiến hành các biện pháp điều tra, thực hiện các hoạt động điều tra như: Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám xét (người, chỗ ở, địa điểm), thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện, lấy lời khai người làm chứng, lấy lời khai người bị hại, hỏi cung bị can, đối chất, nhận dạng, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra, trưng cầu giám định, kê biên tài sản.

    1. 1.4. Quan hệ của Điều tra viên trong TTHS

1.4.1. Quan hệ giữa Điều tra viên với Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra

Mối quan hệ giữa Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên dựa trên nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định của pháp luật TTHS vừa là mối quan hệ mang tính chỉ huy, mệnh lệnh, phục tùng vừa mang tính độc lập theo tố tụng.

1.4.2. Quan hệ giữa Điều tra viên với người tiến hành tố tụng khác

1.4.2.1. Quan hệ giữa Điều tra viên với KSV

1.4.2.2. Quan hệ giữa Điều tra viên với Thẩm phán

1.4.3. Quan hệ giữa Điều tra viên với người tham gia tố tụng

1.4.3.1. Quan hệ giữa Điều tra viên với Giám định viên tư pháp

Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra, Điều tra viên với Cơ quan giám định tư pháp, Giám định viên tư pháp xuất hiện khi Cơ quan điều tra có quyết định trưng cầu giám định. Mối quan hệ này dựa trên cơ sở pháp luật TTHS quy định.

1.4.3.2. Quan hệ giữa Điều tra viên với người bào chữa

Quan hệ giữa Cơ quan điều tra, Điều tra viên với người bào chữa trong TTHS là quan hệ tố tụng trên cơ sở chức năng tố tụng được quy định nhằm đảm bảo cho quá trình thu thập chứng cứ được khách quan, toàn diện, đầy đủ được quy định trong pháp luật hình sự.

1.4.3.3. Quan hệ giữa Điều tra viên với người tham gia tố tụng khác

Quan hệ giữa Điều tra viên với bị can, bị cáo và nhân thân của bị can, bị cáo là quan hệ giữa một bên và người tiến hành tố tụng có quyền, nghĩa vụ tìm ra sự thật vụ án, tìm ra chứng cứ chứng minh tội phạm và một bên là người tham gia tố tụng, người có dấu hiệu phạm tội, là đối tượng bị điều tra và nhân thân của họ.

  1. Kết luận chương 1
Địa vị pháp lý của Điều tra viên theo pháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
Địa vị pháp lý của Điều tra viên theo pháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
  1. Chương 2
  2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
  3. VIỆT NAM VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐIỀU TRA VIÊN

    1. 2.1. Quy định của pháp luật TTHS trước năm 2003

2.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988

2.1.2. Giai đoạn từ năm 1988 đến trước năm 2003

    1. 2.2. Quy định của pháp luật TTHS hiện hành về địa vị pháp lý của Điều tra viên

2.2.1. Nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên

Theo Điều 35 Bộ luật tố tụng hình sựnăm 2003, Điều tra viên có những quyền hạn sau:

Thứ nhất, Lập hồ sơ vụ án hình sự

Thứ hai, Triệu tập và hỏi cung bị can; triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

Thứ ba, quyết định áp giải bị can, quyết định dẫn giải người làm chứng;

Thứ tư, thi hành lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản;

Thứ năm, tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra.

2.2.2. Trách nhiệm của Điều tra viên

Theo quy định tại khoản 2 Điều 35 Bộ luật TTHS thì Điều tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Thủ trưởng cơ quan điều tra về hành vi và quyết định của mình.

Trong quá trình điều tra vụ án Điều tra viên có quyền đề nghị với Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền của họ.

2.3. Đánh giá các quy định của pháp luật TTHS về địa vị pháp lý của Điều tra viên

2.3.1. Ưu điểm

Pháp luật TTHS đã quy định tương đối hợp lý, đảm bảo tính chuyên sâu trong hoạt động điều tra cho Cơ quan điều tra và Điều tra viên.

Pháp luật TTHS hiện hành đã bổ sung những quy định làm cơ sở pháp lý cho việc tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa điều tra tố tụng và điều tra trinh sát, giữa điều tra bí mật và công khai tạo điều kiện cho Điều tra viên có trình độ điều tra toàn diện, phối hợp có hiệu quả trong điều tra tội phạm.

Pháp luật TTHS hiện hành đã tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ Điều tra viên, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay

Nghị quyết số 08-NQ/TW đã đặt ra yêu cầu: “Đổi mới công tác đào tạo cán bộ có chức danh tư pháp theo hướng: cán bộ có chức danh tư pháp phải có trình độ Đại học Luật và được đào tạo về kỹ năng nghề nghiệp tư pháp theo chức danh”.

Đối tượng, tiêu chuẩn bổ nhiệm Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra: Phải là Điều tra viên cao cấp hoặc trung cấp, có năng lực tổ chức, chỉ đạo hoạt động điều tra. “Những thay đổi này tuy không lớn, nhưng có ý nghĩa quan trọng và cần thiết nhằm xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ Điều tra viên, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động điều tra, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm hiện nay.” [2, Tr.109]

2.3.2. Hạn chế, bất cập

Qua thực tiễn thực hiện Bộ luật TTHS năm 2003 và Pháp lệnh TCĐTHS năm 2004, bên cạnh những ưu điểm như nêu trên thì pháp luật về hoạt động điều tra, Điều tra viên cũng còn nhiều bất cập, vướng mắc, chậm được khắc phục, đổi mới. Những bất cập đó thể hiện ở các điểm chính sau đây:

Mô hình cơ quan điều tra còn cồng kềnh, dàn trải về tổ chức bộ máy; phân tán và chồng chéo trong hoạt động

Điều tra viên bị phụ thuộc nhiều về mặt quản lý hành chính nên chưa độc lập về hoạt động

Quy định của pháp luật về quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên còn hạn chế

Kết luận chương 2

Chương 3

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA ĐIỀU TRA VIÊN TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

Địa vị pháp lý của Điều tra viên theo pháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
Địa vị pháp lý của Điều tra viên theo pháp luật TTHS Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện địa vị pháp lý của Điều tra viên tại tỉnh Quảng Ngãi

3.1.1. Khái quát về sự hình thành và phát triển của lực lượng Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi

Ra đời ngày 05/6/1961 trong những năm kháng chiến chống Mỹ, Tiểu ban Chấp pháp (gọi tắc là B5) là một trong 8 tiểu ban hoạt động dưới sự chỉ đạo của Ban an ninh Quảng Ngãi với nhiệm vụ thực hiện công tác điều tra xét hỏi, khai thác can phạm và quản lý trại giam, đồng thời phối hợp với các B khác thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của lực lượng an ninh bảo vệ vùng căn cứ, bảo vệ các chiến dịch, xây dựng cơ sở bí mật tổ chức diệt ác, phá kìm, xây dựng an ninh huyện, thị và giáo dục cải tạo các đối tượng chính trị, phản động.

Đến ngày 24/03/1975 tỉnh Quảng Ngãi được giải phóng, lãnh đạo Ban an ninh đã chỉ đạo lực lượng B5 tiếp quản trại giam Quảng Ngãi và cùng với các tiểu ban khác tấn công bắt giữ địch, tiếp nhận đối tượng do an ninh huyện bắt giữ, nhanh chóng triển khai công tác đảm bảo ANTT vùng mới giải phóng; đồng thời tập trung lực lượng đấu tranh, khai thác phân loại từng tên, lập hồ sơ quản lý can phạm nhân, bố trí giam giữ không để chúng thông cung, trốn trại góp phần đảm bảo ANTT và đời sống nhân dân vừa mới được giải phóng. Thực hiện chủ trương chung của Đảng và Nhà nước, ngày 10/11/1975 hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi sáp nhập thành tỉnh Nghĩa Bình. B5 đổi thành Phòng Chấp pháp Ty Công an tỉnh Nghĩa Bình tiếp tục thực hiện nhiệm vụ phối hợp với các lực lượng khác đấu tranh trấn áp, điều tra xử lý các loại tội phạm phản cách mạng, tội phạm hình sự.

3.1.2. Số lượng Điều tra viên của tỉnh Quảng Ngãi

Hiện nay tổng quân số trong lực lượng CAND của tỉnh Quảng Ngãi là 2.561 đồng chí (đ/c), trong đó: Cấp tỉnh: 1.216 đ/c, cấp huyện: 1.191 đ/c và cấp phường: 154 đ/c.

Về Điều tra viên tính đến ngày 31/12/2015 có tổng số 450 đ/c (Thủ trưởng: 16 đ/c, Phó thủ trưởng: 21 đ/c). Trong đó, Điều tra viên: 151 đ/c (Cao cấp: 21 đ/c; Trung cấp: 70 đ/c; Sơ cấp: 60 đ/c); Trinh sát viên: 84 đ/c; Cán bộ điều tra: 215 đ/c.

3.1.3. Kết quả công tác điều tra xử lý án (Từ ngày 01/01/2010 đến 31/12/2014):

– Tổng số án thụ lý điều tra: (2.832 vụ – 5.054 bị can)

– Kết luận điều tra, chuyển VKS đề nghị truy tố: 2.496 vụ – 4.552 bị can (88% số vụ và 90% số bị can). Trong đó:

– Đình chỉ điều tra 75 vụ – 105 bị can (2,6% số vụ và 2,1% số bị can).

– Tạm đình chỉ điều tra: 95 vụ – 156 bị can (3,3% số vụ và 3% bị can).

– Đang điều tra: 166 vụ – 239 bị can (5,8% số vụ và 4,7% số bị can).

* Tiến độ, chất lượng điều tra, xử lý:

– Gia hạn điều tra lần 1: 337 vụ (11% tổng án thụ lý); Gia hạn điều tra lần 2: 86 vụ (2,8% tổng án thụ lý).

– Trả hồ sơ điều tra bổ sung: 145 vụ – 476 bị can (5,3% số vụ, 9% số bị can đề nghị truy tố). Trong đó, thiếu chứng cứ quan trọng: 85 vụ – 211 bị can.

– Trả hồ sơ để điều tra lại: 17 vụ – 24 bị can.

* Đối với công tác bắt

Tổng số đối tượng bị bắt giữ: 3.748 đối tượng. Trong đó:

– Bắt quả tang 1.247 đối tượng, kết quả xử lý:

– Kết luận điều tra, chuyển VKS đề nghị truy tố: 911 bị can (88% đối tượng khởi tố);

– Đình chỉ điều tra: 47 bị can (4,5% số đối tượng khởi tố) với lý do:

– Tạm đình chỉ điều tra: 31 bị can (3% số đối tượng khởi tố);

– Đang điều tra: 46 bị can.

– Bắt khẩn cấp 1.196 đối tượng. Kết quả xử lý:

– Xử lý hành chính: 24 đối tượng (2% số đối tượng bắt khẩn cấp);

– Khởi tố: 1.172 đối tượng (Khởi tố, tạm giam: 1.043 đối tượng (89%); Khởi tố, tại ngoại: 129 đối tượng (11%)). Trong đó:

– Bắt để tạm giam 943 bị can. Kết quả xử lý:

– Kết luận điều tra, chuyển VKS nhân dân đề nghị truy tố: 877 bị can (93% số bị can bắt để tạm giam);

– Đình chỉ điều tra: 18 bị can (2% số bị can để tạm giam). Lý do:

– Tạm đình chỉ điều tra: 11 bị can (1,2% số bị can bắt để tạm giam);

– Đang điều tra: 37 bị can.

– Bắt truy nã 362 đối tượng. Kết quả xử lý:

– Chuyển tỉnh khác điều tra, xử lý theo thẩm quyền: 13 đối tượng;

– Kết luận điều tra, xử lý theo thẩm quyền: 13 đối tượng;

– Đình chỉ điều tra: 10 bị can. Lý do:

– Đang điều tra: 09 bị can.

3.2. Thực trạng thực hiện địa vị pháp lý của Điều tra viên tại tỉnh Quảng Ngãi

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ Điều tra viên thuộc Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ngãi phần lớn được đào tạo chính quy từ Trường Đại học Cảnh sát nhân dân và Đại học Luật. Đặc biệt, trước khi được bổ nhiệm chức danh Điều tra viên thì đã qua thời gian công tác thực tiễn và đã được bồi dưỡng kiến thức về nghiệp vụ điều tra, thông qua tuyển chọn của Hội đồng bổ nhiệm chức danh Điều tra viên nên tất cả Điều tra viên của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Quảng Ngãi luôn nghiên cứu và thực hiện tốt đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các Điều tra viên xác định đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước là chỗ dựa vững chắc, là vũ khí sắc bén, là Kim chỉ Nam để thực hiện tốt nhiệm vụ điều tra, xử lý tội phạm, không để xảy ra oan sai hoặc sót lọt tội phạm.

3.2.1. Những kết quả đạt được

– Đối với công tác bắt, tạm giam, điều tra, xử lý tội phạmthì lực lượng Điều tra viên toàn tỉnh đã thực hiện nghiêm túc các quy định pháp luật hiện hành, thực hiện đúng các Đề án; Chỉ thị của Bộ Công an về chấn chỉnh tình trạng oan, sai trong công tác bắt, tạm giữ, tạm giam, điều tra, xử lý tội phạm; không có tình trạng bắt oan, sai, bức cung, nhục hình, làm oan người vô tội trong các vụ án hình sự. Công tác điều tra giải quyết các vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, lực lượng Điều tra viên đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, hoàn thành tốt công tác được giao.

– Cơ quan điều tra Công an các cấp đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình trong quan hệ phối hợp giữa Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên theo Điều 34, Điều 35 Bộ luật TTHS.

– Cơ quan điều tra các cấp đã tăng cường phối hợp chặt chẽ với VKSND, TAND cùng cấp, bảo đảm việc điều ra, truy tố, xét xử khách quan, toàn diện, đúng pháp luật. Định kỳ hoặc đột xuất tổ chức họp liên ngành (CA – VKS -TA) để đánh giá chứng cứ, thống nhất quan điểm xử lý, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong điều tra, truy tố, xét xử, nên đã hạn chế căn bản án tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra, điều tra bổ sung, hủy án điều tra lại, không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm. Phối hợp chặt chẽ với VKSND và Tòa án nhân dân cùng cấp trong công tác điều tra, truy tố, xét xử. Trong quá trình điều tra.

– Các trường hợp đình chỉ điều tra của các Cơ quan điều tra đều đúng pháp luật, có căn cứ pháp lý, không có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Các trường hợp do Cơ quan điều tra quyết định đình chỉ điều tra, không có trường hợp nào phải bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

– Trại tạm giam tổ chức tốt công tác giáo dục và phát động phong trào can phạm nhân tố giác tội phạm. Kịp thời cung cấp nhiều thông tin về diễn biến tư tưởng, vi phạm nội quy … cho Điều tra viên, cán bộ điều tra thụ lý vụ án.

– Trong thực tiễn hoạt động điều tra của lực lượng điều tra Công an tỉnh thì định kỳ Công an tỉnh đều tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, khắc phục những sơ hở, thiếu sót và những tồn tại trong hoạt động tư pháp, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm nói chung và công tác bắt, giam giữ, điều tra, xử lý tội nói riêng; không để xảy ra tình trạng oan, sai, khiếu kiện trong hoạt động điều tra, việc đánh giá chứng cứ luôn được thực hện một cách khách quan, khoa học và toàn diện. Đã tổ chức tốt công tác trực ban hình sự; tiếp nhận và phân loại giải quyết các vụ việc phạm tội xảy ra ở cơ sở, phân loại các vụ việc hành chính, kinh tế, dân sự với phạm tội hình sự, phân loại tạm giữ hành chính, tránh tình trạng nhầm lẫn; phân công xử lý đúng chức năng, thẩm quyền.

3.2.2. Những điểm hạn chế trong việc thực hiện quy định của pháp luật TTHS về địa vị pháp lý của Điều tra viên

3.2.2.1. Tồn tại, hạn chế chung

Tỷ lệ xử lý hành chính đối với đối tượng bị bắt khẩn cấp, quả tang còn ở mức cao (212/1.247 đối tượng bắt quả tang); các vụ án trả hồ sơ điều tra bổ sung, có đến 85/145 vụ = 58,6% vi phạm khoản 1, Điều 168, BLTTHS; tình trạng Tòa án các cấp hủy án để điều tra lại xảy ra nhiều (17/2496 vụ án đề nghị truy tố = 0,6%). Qua đó thấy rằng, năng lực điều tra của Điều tra viên vẫn còn hạn chế, trong nhiều vụ án, chưa nghiên cứu, đánh giá chứng cứ một cách toàn diện và xây dựng kế hoạch điều tra chưa chặt chẽ.

Định kỳ hoặc đột xuất giữa các ngành tư pháp đều tổ chức họp liên ngành nhưng vẫn còn nhiều vụ án chưa thống nhất về quan điểm, đường lối xử lý, đánh giá chứng cứ nên dẫn đến hồ sơ án bị trả để điều tra bổ sung nhiều lần hoặc điều tra lại; gây khó khăn, vướng mắc, vụ án chậm được giải quyết.

3.2.2.2. Những tồn tại trong quan hệ phối hợp

(1) Quan hệ giữa Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng và Điều tra viên

Quan hệ giữa Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên đôi lúc chưa thật sự nhịp nhàng, chặt chẽ.

(2) Quan hệ giữa Cơ quan điều tra, VKS với Tòa án cùng cấp

+ Việc VKSND tỉnh thẩm định hồ sơ, đánh giá chứng cứ để thống nhất quan điểm xử lý còn kéo dài dẫn đến việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm không đúng thời hạn luật định. [14, Tr.7]

+ Một số trường hợp cụ thể, chưa có quan điểm chung, thống nhất trong công tác bảo vệ nhân chứng phục vụ công tác điều tra.

+ Việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung các vụ án đánh bạc, yêu cầu bổ sung tài liệu còn chung chung, chưa cụ thể như đưa ra yêu cầu: Có căn cứ xác định bị can có phạm tội khác hay không … [14, Tr.11]

(3) Quan hệ giữa Cơ quan điều tra, Trại tạm giam với Nhà tạm giữ

+ Việc phối hợp trong quản lý người bị tạm giữ, tạm giam khi khám, điều trị tại cơ sở y tế ở ngoài khu vực giam, giữ của Trại tạm giam hoặc thực hiện quyết định trưng cầu giám định tư pháp có lúc chưa được kịp thời.

+ Việc thông tin của Cơ quan điều tra về diễn biến tâm lý của đối tượng giam giữ trong Trại tạm giam tuy có chủ động nhưng có lúc thiếu kịp thời, đặc biệt là diễn biến tư tưởng của người bị tạm giữ, tạm giam sau khi kết thúc cuộc hỏi cung bị can và bàn giao lại cho Trại tạm giam.

+ Không mở đầy đủ các loại sổ sách theo dõi trong công tác quản lý tạm giữ, tạm giam. Giam chung người chưa thành niên với người đã thành niên.

(4) Quan hệ giữa Cơ quan điều tra với kỹ thuật hình sự, kỹ thuật nghiệp vụ

+ Công tác lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động khám nghiệm hiện trường và điều tra tại hiện trường các vụ trộm cắp tài sản vẫn chưa được sự quan tâm đúng mức; việc phân công, bố trí lực lượng khám nghiệm hiện trường mỏng so với yêu cầu.

+ Việc trao đổi cung cấp thông tin giữa Cơ quan điều tra và lực lượng KTHS về sử dụng kết quả công tác khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi và giám định phục vụ cho công tác điều tra tiếp theo chưa được thường xuyên.

+ Việc thu mẫu máu của nạn nhân và của các đối tượng có liên quan nghi có sử dụng bia, rượu trong các vụ án tai nạn giao thông đường bộ theo Công văn số 1225/CAT-PV11(PC54) ngày 10/4/2013 của Giám đốc Công an tỉnh hướng dẫn về thu mẫu giám định nồng độ cồn trong máu chưa được các đơn vị địa phương thực hiện nghiêm túc và đạt hiệu quả.

(5) Quan hệ giữa Cơ quan điều tra với Lực lượng cảnh sát truy nã, truy tìm

+ Hiện nay nhiều hồ sơ tố tụng của đối tượng truy nã bị thất lạc, văn bản hướng dẫn thanh loại đối tượng truy nã chưa được sửa đổi, bổ sung.

(6) Quan hệ giữa Cơ quan điều tra với Lực lượng THAHS và hỗ trợ tư pháp

Số lượng vật chứng tồn đọng trong kho quá lâu nhưng các cơ quan tố tụng có liên quan chưa phối hợp thống nhất để xử lý (vật chứng tính từ năm 1991 đến nay còn 23 vụ).

3.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế trên

3.3. Giải pháp tăng cường thực hiện địa vị pháp lý của Điều tra viên từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

3.3.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của Điều tra viên

Thứ nhất: Xây dựng Pháp lệnh Điều tra viên

Pháp lệnh KSV, VKSND ban hành ngày 12/05/1993, Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tòa án nhân dân ban hành ngày 14/05/1993 và cả hai pháp lệnh này cũng được chỉnh sửa, bổ sung từ ngày 11/10/2002 với những quy định tương đối cụ thể để lực lượng KSV, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân hoạt động và phát triển. Vì vậy, việc nghiên cứu, ban hành Pháp lệnh Điều tra viên là thật sự cần thiết. Pháp lệnh Điều tra viên cần quy định rõ ràng những vấn đề sau:

– Khái niệm Điều tra viên.

– Các tiêu chuẩn chung về Điều tra viên và các tiêu chuẩn cụ thể đối với từng bậc Điều tra viên.

– Quy định về việc bổ nhiệm, bãi nhiệm, cách chức Điều tra viên.

– Quy định về quyền hạn, trách nhiệm của Điều tra viên theo hướng tăng thẩm quyền, tạo điều kiện chủ động cho Điều tra viên khi tiến hành hoạt động điều tra như các thẩm quyền liên quan việc thu thập, củng cố tài liệu chứng cứ: Lệnh khám xét, quyết định trưng cầu giám định, quyết định tạm giữ và xử lý vật chứng …

– Quy định chế độ chính sách, hình thức khen thưởng, kỷ luật cụ thể để nâng cao trách nhiệm của Điều tra viên trong các hoạt động điều tra.

– Quy định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm và chế tài về việc phối hợp giữa Điều tra viên với những người tiến hành tố tụng khác, những người tham gia tố tụng, lực lượng phối hợp, hạn chế, xóa bỏ các quy định chung chung, cảm tính.

Thứ hai: Hoàn thiện các quy định về quyền hạn, trách nhiệm của Điều tra viên theo hướng xây dựng lộ trình hợp lý tăng và phân cấp thẩm quyền của Thủ trưởng Cơ quan điều tra cho Điều tra viên

– Nhiệm vụ của Điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án hình sự như phần trên đã đề cập là rất nặng nề.

Thực tế, nếu Điều tra viên đề xuất nhiều lần không được phê duyệt sẽ dẫn đến tâm lý chán nản, giảm nhiệt tình và tư duy sáng tạo từ Điều tra viên.

Vì vậy, phân cấp thẩm quyền theo hướng giảm, chuyển một số thẩm quyền từ Thủ Trưởng Cơ quan điều tra sang Điều tra viên, tăng sự chủ động, độc lập của Điều tra viên, nâng cao trách nhiệm cụ thể, cụ thể hóa trách nhiệm cá nhân của Điều tra viên, người trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra là đòi hỏi cấp bách để nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động điều tra tội phạm.

– Đặc trưng của hoạt động tư pháp là vai trò trách nhiệm cá nhân của người được pháp luật phân công. Hiện nay đã có các chức danh tư pháp như: Thẩm phán, KSV, Điều tra viên …

Theo quan điểm của tác giả, để nâng cao chất lượng đội ngũ Điều tra viên, trước mắt nên mở rộng thẩm quyền đối với Điều tra viên. Điều tra viên cao cấp, Điều tra viên trung cấp có thể thực hiện tất cả các quyền năng tố tụng của Thủ Trưởng Cơ quan điều tra đối với những vụ án hình sự thông thường, tiếp theo Điều tra viên sơ cấp cũng có những quyền năng tương tự.

– Nếu Thủ Trưởng, Phó Thủ Trưởng Cơ quan điều tra trực tiếp tiến hành điều tra vụ án thì Thủ Trưởng, Phó Thủ Trưởng Cơ quan điều tra cũng có các quyền như Điều tra viên với danh nghĩa là Điều tra viên. Nếu tổ chức điều tra vụ án bằng một nhóm Điều tra viên thì Điều tra viên phụ trách sẽ thay mặt nhóm Điều tra viên quyết định áp dụng các biện pháp điều tra, hoạt động điều tra.

Thứ ba: Hoàn thiện tiêu chuẩn và quy định về bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức chức danh Điều tra viên

Để hoàn thiện tiêu chuẩn và các quy định về bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức chức danh Điều tra viên, đảm bảo Điều tra viên có đủ phẩm chất cá nhân, khả năng nghiệp vụ thực hiện tốt các hoạt động điều tra, khắc phục các khó khăn, bất cập như đã phân tích, cần thực hiện như sau:

* Nếu trong Cơ quan điều tra nói chung và Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân nói riêng thực hiện chế độ dự thẩm thì phải xây dựng tiêu chuẩn Dự thẩm viên, đảm bảo những người được bổ nhiệm chức danh này có đủ khả năng hoàn thành các hoạt động điều tra. Nếu không thực hiện chế độ dự thẩm, vẫn giữ chế Điều tra viên như hiện nay cần sửa đổi, bổ sung tiêu chuẩn bổ nhiệm Điều tra viên.

* Bố trí đủ số lượng Điều tra viên, nhất là tại các thành phố lớn, tại các Cơ quan điều tra đang quá tải trong tình trạng hiện nay, có thể ban hành quy định luân chuyển lực lượng Điều tra viên giữa Điều tra viên các Cơ quan điều tra để đảm bảo hỗ trợ kịp thời của Điều tra viên thuộc Cơ quan điều tra hiện thời có số án thụ lý ít đối với Điều tra viên thuộc Cơ quan điều tra có số lượng án phát sinh nhiều, đột biến.

* Thực hiện biện pháp khuyến khích Điều tra viên tự học, tự nâng cao trình độ, có quy định thu hút Điều tra viên tích cực học tập nâng cao trình độ kỹ thuật nghiệp vụ, pháp luật quốc tế để đáp ứng các yêu cầu điều tra các loại tội phạm công nghệ cao, tội phạm có tổ chức mang tính quốc tế ngày càng gia tăng trong tình hình hiện nay.

3.3.2. Hoàn thiện quy định về Cơ quan điều tra

Quán triệt quan điểm cơ bản, nội dung và tiến trình cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, có thể nghiên cứu, tổ chức lại Cơ quan điều tra theo hướng:

– Xây dựng, ban hành và triển khai thực hiện Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự thay thế Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự theo hướng: Thành lập tổ chức cơ quan điều tra độc lập 2 cấp, Tổng cục điều tra (hoặc Uỷ ban điều tra Trung ương) trực thuộc Chính phủ và Cục điều tra (hoặc Uỷ ban điều tra) cấp tỉnh.

– Tổ chức Cơ quan điều tra theo pháp luật hiện hành chưa ổn định, kém hiệu quả, chồng chéo (rõ nhất là tổ chức Cơ quan điều tra cấp tỉnh chưa hợp lý, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyên trách điều tra các loại tội phạm có phần trùng giẫm, Cơ quan Cảnh sát điều tra các loại tội phạm về tham nhũng vừa mới được thành lập …).

– Phương án này giải quyết vấn đề tương đối cơ bản, làm cơ sở pháp lý để xây dựng Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự thay thế Pháp lệnh TCĐTHS.

3.3.3. Hoàn thiện quy định về hoạt động điều tra

Hoàn thiện một số quy định của Bộ luật TTHS năm 2003, Pháp lệnh TCĐTHS năm 2004 về các hoạt động điều tra nhưng chưa cụ thể, chưa xác định rõ ràng các căn cứ áp dụng, cũng như chưa quy định rõ các bước thực hiện dẫn đến một số bất cập, khó khăn như đã phân tích ở trên.

Để giải quyết yêu cầu này hoàn thiện, cần phải tiến hành tổng kết, thống kê, phân loại các bất cập, vướng mắc đối với thực tiến hoạt động điều tra của Điều tra viên theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2003, Pháp lệnh TCĐTHS năm 2004 và kiến nghị giải quyết tất cả các loại hình Cơ quan điều tra trên phạm vi toàn quốc, để từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện, chỉnh sửa điều luật một cách chính xác, đúng quy trình, thủ tục. Trước mắt, cần có thông tư liên ngành tư pháp Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, VKSNDTC, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thống nhất thực hiện hoạt động điều tra theo quy định tại một số điều luật.

3.4. Một số giải pháp về cơ chế nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra của Điều tra viên

3.4.1. Xây dựng cơ chế bảo đảm sự độc lập, chỉ tuân theo pháp luật đối với hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra và Điều tra viên trong TTHS

Hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra và Điều tra viên được vận hành dưới sự điều chỉnh của pháp luật TTHS, thực hiện những nhiệm vụ mà pháp luật TTHS đặt ra trong giai đoạn điều tra. Chính vì vậy, hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra cũng như hoạt động của Điều tra viên đòi hỏi phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật mới có thể thực hiện nhiệm vụ mà luật TTHS đặt ra. Hiện nay, Cơ quan điều tra và những người thực thi nhiệm vụ của Cơ quan điều tra, nhất là đối với Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên vẫn phải chịu sự quản lý hành chính của các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước, chịu chi phối đáng kể, lãnh đạo của Thủ trưởng Cơ quan quản lý hành chính. Cơ quan điều tra chưa thể thực hiện được yêu cầu đòi hỏi của một cơ quan tố tụng tư pháp độc lập. Nhất là trong Công an nhân dân và Quân đội nhân dân, hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra và Điều tra viên được vận hành chủ yếu theo cơ chế của lực lượng vũ trang mang tính nguyên tắc mệnh lệnh cấp dưới phục tùng cấp trên.

3.4.2. Tăng cường phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, giữa Điều tra viên điều tra vụ án và Kiểm sát viên thực hành quyền Công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, có nhiều vụ án giữa Cơ quan điều tra và VKS không thống nhất về quan điểm định tội danh, áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn và hướng xử lý vụ án.

Để khắc phục tình trạng này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa Điều tra viên và KSV trong quá trình điều tra vụ án, cũng như trong các hoạt động điều tra cụ thể. KSV không chỉ kiểm sát điều tra vụ án một cách thụ động, ngồi chờ Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ sang mà phải tích cực tham gia vào các hoạt động điều tra của Điều tra viên theo đúng quy định của pháp luật.

Trong quá trình tham gia hoạt động điều tra, Điều tra viên và KSV cần thường xuyên tổng hợp, đánh giá chứng cứ để đi đến nhận định thống nhất về hướng điều tra, yêu cầu điều tra tiếp theo.

3.4.3. Tăng cường mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra, Điều tra viên với người bào chữa

Từ thực tế như đã phân tích, trong mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra, Điều tra viên với người bào chữa, tổ chức Luật sư, Luật sư cần thiết phải tăng cường xây dựng theo hướng sau:

Một là, hoàn thiện các quy phạm pháp luật TTHS đảm bảo sự tham gia của người bào chữa, loại bỏ những điều không hợp lý cản trở hoạt động của người bào chữa.

Hai là, cơ quan điều tra, Điều tra viên cần đảm bảo cho người bào chữa tham gia tố tụng kể từ khi tạm giữ người, khi khởi tố bị can (cấp giấy chứng nhận người bào chữa đúng hạn), đảm bảo quyền người bào chữa khi tham gia tố tụng.

Ba là, cần có quy định chặt chẽ hơn về nghĩa vụ của người bào chữa khi tham gia hoạt động TTHS, đảm bảo thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của người bào chữa, loại bỏ mọi hành vi dẫn đến sai lệch hoặc gây cản trở cho hoạt động điều tra, hiện tượng tiêu cực gây nên từ phía người bào chữa.

3.4.4. Giải pháp về xây dựng, củng cố đội ngũ Điều tra viên

Điều tra viên là người tiến hành TTHS chủ yếu trong giai đoạn điều tra. Điều tra là một giai đoạn của TTHS, trong đó cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền áp dụng các biện pháp do luật định để xác định tội phạm và người phạm tội, thu thập chứng cứ buộc tội làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án.

Để thực hiện mục đích điều tra là chứng minh sự việc phạm tội, người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ … Cơ quan điều tra phải tiến hành nhiều loại công việc khác nhau.

Cần phải thực hiện việc xây dựng củng cố đội ngũ Điều tra viên theo đúng quy định của Bộ luật TTHS năm 2003, Pháp lệnh TCĐTHS năm 2004.

Mặt khác, với việc đổi mới, cải cách, tăng cường hiệu quả hoạt động của bộ máy các Cơ quan tư pháp nói chung và Cơ quan điều tra nói riêng cũng đặt ra yêu cầu đối với Điều tra viên. Vì vậy, cần phải:

– Điều tra viên cần thực hiện đầy đủ thẩm quyền trách nhiệm.

– Tăng cường lực lượng Điều tra viên cả về số lượng lẫn chất lượng, nâng cao trình độ đội ngũ Điều tra viên hiện có, bảo đảm tiêu chuẩn về việc bổ nhiệm Điều tra viên mới, từng bước tổ chức một cách thường xuyên nghiêm túc việc lựa chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm Điều tra viên theo đúng quy định của Pháp lệnh TCĐTHS năm 2004, cụ thể như sau:

Đối với Điều tra viên sơ cấp phải là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn chung đối với Điều tra viên, có thời gian làm công tác pháp luật từ 4 năm trở lên, là sĩ quan Công an, sĩ quan Quân đội, cán bộ VKSND, có khả năng điều tra các vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng.

Đối với Điều tra viên trung cấp phải là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn chung đối với Điều tra viên và đã là Điều tra viên sơ cấp ít nhất 5 năm, có khả năng điều tra các loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng và có khả năng hướng dẫn các hoạt động điều tra của Điều tra viên sơ cấp.

Đối với Điều tra viên cao cấp phải là người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn chung đối với Điều tra viên và đã là Điều tra viên trung cấp ít nhất 5 năm, có khả năng nghiên cứu, tổng hợp đề xuất các biện pháp phòng, chống tội phạm, có khả năng điều tra các loại tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng phức tạp và có khả năng hướng dẫn các hoạt động điều tra của Điều tra viên trung cấp, Điều tra viên sơ cấp.

+ Ngoài các tiêu chuẩn về pháp luật, kinh nghiệm làm công tác pháp luật nêu trên, các bậc Điều tra viên, nhất là đối với Điều tra viên cao cấp cần có trình độ sau đại học, phải từng bước đảm bảo trình độ nhất định về ngoại ngữ, khoa học kỹ thuật theo hướng tăng dần với từng bậc Điều tra viên để đáp ứng yêu cầu điều tra tội phạm trong giai đoạn hội nhập và quốc tế hóa hiện nay.

– Tăng cường cơ sở vật chất, kinh phí, trang thiết bị hiện đại phục vụ tốt các hoạt động của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, cũng như nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động điều tra của Điều tra viên.

– Có chính sách, chế độ trách nhiệm, cũng như khen thưởng, kỷ luật đối với Điều tra viên trong hoạt động điều tra hợp lý, tương tự như chức danh tư pháp khác trong các ngành tư pháp khác nhau: KSV trong VKSND, Thẩm phán trong Tòa án nhân dân …

3.4.5. Một số giải pháp khác

Xem xét, tìm giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngành, các chức danh tư pháp có hoạt động liên quan, ảnh hưởng đến hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra và của Điều tra viên như: KSV, Thẩm phán, Luật sư, Giám định viên tư pháp … từ đó cũng sẽ hỗ trợ, nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra của Điều tra viên.

3.4.6. Một số giải pháp trước mắt đối với hoạt động của Điều tra viên Công an tỉnh Quảng Ngãi

– Tiếp tục thực hiện tốt các quy định của pháp luật hiện hành về Điều tra viên, các Chỉ thị [8, Tr.3] và các Đề án của Bộ Công an về phòng chống oan, sai, khắc phục sơ hở, thiếu sót và chấn chỉnh sai phạm trong hoạt động điều tra, phát hiện và xử lý tội phạm trên địa bàn tỉnh.

– Chấp hành nghiêm Điều lệnh Công an nhân dân về công tác trực ban hình sự để xử lý kịp thời tố giác, tin báo về tội phạm; theo dõi tình hình phạm pháp hình sự, phân loại xử lý các vụ việc; thực hiện tốt công tác nghiệp vụ cơ bản để nắm tình hình hoạt động của tội phạm nhằm nâng cao chất lượng và phục vụ có hiệu quả cho công tác điều tra, xử lý tội phạm.

– Thường xuyên đánh giá, nhận xét đội ngũ Điều tra viên, Trinh sát viên; thực hiện việc luân chuyển Điều tra viên để tăng cường đội ngũ Điều tra viên cho cơ sở, đáp ứng yêu cầu công tác; kịp thời điều chuyển những Điều tra viên không đủ tiêu chuẩn, năng lực hạn chế ra khỏi lực lượng điều tra;

– Thường xuyên nâng cao chất lượng công tác tập huấn nghiệp vụ, pháp luật và công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm cho Điều tra viên và Trinh sát viên các cấp.

– Tăng cường chỉ đạo công tác kiểm tra, hướng dẫn công tác bắt, giam giữ, điều tra, xử lý tội phạm nhằm phát hiện và xử lý để hạn chế đến mức thấp nhất những sơ hở, thiếu sót, tồn tại trong hoạt động điều tra, xử lý tội phạm; không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm hoạt động tư pháp.

– Quán triệt và thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo và trao đổi nghiệp vụ. Định kỳ tổ chức giao ban về công tác bắt, giam giữ, điều tra, xử lý tội phạm để kịp thời rút kinh nghiệm và chỉ đạo khắc phục những thiếu sót, khó khăn, vướng mắc trong điều tra, truy tố, xét xử án hình sự.

Kết luận chương 3

KẾT LUẬN

Nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn hoạt động của cơ quan và người tiến hành TTHS, trong đó đi sâu nghiên cứu về Điều tra viên và các hoạt động điều tra của Điều tra viên để trên cơ sở đó đề xuất phương hướng hoàn thiện các quy định về Điều tra viên, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Điều tra viên là việc làm rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Nhận thức như vậy, đề tài đã nghiên cứu một cách tương đối toàn diện và có hệ thống các vấn đề pháp lý về Điều tra viên trong TTHS. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần có một số kiến nghị như sau:

1. Trước hết cần phải đổi mới nhận thức về vai trò, quyền hạn tố tụng của Điều tra viên. Bởi vì, theo pháp luật hiện hành vị trí tố tụng của Điều tra viên còn mờ nhạt, quy định về một số hoạt động điều tra của Điều tra viên chưa rõ ràng, cụ thể. Tình trạng này, một mặt không phát huy cao khả năng của Điều tra viên, mặt khác khó quy trách nhiệm cá nhân. Trong khi đó, vai trò và trách nhiệm của cá nhân người tiến hành tố tụng là yêu cầu, đòi hỏi rất cụ thể.

2. Một số quy định về Điều tra viên và hoạt động điều tra của Điều tra viên trong Bộ luật TTHS năm 2003 và Pháp lệnh TCĐTHS năm 2004 còn bộc lộ sơ hở, bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu của cuộc đấu tranh chống tội phạm hiện nay. Do vậy, cần phải tổng kết, đánh giá toàn diện các quy định này và hiện trạng đội ngũ Điều tra viên để có cơ sở đề xuất sửa đổi, bổ sung pháp luật TTHS hiện hành quy định về Điều tra viên một cách cụ thể, chặt chẽ và hợp lý hơn.

3. Dựa trên cơ sở lý luận pháp luật TTHS, tổng hợp kết quả nghiên cứu của các công trình liên quan hoạt động của Điều tra viên đã công bố; khái quát, đánh giá thực tiễn hoạt động điều tra của Điều tra viên tại một số Cơ quan điều tra; Đề tài đã làm sáng tỏ các quy định về Điều tra viên, đánh giá thực trạng pháp luật quy định về thẩm quyền, trách nhiệm tố tụng của Điều tra viên; đánh giá thực trạng đội ngũ cũng như hoạt động của Điều tra viên trong lực lượng Công an. Trên cơ sở đó, Đề tài đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về Điều tra viên và nâng cao hiệu quả hoạt động điều tra của Điều tra viên theo các hướng sau:

– Đối với phương hướng về hoàn thiện pháp luật, cần có lộ trình, sớm ban hành Pháp lệnh Điều tra viên, song song với lộ trình ban hành Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự thay thế Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự hiện hành.

– Xác định địa vị pháp lý của Điều tra viên trong hoạt động điều tra, kiến nghị bổ sung, chỉnh sửa các quy định pháp luật TTHS theo hướng quy định rõ, cụ thể, mở rộng thẩm quyền, trách nhiệm của Điều tra viên, thu hẹp thẩm quyền, trách nhiệm Thủ trưởng Cơ quan điều tra để tạo sự độc lập

– Xây dựng các cơ chế bảo đảm hiệu quả hoạt động điều tra của Điều tra viên, của Cơ quan điều tra một cách độc lập, khách quan trong các hoạt động điều tra.

– Đưa ra các giải pháp xây dựng, củng cố đội ngũ Điều tra viên trong hoạt động điều tra hình sự nhằm đáp ứng công tác điều tra tội phạm theo xu hướng hội nhập, quốc tế hóa hiện nay.

4. Với khả năng nghiên cứu có hạn, quá trình thực hiện đề tài không tránh khỏi những sai sót nhất định. Vì vậy. với tinh thần học hỏi, cầu tiến tác giả rất mong nhận được sự góp ý, trao đổi của Qúy thầy cô, các nhà khoa học, cán bộ thực tiễn và đồng nghiệp để tác giả có thể tiếp tục hoàn thiện hơn đối với vấn đề mình nghiên cứu trong tương lai. Qua đây, tác giả muốn bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến người hướng dẫn khoa học là PGS.TS Hoàng Thị Minh Sơn đã giúp đỡ tác giả hoàn thành Luận văn này./.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\LUAT HINH SU\HO NGOC DOAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *