Hình phạt tù theo pháp luật hình sự Việt Nam – từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
1. Tính cấp thiết của đề tài
Để thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng và chống tội phạm, Nhà nước ta đã sử dụng đồng thời nhiều biện pháp về kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục, pháp lý… Trong các biện pháp đó, hình phạt giữ một vai trò rất quan trọng. Các nhà làm luật đã xây dựng một hệ thống hình phạt đa dạng với nội dung cưỡng chế, thuyết phục, giáo dục nặng, nhẹ khác nhau, bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung.
Hình phạt tù bao gồm tù có thời hạn là một trong số bảy hình phạt chính của pháp luật hình sự Việt Nam. Theo quy định tại Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999: “Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định. Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm. Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù”.
Hình phạt tù là một hình phạt phổ biến, có tác dụng giáo dục người chấp hành hình phạt tù, phòng ngừa chung; là một trong các hình phạt thể hiện rõ nhất chính sách hình sự của Nhà nước đối với người phạm tội, đồng thời ngăn ngừa người phạm tội tiếp tục phạm tội, động viên, khuyến khích người phạm tội chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo, nhanh chóng để trở về hoà nhập với cộng đồng và trở thành người có ích cho xã hội. Hình phạt tù có thời hạn là nhằm cách ly người phạm tội ra khỏi cộng đồng trong một khoảng thời gian nhất định, khi mà hành vi phạm tội của họ buộc phải tách họ ra khỏi cộng đồng một thời gian để ngăn ngừa tội phạm và giáo dục người phạm tội; là một hình phạt nghiêm khắc, tước bỏ quyền tự do của người chấp hành hình phạt trong một khoảng thời gian nhất định hoặc suốt đời nên cần phải có những quy định cụ thể, thống nhất.
Trong lịch sử pháp luật hình sự các nước trên thế giới, lịch sử pháp luật Việt Nam, hình phạt đã thực sự trở thành công cụ, một phương thức có hiệu quả trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm. Nhà nước coi hình phạt như là một công cụ hữu hiệu để bảo vệ lợi ích của Nhà nước. “Hình phạt không phải là một cái gì khác ngoài phương tiện để tự bảo vệ mình của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó” (C.Mác).
Tuy nhiên, trong các thời đại khác nhau, ở các kiểu nhà nước khác nhau, hình phạt được quan niệm và sử dụng ở mức độ và những xu hướng cũng khác nhau tùy thuộc vào bản chất của giai cấp thống trị, giai cấp cầm quyền, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, đạo đức, tâm lý và truyền thống của mỗi nước, mỗi dân tộc. Nhìn chung ở các thời đại trước và ở các xã hội có chế độ bóc lột thì hình phạt được sử dụng ở mức độ rất nghiêm khắc và nhằm mục đích trừng phạt là chính. Ngược lại, ở nhà nước xã hội chủ nghĩa, hình phạt được coi là công cụ hữu hiệu để đấu tranh chống tội phạm, tính nghiêm khắc và sự trừng phạt của hình phạt vẫn được duy trì, nhưng mục đích không để trừng phạt người phạm tội mà là giáo dục cải tạo người phạm tội.
Từ trước đến nay có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước đề cập đến hình phạt, hệ thống hình phạt. Tuy nhiên, việc nghiên cứu diễn ra ở nhiều cấp độ, bình diện khác nhau, chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện về hình phạt tù. Việc nghiên cứu pháp luật hình sự chưa làm rõ những dấu hiệu căn bản của từng hình phạt tù, vai trò và khả năng của nó trong việc giáo dục chung, phòng ngừa riêng trong tổng thể các hình phạt được pháp luật quy định cũng như trong các biện pháp đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, đáp ứng được yêu cầu trước mắt cũng như lâu dài của nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm ở nước ta.
Bên cạnh đó, thực tiễn lập pháp và áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam đã và đang gặp không ít những vướng mắc trong việc thực hiện chính sách hình sự mới. Việc xác định ý nghĩa xã hội – pháp lý cũng như hiệu quả hình phạt nói chung, trong đó có hình phạt tù cũng là một vấn đề nan giải, điều đó được chứng minh trên thực tế rằng không phải cứ áp dụng hình phạt thật nặng thì tội phạm sẽ giảm.
Nghiên cứu về hình phạt tù gắn liền với nhu cầu hoàn thiện pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự, pháp luật thi hành án hình sự trong cải cách tư pháp, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24-5-2005 về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020. Để thể chế hóa được những quan điểm, chủ trương của Đảng, chúng ta cần phải nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện về hình phạt tù phản ánh những đặc điểm và yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong điều kiện hội nhập quốc tế, bảo vệ quyền con người, củng cố pháp chế và trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đó sửa đổi, bổ sung cho phù hợp cũng như có những giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả áp dụng chúng.
Quảng Ngãi nằm ở vị trí ven biển duyên hải Trung Bộ, trong vùng kinh tế trọng điểm của khu vực miền trung, với diện tích tự nhiên là 5.153km2, dân số tính đến năm 2015 là 1,246 triệu người với mật độ dân cư là 237 người/km2… Từ một tỉnh nghèo của cả nước, đã có những bước phát triển căn bản về nhiều mặt. Sự phát triển sinh động, phong phú về nhiều mặt của Quảng Ngãi trong sự phát triển chung của cả nước là thuận lợi rất lớn, tuy nhiên cùng với sự phát triển kinh tế, tình hình tội phạm cũng gia tăng và diễn biến phức tạp, số người bị kết án phạt tù tương đối lớn, nhiều người không nhận được sự quan tâm từ phía gia đình, xã hội, môi trường để họ tái hòa nhập với cộng đồng hết sức khó khăn. Thực tiễn áp dụng và thi hành hình phạt tù ở tỉnh Quảng Ngãi có thể cũng là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu, đánh giá quy định của Bộ luật hình sự về hình phạt tù và căn cứ để hoán thiện và có các giải pháp nâng cao hiệu quả hình phạt tù trong luật hình sự nước ta.
Xuất phát từ những vấn đề và lý do nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Hình phạt tù theo pháp luật hình sự Việt Nam – từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” để nghiên cứu viết luận văn thạc sĩ luật học, bởi đây là đề tài rất cấp thiết có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích của Đề tài
Nhằm làm rõ những nội dung cơ bản về về tù có thời hạn (về lý luận, về lịch sử, về so sánh, về xã hội học) ở Việt Nam, nhìn từ góc độ tỉnh Quảng Ngãi, xác định những bất cập, hạn chế để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng, đảm bảo công lý, công bằng xã hội, cải tạo, giáo dục người phạm tội và phòng ngừa tội phạm.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nói trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết các nhiệm vụ sau:
– Nghiên cứu, phân tích những vấn đề lý luận về hình phạt tù trong luật hình sự Việt Nam
– Phân tích các quy định của Bộ luật hình sự về hình phạt tù và những bất cập từ góc độ lập pháp hình sự;
– Đánh giá thực tiễn áp dụng hình phạt tù nhằm làm rõ những ưu điểm, hạn chế và những nguyên nhân của nó.
– Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt tù.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, pháp luật và thực tiễn của tù có thời hạn theo pháp luật hình sự Việt Nam và hiệu quả của tù có thời hạn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi. Nêu ra những hạn chế, bất cập trong việc áp dụng tù có thời hạn ở tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và ở Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu so sánh về tù có thời hạn của một số nước trên thế giới.
4.2 Phạm vi nghiên cứu
– Về thời gian: Luận văn đánh giá về thực tiễn tù có thời hạn trong mốc thời gian từ năm 2011 đến năm 2015.
– Về không gian: Tác giả khảo sát thực trạng về tù có thời hạn trên địa bàn Tỉnh Quảng Ngãi.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về chính sách hình sự, về đấu tranh phòng và chống tội phạm; về cải tạo, giáo dục người phạm tội; về quyền con người.
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể để làm sáng tỏ về mặt khoa học từng vấn đề. Đó là các phương pháp lịch sử, so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê, khảo sát thực tế, lý luận kết hợp với thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận: đây là công trình nghiên cứu đề cập một cách tương đối có hệ thống và toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn về hình phạt tù ở Việt Nam cũng như đánh giá thực trạng hình phạt tù từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học với những đóng góp về mặt khoa học đã nêu trên.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: luận văn rút ra một số kết luận mang tính khoa học góp phần xác định đúng đắn thực tiễn áp dụng hình phạt tù. Cụ thể, luận văn hoàn thiện là tài liệu tham khảo có giá trị trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật hình sự, góp phần khắc phục những khiếm khuyết trong thực tiễn áp dụng hình phạt tù, nhằm nâng cao hiệu quả của chúng, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo quyền con người, quyền công dân.
7. Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về hình phạt tù có thời hạn trong Luật Hình sự Việt Nam
Chương 2: Quy định hình phạt tù trong pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 3: Thực tiễn và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt tù ở Quảng Ngãi.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÌNH PHẠT TÙ
CÓ THỜI HẠN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Trong lịch sử loài người, hình phạt luôn được coi là phương thức chủ yếu để đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trong cuộc đấu tranh với những hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải có những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, mà một trong những biện pháp cưỡng chế đó là hình phạt. C.Mác nói: “Hình phạt không phải là một cái gì khác ngoài phương tiện để tự bảo vệ mình của xã hội, chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó” [1].
Điều 26 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án quyết định”.
Theo luật hình sự Việt Nam, hệ thống hình phạt bao gồm: hình phạt chính và hình phạt bổ sung.
Hình phạt tù là hình phạt chính, bao gồm hình phạt tù có thời hạn và tù chung thân và cũng được sắp xếp theo thứ tự từ nhẹ đến nặng, có mức độ nghiêm khắc phù hợp với các thang bậc mức độ nghiêm trọng, nguy hiểm khác nhau của các loại tội phạm. Sự sắp xếp đó đảm bảo tính hệ thống.
Hình phạt tù và các loại hình phạt tương ứng về cơ bản với tội phạm, có khả năng thể hiện sự phản ứng của nhà nước đối với tội phạm. Hình phạt tù trong mối liên kết của cả hệ thống hình phạt cho phép lựa chọn loại hình phạt và mức độ xử phạt tương xứng với các hành vi phạm tội trong thực tế. Vì ý nghĩa đó mà các hình phạt tù được gọi là hình phạt chính. Nó luôn chứa đựng những yếu tố trừng trị và cải tạo vừa và đủ để hình phạt có thể đạt được mục đích khi nó được áp dụng đối với người phạm tội cụ thể.
Có thể đưa ra khái quát khái niệm về hình phạt tù như sau: Hình phạt tù là hình phạt tước quyền tự do của người bị kết án, buộc họ phải cách ly cuộc sống bình thường của xã hội, sống trong một môi trường riêng biệt có sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hình phạt tù bao gồm hình phạt tù có thời hạn và tù chung thân.
“Tù có thời hạn là buộc người bị kết án cách ly ra khỏi xã hội trong một khoảng thời gian nhất định để học tập, lao động, cải tạo”.
Đây là loại hình phạt có hiệu quả giáo dục, phòng ngừa cao cũng như nội dung của hình phạt này là buộc người phạm tội cách ly với môi trường sống trước đó để cải tạo, giáo dục mà cốt lõi là giúp họ hình thành nếp sống, thói quen cũng như ý thức tuân thủ luật pháp và các quy tắc của cuộc sống, giá trị của lao động chân chính.
Nói tóm lại, nội dung pháp lý chủ yếu của hình phạt tù có thời hạn là buộc người phạm tội phải cách ly với môi trường sống trước đó để cải tạo giáo dục.
Thông qua nội dung giáo dục cải tạo như trên Nhà nước nhằm một mục đích cuối cùng là hướng người phạm tội về với cuộc sống lương thiện, hòa nhập với cộng đồng, có ý thức tuân thủ pháp luật và những nguyên tắc của cuộc sống cũng như các giá trị của lao động chân chính.
Mục đích của hình phạt tù là kết quả thực tế cuối cùng mà Nhà nước mong muốn khi truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt tù đối với người phạm tội.
Để xác định mục đích của hình phạt tù trước hết cần thấy rõ những chức năng của luật hình sự dưới hai góc độ: bảo vệ phòng ngừa xã hội và các giá trị xã hội của luật hình sự.
Theo luật hình sự Việt Nam mục đích của hình phạt tù không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới.
Như vậy, luật hình sự Việt Nam thừa nhận mục đích của hình phạt nhằm: trừng trị người phạm tội, giáo dục người phạm tội, ngăn ngừa họ phạm tội mới, giáo dục người khác tôn trọng pháp luật và các nội dung trên để phục vụ mục đích đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
* Ý nghĩa việc nghiên cứu mục đích của hình phạt tù có thời hạn:
+ Cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả hình phạt tù có thời hạn: Việc xác định hiệu quả của hình phạt tù có thời hạn hay bất cứ một loại hình phạt nào khác thì các tiêu chí để xác định nó điều phải dựa trên mức độ đạt được mục đích của chính loại hình phạt đó.
+ Trong định hướng xây dựng hệ thống hình phạt: Mục đích cuối cùng là đem lại sự công bằng cho các quan hệ xã hội đã bị tội phạm xâm hại thông qua các biện pháp chế tài tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
+ Trong công tác áp dụng pháp luật: Mục đích của hình phạt tù có thời hạn là cơ sở để định hướng trong công tác áp dụng pháp luật.
Tóm lại, nhận thức đúng về mục đích của hình phạt tù có thời hạn là một trong những yêu cầu đặt ra đối với những cán bộ làm công tác xét xử án hình sự, có nhận thức được mục đích hình phạt tù có thời hạn mới có thể nhận thức đúng được căn cứ khi quyết định áp dụng hình phạt này để ra một bản án đúng.
Là một loại hình phạt chính nằm trong hệ thống hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự nước ta, do đó hình phạt tù mang đầy đủ các nội dung cơ bản của hình phạt đó là:
Hình phạt tù là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước.
Hình phạt tù được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án áp dụng.
Hình phạt tù chỉ có thể áp dụng đối với người phạm tội
Hình phạt tù có thời hạn
Tù có thời hạn là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước do Toà án áp dụng đối với người phạm tội, buộc người bị kết án phải cách ly (chấp hành hình phạt tại trại cải tạo) trong một thời hạn nhất định từ ba tháng đến hai mươi năm, nhằm giáo dục người phạm tội và người khác, bảo vệ công lý, công bằng xã hội.

Chương 2
Trước khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 1985, ở nước ta chưa có một đạo luật thống nhất và hoàn chỉnh. Tại một loạt các văn bản pháp luật được ban hành thời kỳ đầu tiên, chúng ta thường gặp những quy định mang tính chung nhất về xử lý hình sự đối với những người phạm tội. Ngoài ra, do pháp luật chưa hoàn chỉnh, còn chắp vá nhiều và để đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm nên Nhà nước ta còn cho phép áp dụng nguyên tắc tương tự trong xét xử.
Chính từ những đặc điểm trên của pháp luật hình sự và thực tiễn xét xử của các Tòa án có một sự ảnh hưởng tác động lớn đến việc hình thành, phát triển các chế định của pháp luật, trong đó có hình phạt.
Các loại hình phạt trong hệ thống hình phạt ở giai đoạn này được quy định ở nhiều văn bản khác nhau bao gồm cả văn bản luật cũng như văn bản dưới luật..
Nghiên cứu các văn bản được ban hành trong những năm đầu thập kỷ 50 cho thấy việc quy định thời hạn hình phạt tù chưa thống nhất. Vào những năm đầu của thập kỷ 60, quy định về hình phạt tù thể hiện rõ nét có nội dung chặt chẽ, thống nhất hơn. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất (năm 1975), xã hội có nhiều biến động và thay đổi, tình hình tội phạm trong thời kỳ này diễn biến hết sức phức tạp, nhiều băng nhóm tội phạm nổi lên với tính chất nguy hiểm cao, quy mô rộng lớn. Các văn bản pháp luật hình sự trước đó bộc lộ nhiều yếu điểm không đáp ứng được yêu cầu đấu tranh chống tội phạm.
Bộ luật Hình sự năm 1985 ra đời đánh dấu một bước tiến lớn trong lịch sử phát triển của luật hình sự nước ta.
Bộ luật Hình sự năm 1999, tại Điều 33 quy định: Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam trong một thời gian nhất định. Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm. Hình phạt tù có thời hạn là loại hình phạt phổ biến và thông dụng nhất được quy định trong hầu hết các khung hình phạt.
2.2.1.1. Đối tượng và phạm vi áp dụng hình phạt tù
Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định rõ phạm vi áp dụng đối với hình phạt. Dựa vào các yếu tố khách quan quyết định tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, các cơ quan tố tụng cân nhắc và quyết định hình phạt tù theo quy định của pháp luật.
Đối tượng áp dụng của hình phạt tù được hiểu là những chủ thể của tội phạm mà Bộ luật Hình sự cho phép tòa án có thể áp dụng loại hình phạt này. Một người sẽ trở thành chủ thể của tội phạm nếu họ có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi mà Luật hình sự quy định.
Nhìn chung, sự phát triển về nhân cách và sự hình thành các phẩm chất thuộc về nhân thân của người chưa thành niên chịu sự chi phối có tính chất quyết định bởi nền giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội.
Dưới góc độ tội phạm học, người chưa thành niên là những đối tượng dễ bị kích động, lôi kéo, khả năng kiềm chế chưa cao. Mặt khác, xét về khả năng cải tạo, giáo dục, đây là đối tượng đặc biệt cần có môi trường cải tạo, giáo dục riêng.
Như vậy có thể khẳng định rằng hình phạt tù có thể áp dụng với hầu hết các đối tượng phạm tội, kể cả phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người có quốc tịch Việt Nam, người nước ngoài hay người không có quốc tịch.
2.2.1.2. Những quy định khác Phần chung Bộ luật Hình sự năm 1999 liên quan đến hình phạt tù
– Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và hình phạt tù
– Thời hiệu thi hành bản án và hình phạt tù
– Giảm thời hạn chấp hành hình phạt và hình phạt tù
– “Người quá già yếu” là người từ 70 tuổi trở lên hoặc người từ 60 tuổi trở lên nhưng thường xuyên đau ốm.
– “Mắc bệnh hiểm nghèo” là trường hợp theo kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên thì người bị kết án đang bị những căn bệnh nguy hiểm đến tính mạng, khó có phương thức chữa trị như: lao nặng, ung thư, bại liệt…
Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 có tổng số 701 cấu thành tội phạm.
Trong số 272 điều luật có quy định tội danh của Phần các tội phạm của Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 thì đều quy định có áp dụng chế tài là hình phạt tù. Như vậy, hình phạt tù là hình phạt phổ biến nhất được lựa chọn áp dụng là chế tài trong Bộ luật Hình sự 1999 (chưa sửa đổi bổ sung).
Bảng 2.2: Các hình phạt trong Phần các tội phạm Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 (tính theo điều luật)
| Chương | Số điều luật quy định tội danh | Cảnh cáo | Phạt tiền | Cải tạo không giam giữ | Tù có thời hạn | Tù chung thân | Tử hình |
| XI | 14 | 0 | 0 | 0 | 14 | 10 | 7 |
| XII | 30 | 7 | 0 | 12 | 30 | 7 | 2 |
| XIII | 9 | 8 | 1 | 9 | 9 | 0 | 0 |
| XIV | 13 | 1 | 1 | 8 | 13 | 8 | 1 |
| XV | 7 | 6 | 0 | 6 | 7 | 0 | 0 |
| XVI | 35 | 3 | 24 | 24 | 35 | 3 | 1 |
| XVII | 11 | 0 | 10 | 10 | 11 | 0 | 0 |
| XVIII | 9 | 0 | 1 | 0 | 9 | 6 | 2 |
| XIX | 59 | 1 | 32 | 32 | 59 | 10 | 2 |
| XX | 20 | 6 | 7 | 14 | 20 | 0 | 0 |
| XXI | 14 | 1 | 0 | 5 | 14 | 5 | 2 |
| XXII | 22 | 3 | 0 | 11 | 22 | 0 | 0 |
| XXIII | 25 | 1 | 0 | 19 | 25 | 5 | 2 |
| XXIV | 4 | 0 | 0 | 0 | 4 | 4 | 3 |
| Tổng | 272 | 37 | 76 | 151 | 272 | 58 | 22 |
Nguồn: Tác giả tự tổng hợp từ Bộ luật năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Nghiên cứu quy định về hình phạt tù trong phần các tội phạm, chúng tôi thấy rằng:
– Tuyệt đại đa số chế tài các cấu thành các tội phạm có quy định hình phạt tù. 100% các điều luật quy định hình phạt tù; khoảng 99,5% (697/701) các khung hình phạt quy định hình phạt tù.
– Hình phạt tù được quy định độc lập hay trong chế tài lựa chọn với các hình phạt khác. Đối với các tội đặc biệt nghiêm trọng, hình phạt tù được quy định độc lập hoặc lựa chọn với hình phạt tù chung thân và tử hình; đối với tội phạm rất nghiêm trọng, nhìn chung hình phạt tù được quy định độc lập; đối với tội phạm nghiêm trọng, hình phạt tù được quy định độc lập hoặc lựa chọn vời hình phạt cải tạo không giam giữ và (hoặc) với hình phạt tiền; đối với tội phạm ít nghiêm trọng, hình phạt tù được quy định trong chế tài lựa chọn với hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tiền và cảnh cáo.
– Tính tuỳ nghi trong quy định về hình phạt tù khá cao. Khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa của hình phạt tù khá rộng tuỳ theo loại tội phạm. Tội phạm càng nghiêm trọng thì khoảng cách tuỳ nghi càng cao…
Như vậy, có thể nói quy định về hình phạt tù trong chế tài phần các tội phạm đã kế thừa quan điểm của pháp luật hình sự nước ta coi trọng hình phạt tù. Đồng thời các quy định này cũng thể hiện tương đối rõ nét chính sách hình sự của nước ta thời kỳ chuyển tiếp; thể hiện mực đích hình phạt vừa trừng trị, vừa cải tạo, giáo dục người phạm tội, phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng. Quy định này là cơ sở pháp lý hình sự để hình phạt tù có thời hạn được áp dụng tuyệt đối trong thực tiễn những năm qua.
THỰC TIỄN VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TÙ Ở TỈNH QUẢNG NGÃI
Quảng Ngãi là một tỉnh thuộc vùng duyên hải miền Trung, là vùng đất giàu tiềm năng về kinh tế và du lịch. Tỉnh Quảng Ngãi có 13 huyện và 01 thành phố, trong đó có 01 huyện đảo, 01 huyện trung du, 06 huyện đồng bằng và 06 huyện miền núi. Giai đoạn từ năm 2011 đến 2015 là giai đoạn Quảng Ngãi có nhiều bước đột phá về phát triển kinh tế, trong đó nổi bật là khu kinh tế Dung Quốc, đã tạo ra nguồn thu lớn cho ngân sách và giải quyết bài toán lớn về công ăn việc làm cho tỉnh. Dân số tỉnh Quảng Ngãi năm 2011 là 1,218 triệu người, đến năm 2015 là 1,246 triệu người.
Với sự chuyển mình về kinh tế, xã hội cùng với sự gia tăng dân số như trên đã dẫn đến tình hình tội phạm ngày một diễn biến phức tạp, gia tăng về số lượng và có chuyển biến phức tạp về tính chất và mức độ nguy hiểm của tình hình tội phạm cũng như ngày càng xuất hiện nhiều loại tội phạm mới.
Theo đánh giá trong các báo cáo tổng kết hàng năm của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, lượng án hình sự thụ lý tăng đáng kể (nhất là án thuộc lĩnh vực xâm phạm trật tự và an toàn xã hội), và theo đó số bị án phạt tù có thời hạn cũng tăng theo.
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi xin đề cập đến thực trạng áp dụng hình phạt tù qua số liệu xét xử sơ thẩm trên phạm vi tỉnh Quảng Ngãi trong 5 năm từ năm 2011 đến năm 2015.
Bảng 3.1: Thực trạng áp dụng hình phạt tù
| Năm | Số người đưa ra xét xử sơ thẩm (số vụ/số người) | Số người bị xử phạt tù có thời hạn | Tỷ lệ % |
| 2011 | 409/786 | 486 | 61,83 |
| 2012 | 594/1046 | 621 | 59,37 |
| 2013 | 557/1070 | 709 | 66,26 |
| 2014 | 697/1099 | 472 | 42,95 |
| 2015 | 421/762 | 464 | 60,89 |
| Tổng | 2678/4763 | 2752 | 57,78 |
Nguồn: Báo cáo tổng kết các năm từ 2011 đến 2015 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
Tỷ lệ áp dụng hình phạt tù có thời hạn cao hơn rất nhiều và chiếm tỷ lệ lớn với gần 60% so với tỷ lệ áp dụng các hình phạt khác. Thực tế này cho thấy tình hình tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng ở nước ta chiếm đa số và phổ biến.

3.2. Những bất cập, hạn chế và nguyên nhân
Bên cạnh việc áp dụng phổ biến hình phạt tù trong thực tiễn xét xử, Tòa án hai cấp còn bộc lộ nhiều thiếu sót, sai lầm khi áp dụng hình phạt này, đó là mức hình phạt tuyên không tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội (quá nặng hoặc quá nhẹ, cho hưởng án treo không đúng). Sau đây là một số sai lầm thường xảy ra khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn trong thực tiễn xét xử của Tòa án 02 cấp ở Quảng Ngãi:
– Nhiều trường hợp không đến mức phải phạt tù có thời hạn thì bị phạt tù có thời hạn hoặc đến mức được hưởng án treo thì bị phạt tù giam
– Nhiều trường hợp xử quá nhẹ, cho hưởng án treo không đúng pháp luật
– Có nhiều vụ án Tòa án cho hưởng án treo không đúng pháp luật, nhiều đối tượng không đáng được hưởng án treo thì cho hưởng án treo hoặc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt tù nhưng Tòa án cấp phúc thẩm lại xử phạt tiền.
– Có nhiều vụ án Tòa án xử quá nặng, nhiều đối tượng đáng được hưởng án treo thì không cho hưởng án treo mà phạt tù giam hoặc Tòa án cấp sơ thẩm đã xử bị cáo phạt tùg iam là đúng nhưng Tòa án cấp phúc thẩm lại sửa án sơ thẩm, chuyển sang cho bị cáo hưởng án treo là không đúng pháp luật.
Từ thực trạng áp dụng hình phạt tù trên thực tế được lý giải bởi nhiều nguyên nhân mà nguyên nhân chính đó là từ phía các nhà làm luật và từ phía áp dụng pháp luật:
– Việc chiếm ưu thế của hình phạt tù trong mối tương quan với các chế tài phần các tội phạm là lý do chính giải thích vì sao hình phạt tù được áp dụng một cách chiếm ưu thế trong thực tiễn.
– Việc quy định khoảng cách quá rộng trong một số khung hình phạt dẫn tới tình trạng áp dụng pháp luật thiếu thống nhất hoặc tạo ra kẽ hở cho việc tùy tiện áp dụng hình phạt.
– Những sai lầm nghiêm trọng của Tòa án trong việc quyết định hình phạt là do đánh giá không đúng mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và đặc biệt là áp dụng không đúng các tình tiết giảm nhẹ hoặc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
– Xuất phát từ việc quá đề cao vai trò của hình phạt tù có thời hạn trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, cán bộ áp dụng pháp luật chưa nhận thức hết vai trò, tác dụng của các hình phạt khác nhẹ hơn hình phạt tù, mà tâm lý, thói quen quá đề cao hình phạt tù và điều đó đã phản ánh trong thực tiễn áp dụng hình phạt, dẫn đến trong các trường hợp phải lựa chọn các loại hình phạt với hình phạt tù có thời hạn thì các hình phạt khác ít được áp dụng (nhất là các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù).
– Người áp dụng pháp luật không thực hiện đúng các quy định tại Điều 45 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngoài ra, việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự cũng không chính xác.
Như vậy, có thể thấy việc quy định về mặt lập pháp đối với hình phạt tù đã thể hiện một số hạn chế về mặt thực tiễn áp dụng và nhận thức về xã hội về các hình phạt tù đã làm cho chúng được áp dụng phổ biến trong thực tiễn xét xử. Số người bị kết án tù không giảm. Vấn đề này cần được nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật hình sự nước ta theo hướng tăng cường vai trò các hình phạt không phải là tù về mặt lập pháp và về mặt thực tiễn áp dụng.
– Về khoảng cách tối thiểu và tối đa trong một khung hình phạt tù có thời hạn.
Khoảng cách giữa mức tối thiểu và tối đa của hình phạt tù có thời hạn trong một khung hình phạt có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc áp dụng hình phạt, bảo đảm cho hình phạt có thể đạt được mục đích, bảo đảm được nguyên tắc công bằng trong luật hình sự.
Còn quy định khoảng cách giữa mức tối thiểu và tối đa của hình phạt tù trong một khung hẹp có cái ưu là ở mức độ lớn có khả năng hạn chế được những biểu hiện tùy tiện, chủ quan, bảo đảm được nhiều hơn sự thống nhất của việc áp dụng pháp luật, làm cho các bản án được tuyên có mức độ ổn định hơn, nhưng mặt khác lại không tạo nhiều khả năng cho những người áp dụng pháp luật cân nhắc được những tình tiết, hoàn cảnh đa dạng có thể xảy ra trong cuộc sống để áp dụng, lựa chọn mức độ phù hợp.
– Về giới hạn tối thiểu của hình phạt tù có thời hạn. Trong lịch sử lập pháp hình sự của nhiều nước trên thế giới cũng cho thấy rằng, ở ngay trong một quốc gia nhưng ở các giai đoạn lịch sử khác nhau thì việc quy định mức tối thiểu của hình phạt tù có thời hạn cũng có sự khác nhau. Trong lịch sử phát triển pháp luật hình sự nước ta, thời hạn tối thiểu của hình phạt tù được nhà làm luật quy định khác nhau ở từng giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước là do nhu cầu của công tác đấu tranh phòng chống tội phạm ở những giai đoạn phát triển khác nhau của đất nước quy định.
– Cần xây dựng một hệ thống hình phạt tương xứng với các loại tội phạm với việc chỉ rõ trong Luật loại hình phạt nào được áp dụng với loại tội phạm nào. Trong đó phải đảm bảo tính nghiêm khắc của hình phạt được quy định đối với một loại tội phạm nhất định phù hợp với tính nghiêm trọng của loại tội phạm đó. Tránh tình trạng hình phạt tù có thời hạn chiếm vị trí tuyệt đối trong các điều luật cụ thể như hiện nay.
– Cần giảm bớt tỷ lệ hình phạt tù đối với một số tội phạm thuộc loại tội không có tính nguy hiểm lớn cho xã hội và loại tội ít nghiêm trọng.
– Cần sửa đổi Bộ luật Hình sự theo hướng điều chỉnh chính sách hình sự, giảm hình phạt tù và mức hình phạt tù đối với một số loại tội phạm, đồng thời tăng việc áp dụng các loại hình phạt cải tạo không giam giữ, phạt tiền để giảm số người bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù, mở rộng hơn việc giảm thời gian chấp hành hình phạt tù để làm giảm số lượng phạm nhân tồn đọng trong các trại giam.
– Án treo là một chế định tiến bộ trong luật hình sự của các nước dân chủ, qua thực tiễn áp dụng chúng ta không thể phủ nhận được tính ưu việt của án treo trong việc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, điều đó được thể hiện bằng việc không bắt những đối tượng bị phạt tù có thời hạn (có đủ những điều kiện nhất định) phải chấp hành hình phạt tại các trại giam mà vẫn có thể đạt được mục đích của hình phạt. Để khắc phục những hạn chế của chế định án treo trong thực tiễn áp dụng theo hướng:
+ Cần quy định chặt chẽ nội dung, điều kiện có thể cho hưởng án treo, điều kiện thử thách đối với đối tượng được hưởng án treo trong luật hình sự.
+ Quy định rõ các trường hợp không cho hưởng án treo.
+ Hoàn thiện các quy định về thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo.
+ Cần giới hạn loại tội cho hưởng án treo.
3.3.2. Giải pháp liên quan đến quyết định hình phạt
Quyết định hình phạt là một giai đoạn, nội dung rất quan trọng của hoạt động xét xử. Quyết định hình phạt đúng pháp luật là tiền đề, điều kiện để đạt được mục đích của hình phạt, nghĩa là mới có khả năng cải tạo và giáo dục người bị kết án trở thành người có ích cho xã hội, mới có tác dụng phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung. Ngược lại nếu tuyên một hình phạt không đúng pháp luật tất yếu không có khả năng đạt được mục đích đó. Hình phạt không tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, với nhân thân người phạm tội, với các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự – hình phạt như vậy là quá nhẹ hoặc quá nghiêm khắc.
– Để đảm bảo cho hình phạt được quyết định đúng pháp luật, các cơ quan có thẩm quyền cần tăng cường hướng dẫn áp dụng hình phạt nói chung, hình phạt tù nói riêng; hướng dẫn về các căn cứ quyết định hình phạt như tình tiết giảm nhẹ, tang nặng trách nhiệm hình sự; nhân thân người phạm tội; hướng dẫn quyết định hình phạt trong những trường hợp đặc biệt như chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt, đồng phạm, quyết định hình phạt dưới mức luật định…
– Nâng cao năng lực, trình độ và bản lĩnh của Thẩm phán, Hội thẩm. Để hình phạt tù có thể đạt hiệu quả cao trong thực tiễn, một trong những việc không kém phần quan trọng là những người làm công tác xét xử quyết định một hình phạt công bằng.
Đề tài “Hình phạt tù theo pháp luật hình sự Việt Nam – từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” tuy không mới, nhưng còn nhiều vấn đề cần được nghiên cứu về lý luận cũng như thực tiễn. Trong Luận văn của mình, tác giả đã thực hiện việc nghiên cứu lý luận, đánh giá thực tiễn áp dụng ở tỉnh Quảng Ngãi, rút ra những bất cập, hạn chế để từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hình phạt tù ở tỉnh Quảng Ngãi.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của luận văn, tác giả có một số kết luận sau:
1. Hình phạt tù là hình phạt cơ bản nhất và ra đời sớm nhất. Trong pháp luật hình sự Việt Nam, hình phạt tù bao gồm một hệ thống từ hình phạt nhẹ (án treo) đến hình phạt rất nghiêm khắc (chung thân), tạo khả năng xử lý hành vi phạm tội trên cơ sở các nguyên tắc chung của luật hình sự cũng như các nguyên tắc đặc thù của hình phạt. Hình phạt tù có thời hạn là giam người bị kết án ở các trại giam, tức là cách ly người đó ra khỏi môi trường xã hội bình thường trong một thời gian nhất định để giáo dục và cải tạo họ. Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình. Do tính chất đặc biệt nghiêm khắc của tù chung thân nên Bộ luật Hình sự hiện hành đã quy định không áp dụng tù chung thân đối với người chưa thành niên phạm tội. Cũng giống tù có thời hạn, tù chung thân cũng tước tự do của người bị kết án, cách ly họ khỏi xã hội để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Nhưng khác với tù có thời hạn, tù chung thân không có thời hạn, nghĩa là nó có khả năng tước tự do của người bị kết án đến hết đời.
2. Hình phạt tù có thời hạn được áp dụng phổ biến nhất trong hệ thống hình phạt, có phạm vi áp dụng rất rộng, không phân biệt loại tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng; không phân biệt đối tượng phạm tội nào; có khả năng áp dụng trong hầu hết các loại tội phạm cụ thể. Hình phạt tù chung thân trong hệ thống hình phạt của Bộ luật Hình sự hiện hành đã tạo khả năng phân hóa trách nhiệm hình sự và cá thể hóa hình phạt đối với loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Hình phạt tù chung thân giữ vị trí tiếp nối giữa hình phạt tù có thời hạn và hình phạt tử hình.
3. Hiệu quả của hình phạt tức là nói tới mức độ đạt được mục đích của hình phạt. Việc nghiên cứu hiệu quả của hình phạt phải gắn liền với mục đích của hình phạt. Mục đích của hình phạt gồm: mục đích giáo dục cải tạo, mục đích phòng ngừa chung, mục đích phòng ngừa riêng, mục đích góp phần hạn chế tình hình tội phạm. Mức độ đạt được mục đích của hình phạt càng cao thì hiệu quả đạt được của hình phạt càng lớn. Điều này có nghĩa là việc người phạm tội được giáo dục cải tạo tốt; việc phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung được tiến hành có kết quả trong thực tế; tình hình tội phạm giảm, thì điều đó cũng có nghĩa là hiệu quả đạt được của hình phạt càng cao.
4. Luận văn đã rút ra một số những khiếm khuyết, bất cập cần khắc phục, chỉnh sửa của quy định về hình phạt tù trong pháp luật hình sự Việt Nam. Những khiếm khuyết, bất cập đó càng thể hiện rõ hơn khi được đặt trong việc rút ra từ việc phân tích thực tiễn áp dụng hình phạt tù tại Quảng Ngãi. Chính điều này cho chúng ta thấy rõ hơn những nguyên nhân tiềm tàng, trong đó có nguyên nhân xuất phát từ pháp luật. Kinh nghiệm của nước ngoài trong việc quy định về hình phạt tù cũng được luận văn đề cập tới. Từ đó, luận văn đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, để nâng cao hiệu quả của hình phạt tù trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\LUAT HINH SU\LE VAN TUAN\SAU BAIO VE


