Giảiquyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng qua thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong giai đoạnđổimớitrong mọi lĩnh vựccủa đờisống từchính trị, kinh tế, xã hội và các lĩnh vực khác. Hàng ngày các giao dịch trong xã hội thường diễn ra rất đa dạng, pháp luật khó có thể điều chỉnh đượchếttoàn bộ các quan hệ trong cuộc sống. Khi tham gia giao dịch, thông thường các bên lựa chọn
hình thức giao dịch thông qua hợp đồng – hợp đồng ghi nhận sự thỏa thuận giữa các bên, là cơ sở, căn cứđể pháp luậtbảovệ quyền lợi của các bên khi xảyra tranh chấp. Tại các tổ chức tín dụng, đặc biệt là ở các ngân hàng thương mại thì hợp đồng tín dụng được sửdụng nhiều trong các giao dịch với các khách hàng của mình cho các nhu cầu vay vốn phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng…Bởi hợpđồng tín dụng ngân hàng chứa đựng nhiều yếu tố phức tạp và nhạy cảm nên nó rất dễ dẫn đến tranh chấp của các bên trong hợp đồng. Để tạo khung pháp lý quan trọng cho hoạt động thực thi pháp luật giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt độngcho vay của các tổ chức tín dụng, thực hiện chính sách tiền tệquốc gia, góp phần thúc đẩynguồn vốn cho cánhân, doanh nghiệp, tổ chức sản xuất kinh doanh phát triển góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong những năm qua, nước ta đã không ngừng quan tâm và hoàn thiện, chỉnh sửa hệ thống pháp luật về tổ chức tín dụng và pháp luật về tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng như: Bộ Luật dân sự năm 2015, Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Ngân hàng nhà nước, Luật cácTổchức tín dụng năm 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Tuyvậypháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng cũng như pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng vẫn còn nhiều vấn đề tồn tại, bất cập và khó khăn trong hoạt động thực tiễn. Các vụ án kinh doanh thương mại xảy ra ngày một nhiều và có chiều hướng phức tạp trong việc giải quyết tranh chấp ở tòaán. Từđó nảysinh nhu cầu lớn cần hoàn thiện hơn nữa pháp luật về hợp đồng tín dụng, việc giao kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng thương mại và khách hàng cần được quan tâm hơn, đảm bảo một môi trường công bằng nghiêm minh, trật tự pháp luật cũng như góp phần ổn định phát triển nền kinh
tế Việt Nam.Để có một cái nhìn khách quan nhất đem lại kết quả tốt trong việc hoàn thiện, cải thiện pháp luật về tranh chấp tín dụng của ngân hàng thương mại cần kết hợp tổng thể giữa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề này.
Việc gắn nghiên cứu với một địa bàn cụ thể giúp ta nhìn nhận rõ ràng hơn những thuận lợi, khó khăn trong trình tự thủ tục giải quyết các tranhchấp để từđóđánh giá được việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn nảy sinh những vẫn đề thực tế.Đó cũng chính là lý do tôi chọn đề tài “Giảiquyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng qua thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
– Mục đích nghiên cứucủa đề tài là trên cơsở nghiên cứu lý luận về hợpđồng tín dụng, đềtài tìm ra những vướng mắc của pháp luật vềgiải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân và thực tiễn áp dụng pháp luật tại tòaán nhân dân tại thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh, trên cơ sở đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng.
– Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận về hợp đồng tín dụng và các quyđịnh pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng.
+ Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật khi giải quyết các tranh chấp hợpđồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, chỉ ra những vấn đề phát sinh và bất cập về giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
+ Đưa ra những quan điểmvề hoàn thiện hệthống pháp luật và giải pháp thúc đẩy hoạt động giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề lý luận, thủ tục và thực tiễn xét xửvề giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
– Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về nội dung: Luận văn không nghiên cứu toàn bộ các quyđịnh của pháp luật về hợp đồng tín dụng ngân hàng, mà chỉ tập trung nghiên cứu các thủ tục, nộidungvề tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng còn có sựbất cập, khókhăn phát sinh trong thực tiễn.
+ Phạm vi về thời gian: luận văn tập trung nghiên cứu các tranh chấp và thực trạng giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tài Tòa án nhân dân thành phố HạLong, tỉnh Quảng Ninh từ năm 2015 cho đến hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học: phương pháp so sánh, thống kê; phương pháp phân tích tổng hợp; phương pháp mô hình hóa, hệ thống hóa, khảo sát, phỏng vấn trao đổi trực tiếp với các Thẩm phán, Thư ký tòa, Hội thẩm nhân dân trong hoạtđộng xét xửtại Tòa án cũng như khảo cứu các tài liệu liên quan đến công tác giải quyết tranh chấp về hợp đồng tín dụng ngân hàng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả của luận văn sẽ góp phần bổ sung và phát triển lý luận về vai trò của pháp luật và áp dụng luật trong giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tín dụng ngân hàng của Tòa án nhân dân. Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo có ích với những Thẩm phán, cán bộ Tòa án đang trực tiếp xét xử và giải quyết các tranh chấp về hợp đồng tín dụng ngân hàng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận,mụclục, danh mụctài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được cơ cấu thành 3 chương:
Chương I: Những vấn đề lý luận chung về hợp đồng tín dụng ngân hàng vàpháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân.
Chương II: Thực trạng pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Chương III: Quan điểm về hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
CHƢƠNG I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHẤPHỢPĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng tín dụng
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại hợp đồng tín dụng
* Khái niệm hợp đồng tín dụng
Theo Điều 385, Bộ Luật dân sự (BLDS) năm 2015 quy định:“Hợp đồng làsự thỏathuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụdân sự”thì hợp đồng tín dụng là mộtdạng cụ thể của hợp đồng dân sựvì quan hệtín dụng về bản chất cũng là một quan hệ dân sự.
Theo Điều 463, BLDS năm 2015 quy định:“Hợp đồng vay tài sản là sự thoảthuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếucó thoả thuận hoặc pháp luật có quyđịnh”thì hợpđồng tín dụng là một dạng cụ thể của hợp đồng vay tài sản. Tuy nhiên, chỉ được gọi là hợp đồng tín dụng trong trường hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng (TCTD). Luật các TCTD năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân”( Điều 4, Khoản 1).
Theo Khoản 14, Điều 4, Luật các TCTD năm 2010 thì: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sửdụng một khoản tiền theo nguyên tắccó hoàn trả bằng nghiệpvụcho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.”
Hợp đồng tín dụng (HĐTD) là một căn cứpháp lý mà qua đó TCTD thực hiện hoạt động cấp tín dụng. Việc cho vay của TCTD và khách hàng vay phải được
lập thành HĐTD. Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về số tiền cho vay, mục đích sửdụng vốn vay,đồng tiền cho vay,đồng tiền trả nợ, phương thức cho vay, thời
hạn cho vay, lãi suất cho vay, giải ngân vốn cho vay và việc sửdụng phương tiện thanh toán để giải ngân vốn cho vay, hình thức bảo đảm, phương thức trả nợ và những nội dung khác được tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với quy định của pháp luật có liên quan.
Do đó có thể hiểu:“Hợp đồng tíndụng là sự thỏa thuận chung bằng văn bản giữa bên cho vay là tổ chức tín dụng và bên vay là cá nhân,tổchức nhằm xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định của pháp luật, theo đó tổ chức tín dụng chuyển giao một số tiền cho cá nhân, tổ chức sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trảcảgốc và lãi”.
* Đặc điểm củahợp đồng tín dụng
Với định nghĩa về HĐTD như trên, có thể thấy ngoài những dấu hiệu chung của một loại hợp đồng, HĐTD còn cómộtsốđặc điểm đặc trưng sau đây để phân biệt với các loại hợp đồng khác trong giao dịch dân sự, thương mại:
– Về chủ thể: Một bên tham gia hợp đồng bao giờ cũng là TCTD có đủ điều kiện luật định, với tư cách là bên cho vay. Còn chủ thể bên kia (bên vay) có thể là tổ chức, cá nhânđáp ứng đầy đủnhững điều kiện vay vốn do pháp luật quy định.
-Về hình thức: HĐTD luôn luôn được lập thành văn bản, đa phần là hợpđồng theo mẫu. Tên gọi của HĐTD có thể là: Hợp đồng tín dụng, Thỏa thuận cho vay, Hợp đồng vay, Khế ước vay vốn. Hoặc phụ thuộc vào thời hạn vay, mục đích vay, hợp đồng có thể thêm các cụm từ: “ngắn hạn”, “trung hạn”, “dài hạn”, “đồng Việt Nam”, “ngoại tệ”, “tiêu dùng”, “kinh doanh”, “đầu tư”…
-Về đối tượng:Đối tượng của HĐTD bao giờ cũng là tiền.Vềnguyên tắc,đối tượngcủa HĐTD bao giờ cũng phải làmộtsốtiền xácđịnhvà phảiđượccác bên thỏa thuận, ghi rõ trong vănbản hợpđồng.
– Về tính rủi ro: HĐTD chứa đựng nguy cơ rủi ro rất lớn cho quyền lợi của bên cho vay bởi theo cam kết trong HĐTD, bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau một thời hạn nhất định. Nếuthời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro càng lớn. Vì thế mà các tranh chấp phát sinh từHĐTD cũng thường xảy ra với số
lượng và tỷ lệ lớn hơn so với các loại hợp đồng khác.
-Về cơ chếthực hiện quyền và nghĩa vụ: Trong HĐTD, nghĩa vụchuyển giao tiền vay của bên cho vay (nghĩavụgiải ngân) baogiờcũng phảiđượcthực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay. Dođó, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay theođúng HĐTD cho bên vay thì khi đó họmớicó quyền yêu cầubên vay phải thực hiện đầyđủ các nghĩavụ đối với mình bao gồmcác nghĩa vụ chính nhưsửdụng vốn vay đúngmụcđích, hoàntrả nợ gốc vàlãi tiền vay đúng thời hạn đã thỏa thuận
với bên cho vay…
* Phân loại hợp đồng tín dụng
a. Căn cứ vào thời hạn cho vay. HĐTD chia thành 3 loại:
– HĐTD ngắn hạn: Là loại HĐTD có thời hạn tốiđa 12 tháng (1 năm). Làhợp đồng tín dụng sử dụng vốn vay nhằm bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp hoặc đáp ứng các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
– HĐTD trung hạn: Là loại HĐTD có thời gian từ trên 12 thángđếntối đa 60 tháng (từ trên 1 năm đến tối đa 5 năm). Làhợpđồng tín dụng trong đó người vay sửdụng vốn vay để mua sắm các tư liệu sản xuất, đổi mới thiết bị và dây chuyền công nghệ để nâng cao và mở rộng sản xuất kinh doanh hoặc xây dựng các dự án mới cóquy mô nhỏ với thời gian thu hồi vốn nhanh.
– HĐTD dài hạn: Là HĐTD có thời gian trên 60 tháng (trên 5 năm). Là loại hợp đồngtín dụng sử dụng vốn vay để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà máy, xí nghiệp mới hoặc đầu tư thực hiện các dự án có quy mô lớn và thời gianđầu tư lâu dài.1
b. Căncứvàođốitượng cho vay. HĐTD chia làm 2 loại:
– HĐTD cho vay phục vụ nhucầuđờisống: Là hình thức vay theo đó TCTD cho vay đối với khách hàng là cá nhân để thanh toán các chi phí cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân đó, gia đình của cá nhân đó.
1 TS.Phạm Văn Tuyết & TS.Lê Kim Giang, Hợp đồng tín dụng và biện pháp bảo đảm tiền vay, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2012, tr.25
– HĐTD cho vay phụcvụ hoạtđộngkinh doanh: là hình thức vay theo đóTCTD cho vayđối với khách hàng là pháp nhân, cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu vay vốn, bao gồmnhu cầu vốn của pháp nhân, cá nhân đó và nhu cầu vốn của hộkinh doanh, doanh nghiệp tư nhân mà cá nhân đó là chủ hộ kinh doanh, chủ doanh
nghiệp tư nhân.2
c. Căn cứ vào biện pháp bảo đảm tiền vay. HĐTD chia thành 2 loại:
– HĐTD không có bảođảm:Là hợp đồng tín dụng không có các biện pháp bảo đảmnhưcầmcố, thế chấp, bảo lãnh kèm theo. Việc cho vayđược thực hiện trên cơ sở ngân hàng đánh giá, xếp loại uy tín của khách hàng, theo đó đốivới khách hàng truyền thống, có bề dày uy tín trong quan hệ tín dụng, có khả năng tài chính, quản trịvà sửdụng vốn vay có hiệu quả thì ngân hàng có thể chỉ cần dựa vào uy tín của bản thân khách hàng đó mà cho vay.
– HĐTD có bảo đảm: là hợp đồng tín dụng trong đó để được vay khách hàng phải có tài sản thế chấp để cầm cố, thế chấp hoặc có người thứ ba bảolãnh để bảođảm việc trả nợ vay. Loại cho vay này được áp dụng với khách hàng thông thường nhằm tạo ra nguồn thu bổ sungdựphòng cho trường hợp khách hàng không trả
được nợhoặc trả nợ không đầy đủ khi đến hạn.3
1.1.2. Đối tƣợng, phạm vi và chủ thể của hợp đồng tín dụng
* Đối tƣợng của hợp đồng tín dụng
Đối tượng của HĐTD bao giờ cũng là tiền nhưđồng Việt Nam, vàng hoặc ngoại tệ. Về nguyên tắc, đối tượng của HĐTD bao giờ cũng phải là một số tiền xácđịnh và phải được các bên thỏa thuận, ghi rõ trong vănbản hợp đồng.
* Phạm vi của hợp đồng tín dụng
-Về thời hạn cho vay:Tổ chức tín dụng và khách hàng căncứvào chu kỳhoạt động kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn, khả năngtrả nợ củakhách hàng, nguồn vốn cho vay và thời hạn hoạtđộng còn lại của tổ chức tín dụng đểthỏa thuận về
2Điều2, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
3 TS.Phạm Văn Tuyết & TS.Lê Kim Giang,Hợpđồng tín dụng và biện pháp bảo đảm tiền vay, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, 2012, tr.25-26.
thời hạn cho vay. Đối với khách hàng là pháp nhân được thành lập và hoạt động tại Việt Nam, pháp nhânđượcthànhlập ở nướcngoài và hoạtđộnghợp pháp tại Việt Nam, thời hạn cho vay không quá thời hạn hoạt động hợp pháp của khách hàng; đối với cá nhân có quốc tịch nước ngoài cư trú tại Việt Nam, thời hạn cho vay không vượt quá thời hạn được phép cư trú còn lại tại Việt Nam.4
-Về lãi suất cho vay: BLDS năm 2015 quyđịnh:“Lãi suất vay do các bên thỏa thuận, trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận của không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quyđịnh khác”( Điều 468, Khoản 1).Theo Khoản 2, Điều 91, Luật các TCTD năm 2010 quyđịnh:“Tổchức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy địnhcủa pháp luật”. Như vậy mức lãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thoả thuận được thực hiện theo quy định của Luật các Tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng và khách hàng được thỏa thuận về mức lãi suất, phương pháp tính lãi phù hợp với quy định của pháp luật. Lãi suất cho vay được thỏa thuận dựa trên cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của khách hàng. Mứclãi suất cho vay do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá mức lãi suất cho vay tối đa do Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam quyết định.5
Mức lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốcquá hạn do TCTDấn định vàthoả thuận với khách hàng trong HĐTD nhưng không vượt quá 150% lãi suất cho vay áp dụng trong thời hạn cho vay đã được ký kết hoặc điều chỉnh trong HĐTD.
– Về mức cho vay: Tổ chức tín dụng căn cứ vào phương án sử dụng vốn, khả năng tài chính của khách hàng, các giới hạn cấp tín dụng với khách hàng và khảnăng nguồn vốn của tổ chức tín dụng để thỏa thuận với khách hàng về mức cho vay. Tổ chức tín dụng căn cứvào nhu cầu vay vốn và khả năng hoàn trả nợ của khách
4Điều28, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
5Điều4, Thông tư số 14/2017/TT-NHNN ngày 29/9/2017 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam quyđịnh phương pháp tính lãi trong hoạt động nhận tiền gửi, cấp tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng.
hàng, khả năng nguồn vốn của mình để quyết định mức cho vay.6
Ngoài ra, khi cho vay các TCTD căn cứ vào Điều 127, Luật các TCTD năm 2010 quy định về hạn chế cấp tín dụng, tùy thuộc vào đối tượng được cấp tín dụng mà tổng mứcdưnợ cấp tín dụng đốivới từng đối tượng là khác nhau không quá5%, 10%, 20% vốn tự có của mình.
* Chủ thể hợp đồng tín dụng
Quan hệ pháp luật tín dụng là quan hệ tài sản – hàng hóa phát sinh trong quá trình sử dụng vốn tạm thời giữa ngân hàng và các tổ chức, cá nhân theo nguyên tắc có hoàn trả, dựa trên cơ sở tín nhiệm hoặc cósựbảo đảm, được các quy phạm pháp luật điềuchỉnh. Tham gia quanhệnày có ít nhất gồm haichủthể là bên cho vay vàbên đi vay.
– Bên cho vay: Luôn là TCTD, được thành lập và hoạt động theo quyđịnh của Luật các TCTD và các văn bản pháp luật có liên quan. Có chức năng hoạt động, kinh doanh tín dụng, thực hiện các chính sách kinh tế – xã hội.
– Bên đi vay (Khách hàng): là pháp nhân, cá nhân quy định tại Khoản 3, Điều 2, Thông tưsố 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốcNHNN Việt Nam bao gồm:“Pháp nhân được thành lập và hoạtđộngtạiViệt Nam, pháp nhânđược thành lập ởnước ngoài và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam; Cá nhân cóquốc tịch Việt Nam, cá nhân có quốc tịch nước ngoài”.
1.2. Tranh chấp hợp đồng tín dụng
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm tranh chấp hợp đồng tín dụng
* Khái niệm tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tranh chấp hợp đồng khác biệt với vi phạm hợp đồng. Vi phạm hợp đồng làhành vi pháp lý của các bên đã xửsựtrái với các điều khoản đượccam kết trong hợp đồng. Còn tranh chấp hợp đồng là ý kiến không thống nhất của các bên về hành vi vi phạm đó hoặc cách thức giải quyết hậu quả phát sinh từsựvi phạmđó và được
6Điều12, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quyđịnh vềhoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
thể hiện ra bên ngoài. Cho nên, không phải cứ khi nào vi phạm hợp đồng thì khi đócó tranh chấp mà đôi khi sự vi phạm hợp đồng diễn ra trước và tranh chấp hợp đồng lại là sựkiện diễn ra sau đó một khoảng thời gian nhất định. Và đôi khi có sựvi phạm hợp đồng tín dụng nhưng không thể có sự tranh chấp bởi các bên không bày
tỏ ra bên ngoài về sự bất đồng hay xung đột lợi ích giữa họ với nhau bằng các hành
vi phản kháng cụ thể có giá trị chứng cứ.7
Tranh chấp trong HĐTD phát sinh từsựmâu thuẫn hay không thốngnhất vềquyền và nghĩa vụ hoặc lợi ích trong quá trình thực hiện HĐTDcủacác bên tham gia. Một HĐTD chỉ được coi là có tranh chấp khi sự xung đột, bất đồng về quyền
lợi giữa các bên đã được thể hiện ra bên ngoài thông qua những bằng chứng cụ thể và xác định được.
Như vậy, tranh chấp hợp đồng tín dụng là những mâu thuẫn, bất đồng phát sinh từ quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng giữa bên cho vay là tổ chức tín dụng và bên vay. Đó là những tranh chấp cóthể về nợ gốc, nợlãi, lãi suất, phí, về mọi vấn đề liên quan đến hợp đồng cho vay như điều kiện vay, mục đích sửdụng vốn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, xử lý tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và các nội dung khác.
Tranh chấp tín dụng được hiểu là tranh chấp về các hợpđồngtín dụng ngân hàng bao gồm hợp đồng cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các hợp đồng tín dụng khác.
* Đặc điểm tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng
Tranh chấp HĐTD ngân hàng cũng là một loại tranh chấp hợp đồng dân sựnói chung, do vậy có đầy đủ những đặc điểm vốn có của một tranh chấp hợp đồng. Tuy vậy, với bản chất đặc thù của Hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng có một số đặc điểm đặc trưng riêng biệt để có thể phân biệt với các loại tranh chấp hợp đồng khác.
– Thứ nhất: Tranh chấp HĐTD ngân hàng luôn cósựtham gia của một bên là
7 Trần Thị Thùy Trang,“Pháp luật vềgiải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng bằng con đường Tòa án ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội năm 2014, tr.9.
TCTD và phần lớn các tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng thì nguyên đơn làTCTD cho vay, bị đơnlà bên vay. Trong mối quan hệ HĐTD, các nghĩa vụ chính của bên vay thường phát sinh sau thời điểmgiải ngân vốn vay. Trong khi đó, tại thời điểm hoàn tất việc giải ngân cho khách hàng thì TCTD đã hoàn thành các nghĩa vụ của mình. Các nghĩa vụ khác của bên cho vay như bảo mật thông tin, lưu trữhồsơ cấp tín dụng, nghĩa vụ thông báo, bảo quản giấy tờ tài sản bảo đảm, giải chấp tài sản đảm bảo…là ít quan trọng và là nghĩa vụ phát sinh từ quyền của bên vay. Do đó, nếu có tranh chấp xảy ra thì thường là do bên vay vi phạm nghĩa vụ của mình, rất hiếm gặp trường hợp bên vay khởi kiện TCTD.
– Thứ hai: đa phần các tranh chấp liên quan đến HĐTD ngân hàng chính là các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả gốc, lãi của bên vay cho TCTD, về mức lãi suất vay, về vấn đề bảo đảmthực hiện nghĩa vụ trong HĐTD. Có rất nhiều loại tranh chấp phát sinh từ HĐTD như tranh chấp về chủ thể xác lập, thực hiện HĐTD, tranh chấp liên quan đến bảo lãnh vay vốn, tranh chấp liên quan đến mục đích sử dụng vốn vay…Tuy nhiên, tranh chấp xảy ra nhiều nhất là tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ hoàn trả gốcvà lãi, về mức lãi suất vay, vềnghĩa vụ bảo đảm. Bởi vì những nghĩa vụ này chính là những nghĩa vụ chính nhất, đóng vai trò quyết định trong quá trình thực hiện HĐTD của các bên tham gia vàviệc thực hiện này có tác động trực tiếp đến quyền lợi của TCTD.
– Thứ ba: Tranh chấp HĐTD ngân hàng thường gắn liền và là tiềnđề làm phát sinhvớimột quan hệ hợp đồng khác như: hợp đồng bảo đảm tiền vay thông qua hình thức cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Các TCTD khi tham gia vào HĐTDđều cómục đích lợi nhuận từ việc cho vay đó. Để giảm thiểu, hạn chếrủi ro trong trường hợpbên vay không trả được nợ, thông thường TCTDchỉđồng ý cho bên vay được vay vốn khi họ có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của bên thứba. Các biện pháp bảo đảmnày đóng vai trò là phương pháp dựphòng củaTCTD khi rủi ro xảyra. Khi đó, để đảmbảo cho nghĩavụ được thanh toán trong HĐTD thì các bên ký kết hợp đồng bảo đảm cho khoản vay. Tùy trường hợp mà đó có thể là hợp đồng cầmcố, hợp đồng thế chấp hay là dưới hình thức chứng thư bảo lãnh của bên thứ ba. Những điều khoản về quyền và nghĩa vụ trong
các hợp đồng bảo đảm cho nghĩa vụ vay vốn là để bảo đảm cho việc vay vốn, xuất pháttừHĐTDđã được kýkết và mục đích cuối cùng là bảo đảm cho việc trả nợ của bên vay khi gặp rủi ro về nghĩa vụ thanh toán nợ.
– Thứ tư: tranh chấp HĐTD ngân hàng phát sinh từsựxung độtvề lợi ích giữa các bên tham gia tranh chấp.Bởivì tranh chấp HĐTD ngân hàng cũng là một loại tranh chấp hợp đồng dânsựnói chung nên phải xuất pháttừxung độtlợiích của các bên trong hợp đồng. Đối với tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng thìchỉ chính các bên hayngười đại diện hợp pháp của họ mới có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên vay hay bên cho vay. Như vậy tranh chấp phát sinh từ HĐTD chỉ phát sinh khi các bên khởi kiện yêu cầu bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình trong quan hệ tín dụng.8
1.2.2. Các dạng tranh chấp hợp đồng tín dụng
Thực tiễn cho thấy các tranh chấp phát sinhtừHĐTD ngân hàng là rất đa dạng và phức tạp. Tuy nhiên, thường tranh chấp phát sinh từHĐTD có hai loại:
tranh chấp HĐTD là tranh chấp về hợp đồng dân sự khi bên vay vốn là cá nhân, hộ gia đình hay tổ chức không có mục đích lợi nhuận và không có đăng ký kinh doanh; Tranh chấp HĐTD là tranh chấp kinh doanh thương mại khi bên vay vốn là cá nhân,
tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận.
Xét về phương diện lý thuyết, tranh chấp phát sinh từ HĐTD có các dạng cơbản sau đây:
– Tranh chấp do các bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng:
+ Hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên cho vay: HĐTD ngân hàng là một dạng của hợp đồngcó hình thức bắt buộcthểhiện bằng văn bản. Do vậy, sau khi HĐTD ngân hàng có hiệu lực, việc giải ngân vốn mà hai bên đã thỏa thuận là nghĩa vụ của các ngân hàng thương mại(NHTM). Tuy nhiên vì mộtlý do nào đó (lý do khách quan hoặc lý do chủ quan) mà các NHTM đã không thực hiện hoặc thực hiện khôngđầy đủ nghĩavụ giải ngân đối với bên vay. Điều này làm ảnh hưởng tới quyền và lợi
8 Phạm Thị Như Bình, “Giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng tại Tòa án cấp sơ thẩm theo pháp luật Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học,Đại học Huế- Trường Đại học Luật,Huế năm 2017, tr.11.
ích hợp pháp, làm chậm tiến độ xây dựng, phá vỡkế hoạch, mấtcơ hội kinh
doanh…của bên vay, dẫn tới những tổn thất về kinh tế, về uy tín và thương hiệu của bên vay. Do đó, bên vay có thể kiến nghị, đòi bồi thường cho những tổn thất đó, vìvậy mà tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng đã xảy ra.
+ Hành vi vi phạm nghĩa vụ trả lãi và thậm chí cả gốc và lãi của bên vay. Sau một thời gian thực hiện hợp đồng phía khách hàng sử dụng vốn vay không hiệu quảnên dẫnđếnmấtkhảnăng thanh toán nợ gốc và lãi. Trong những năm gần đây, loại tranh chấp phát sinh từphía khách hàng vay vốn đang là dạng tranh chấp xảyra nhiều nhất trong các loại tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng, tranh chấp nàyđã và đang gây không ít khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp để thu hồi vốn, giảm tỷ lệ nợ xấuxuống theo đúng tỷ lệ mà Ngân hàng nhà nước quy định tại các NHTM.
– Tranh chấp về chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng tín dụng:
Tranh chấp này trên thực tế tương đối đa dạng và phức tạp nhất là trong những trường hợp có yếutố nướcngoài.Điều này gây không ít khó khăn cho cơquan giải quyết tranh chấp. Trong quá trình ký kết HĐTD, việc xem xét tư cách chủthể của bên vay vốn là một vấn đề quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực của HĐTD. Trên thực tế, nếu TCTD không xác định đúng tư cách chủ thể (đặc biệt là trường hợp khách hàng vay là tổ chức, doanh nghiệp) dẫn đến việc ký hợp đồng tín dụng với chủ thể không có thẩm quyền ký kết. Hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu gây thiệt hại nặng cho các TCTD.
– Tranh chấpvề đối tượng của hợp đồng tín dụng: bao gồmtranh chấp vềquyền của các bên trong HĐTD ngân hàng hoặc hợp đồng bảo đảm tiền vay; Tranh chấp về nghĩa vụ của các bên trong HĐTD ngân hàng hoặc hợp đồng bảo đảm tiền vay; Tranh chấp về số tiền vay và lãi suất cho vay; Tranh chấp về thời hạn vay, thời hạn tính lãi quá hạn, thời hạn bảo đảm tiền vay; Tranh chấp về vấn đề hiệu lực của
hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay…
– Tranh chấp xảy ra từ việc thực hiện biện pháp bảo đảm đối với HĐTD cóbảo đảm bằng tài sản và định giá, xử lý tài sản bảođảm:
Trong HĐTD có bảo đảm bằng tài sản, TCTD cho vay luôn có quyền ưu tiên theo đuổi tài sản bảo đảmđể thu hồi nợ cho mình, bất luận tài sảnbảo đảmđang nằm ở đâu và trong sự quản lý của ai. Quyền này của các TCTD được xác lập trên cơ sở giao dịch bảo đảm giữa TCTD (bên nhận bảo đảm) với bên vay hoặc bên thứba (bên bảo lãnh). Khi đến hạn mà bên vay không thực hiện hoặc thực hiện khôngđầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì TCTD được quyền ưu tiên thanh toán từ số tiền bán tài sản bảo đảm. Chính bởi bản chất HĐTD mang tính rủi ro cao nên các TCTD coi bảođảmtín dụng là nguồn thu nợ thứhai khi nguồn thu nợ thứnhất (các lưu chuyển tiền tệ) khôngthểthanh toán được nợ. Hiện nay, theo quy định của pháp luật có ba hình thức bảo đảm tín dụng là cầm cố, thế chấp, bảo lãnh. Quá trình xác lập, thực hiện giao dịch bảo đảm và xử lý tài sản bảo đảm được quy định tạicác điều từ292đến Điều 350 Bộ luật Dân sự năm 2015, Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Nghị định 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 của Chính phủ về việc sửa đổi,bổ sung một số điềuNghị định số163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện không phải lúc nào các bên cũng tuân thủ nghiêm túc những quy định của pháp luật nên rất dễ phát sinh tranh chấp.
Các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng này xảy ra tương đối nhiều chủ yếu liên quan đến việc định giá, xử lý tài sản bảo đảm. Đối với những HĐTD cho vay có bảo đảm, việc xác định tài sản bảo đảm thuộc sở hữu của vợ chồng, tài sản riêng của từng người hay tài sản thuộcsở hữu chung củahộgia đình có ý nghĩa quan trọng đối với việc xửlý tài sản bảo đảm trong trường hợp bên vay không trả được nợ. Nếu trong trường hợp khi thẩm định hồ sơ vay vốn, nhân viên ngân hàng thẩmđịnh không kỹ, kết quả thẩm định không chính xác dẫn đến chấp nhận những tài sản bảo đảm không đúng quy định của pháp luật khi thực hiện giao dịch bảo đảm thìsẽdẫn đến những tranh chấp phát sinh khi TCTD về xử lý tài sản bảo đảm.
– Tranh chấp về pháp luật giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng: Thường xảyra tranh chấp trong trường hợp nếu như có yếu tố nước ngoài mà khi ký kết HĐTD các bên đã không thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng cũng như cơ quan giải quyết tranh chấp là trọng tài thương mại hoặc tòa án
1.2.3. Nguyên nhân dẫn đến phát sinh tranh chấp hợp đồng tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường, do nhucầu vốnđể pháttriển kinh tế là rất lớn nên tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng cũng có xu hướng ngày càng tăng, đa dạng về chủng loại và phức tạp về tính chất, mức độ của quan hệ tranh chấp. Do vậy, việc tìm hiểu những nguyên nhân dẫn đến tranh chấplà hết sức cần thiết đểtừđó đánh giá và đưa ra những giải pháp, chính sách phù hợp nhất nhằm hạn chế tranh chấp, từ đó giảm chi phí giao dịch cho các bên liên quan đến HĐTD ngân hàng. Từnhững đặc điểm và phân loại tranh chấp HĐTD ngân hàng có thể thấy nguyên nhân gây ra tranh chấp HĐTD rất đa dạng, được xem xét theo nhiều tiêu thức khác nhau. Tuy nhiên, về lý thuyết có thể phân chia các nguyên nhân này thành ba nhóm cơbản sau đây:
– Thứ nhất, nguyên nhân từ phía bên cho vay:
+ Nguyên nhân từvấnđề giải ngân: Bên cho vayđã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân theo đúng các điều kiện trong HĐTDđã ký làm hạn chế khả năng thực hiện kế hoạch kinh doanh nhưdựkiến, hiệu quả kinh doanh đạt được thấp gây ảnh hưởng đến việc trả lãi và gốc sau này của bên vay.
+ Bên cho vay chưa có chính sách phù hợp và quy trình cấp tín dụng hiệu quả, chặt chẽ, chưa có quy trình quản trị rủi ro hữu hiệu, chưa chú trọng đến phân tích khách hàng, chấm điểm, xếploại, xếp hạng khách hàng, phân loại rủi ro tín dụng để tính toán điều kiện và khả năng trả nợ của bên vay khi đến hạn hợp đồng.
+ Bên cho vay chưa chấp hànhđầyđủ cácđiều kiện về biện phápbảo đảm tiền vay của Ngân hàng nhà nước, chưa phân tích, đánh giá các điều kiện về biện pháp bảo đảmtiền vay. Nhiều TCTD khi đánh giá về biện pháp bảođảmtiền vay chỉ dựa vào nguồn thông tin, hồ sơ, số liệu do khách hàng cung cấp mà chưa có sựkiểm chứng các sổ sách kế toán và kiểm tra thực tế.
+ Năng lực, phẩm chất, đạo đức của cán bộ tín dụng: do sự hạn chế về năng lực nghiệp vụ của các bộ ngân hàng, do các NHTM thường có thói quen tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà không kiểm soát chặt chẽviệc sử dụng vốn vay.
– Thứ hai, nguyên nhân từ phía bên vay:
+ Nguyên nhân khách quan: Là nhữngyếu tố tác độngngoài ý chí, tầm kiểm soát của bên vay như do sựthayđổi của chính sách quản lý kinh tế, do thiên tai, dịch bệnh, hoả hoạn, điều chỉnh quy hoạch, do biếnđộngthị trường, quan hệ cung
cầu hàng hoá thay đổi…làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của bên vay không thực hiện như kế hoạchđã đềra.
+ Nguyên nhân chủ quan: là những yếu tố xuất phát từ mỗi khách hàng. Có thể là do bên vay không nắm được thông tin cần thiếtvềkế hoạch đầu tư, sản xuất khi vay vốn dẫn đến việcsửdụng vốn vay về đầu tư không có hiệu quả. Có thể làdo vốn tự có tham gia vào dự án, phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không đáp ứng nhu cầu, năng lực điều hành còn hạn chế, thiếu thông tin thị trường và thông tin về các đối tác, bạn hàng làm ảnh hưởng tớiquá trình sản xuất, công nghệ chưa được cải tiến, nângcấpnên sản phẩm sản xuất ra chưa có tính cạnh tranh cao, hiệu quả kinh doanh kém, hậu quả là doanh nghiệp thua lỗ lâm vào tình trạng phá sản. Cũng có trường hợp do bên vay cố tình đưa ra những thông tin sai sự thật ngay từ khi vay vốn nên khi vềđầu tưhay sử dụng vào mục đích của mình không có hiệu quả.
Nguyên nhân nữa là do bên vay còn thiếu hiểu biết về pháp luật, trình độ hiểu biết của bên vay còn hạn chế về những kiến thức pháp luật liên quan. Cótrường hợp bên vay ký những hợp đồng trái luật trong khi bản thân không hiểu rõvề pháp luật, nên khả năng xảy ra những bất lợi cho mình là rất lớn.
– Thứ ba, nguyên nhân do quy định của pháp luật:
Các quy định của pháp luật còn chưa được thống nhất, dẫn đến mỗi bên hiểu theo những cách khác nhau nhằm bảo vệ cho quyền và lợi ích của mình, từđó xảy ra tranh chấp khi các các bên nảysinh bất đồng quan điểm, mâu thuẫn. Hiện nay pháp luật quyđịnhbên cho vay nếu muốn từ chối cho vay khách hàng nào thì bắt buộc phải đưa ra lý do, căn cứ chính đáng. Nhưng trên thực tế chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể về vấn đề này. Do vậy, phía bên cho vay cho rằng cho vay làquyền tự do kinh doanh của họ nên lý do có chính đáng hay không là do họ quyết định. Còn phía bên đi vay thì không chấp nhận với cách hiểuđó nên trong trường hợp bị từchối cho vay họ sẵn sàng khiếunạitới các cơ quan liên quan để đề nghịgiải quyết.
Ngoài ra, còn nhiều quy định chồng chéo lẫn nhau đặc biệt là các biện pháp xửlý tài sản bảo đảm.Hành lang pháp lý cho hoạt động giao dịch bảo đảmchưa hoàn chỉnh, thiếu đồng bộ và nhiều quy định không thể thực hiện được trên thực tế, như việc thế chấp tài sản là đất và tài sản gắn liền với đấtnhưng trên giấy chứng nhận chỉ có đất, chưa chứng nhận quyền sở hữu tài sản trên đất chưa bổ sung trước bạ nhà nên khi công chứng hợp đồng thế chấp, đăng ký giao dịch bảo đảm chỉ ghi quyền sử dụng đất mà không ghi phần tài sản trên đất. Việc đăng ký giao dịch bảođảm thực hiện phân tán ở nhiều cơ quan khác nhau tạo rasựkhông đồng bộ trong quá trình quản lý. Theo Nghị định số 163/2006/NĐ-CP và Nghị định 11/2012/NĐ- CP sửa đổinghịđịnh163/2006/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảođảm, cho phép các TCTD được lựa chọn hình thức xử lý đa dạng như: bán tài sản thế chấp, nhận các khoản tiền và tàisảntừngười thứba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ, phương thức khác do các bên thoả thuận. Trường hợp các bên không
tựthoả thuận được phương thức xử lý tài sản là quyềnsửdụng đất, tài sản gắn liền với đất thì các tài sản này được đem bán đấu giá nhưng để thực hiện được các bên lại phải kýhợpđồnguỷquyền tạiđơnvịbán đấugiá có thẩm quyền. Điều này thường không thực hịên được do bên thế chấp không đồng ý và khi đó các TCTD không có cơ chế nào để bảo vệ được quyền lợi của mình.
1.3. Phƣơng thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng
Trên thế giới, tùy thuộc vào quan điểm, tư tưởng của các nhà lập pháp của từng quốc gia mà luật pháp mỗi nước có những quy định khác nhauvề vấn đề giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng. Tuy vậy, hầu hết các quốc giađều thừa nhận các hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại nói chung vàgiải quyết tranh chấp phát sinhtừHĐTD ngân hàng nói riêng bao gồm: thương lượng, hòa giải, trọng tài thương mại và tòa án.
Thực tế cho thấy, mỗi hình thức giải quyết tranh chấp nói trên đều có những điểmlợi thế và nhữngđiểmhạn chếnhất định.Tùy thuộc vào tính chất của tranh chấp, mức độ phức tạpcủa tranh chấp, khả năng và điều kiện cụ thể của các bên màcác chủ thể tranh chấp có thể lựa chọn hình thức này hay hình thức khác, hoặc sửdụng phối hợp nhiều hình thức khác nhau nhằm giải quyết tranhchấp đạt hiệu quảcao nhất.
1.3.1. Phƣơng thức giải quyết tranh hợp đồng tín dụng ngân hàng bằng thƣơng
lƣợng
Phương thức thương lượng là phương thức được các bên tranh chấp lựa chọn trước tiên trong quá trình giải quyết tranh chấp và trong thực tiễn phần lớn các tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng được giải quyết bằng phương thức này. Thông qua phương thức này, các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tự tháo gỡnhững bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sựtrợ giúp hay phán quyết của bất kỳ bên thứ ba nào. Phương thức tự thương lượngđược Nhà nước khuyến khích áp dụngđểgiải quyết tranh chấp trên tinh thần hoàn toàn tôn trọng quyền thỏa thuận của các bên. Do vậy, cho đến thời điểm hiện tại pháp luật khôngđưa ra bất cứ quy định nào cho phương thức giải quyết này.
Phương pháp thương lượng được các bên tiến hành đầu tiên bởi ưu điểm của nó là sự thuận tiện, đơn giản, nhanh chóng, tính linh hoạt, hiệu quả và ít tốn kémvềthời gian, tiền bạc, không bị ràng buộc bởi các thủ tục pháp lý phức tạp, hơn nữa còn đảm bảo bí mậtkinh doanh, uy tín của các bên tranh chấp. Nếu thương lượng thành công không những các bên loại bỏ được những bất đồng, mâu thuẫn đã phát sinh mà ít gây phương hại đến quan hệ hợp tác vốn có của các bên thậm chí cònđược tăng cường về sựhiểu biết và hợp tác lẫn nhau trong tương lai khi kết thúc cuộc thương lượng.
Hiện nay bên cạnh việc thương lượng truyền thống thì với sự phát triển của công nghệ thông tin các bên có thể thương lượng bằng trực tuyến. Tuy nhiên, tại Việt Nam phương thức này chưađược áp dụng phổbiến,đặc biệt là trong tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Song bên cạnh các ưuđiểmtrên, phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng cũng có những nhược điểm như: thương lượng thành công phụ thuộc vào sự hiểu biết và các bên có thái độ thiện chí, hợp tác muốn tìm giải pháp đối với tranh chấp. Trong trường hợp nếubên vay muốn dùng hình thức thương lượng đểkéo dài thời gian thực hiện nghĩa vụ thì thương lượng chỉ làm tốn kém và kéo dài thời gian giải quyết tranh chấp hơn. Mặt khác, kết quả quả thương lượng lại khôngđược đảmbảo bằng cơ chế pháp lý mang tính bắt buộc. Do đó,dù các bên có đạtđược thỏa thuậnđể giải quyếtvụ việc tranh chấp thì việc thực thi kết quả thương lượng vẫn phụ thuộc vào sựtựnguyện của bên phải thi hành. Nếu một bên không tựnguyện thì kết quả thương lượng cũng chỉ tồn tại trên giấy mang tính hình thức màkhông có một cơ chế pháp lý nào bắt buộc thi hành đốivới kết quả thương lượng của các bên. Điều này dễ dẫn đến bị lạm dụng trong thực tiễn giải quyết tranh chấp. Mặt khác, hình thức giải quyết khép kín, không công khai có khi lại nảy sinh những tiêu cực, trái pháp luật.
1.3.2. Phƣơng thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng bằng hòa giải
Việc giải quyết tranh chấp bằng hòa giảiđược thực hiện theo quyđịnh tại Nghị định số 22/2017/NĐ-CP ngày 24/2/2017 của Chính phủ về hòa giải thương mại.
Phương thức giải quyết tranh chấp bằng hoà giải là các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận để giải quyết các vấn đề tranh chấp và phải có sựhỗ trợcủa bên thứ ba là hòa giải viên. Phương thức hòa giải cũng là một phương thức giải quyết tranh chấp không chịu sự điều chỉnh của pháp luật, được thực hiện hoàn toàn dựa trên thiện chí của các bên. Bên trung gian hòa giải có thể là cá nhân,tổ chức luật sư, tư vấn, hoặc các tổ chức khác do các bên thỏa thuận lựa chọn. Bên thứba trung lậpchỉhỗ trợ, thuyết phục các bên tìm kiếm giải pháp đưa ra thoả thuận, không có thẩm quyền đưa ra phán xét. Kết quả hòa giải hoàn toàn phụ thuộc vào sự
tựnguyện, tinh thần thiện chí của các bên tranh chấp và uy tín, kinh nghiệm, kỹnăng của trung gian hòa giải, quyếtđịnh cuối cùng của việc giải quyết tranh chấp không phải của trung gian hòa giải mà hoàn toàn phụthuộc các bên tranh chấp. Trên thực tế, phương thức hòa giải đã được sử dụng, nhưng phạm vi và hiệu quả áp dụng còn ở mức khiêm tốn.
Phương pháp giải quyết tranh chấp bằng hoà giải có những ưu điểm như: có sựtham gia của bên trung gian là hòa giải viên là những người có trình độ chuyên môn cao, có kinh nghiệm và hiểu biết pháp luật. Hòa giải viên là trung gian góp phần làm cho các bên đưa ra thống nhất phương án giải quyết đểloại trừtranh chấp.Thủ tục hòa giải được tiến hành nhanh gọn không gò bó, tiết kiệm được thời gian, địa điểm hoà giải có thể được thỏa thuận và điều chỉnh do các bên tham gia giải quyết tranh chấp, các bên có quyềntựđịnh đoạt, lựa chọn bất kỳ người nào làm trung gian hòa giải có hiểu biết chuyên môn về vấn đề tranh chấp. Hòa giải mang tính thân thiện nhằm tiếp tục giữ gìn và phát triển các mối quan hệ kinh doanh vì lợiích của cả hai bên. Trong hòa giải, các bên tranh chấp có thể nói chuyện, traođổi,đàm phán và thảo luận về các giải pháp trong toàn bộ quá trình. Quá trình hòa giải
tạo cơ hội cho mỗi bên bàytỏ quan điểmcủa mình về tranh chấp, không dẫn đến tình trạng đối đầu, thắng thua như quá trình kiện tụng tại tòa án, duytrì đượcmối quan hệ vốn có của các bên. Vì hòa giải xuất phát từsựtựnguyện tham gia và tự do thỏa thuận của các bên, nên nội dung thỏa thuận luôn theohướngtớilợi ích của tất cả các bên. Mặt khác, là khi giải quyết bằng hòa giải, các bên kiểm soát được những bí mật của mình bởi phiên họp hòa giải được tổ chức kín, trong khi giải quyết tại Tòa án thì các yêu cầu này không được đảmbảo do tòa án thực hiện xét xửtheo nguyên tắc công khai.
Cũng giống như thương lượng, hiện nay hòa giải cũng áp dụng phương pháp hòa giải trực tuyến. Đây là phương pháp đang được áp dụng rộng rãi ở những quốc
gia phát triển như Hoa Kỳ, Úc, Singapore …Tuy nhiên, cách thức triển khai này cũng chưa được áp dụng ở Việt Nam khi hiện tại mới chỉ có một số trung tâm hòa giải được thành lập, do đó luận văn cũng không đi sâu vào phương thức này.
Bên cạnh những ưu điểm, giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng bằng phương pháp hòa giải vẫn còn tồn tại những hạn chế, nhược điểmnhất địnhnhư: giải quyết theo hình thức khép kín, không công khai nên rất dễ nảy sinh những tiêu cực, trái pháp luật. Việc hòa giải có đượctiến hành hay không phụ thuộc vàosựnhất trí của các bên, hòa giải viên không có quyền đưa ra một quyết định ràng buộc hay áp đặt bất cứvấn đề gì đối với cácbên tranh chấp thỏa thuận hòa giải, không cótính bắt buộc thi hành như phán quyết của Trọng tài thương mại hay của Tòa án.Kết quả hòa giải cũng không được pháp luật bảo đảm thi hành, hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của các bên. Vì vậy, phương pháp này ítđượcsửdụng nếu các bên không có sựtin tưởng với nhau.
1.3.3. Phƣơng thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài
thƣơngmại
Phương thức giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng bằng trọng tài thương mại cũng bắt nguồn từsựthỏa thuận của các bên trên cơ sở tự nguyện và được tiến hành theo quy định của Luật Trọng tài thương mại 2010. Các bên được quyền thỏa thuận lựa chọn một Trọng tài phù hợp, chỉ định trọng tài viên để thành lập Hội đồng (hoặc Ủyban) Trọng tài giải quyết tranh chấp với tư cách là bên thứba độc lập nhằm giải quyết mâu thuẫn tranh chấp bằng việc đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc thi hành. Điều này khác với phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng và hòa giải.
Xuất phát từthực tiễn hoạt động giải quyết tranh chấp phát sinh từHĐTD ngân hàng bằng trọng tài thương mại cho thấy những ưu điểmsau: Thứ nhất, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại thể hiện tính năng động, linh hoạt vàmềmdẻo, tạo quyền chủ động cho các bên về địa điểm, thời gian giải quyết tranh chấp, tiết kiệm được thời gian có thể rút ngắn thủ tục tố tụng trọng tài trong khi Tòa án khi xét xửphải tuân thủ một cách đầyđủvà nghiêm ngặt các quyđịnh có tính chất quy trình, thủ tục, trình tự được quy định trong BLTTDS và các văn bản hướng dẫn liên quan. Thứ hai, phương thức giải quyết tranh chấp trọng tài thương mại trong giải quyết tranh chấp có nguyêntắcxétxửkhông công khai(xửkín) nếu các bên không có thỏa thuận khác. Đây là một ưu điểm mà các bên tranh chấp luôn coi trọng bởi các bên không muốn các chi tiết của vụtranh chấpbị đem ra công khai trước Tòa án, điềumà các doanh nghiệp luôn coi là tối kỵtrong hoạt độngkinh doanh của mình. Việc xét xử tranh chấp bằng trọng tài thương mạitrên thực tế đãlàm giảm đáng kể mức độ xung đột, căng thẳng của những bất đồng bởi nó diễn ra trong một không gian kín, nhẹ nhàng, mang nặng tính trao đổi để tìm ra sựthật
khách quan của vụ việc. Đó chính là những yếu tố tạo điều kiện để các bên duy trìđược quan hệ đối tác, quan hệ thiện chí đối với nhau. Thứ ba, quyết định của Trọng tài thương mại là chung thẩm và vì vậy nó có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên, các bên không thể chống án hay kháng cáo. Việc xét xửtại Trọng tài thương mạichỉ diễn ra ở một cấp xét xử, đó cũng chính là điều khác biệt cơ bản so với xét xửtại Tòa án bởi thông thường xét xử tại Tòa án diễn ra ở hai cấp. Hội đồng trọng tài sau khi tuyên phán quyết xong là đã hoàn thành nhiệm vụ của mình và chấm dứt sựtồn tại. Thứ tư, giải quyết trọng tài khôngbị giớihạn vềmặt lãnh thổ do các bên có quyền lựa chọn bất kỳ trung tâm trọng tàinào đểgiải quyết tranh chấp cho mình. Thứ năm, khả năng chỉ định trọng tài viên thành lậpHộiđồngtrọng tài giải quyết vụ việc giúp các bên lựa chọn được trọng tài viên giỏi, nhiều kinh nghiệm, am hiểu sâu sắc vấn đề đang tranh chấp để từđó họ có thể giải quyết tranh chấp nhanh chóng, chính xác.
Bên cạnh đó phương phức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại có những hạn chế như là: Thứ nhất, quyết định trọng tài thương mại không có tính cưỡng chế cao như quyết định củaToà án; Thứ hai, trọng tài không phải cơ quan quyền lực nhà nước nên khi xét xử, trong trường hợp cần áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm bảo đảmchứng cứ, trọng tài không thể ra quyết định mang tính bắt buộcvề điềuđó màphải yêu cầu tòa án thi hành các phán quyết trọng tài. Trọng tài có thểgặp khó khăn trong quá trình giải quyết tranh chấp, đặcbiệt là những tranh chấp phức tạp, về những vấn đề như: xác minh thu thập chứng cứ, triệu tập
nhân chứng…; Thứ ba, việc thực hiện các quyết định của trọng tài hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí tự nguyện, thiện chí, hợp tác giải quyết của các bên do vậy việc thi hành quyếtđịnhtrọng tài thương mại không phải lúc nào cũng trôi chảy, thuận lợi như việc thi hành bản án; Thứ tư, giải quyết bằng phương thức trọng tài đòi hỏi chi phí tương đối cao, vụ việc giải quyết càng kéo dài thì phí trọng tài càng cao.
1.3.4. Phƣơng thức giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng bằng Tòa án
Thông thường thì hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD thông qua Tòa án được tiến hành mà việc áp dụng cơ chế thươnglượngvà hòa giải không
còn có hiệu quả và các bên bên tranh chấp cũng không tự thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại Trọng tài thương mại. Việc tựgiải quyết tranh chấp của các bên thường gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân khác nhau vàvì vậy sựcần thiết phải có sự can thiệp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà phổ biến ở đây làTòa án. Mặt khác, khi giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, quyếtđịnh trọng tài không có tính cưỡng chế cao như quyết địnhcủa Tòa án, việc thi hành quyết định trọng tài không phải lúc nào cũng trôi chảy, thuận lợi như thi hành bản án của Tòa mà phụ thuộc chủyếuvào thiện chí vàhợptác giải quyết của các bên. Do đó, việc giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng thông qua Tòa án là hình thức cuối cùng màcác bên lựa chọn để giải quyết khi tranh chấp không còn lựa chọn nào khác.
Thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối vớitranh chấp HĐTD ngân hàngđược quy định tại BLTTDS năm 2015 là:
– Tranh chấp HĐTD ngân hàng là tranh chấp về hợp đồng dân sự khi bên vay vốn là cá nhân hay tổ chức không có đăng ký kinh doanh và không có mục đích lợi nhuận. Thì tranh chấp này thuộc thẩm thuộc quyền giải quyết của Tòa án theo Khoản 3, Điều 26, BLTTDS năm 2015: “Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự”.
– Tranh chấp HĐTD ngân hàng là tranh chấp kinh doanh, thương mại khi bên vay vốn là cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận. Thì tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Khoản 1, Điều 30, BLTTDS năm 2015 quyđịnh:“Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mụcđích lợi nhuận”.
Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng được quyđịnh rõtrong BLTTDS năm 2015:
– Thủ tục giải quyết vụ án tại toà sơ thẩm, gồm có: khởi kiện và thụ lý vụ án, hoà giải và chuẩn bị xét xử, phiên toà sơ thẩm.
– Thủ tục giải quyết vụ án tại toà phúc thẩm, gồm có: thụ lý vụ án và chuẩn bị xét xử, phiên tòa phúc thẩm.
– Thủ tục xét lại bản án, quyếtđịnhđã có hiệu lực của pháp luật, bao gồm:
thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm.
Việc đưa tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng ra xétxửtạiTòa án có nhiều ưu điểm nhưng cũng có những nhược điểm nhất định như:
–Về ưu điểm:
+ Tòa án là cơ quan nhân danh Nhà nước để giải quyết tranh chấp, do đóphán quyết của Tòa án là phán quyết có tính bắt buộc phải thi hành trên phạm vi toàn lãnh thổnơi giải quyết tranh chấp và được đảmbảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. Cơ quan thi hành án là một cơ quan chuyên trách và có đầyđủ bộ máy, phương tiện để thi hành các bản án đã có hiệu lực pháp luật. Đặcđiểm này được có thểcoi là yếu tố quan trọng nhất khiến các bên tranh chấp thường tìm đến phương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án.
+ Có tính pháp lý đáng tin cậy, dễ dàng thực hiện công tác thu thập chứng cứphục vụ điều tra xác minh và có thể yêu cầu sự hỗ trợ từ các cơ quan, tổ chức khác.
+ Khi giải quyết tranh chấp tại Tòa án, việc giải quyết có thể qua nhiều cấp xét xử, vì thế nguyên tắc nhiều cấp xétxửbảo đảm cho quyết định của Tòaán được chính xác, công bằng, khách quan và đúng với pháp luật.
+ Chi phí cho việc giải quyết tranh chấp tại Tòa án thấp hơn rất nhiều so với việc nhờ đến các tổ chức Trọng tài thương mại hay Trọng tài quốc tế.
+ Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Tòaán được mở rộng đến tất cả các ngành kinh tế. Chính vì thế, khi xảy ra tranh chấp, người ta thường nghĩ đến tòa án như là nơi bao quát giải quyết mọi vấn đề.
+ Quy định chặt chẽ về trình tự thủ tục và hệ thống xét xử. –Về nhược điểm:
+ Khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án, các bên phải nắm rõ được bản chất, vì việc giải quyết tranh chấp của tòa án phải tuân thủ nghiêm ngặt các quyđịnh mang tính hình thức của pháp luật tố tụng vì vậythời gian giải quyết khá dài, điều này đôi khi có thể gây trở ngại cho các bên tranh chấp vì tính
chất của hoạt động tín dụng đòi hỏi mọi thủ tục phải rất linh hoạt và nhanh gọn.
+ Tòa án xét xử công khai. Điều này xuất pháttừbản chất của hoạt động xét xửlà bảo vệpháp chếvà duy trì công lý đãđược pháp luật quy định, xã hội thừa nhận. Mặt khác, hoạt động xét xửcông khai của Tòa án còn có tác dụng răn đe, cảnh cáo những hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, để giữbí mật Nhà nước hoặc bí mật nghề nghiệp theo yêu cầu chính đáng của đương sư, Tòa án có thể xử kín nhưng phải tuyên án công khai. Các doanh nghiệp làm ăn trên thương trườngđềukhông muốn mất uy tín khi doanh nghiệp của mình phải ra Tòađể giải quyết tranh chấp, nó có thể ảnh hưởngđến hoạt động kinh doanh của họ, cho nên khuyết điểm này có thể coi là lớn nhất.
+ Mặc dù nguyên tắc xét xửnhiều cấp đảmbảo cho quyết định của Tòa án là chính xác, công bằng. Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng sẽ khiến cho vụ việc cóthểbị kéo dài, xửđi xửlạinhiều lần gây bất lợi cho đương sự, nhất là những tranh chấp hợp đồng tín dụng có giá trị lớn đòi hỏi phải giải quyết nhanh chóng, dứt điểm. Việc dây dưa, kéo dàivụviệc sẽ gây căng thẳng tâm lý, làm mất thời gian, tiền bạc của các bên tham gia tố tụng tại Tòa.
+ Khả năng tác động của các bên trong quá trình tố tụng rất hạn chế, đôi lúc nó không thể hiện được hết nguyện vọng của các bên tranh chấp.
Như vậy, có thể hiểu pháp luật giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng tại Tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp do cơ quan tài phán Nhà nước thực hiện. Tòa án nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc bên có nghĩa vụ phải thi hành,kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước dựa trên cơ sở Pháp luật đã quyđịnh về lĩnh vực tranh chấp hợpđồng tín dụng như: BLDS, Luật các TCTD, Luật thương mại, Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam… Do đó, các đương sựthường tìmđến sựtrợ giúp của Tòa án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quảcác quyền, lợi ích của mình khihọ thất bại trong việcsửdụng cơchếthương lượng hoặc hòa giải và cũng không muốn đưa vụ việc tranh chấp của họ đểgiải quyết bằng trọng tài thương mại.
Kết luận Chƣơng I
Trong bất kỳ giai đoạn nào trong quá trình thực hiện các nội dung của HĐTD ngân hàng thì tranh chấp phát sinh từ hoạt động tín dụng là một hiện tượng tất yếu khách quan cóthểxảy ra do nguyên nhân khách quan hoặcchủquan. Nhưng quan trọng là làm thế nào để có thể nhận thức đúng đắn và đầyđủvề nó để đưa ra các biện pháp hạn chế đến mức thấp nhất việc phát sinh tranh chấp trong HĐTD ngân hàng.
Tùy thuộc vào tính chất của các tranh chấp, mức độ tranh chấp phát sinh từHĐTD ngân hàng mà các bên chủthể có thểlựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp nào phù hợp nhất trên cơ sở pháp luật cho phép và cùng có lợi. Các phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD ngân hàng hiện nay được pháp luật quy định và bảo vệ là tự thương lượng, trung gian hòa giải, giải quyết tại trọng tài thương mại và giải quyết tại cơ quan tòa án.
Trong Chương I, luận văn đã tập trung nghiên cứu và làm rõ một số vấn đềcơ bản về HĐTD ngân hàng, các nguyên nhân gây ra tranh chấp HĐTD ngân hàng và pháp luật về giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng tại Tòa án. Từđóthấy được sựcần thiết trong việc xây dựng và áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng để làm cơ sở lý luận cho việc đánh giá thực trạng ở Chương II và đề ra giải pháp ở Chương III.
CHƢƠNG II. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢPĐỒNGTÍN DỤNG NGÂN HÀNGTẠITÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của Thành phố Hạ Long và tổng quát vềTòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
2.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của Thành phố Hạ Long
– Điều kiện tự nhiên:
Thành phố Hạ Long nằm ở trung tâm của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích đất tựnhiên là 27.195,03ha, có quốc lộ18A chạy qua tạo thành chiều dài của thành phố, có cảng biển, có bờ biển dài 50km, có vịnh Hạ Long hai lần được UNESCO công nhận là Di sản thế giới với diện tích 434km2.
Thành phố Hạ Long có địa hình đa dạng và phức tạp, là một trong những khu vực hình thành lâu đời nhất trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả đồi núi, thung lũng, vùng ven biển và hải đảo, được chia thành 3 vùng rõ rệt:
Vùng đồi núi bao bọc phía bắc và đông bắc (phía bắc quốc lộ 18A) chiếm 70% diện tích đất của Thành phố, có độ cao trung bìnhtừ150m đến 250m, chạy dài
từYên Lập đếnHà Tu, đỉnhcao nhất là 504m. Dảiđồinúi này thấp dầnvề phía biển, độ dốc trung bình từ 15-20%, xen giữa là các thung lũng nhỏ hẹp.
Vùng ven biển ở phía nam quốc lộ 18A, độ cao trung bình từ 0,5m đến 5m. Vùng hải đảo là toàn bộ vùng vịnh, với gần hòn đảo lớn nhỏ, chủ yếu là đảo
đá. Riêng đảo Tuần Châu, rộng trên 400ha nay đã có đường nối với quốc lộ 18A dài khoảng 2km.
Thành phố Hạ Long thuộc khí hậu vùng ven biển, mỗi năm có 2 mùa rõ rệt, mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10.
Nhiệt độ trung bình hằng năm là 23,70C, dao động không lớn, từ 16,70C đến 28,60C. Về mùa hè, nhiệt độ trung bình cao là 34,90C, nóng nhất đến 380C. Về mùađông, nhiệt độ trung bình thấp là 13,70C rét nhất là 50C.
– Dân cư:
Thành phốHạLong thuộc tỉnh Quảng Ninh, bao gồm 20 phường: Hà Khánh, Hà Lầm, Hà Trung, Hà Phong, Hà Tu, Hồng Hải, Cao Thắng, Cao Xanh,YếtKiêu
Trần HưngĐạo,BạchĐằng,Hòn Gai, Bãi Cháy, Hồng Hà, Hà Khẩu, Giếng Đáy, Hùng Thắng, Tuần Châu, Việt Hưng, Đại Yên. Năm 2017: Dân số của thành phố HạLong là 240.800 người, mật độ trung bình đạt 874,0 người/km2 (theo Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh năm 2017).
– Tài nguyên khoáng sản: Đối với địa bàn thành phố Hạ Long bao gồm chủ yếu là than đá và nguyên vật liệu xây dựng. Tổng trữ lượng than đá đã thăm dò được đến thời điểm này là trên 530 triệu tấn, nằm ở phía bắc và đông bắc Thành phố trên địa bàn các phường Hà Khánh, Hà Lầm, Hà Trung, Hà Phong, Hà Tu (Đại Yên và Việt Hưng nằm trong vùng cấm hoạt động khoáng sản.
– Tài nguyên rừng: Theo số liệu thống kê tính đếnhếtnăm 2009, trên địa bàn thànhphốcó tổng diện tíchđấtrừng là 5.862,08ha/ tổng diện tích thànhphốlà27.153,40ha. Tỷ lệ che phủ của rừng đạt: 21,58 %. Trong đó rừng trồng 5.445,69ha vàrừng tự nhiên 416,39ha (bao gồm: rừng gỗ 27,94ha, rừng tre nứa 17,31ha, rừng ngập mặn 371,14ha). Bên cạnh đó là tài nguyên rừng của Vịnh Hạ Long rất phong phú, đặc trưng với tổng số loài thực vật sống trên các đảo, núi đá khoảng trên 1.000 loài. Một số quần xã các loài thực vật khác nhau bao gồm các loài ngập mặn, các loài thực vật ở bờcát ven đảo, các loài mọc trên sườn núi và vách đá, trên đỉnh núi hoặc mọc ở của hang hay khe đá.
– Tài nguyên biển: Do lợi thế có vịnh Hạ Long hai lần được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới. Với tổng diện tích 1.553km2 bao gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên. Vùng Di sản được Thế giới công nhận códiện tích 434km2 bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với ba đỉnh là đảo Đầu Gỗ (phía tây), hồ Ba Hầm (phía nam) và đảo Cống Tây (phía đông). Với nhiều hang độngđẹp vàhuyền ảo như hang Bồ Nâu, Trinh Nữ, Sửng Sốt,ĐầuGỗ,Thiên Cung, Tam Cung, Mê Cung đã đưa danh tiếng của vịnh Hạ Long là một trong những điểm du lịch
nổi tiếng trên toàn thế giới…
Đặc điểm kinh tế – xã hội của thành phố Hạ Long
– Tăng trưởng kinh tế: tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố Hạ Long giaiđoạn 2015 – 2017 bình quân đạt 14,5%/ năm. Thu nhập bình quân đầu người tính riêng năm 2017 đã đạt trên 8.000 USD/người/năm.
– Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Theo thống kê của Thành phốHạLong, những năm qua cơ cấu kinh tế của thành phố đã có sự chuyển dịch tích cực và đúng hướng, tỷtrọng khu vực dịch vụ năm 2017 đạt 55,7%; công nghiệp – xây dựng 43,5%; nông, lâm nghiệp và thủy sản 0,8%.
Sau 5 năm trở thành đô thị loại I, với quyết tâm xây dựng Hạ Long đi lên theo hướnghiệnđại.Trong thời gian tới, cùngvớiviệc xây dựng thànhphốdu lịch, mục tiêu xây dựng Thành phố Hạ Long trở thành thành phố thông minh cũng là chiến lượcđộtphávềkinhtế- xãhộicủatỉnh và thànhphốđếnnăm 2020,tầmnhìnđếnnăm 2030.
2.1.2. Tổng quát về Tòa án nhân dân Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Toà án nhân dân Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh là cơ quan xét xử cấp dưới của toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Trong quá trình công tác, Toà án nhân dân thành phố Hạ Long có một số thuận lợi cơ bản như: là thành phố trung tâm của tỉnh, trình độdân trí khá cao; gần các cơ quan, ban ngành của tỉnh, việc cập nhật thông tin, chính sách và pháp luật tương đối nhanh chóng; thường xuyên nhận được sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Toà án tỉnh và cấp ủy, chính quyền địa phương; độingũ cán bộcó trình độđồng đều và từng bước được nâng cao, nhiều cán bộđảng viên có nhiều kinh nghiệm công tác, có phẩm chất và tinh thần trách nhiệm cao, biết khắc phục khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.
Toà án nhân dân thành phố Hạ Long hiện có 44 cán bộ công chức, trong đó có19 thẩm phán, 22 thư ký và 03 cán bộnghiệp vụ.Toànbộthẩm phán và thư ký100% có trình độ đại học, có 12 đồng chí có trình độ cao học. Về tổ chức Đảng, cơquan có Đảng bộ cơ sở trực thuộc Thành ủy Hạ Long với 38 đảng viên, sinh hoạt tại 03 chibộtrực thuộc.Vềđoàn thể, có Công đoàn cơsở,Chi đoàn thanh niên, Chi Hội luật gia.
2.2. Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án
2.2.1. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòaán
Các vụ án giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng tại Tòa án được quy định theo BLTTDS đòi hỏi các đương sự tham gia và người tiến hành tố tụng phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
– Thứ nhất, nguyên tắc tôn trọng quyền tựđịnh đoạt của các đương sự (Điều 5, BLTTDS năm 2015).
– Thứ hai, nguyên tắc các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh (Điều 6, BLTTDS năm 2015).
– Thứ ba, nguyên tắc bình đẳng quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự (Điều 8, BLTTDS năm 2015).
– Thứ tư, nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ và lợi ích hợp pháp của đương sự (Điều 9, BLTTDS năm 2015).
– Thứ năm, nguyên tắc hoà giải (Điều 10, BLTTDS năm 2015).
– Thứ sáu, nguyên tắc xét xử vụ án dân sự phải có Hội thẩm nhân dân tham gia (Điều 11, BLTTDS năm 2015).
2.2.2. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án
Thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết tranh chấp HĐTD ngân hàng theo quyđịnh của BLTTDS năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011, BLTTDS năm 2015. Cụthể thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết các tranh chấp HĐTD gồm thẩm quyền theo cấp tòa án, thẩm quyền theo vụ việc, thẩm quyền theo lãnh thổ, thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn.Thẩm quyền theo cấp tòa án gồm Tòa án nhân dân (TAND) Tối cao; TAND cấp cao; TAND cấp tỉnh, TAND cấp huyện được quy định
tại Điều 35,36,37,38 BLTTDS năm 2015; thẩm quyền theo vụ việc được quy định tại Điều 30, 31 BLTTDS năm 2015; thẩm quyền theo lãnh thổ được quyđịnh tạiĐiều 39 BLTTDS năm 2015.
Thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết tranh chấp phát sinhtừHĐTD được pháp luật quy định như sau:
– TAND huyện, quận, thị xã, thànhphốthuộc tỉnh (sau đâygọi chung làTAND cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp phát sinh từ HĐTD mà không có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải uỷ thác tư pháp cho cơ quanđạidiện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ởnước ngoài, tức là tranh chấp phát sinh từ HĐTD không có yếu tố nước ngoài (Điều 35, BLTTDS năm 2015).
– TAND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là TAND cấp tỉnh) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp phát sinh
từHĐTD mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần uỷ thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Toàán nước ngoài, tức là tranh chấp phát sinh từ HĐTD có yếu tố nước ngoài (Điều 37, BLTTDS năm 2015). Theo điểma, Khoản 3,Điều 38, BLTTDS năm 2015 quyđịnh: “Toà Kinh tế TAND cấp tỉnh giải quyết tranh chấp phát sinh HĐTD nếu tranh chấp này là tranh chấp kinh doanh thương mại”. Theo điểm a, Khoản 1, Điều 38, BLTTDS năm 2015 quyđịnh:“Tòadân sự TAND cấp tỉnh giải quyết tranh chấp phát sinh từHĐTD nếu tranh chấp này là tranh chấpvề hợp đồngdân sự.Trong trường hợp không xác định được đó là loại tranh chấp nào, có nghĩa là không xácđịnh được tranh chấp đó thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa chuyên trách nào thì Chánh án TAND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định phân công cho một Tòa chuyên trách giải quyết theo thủ tục chung”.
Bên cạnh việc quy định thẩm quyền theo vụ việc thì BLTTDS năm 2015 còn quy định thẩm quyền theo lãnh thổ, theo sự lựa chọn của nguyên đơn để phân chia việc giải quyết án giữa Tòa án các cấp, giữa các Tòa chuyên trách với nhau được tương xứng. Để xác định đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án khi giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐTD, Tòa án phải xác định cho được yêu cầu của đương sựthuộc nhóm quan hệ tranh chấp kinh doanh thương mại hay tranh chấp về hợpđồng dân sự, từđó cósựphân định thẩm quyền giữa Tòa án với nhau (Điều 40, BLTTDS năm 2015).
Tuy nhiên, để xác định vụ án có thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án hay không, trước hết Toà án phải xem xét thoả thuận giải quyết tranh chấp của các bên chọn banđầu hoặc sau khi xảyra tranh chấp là TAND hay trọng tài thương mại.
Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thoả thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Toà án thì Toà án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thoả thuận trọng tài vôhiệu hoặc thoả thuận trọng tài không thể thực hiện được. Như vậy, nếu các bênđãcó thoả thuận trọng tài hợp lệ thì việc giải quyết tranh chấp không thuộc thẩm quyền của Tòa án.
2.2.3. Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án
– Giai đoạn khởi kiện và thụ lý vụ án:
Khởi kiện vụ án tranh chấp HĐTD ngân hàng được hiểu là việc cá nhân, pháp nhân làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết các tranh chấp HĐTD để bảo vệquyền lợi và lợi ích của mình đang bị tranh chấp hay vi phạm.
Quyền khởi kiện vụ án: BLTTDS năm 2015 quy định: “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyềntự mình hoặc thông qua người đạidiện hợppháp khởi kiện vụ án
(sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình” (Điều 186, BLTTDS năm 2015).
Để thực hiện quyền khởi kiện của mình, bên khởi kiện (nguyên đơn) phải chuẩn bị hồ sơ khởi kiện và nộp tại TAND có thẩm quyền. Hồ sơ khởi kiện bao gồmđơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứgửi kèm theo đơn khởi kiện phải đápứng đầy đủ haiyêu cầu về hình thức và nội dung: Về hình thức, đơn khởi kiện phải ghi đầyđủngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện, tên Tòa án yêu cầu giải quyết vàngười ký trong đơn kiện phải đúng thẩm quyền. Về nội dung, đơn khởi kiện phải cóđầyđủcác nội dung như: thông tin về nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tóm tắt nội dung vụ kiện, yêu cầu cụ thể của nguyên đơn. Nội dung của đơn khởi kiện phải trình bày đầy đủ, ngắn gọn, rõ ràng. Theo quy định của BLTTDS năm 2015 thì nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự. Chính vì vậy, ngaytừkhi nộp đơn kiện, kèm theo đơn khởi kiện thì nguyên đơn cần phải xuất trình đầyđủ các giấy tờ, tài liệu, chứng cứliên quan để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Tòa án chỉtựmình thu thập chứng cứ trong một số trường hợp nhấtđịnh.
Người khởi kiện nộp đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứngcứđến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức nhưnộptrực tiếp tại Tòa án, theo đường dịch vụ bưu chính hoặc gửi trực tuyến bằng hình thức điện thửqua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (Khoản 1, Điều 190, BLTTDS năm 2015).
Thụ lý vụ án được hiểu là việc Tòa án có thẩm quyền chấp nhận đơn của người khởi kiện và nghi vào sổ thụ lý vụ án để giải quyết.
Trong thời hạn 03 ngày làmviệc kể từngày nhận được đơn khởi kiện, Chánhán Tòa án phân công một thẩm phán xem xét đơn khởi kiện. Sau khi xem xét thấy có đủ các điều kiện thụ lý vụ án như: Người khởi kiện có quyền khởi kiện, sự việcđã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án, vụán thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án, sự việc không được các bên thoả thuận giải quyết bằng thủ tục trọng tài thương mại thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biếtđể họđến Tòa án làm thủ tục nộptiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí. Thẩm phándựtính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Toà án làm thủ tục nộp tiềntạmứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từngày nhận được giấy báo củaTòa án về việc nộp tiềntạmứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai nộp tạm ứng án phí.Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí và ghi vào sổ thụ lý. Như vậy vụ án đã được đưa vào quy trình giải quyết của Tòa án. Trong trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí thì thẩm phán phải thụ lý vụ án khi nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo (Điều 195, BLTTDS năm 2015).
Trong thời hạn 03 ngày làm việckể từngày thụ lývụán, kể từngày thụ lý vụ án, Chánh án Tòa án quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án. Có nghĩa là trong thời gian 03 ngày người nộp đơn xuất trình cho Tòa án biên lai nộp tạmứng án phí thì Chánh án Toà án mới phân công Thẩm phán giải quyết vụ án. Tuy nhiên, trên thực tế thì khi nhậnđơnkhởi kiện Chánh án Tòa án phân công ngay cho Thẩm phán thụ lý.Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án. Văn bản thông báo phải đảm bảo các nội dung được quyđịnh tại Khoản 2, Điều196, BLTTDS năm 2015.
– Giai đoạn hoà giải và chuẩn bị xét xử:
Ở giai đoạn này, hồ sơ sẽ được Thẩm phán thụ lý nghiên cứu để tiến hành xét xửvụ án và Thẩm phán thụ lý có thể yêu cầu các bên thực hiện các công việc sau:
yêu cầu các bên xuất trình thêm các giấy tờ, tài liệu cần thiết liên quan đến vụ việc; triệu tập lên Tòaán để lấy lờikhai hoặcđểđối chất;triệu tập các đương sự đến tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Trước khi tiến hành phiên hoà giải, Tòa án phải thông báo cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự biết về thời gian, địa điểm tiến hành phiên hòa giải, nội dung các vấn đề cần hòa giải. Việc hòa giải được tiến hành theo các nguyên tắc: tôn trọng sựtựnguyện thoả thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọadùng vũ lực, bắt buộc các đương sựphải thoả thuận không phù hợp với ý chícủa mình; Nội dung thoả thuận giữa các đương sự không vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội.
+ Thành phần phiên hòa giải gồm: Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải, thư ký tòa án ghi biên bản hòa giải, các đương sựhoặc người đại diện hợp pháp của cácđương sự, người phiên dịch (nếu đương sự không biết tiếng Việt). Trong một vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sựvắng mặt trong phiên hòa giải, nhưng cácđương sựcó mặt vẫnđồng ý tiến hành hòa giải và việc hòa giải đó không ảnh hưởng đếnquyền, nghĩa vụ của đương sựvắngmặtthì Thẩm phán tiến hành hòa giải giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòagiải để cómặttấtcả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên hòa giải. Thẩm phán phải thông báo việc hoãn phiên hòa giải và việc mởlạiphiên họp cho cácđương sự (Điều 209, BLTTDS năm 2015).
+ Trình tựtiến hành hòa giải: Khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền, nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòagiải thành để họ tựnguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụán. Việc hòagiải được thưký Tòa án ghi vào biên bản và biên bản hòa giải phải cócác nội dung chính quyđịnh tại Điều 211, BLTTDS năm 2015. Biên bản hòa giải phải có đầy đủ chữký hoặc điểm chỉ của các đương sự có mặt trong phiên hòa giải, chữ ký của thư ký Tòa án ghi biên bản vàcủaThẩm phán chủ trì phiên hòa giải. Khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sựthì Tòa án lập biên bản hòa giải thành. Trường hợp hòa giải không thành thì Tòa án
lập biên bản hòa giải không thành và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Biên bản nàyđược gửi ngay cho các đương sựtham gia hòa giải (Điều 211, BLTTDS năm 2015).
Hết thời hạn 07 ngày, kể từngày lập biên bản hòa giải thành mà không cóđương sựnào thay đổiý kiến về sựthỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công ra quyết định công nhận sựthỏa thuận của các đương sự. Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy hầu hết các quyếtđịnhcông nhậnsựthỏa thuậncủacácđươngsựdo Thẩm phánchủtrì phiên hòa giải ra quyếtđịnh.Quyếtđịnhcông nhận sựthỏa thuận của các đươngsựcóhiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghịtheo thủ tục phúc thẩm. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sựchỉcó thể bị kháng nghị theo thủ tục giámđốc thẩm nếu có căn cứcho rằng sựthỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạmđiều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.
Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của cácđươngsự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp. Thẩm phán chỉra quyết định công nhậnsựthỏa thuận của cácđương sựnếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toànbộ vụán. Nếu như các bên hòa giải không thành thì Tòa ánđưa vụ ánra xét xử công khai hoặc xétxửkínđể đảm bảo bí mật chocác bên khi các bên yêu cầuvà đượcTòa án chấp thuận (Điều 212, BLTTDS năm 2015).
Thời hạn chuẩn bị xétxửvụ án tranh chấp phát sinh từHĐTD ngân hàngđược quy định như sau: Đối với tranh chấp HĐTD ngân hàng là loại tranh chấp vềkinh doanh, thương mại thì thời hạn là 02 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án. Ngoài ra,đối vớicác loại tranh chấp HĐTD mà có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Tòa án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá 01 tháng. Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, tuỳtừng trường hợp, ngoài quyết định công nhậnsựthỏa thuận của các đương sự, Tòa án ra một trong các quyết định sau đây: Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án; Quyết định đình chỉgiải quyết vụ án; Quyết định đưa vụ án ra xétxử.
– Giai đoạn xétxửsơ thẩm: Trong thời hạn 01 tháng kể từngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên toà; trong trường hợp có lý do chính đáng theo luật định thì thời hạn này là 02 tháng.
Phiên tòa sơ thẩm phải được tiến hành đúng thời gian, địa điểm đã được ghi trong quyết định đưa vụ án ra xét xửhoặc trong giấy báo mở lạiphiên tòa trong trường hợp phải hoãn phiên tòa. Phiên tòa sơ thẩm diễn ra theo trình tựthủtục:
chuẩn bị khaimạcphiên tòa,thủ tục hỏi tạiphiên tòa, tranh tụngtạiphiên tòa, nghịán và tuyên án được quy định từ Điều 222 đến Điều 269, BLTTDS năm 2015. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xửgồmcó: một Thẩm phán là Chủ tọa, hai Hội thẩm nhân dân. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc phiên tòa, cácđương sự, cơ quan,tổchức, cá nhân khởi kiện được Tòa án cấp trích lục bản án. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải giao hoặc gửi bản án cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp.
– Giai đoạn xét xử phúc thẩm: Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạnkháng cáođược tính từngàyhọ nhận được bản án hoặc bản ánđược
39
niêm yết. Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không cólý do chính đáng thì thời hạnkháng cáođược tínhtừngày tuyên án (Điều 273, BLTTDS năm 2015).
Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm và Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từngày tuyên án. Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tínhtừngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bảnán (Điều 280, BLTTDS năm 2015).
Sau khi nhận được đơn kháng cáo, Toà án cấp sơ thẩm phải kiểm tra tính hợp
lệ của đơn kháng cáo. Sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ, Toà án cấp sơ thẩm phải thông báo cho người khángcáo biết để họ nộptiềntạm ứngán phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật, nếu họ không thuộc trườnghợpđượcmiễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí phúc thẩm (Điều 274, BLTTDS năm 2015).
Trong thời hạn 10 kể từ ngày nhận được thông báo của Toà án về việc nộp tiền tạmứng án phí phúc thẩm, người kháng cáo phải nộp tiền tạmứng án phí và nộp cho Toà án cấp sơ thẩm biên lai nộp tiềntạm ứngán phí. Hết thời hạn này màngười kháng cáo không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm thì được coi là họ từbỏviệc kháng cáo, trừtrường hợpcó lý do chính đáng (Điều 276, BLTTDS năm 2015).
Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Tòa án cấp phúc thẩm phải vào sổ thụ lý.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án và thông báo trên Cổng thông tinđiện tử của Tòa án (nếu có). Chánh án Tòa án cấp phúc thẩm thành lập Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có một Thẩm phán phân công làm chủ tọa phiên tòa và hai Thẩm phán (Điều 285, BLTTDS năm 2015).
Trình tựthủ tụcgiống phiên toà sơ thẩm chỉ khác là quyết định của phiên toà
40
phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày ra quyết định. Khi bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, các bên phải tựnguyện thi hành. Nếu một bên không tựnguyện thi hành, bên được thi hành án có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sựcưỡng chế thi hành. Bên được thi hành án làm đơn gửi tới cơ quan thi hành án dân sựthuộc tỉnh, thành phố đối với bản án, quyếtđịnh cóhiệu lực pháp luật do Tòa án cấp tỉnh, thành phố tuyên.Trong trường hợpbản án, quyết định có hiệu lực pháp luật do Tòa án cấp quận, huyện tuyên thì bên được thi hành án làm đơn đề nghị thi hành án gửi tới đội thi hành án dân sự thuộc quận, huyện. Bên được thi hành án cóquyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sựnơi người phải thi hành án cư trú (nếu người phải thi hành án là cá nhân) hoặc yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự nơi bên phải thi hành án có trụ sở hoặc nơi có tài sản (nếu bên phải thi hành án là pháp nhân).
– Giai đoạn xem xét lại bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực: gồm cóthủ tục giámđốc thẩm và thủ tục tái thẩm. Ngoài thủ tục sơ thẩm và thủ tục phúc thẩm, giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Toà án còn có hai thủ tục nữa đó là: Thủ tục Giám đốc thẩm và Thủ tục tái thẩm.
+ Thủ tục Giám đốc thẩm là xét lại bản án, quyết địnhcủaToà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm là 03 năm, kể từngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, căn cứđểkháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được quy định tại Điều 326, BLTTDS năm 2015.
+ Thủ tục Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Toà án, các đương sự không biết được khi Toà án ra bảnán, quyết định đó. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục tái thẩm. Thời hạnkháng nghị theo thủ tục tái thẩm là 01 năm,kể từngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứđểkháng nghị theo thủ tục tái thẩm quy định tạiĐiều 352, BLTTDS năm 2015.
2.3. Thực trạng xét xử tranh chấp về hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
2.3.1. Những kết quảđạt đƣợctrong việc giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG QUA THỰC TIỄN XÉT XỬ TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
Giảiquyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng qua thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh

Giảiquyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng qua thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh Giảiquyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng qua thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh Giảiquyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng qua thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh Giảiquyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng qua thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh Giảiquyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng qua thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh Giảiquyết tranh chấp hợp đồng tín dụng ngân hàng qua thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh


