GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI VỤ VIỆC THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứuđềtài
Có thể nói đặc trưng quan trọng, cơ bản, nổi bật nhất của kinh tế thế giới hiện nay là xu hướng toàn cầu hóa, trong đó quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế luôn được củng cố và phát triển. Trong điều kiện hộinhập quốctếdiễn ra mạnhmẽđóthì cũng phát sinh ngày càng nhiều những tranh chấp thương mại không chỉ dừng lại ở sự gia tăngvề sốlượng mà độphức tạp củacác tranh chấp cũng ngày một nâng cao. Trong quan hệ kinh tế quốc tế, trong kinh doanh
thương mại… tranh chấp phát sinh luôn là hiện tượng đương nhiên, giải quyết tranh chấp làviệc làm tất yếu và đang là một vấn đềđược bàn đến nhiều củanền kinh tế thế giới hiện nay.Điều đócũng giúp định hướng tư duy của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ kinh tế cóphát sinh tranh chấp các phương thức giải quyết tranh chấp tối ưu trong đó có trọng tài. Theođánh giá của Tổng thư ký Tòa án trọng tài quốc tế thì trọng tài được coi là lựa chọn có nhiềuưu thếnổibậtlà tính liên tục,mềmdẻo, bímậtvà phán quyết trọng tài có giátrịchung
thẩm…Với tínhnăng ưu việt của mình mà phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tàiđượccoi làlựachọnđượcưa chuộng củacác doanh nghiệp trênthếgiới. Tuy nhiên, thực trạng Việt Namlạicho thấy các doanh nghiệp chưa thựcsự “mặn mà”vớiviệc đem tranh chấp củamình ra giải quyết tại trọng tài, theo thống kê có hơn 95% tranh chấp thương mại trong nước được đưa ra Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dânsự (BLTTDS).Sởdĩ có tình trạng trên thì bên cạnh nguyên nhânchủquantừ phía các doanh nghiệp còn có nguyên nhân xuất phát từ hệ thống pháp luật về trọng tài của Việt Nam,đólà hệ thống chưa thực sự tạo ra một hành lang pháp lý an toàn, hiệu quảđểdoanh nghiệp trong và ngoài nước tự tin khilựachọn trọng tài.
Sự ra đời củaPháp lệnh Trọng tài thương mại (TTTM) năm 2003 đã đánhdấu một bước tiến mới trong việc hình thành và hoàn thiện pháp luật về trọng tài tại Việt Nam, đáp ứng nhu cầu lựachọn phương thức giải quyết tranh chấp củacộng đồng doanh nghiệp. Thực tiễn áp dụng Pháp lệnh trong hơn 6 năm qua, tuy được đánh giá có nhiều điểm tiến bộ cùngvớisựxuất hiện của nhiều nhân tố mới như việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới
(WTO), việc ban hành Luật Thương mạinăm 2005, Luật Đầu tư năm 2005… nhưng một số quy định của Pháp lệnhđãbộc lộ sự bất cập như thẩm quyền của trọng tài còn nhiều hạn chế,độingũ trọng tài viên trong nước chưa phát triển, cơ chếhỗ trợ củaTòa án đối với trọng tài chưahiệu quả…
Xuất phát từ thực tế trên đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang thực thi các cam kết khi gia nhập WTO thì việc ban hành Luật TTTM là một tất yếu khách quan. Sự ra đời của Luật TTTM với nhiều quy định mới về cơ bản phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế góp phần tạoniềm tin cho các cá nhân,tổchức khilựachọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài. Một trong những điểmmớiđáng ghi nhận là Luật TTTM chính thức quyđịnh hai hình thức hoạt động trọng tài là trọng tài quy chế và trọng tài vụ việc và có các quyđịnhnhằm hỗ trợ cho cả hai hình thức trọng tài có cơ hội phát triển ngang bằng nhau và khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng cả hai hình thức này. Tuy nhiên để các quy định này không chỉ cóhiệu lựctrên giấy thì cần có sự đánh giá khách quan, chính xác những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ban hành các quy định về hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vụ việcđểthực tiễn hóa các quy định nàyvào đờisống kinh tế của các cá nhân, tổ chức. Với mong muốn được luận bàn chuyên sâu, góp phần hoàn thiện pháp luật trọng tài ở Việt Nam, tác giảchọn đềtài: “Giải quyết tranh chấp trong thương mại bằng trọng tàivụ việctheo pháp luật Việt Nam“.
2. Tình hình nghiêncứuđềtài
3. Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứuđềtài 3.1. Mục đích
Luận văn tập trung nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lýluận đểtừ đó đềxuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng hình thức trọng tài vụ việc vào giải quyết tranh chấp thương mạitạiViệt Nam,đềxuất hướng hoàn thiện những quyđịnh pháp luậtvềphương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nói chung và trọng tài vụ việc nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ
Đểđạt được mục tiêu trên, luận văn đặt ra các nghiên cứu:
– Luận giải cơ sở lý luận của các quy định về phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài vụ việc.
– Phân tích các quy định hiện hànhcủapháp luật về trọng tài vụ việc; đánh giá thực trạng sử dụng phương thức trọng tài vụ việc trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp thương mại tại Việt Nam từ đó chỉ ra các khó khăn, vướng mắc đang và sẽ gặp phải và các nguyên nhân liên quan đến việc sử dụng trọng tài vụ việc giải quyết tranh chấp.
– Nghiên cứu kinh nghiệmcủamộtsốnướctrên thế giớivềviệc áp dụng vàđiều chỉnh pháp luật phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài nói chung và trọng tài vụ việc nói riêng nhằm lựa chọn những kinh nghiệp hay, phù hợp cho việc áp dụng vào Việt Nam.
– Đưa ra những giải pháp nhằm thực tiễn hóa một cách hiệu quả các quy định của pháp luật nhằm khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng phương thức trọng tài nói chung và trọng tài vụ việc nói riêng khi cần giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại.
4. Phạm vi nghiêncứucủa đềtài
Phạm vi nghiên cứu củađềtài bao gồm những quy định pháp luật về các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài, kinh nghiệm quốc tế và đi sâu nghiên cứu phương thức giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài vụ việc theo pháp luật Việt Nam.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đểđạtđượccácmụcđích nghiên cứu màđềtài đặt ra, trong quá trình nghiên cứu luận vănsử dụng phương pháp luận nghiên cứu khoahọcduyvậtbiện chứng và duyvậtlịchsửcủachủ nghĩa Mác – Lênin. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
khác như phương pháp bình luận, diễn giải, so sánh, tổng hợp, phân tích…
6. Những kết quả nghiên cứu của luận văn
Trên cơsởnghiêncứucác quyđịnhcủapháp luật vềphương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vụ việc, luận văn có những đóng góp mới sau đây:
Thứnhất: Luận văn giải quyết những vấn đề lý luận về tranh chấp trong hoạt động thương mạivà các hình thức giải quyết tranh chấp, nghiên cứu mộtcách khái quátvềphương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài vụ việc với những phân tích về đặc điểm của trọng tài vụviệc, ưu và nhược điểm của trọng tài vụ việc và khi nào thì nên dùng trọng tài vụ việc để giải quyết tranh chấp.
Thứhai: Luận văn đã phân tích một cách sâu sắc những quy định pháp luật hiện hànhvềtrọng tài vụ việc, bắt đầu từ việc đánh giá khái quát hiệu quả của pháp luật đối với hoạt động trọng tài và trọng tàivụviệc, các nguyên tắcgiải quyết tranh chấp bằng trọng tàivụ việc, thẩm quyền của trọng tài vụ việc và thủ tụccủatrọng tài vụ việc. Bên cạnh đó, luận văn còn phân tích chi tiết thực trạng sử dụng trọng tàivụ việc trong giải quyết tranh chấp tạiViệt Nam, các bất cập và các nguyên nhân cụ thể của các bất cập đó.

Thứba: Luận văn bước đầu đãđưara một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phương thức trọng tài vụ việc nhằm giải quyết các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực thương mại bao gồm những giải pháp về mặt cơ chế, chính sách, pháp luật; các giải pháp từ phía các
trọng tài viên, từ phía doanh nghiệp, từ phía tòa án và cơ quan thi hànhán…
7.Kết cấucủa luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danhmụctài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp trong thươngmạibằng trọng tài vụ việc.
Chương 2: Pháp luật và thực trạng giải quyết tranh chấp trong thương mại bằng trọng tài vụ việc tại Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng trọng tài vụ việc giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Việt Nam.
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀLÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƢƠNG MẠI
BẰNG TRỌNG TÀI VÀ TRỌNG TÀI VỤ VIỆC
1.1. Tranh chấp trong thương mại và các hình thức giải quyết tranh chấp 1.1.1. Khái niệm tranh chấp trong thương mại
Tranh chấp trong thương mại, có thể được hiểu như sau:
Tranh chấp trong thương mại là những bất đồng, xung đột về lợi ích kinh tế giữa cácchủthể có liên quan đến lĩnh vực hợp đồng thương mại hoặc cáchoạt độngkinh tế khác mà theo quy định pháp luật là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan tài phán kinhtế.
Nộidung khái niệm tranh chấp trong thương mại bao hàm những nội dung:
Thứnhất, là những bất đồng, xung đột về lợi ích kinh tế giữa các chủ thể có liên quan đến lĩnh vực hợp đồng thương mại;
Thứhai, là tranh chấp phát sinh trong lĩnhvựchợp đồng thương mại hoặc các hoạt động kinh tế khác
Thứba, theo quy định pháp luật những tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan tài phán kinh tế (Tòa án hoặc trọng tài).
1.1.2. Các hình thức giải quyết tranh chấp
– Thương lượnglà phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó,hai bên tranh chấptự mình đàm phán, thỏa thuận về các giải pháp nhằm dàn xếp, giải quyết ổn thỏa tranh chấp phát sinh giữa họ mà không có sự can thiệp, giúp đỡcủabên thứ ba dưới bất kỳ hình thứcvà mức độ nào. Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp xuất hiện sớm nhất, thông dụng vàphổ biến nhất được các bên áp dụng rộng rãi để giải quyết mọi tranh chấp phát sinh trong đời sống đặc biệt là trong hoạt động thương mại.
– Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó, hai bên tranh chấp nhờ bên thứba giúp đỡđểhọ gặp gỡ, thảo luận và thỏa thuận về các giải pháp nhằm dàn xếp, giải quyết ổn thỏa tranh chấp phát sinh.
– Xét xử của tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó, một bên tranh chấp cóquyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp mà không cần có sự đồng ý, thỏa thuận của bên
4
kia. Tòa án,cụ thểlà thẩm phán/hộiđồng xétxử,thụ lý và giải quyết tranh chấp theo đúng quy địnhcủapháp luật, bản án do tòa án tuyên có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên tranh chấp và với mọi cá nhân, tổ chức có liên quan.
– Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp, trong đó, bên trung gian thứ ba (trọng tài viên) do các bênlựachọnsẽ đưara một quyết định sau khi hai bên tranh chấp đã có cơ hội bình đẳng đểtrình bày các vấn đề liên quan đến tranh chấp. Nếu quá trình trọng tài bảo đảm nguyên tắc tự nguyện, công bằng thì quyết định của trọng tài viên có hiệu lực bắt buộc thi hànhđốivớicác bên. Khoản 1,Điều3, Luật TTTM năm 2010 quyđịnh:”Trọng tài thươngmạilà phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quyđịnh của Luật này“.
1.1.3. Hình thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại i)Đặcđiểmcủa trọng tài thương mại
Thứnhất, tính chung thẩm và hiệu lựccủaquyếtđịnhtrọng tàiđốivớiviệc giải quyết tranh chấp.
Thứhai, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật. Thứba, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp liên tục.
Thứtư, trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo, nhanh chóng, linh hoạt cho các bên.
Thứnăm, tiết kiệm thời gian
Thứsáu, duy trì được quan hệ đối tác
Thứbảy, trọng tài cho phép các bên sử dụng được kinh nghiệm của các chuyên gia
Thứ tám, tuy là giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài – một tổ chức phi chính phủ, nhưng được hỗ trợ, bảo đảm về pháp lý của Tòa án.
(ii) Các hình thức tổ chức trọng tài thương mại Trọng tàivụ việc
Trong trọng tài vụ việc, các bên tự chịu trách nhiệm thành lập hội đồng trọng tài đểgiải quyết tranh chấp và phải quy định các quy tắc sẽ điều chỉnh cách thức tiến hànhtốtụng trọng tài. Khi gặp khó khăn,đôikhi các bên cóthểnhờmộttòa án quốc gia có thẩm quyền can thiệp. Bởi các bên tự tiến hành trọng tàivụ việc nên họ phải thỏa thuận trực tiếp vấn đềthùlao và chi phí với trọng tài viên.
Trọng tài quychế
Trong trọng tài quy chế, các bên nhờ một trung tâm trọng tài hoặcmột tổ chứctrọng tài quy chế giám sát tố tụng theo quytắc tốtụng trọng tài củatổ chứcđó.
iii)Tố tụngtrọng tài thương mại
Trọng tài quy chế và trọng tài vụ việc là những phương pháp khác biệt của quá trình tố tụng. Các bên trong trọng tài vụ việc thiết lập quy tắc tố tụng riêngmà họcho là có thể
phùhợpvớidiễn biến vàsựviệccủavụtranh chấp, trong khiđócác bên trong trọng tài quy chếphải tiến hành trọng tài theo các trìnhtựcủatổchức trọng tài mà các bên lựa chọn.
1.2. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tàivụviệc 1.2.1. Trọng tàivụ việc(Trọng tài ad-hoc) là gì?
“Trọng tàivụ việc có nghĩa là trọng tài không đượctiến hành theo quytắccủamộttổ chức trọng tài thường trực. Do các bên không bắt buộc phải tiến hành trọng tài theo quy tắc củamột tổchức trọng tài thường trực,họ có thểtựdo quyđịnhquytắctốtụng riêng. Nói
5
cách khác, trọng tài vụ việc là trọng tài tự tiến hành (do it yourself arbitration)”. Theo Khoản 7, Điều 3, Luật TTTM năm 2010 thì ‘Trọng tàivụ việclà hình thức giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật này và trình tự, thủ tục do các bên thỏa thuận”.
1.2.2. Đặc điểm của trọng tàivụ việc
– Trọng tài vụ việc chỉ được thành lập khi phát sinh tranh chấp và tự chấm dứt hoạt động (tự giải thể) khi giải quyết xong tranh chấp.
– Trọng tài vụ việc không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành (vìchỉđược thànhlập đểgiải quyết vụ tranh chấp theo sự thỏa thuận của các bên) và không có danh sách trọng tài viên riêng.
– Trọng tài vụ việc không có quy tắc tố tụng dành riêng cho mình. 1.2.3. Trọng tàivụ việc- ưuđiểm và nhược điểm
i) Ưu điểm:
Một là, ưu điểm cơ bản của hình thức Trọng tài vụ việc đó là quyền tự địnhđoạt củacác bên là rất lớn.
Hai là, việc tiến hành Trọng tài vụ việc có chi phí thấp và thời gian giải quyết nhanh.
Ngoài ra,đốivớitrọng tàivụ việc, các bên cóthểthỏa thuậnbỏqua một số thủ tụctố tụng không cần thiết để rút ngắn thời gian giải quyết vụ tranh chấp.
ii) Nhược điểm:
Nhượcđiểmlớnnhấtcủatrọng tàivụ việc (có thể là yếu tốbất lợinghiêm trọng)đólàphải phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chícủacác bên.
Tiếp theo trong trọng tài vụ việc, không có tổ chức nào giám sát việc tiến hành trọng tài và giám sát các Trọng tài viên.
1.2.4. Khi nào nên giải quyết tranh chấp bằng trọng tàivụ việc
– Doanh nghiệp đó hoặc tranhchấp đókhông cần đến một tổ chức đứng ra giải quyết; – Doanh nghiệp có chuyên gia tư vấn pháp lý thông thái;
– Các tranh chấp nhỏ, ít phức tạp;
– Doanh nghiệp muốn tiết kiệm chi phí.
1.3. Kinh nghiệm giải quyết tranh chấp bằng trọng tàicủa mộtsố nước
1.3.1. Trọng tài là một loại cơ quan tài phán tư
Tố tụng trọng tài thể hiện rõ nhất tính chất tài phán tư của hình thức giải quyết tranh chấp này
1.3.2. Thẩm quyềncủatrọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinhtừhoạtđộng thương mại
Theo xu hướng phát triển mạnhmẽ củanền kinh tế thế giới thì trọng tài được thành lập chủ yếu đểgiải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại. Tùy theo quan điểm củamỗinước,mà thẩm quyền của trọng tài có thể được quy định khác nhau, nhưng có một điểm chung nhất là pháp luật trọng tài các nước đều thừa nhận trọng tài là một phương thức phổ biến và hữu hiệu trong việc giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại.
1.3.3. Về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài
Thỏa thuận trọng tài thể hiện sự nhất trí của các bên cùng đưa tranh chấp ra trọng tài giải quyết theo một quy tắc củatổ chứctrọng tài nhất địnhđưara. Đây là cơ sở cho các bên tiến hành giải quyết bằng trọng tài cũng như giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình trọng
6
tài.
1.3.4. Về sự giám sát của tòa án đối với trọng tài trong quá trình giải quyết vụ việc
Do bản chất phi chính phủ của mình, nên trọng tài không thể có tính quyền lực nhà nước
đểthực hiệnmộtsốcông việc phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp và vì vậy, rất cần sự giúp đỡcủaNhà nước, nhất là của cơ quan tòa án.
Kết luận chương 1
Kết quả nghiên cứu của Chương 1 cho phép đưa ra một số nhận xét sau:
Một là, tranh chấp là hiện tượng bình thường trong thương mại, với sự phát triển của quan hệthương mại, tranh chấp ngày càng đa dạng, phong phú và phức tạp. Nhận thức rõ điều này cho nêntừxa xưa, các nhà kinh doanhđãtìm cách hóa giải những tranh chấp phát sinh bằng nhiều phương thức khác nhau nhằm giữ vững, củng cố và phát triển quan hệ đã thiết lập giữa các bên.
Hai là, giải quyết các tranh chấp phát sinh trong thươngmạilà yêu cầu tấtyếu, khách quan với các phương thứctừ đơn giản đến phức tạp,từ tự giải quyết với nhau đến nhờ bên thứba giải quyết đó là: thương lượng, hòa giải, trọng tài và tòa án.
Ba là, giải quyết tranh trong thương mạibằng trọng tài là phương thứcđượccác doanh nhân trên thế giới chấp nhận và ưu tiên lựa chọn, các hình thức ngày càng phong phú và được hoàn thiện hơn. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nhân Việt Nam không thểđứng ngoài và không thể mãi ưu tiên chọn tòa án, khihệthống này cũng đang bị quá tải bởi các vụ án hình sự, dân sự, hành chính.
Bốn là, ở Việt Nam, phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại cũng luônđược hoàn thiện và không ngừng phát triển. Nhànướccũng luôn chú trọng hoàn thiệnđiều chỉnh pháp luật giải quyết tranh chấp trong thương mại với các phương thức: Trọng tài kinh tế (nhànước), Trọng tài kinh tế (phi chính phủ), TTTM với các hình thức điều chỉnh pháp luật ngày càng cao hơn, hoàn chỉnh hơn (từ Quyết địnhcủaThủ tướng, Nghịđịnhcủachính phủ, Pháp
lệnhcủaỦy ban Thường vụ Quốc hội đến Luật TTTM năm 2010.)
Năm là, trọng tài vụ việc đã được pháp luật nước ta thừa nhận nhưng chưa được các bên tranh chấp lựachọn.Trướcthực trạng đóđặtcho các nhà luậthọcnhiệmvụ tìm ra nguyên nhân và có giải pháp nhằm đưa quy định pháp luật vào cuộc sống.
Chƣơng 2
PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƢƠNG
MẠIBẰNG TRỌNG TÀIVỤVIỆC
TẠIVIỆT NAM
2.1. Pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp trong thương mại bằng trọng tài 2.1.1. Lịch sử phát triển và hình thành pháp luật về trọng tài thương mại
i) Lịch sử phát triển của trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại trên thế giới. Người ta không biết chính xác phương thức trọng tài bắt đầu xuất hiện từ khi nào, nhưng có
thểkhẳng địnhđâychính là hình thức tiền thâncủaviệc hình thành các tòa án sau này. Tòa Trọng tài là một trong những phương thứccổxưa nhấtđểgiải quyếtbấthòa giữangườivới người, giữa quốc gia với quốc gia. Người Hy Lạp và La Mãcổ đại đãbiết sử dụng phương thứcnày đểgiải quyết tranh chấp. Quy định sơ khai về trọng tài trong luật mua bán hàng hóa cho phép các lái buôn được tự phân xử bất hòa của mình không cần có sự can thiệp của Nhànước.Vềsau Luật La Mã cho phép mởrộng phạm vi tranh chấp, không chỉtrong biên giới
7
lãnh thổ, mà cònởnhững nướcLa Mã có traođổihàng hóa, có nghĩa là trải rộng trên hầu khắp lục địa Châu Âu.
ii) Lịch sử phát triển của trọng tài trong giải quyết tranh chấp thươngmại tạiViệt Nam.
Ở Việt Nam, trọng tài đã xuất hiện từ thời kỳ kinhtế kếhoạch hóa vào những năm đầu củathập kỷ60 của thế kỷ XX dưới tên gọi là “trọng tài kinh tế”.
Theo quy luật phát triển và cùng vớiđòihỏicủanềnkinh tếđấtnước,đãcó nhiều văn bản pháp luật về TTTM được ban hành nhằm tạo thêm một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại có hiệu quả. Văn bản pháp luật có hiệu lực cao nhất hiện nay là Luật TTTM năm 2010 được Quốc hội ban hành ngày 17/6/2010 vàđược đánhgiá là “đã tiến gần đến các chuẩn mựcquốc tế”.
2.1.2. Pháp luật hiện hành về Trọng tài thương mại và trọng tài vụ việc i) Pháp luật hiện hành về trọng tài thương mại
Qua 5 năm thực hiện, Pháp lệnh TTTM năm 2003đãthể hiện những ưu điểm cơ bản sauđây:
Thứnhất, ý nghĩa về mặt điều chỉnh pháp luật.
Thứhai, về mô hình, cơ cấu tổ chứccủaTrọng tài. Thứba, về phạm vi thẩm quyền của Trọng tài.
Thứtư, về thỏa thuận trọng tài
Thứnăm, Pháp lệnh TTTM năm 2003 đã xác định rõ những nguyên tắc quan trọng nhất củatố tụng trọng tài.
Thứsáu, Pháp lệnh năm 2003 đã quy định chặt chẽ về các giai đoạn củatốtụng trọng tài. Thứbảy, Pháp lệnh năm 2003 đã quy định sự hỗ trợ của Nhà nước mà cụ thể là của Tòa
án và cơ quan thi hành án dânsự đốivớicác bên trong quá trình giải quyết tranh chấp tại TTTM.
ii) Pháp luật hiện hành về trọng tàivụ việc
Trong lịch sử phát triển của trọng tài, thì hình thức trọng tài vụ việc ra đời trước trọng tài thường trực.
Trong pháp luật Việt Nam, Nghịđịnh116/CPtrướcđâychỉquyđịnh mộtloại trọng tài duy nhất là trọng tài thường trực (Trung tâm trọng tài). Trọng tài vụ việc tuy có được đề cập trong một số văn bản pháp luật (Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 và các văn bản hướng dẫn) nhưng lại không được quy định cụ thể nên không thể áp dụng trên thựctế.
Pháp lệnh TTTM năm 2003 đã chính thức thừa nhận và tạo cơ sở pháp lý cho việc thành lập và hoạt động của trọng tài vụ việc ở Việt Nam.
Luật TTTM năm 2010 quy định hai hình thức hoạt động trọng tài là trọng tài quy chế vàtrọng tài vụ việc. Như vậy, từ nay nếu các bên tranh chấp lựa chọn trọng tài vụ việc thì họ có thể thỏa thuận chọn áp dụng các quy tắc tố tụng của bất kỳ trung tâm trọng tài nào kể cả trong nước và quốc tế.
2.1.3. Những điểm mới của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 So với Pháp lệnh TTTM, Luật TTTM có những điểm mới sau.
Thứnhất, mở rộng thẩm quyền giải quyết tranh chấp của TTTM.
Thứhai, khắc phục sự không rõ ràng của Pháp lệnh TTTM năm 2003 về các tình huống có thể làm vô hiệu thoả thuận trọng tài.
Thứba, không yêu cầu Trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam.Điều đócó nghĩa là
8
người nước ngoài cũng có thể được chỉ định làm trọng tài viên ở Việt Nam nếu các bên tranh chấp hoặc tổ chức trọng tài tín nhiệm họ.
Thứtư, cho phép các Trung tâm trọng tài được ban hành quy tắc tố tụng trọng tài phù hợp với quy định củaLuật và đảm bảo đặc thù củamỗi Trung tâm để tăng thêm tínhhấp dẫn đối với các bên tranh chấp.
Thứnăm, cho phép các tổ chức trọng tàinướcngoài được mở chi nhánh, văn phòng đại diệntạiViệt Nam theo quyđịnhcủapháp luật Việt Nam và cácđiều ướcquốctếmà Việt Nam là thành viên.
Thứsáu, nâng cao vịthế củaTrọng tài thông qua việc cho phép Hội đồng Trọng tài được thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng, áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời (Điều 47, 48, 49 và 50).
Thứbảy,hạnchếnguy cơ phán quyếtcủaTrọng tàibịTòa án tuyênhủybởiquyđịnh không phù hợp củaPháp lệnh TTTM như quy định về quyềncủamột bên được gửi đơnlên Toà án yêu cầu huỷ quyết định trọng tài nếu “không đồng ý với quyết định trọng tài”, bởi vì các quy định này của Pháp lệnh đã làm cho tố tụng trọng tài trở nên rất rủi ro và làm mất đi tính chung thẩm của phán quyết trọng tài mà pháp luật của hầu hết các nước đều công nhận.
Thứtám, Luật TTTM làđãtiếp thu nguyêntắccấmhành vi mâu thuẫn trong tố tụng lànguyêntắcrấtquan trọng đãhình thành lâuđờitrong pháp luậttốtụng củacácnướcphát triển.
Thứchín, thể hiện rõ nét mối quanhệ giữaTrọng tài với Toà án trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ tranh chấp của các bên.
Thứmười, quy định phù hợp hơn về thủ tục Tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài.
2.1.4. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại và trọng tàivụviệc
(i) Nguyên tắc “Trọng tài viên phải tôn trọng thỏa thuận của các bên nếu thỏa thuận đókhông vi phạm điều cấm và trái đạođức xã hội”
(ii) Nguyên tắc “Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quyđịnh của pháp luật”
(iii)Nguyên tắc “Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Hội đồng trọng tài có trách nhiệmtạođiều kiệnđểhọ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình”
(iv) Nguyên tắc “Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài được tiến hành không công khai, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác”
(v) Nguyên tắc “Phán quyết trọng tài là chung thẩm” 2.1.5 Thẩm quyền của trọng tài thƣơng mại
(i) Những tranh chấp thuộc phạm vi giải quyết của trọng tài thương mại
(ii) Các bên phát sinh tranh chấp thuộc phạm vi chủ thể được giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thươngmại
(iii) Thỏa thuận trọng tài – Căn cứ quan trọngđểxác định thẩm quyền của trọng tài 2.1.6 Thủ tục tố tụng trọng tài vụ việc
(i) Nguyên đơn nộp Đơn kiện (ii)Bị đơn nộp Bản Tự bảo vệ
(iii) Thành lập Hội đồng trọng tài
9
(iv) Hội đồng trọng tài nghiên cứu hồ sơ, xác minh sự việc (v) Phiên họp để giải quyết tranh chấp
(vi) Phán quyết trọng tài
2.2. Thực trạng giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tàivụ việc
2.2.1. Hoạt động của trọng tàivụ việc
Hiện nay,số lượng giải quyết tranh chấp bằng trọng tài còn rất khiêmtốnởnướcta. Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài chưa phải làmộtkênh giảm thiểu gánh nặng củaTòa án. “Theo thống kê, năm 2007 Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý gần 9000 vụ án, trong đó có khoảng 300 vụ án kinh tế và Tòa kinh tế thànhphố HồChí Minh phải xử gần 42.000 vụ án các loại, trong đó có 1000 vụ án kinh tế. Tính trung bình mỗi thẩm phán ở Tòa kinhtế HàNội phải xử trên 30 vụ một năm và mỗi thẩm phán ở Tòa kinh tế thànhphố HồChí Minh xét xửtrên 50 vụ mộtnăm, trong khiđó,mỗitrọng tài viêncủaTrung tâm Trọng tài quốctếViệt Nam chỉ xử 0,25 vụ một năm”.
Số vụ tranh chấp thương mại được giải quyết bằng trọng tài nói chung và trọng tài quy chếđãlà rất khiêm tốn, thìsốvụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tàivụ việc ở Việt Nam tính đến thời điểm hiện này chỉ là 01 vụ. Trong khi pháp luật khuyến khích doanh nghiệp sửdụng cảhai hình thức trọng tài quychếvà trọng tàivụ việcđểgiải quyết tranh chấp nhưng thựctếso vớitrọng tài quy chế, trọng tàivụ việc ít hoặc không đượcsử dụng đếntạiViệt Nam.
2.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động trọng tài vụ việc (i) Nguyên nhân từ phía các doanh nghiệp
Hiểu biết của các doanh nghiệp, thương nhân, cũng như người dân về vai trò của trọng tài vụ việc còn chưađầy đủ.Nhìn chung, trọng tài vụ việc hoạt động chưa hiệu quả vì trọng tài nói chung và trọng tàivụ việc tuy không phải là mộtchếđịnhquámớimẻnhưng doanh nghiệp củaViệt Nam chưa có thói quen, tâm lý chưa có niềm tin rằng các phán quyết của trọng tàivụ việcsẽđượcthực thi. Do vậy, chưasử dụng trọng tàivụ việc như mộttrong những phương thức giải quyết các tranh chấp ưu thế so với các phương thức khác.
(ii) Nguyên nhân từ phía đội ngũ trọng tài
Trong những năm qua, chưa có sự gia tăng đột biến về số lượng cũng như chất lượng đội ngũ trọng tài viên. Sau khi có Pháp lệnh TTTM năm 2003. Trìnhđộtrọng tài viên, chất lượng dịch vụ trọng tài nói chung cũng còn nhiều vấn đề phảibàn: Thiếu trình độ ngoại ngữ, kiến thức pháp luật, kỹ năng hànhnghề. Số lượng những người có đủ điều kiện đểtrở thành trọng tài viên theo Pháp lệnh TTTM năm 2003 thì không ít, tuy nhiên,ngườihành nghề trọng tài viên chuyên nghiệp lại không nhiều.
(iii) Nguyên nhân từhạn chếcủapháp luật
Pháp lệnh TTTM năm 2003 đã được thay thế bằng Luật TTTM năm 2010 với những tiến bộ được nhận địnhlà đã”tiến gần đến các chuẩnmựcquốc tế về trọng tài”. Tuy nhiên, theo nhận địnhcủacá nhân, pháp lệnh TTTM năm 2003 và Luật TTTM năm 2010 chưa có nhiều quy địnhnhằm hỗ trợ hoạt động củatrọng tài vụ việc phát triển mà đa phần các quy định dành cho trọng tài quy chế hoặc là trọng tài nói chung.
Kết luận chương 2
Từ kết quả nghiên cứu của Chương 2, có thể đưa ra một số nhận xét sau:
10
Thứnhất, pháp luật Việt Nam về TTTM nói chung và trọng tài vụ việc nói riêng đã phát triển tương đối đầy đủ,giải quyết khá hiệu quả các tranh chấp phát sinh trong thực tiễn hoạt động kinh doanh, thương mại.Trướcnăm 2010, văn bảnpháp luật có hiệu lựcpháp lý cao nhất về TTTM là Pháp lệnh TTTM năm 2003. Tuy còn một số hạn chế nhất định nhưng Pháp
lệnhđãtrong một thời gian tương đối dài phát huy vai trò tích cựclàm cơ sở đểgiải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại bằng phương thức trọng tài tại Việt Nam. Năm 2010, Luật TTTM ra đờivớinhững tiếnbộ được nhận địnhlà “đã tiến gần đến các chuẩnmựctrọng tài quốc tế về trọng tài” đang được đánh giá và hy vọng sẽ có những đóng góp quan trọng trong hoạt động củaTTTM.
Thứhai, trong những năm trở lại đây, tại Việt Nam, các tranh chấp thương mại được giải quyết bằng trọng tài đã tăng lên về cả số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia,sốlượng và chất lượng cácvụ tranh chấp đượcgiải quyết bằng TTTM,đặc biệt là trọng tài vụ việc chưa nhiều so với các hình thức giải quyết tranh chấp khác (ví dụ nhưtoà án), sovớikỳvọng và sovớithực tiễn cácvụ tranh chấp phát sinh trong thực tế. Thực trạng này do rất nhiều nguyên nhân khác nhau xuất phát từ các quyđịnhcủapháp luật, xuất
phát từ tâm lý của các doanh nghiệp, từ năng lựccủađội ngũ trọng tài…
Chƣơng 3
MỘTSỐ GIẢIPHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG HÌNH THỨC TRỌNG TÀIVỤVIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
TRONG THƢƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM
3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng hình thức trọng tài vụ việc nhằm giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Việt Nam
3.1.1. Xuất phát từ thực tiễn sử dụng trọng tàivụ việctrong giải quyết các tranh chấp thương mạitạiViệt Nam
.Theo kết quả khảo sát, có 84% doanh nghiệp được hỏi chưa bao giờ đưa tranh chấp kinh doanh thương mại ra giải quyết tại trung tâm trọng tài thương, số doanh nghiệp đã từng lựa chọn trọng tài làm phương thức giải quyết tranh chấp chỉ chiếm 16% số doanh nghiệp được khảo sát.
Trong tổng số các vụ tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài tại Việt Nam thì100%sốcác vụ này được giải quyết tại các Trung tâm trọng tài (trọng tài quy chế). Theo các báo cáo thì chưa có vụ tranh chấp nào mà các bên chọn trọng tài vụ việc Việt Nam để giải quyết.
3.1.2. Xuất phát từ vị trí, vai trò của trọng tàivụ việc
Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài đang là một phương thức giải quyết rất hiệu quảvà được ưachuộng trên thế giới nhưng tại Việt Nam trọng tài và đặc biệt là trọng tài vụ việc chưa thựcsự khẳng định được vịtrí của mình trong các phương thức giải quyết tranh chấp.
Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế và thực thi các cam kết khi gia nhập Tổchức thương mạithếgiới thì cũng phát sinhrấtnhiều những tranh chấp thương mại không chỉ dừng lại ở sự gia tăng về số lượng mà độ phứctạp củacác tranh chấp cũng ngày một nâng cao. Mặt khác, theo thống kêcủaPhòng thương mại và công nghiệp Việt Nam, hiện cảnướccó hơn 300.000 doanh nghiệp,đặcbiệt làsốdoanh nghiệp vừavànhỏngày càng gia tăng và đóng góp vai trò ngày càng quan trọng vàođờisống kinh tếcủađất nước.Theođó,số cácvụ việc tranh chấp sẽngày càng nhiều hơn, nhu cầu giải quyết các
11
tranh chấp linh hoạt, nhanh chóng được đặt ra ngày càng bức xúc hơn.
Trọng tàivụ việcvớicác ưu thếnổibậtsovớicác phương thức giải quyết tranh chấp khácsẽ thựcsự tạo được sứchút không chỉđốivới các cá nhân, tổ chức trong nước mà còn với cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài khi các quy định về pháp luật trọng tài nói chung vàpháp luật về trọng tài nói riêng được thực thi hiệu quả trong đời sống kinhtế.
3.2. Những yêu cầuđặtra đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng hình thức trọng tài vụ việcgiải quyết tranh chấp thương mạitạiViệt Nam
Thứnhất: Quá trình thực thi pháp luật TTTM phải thể chế hóa kịp thời và đầy đủ đường lối, chính sách của Đảng về xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Thứhai: Quá trình thực tiễn hóa pháp luật TTTM nói chung và trọng tài vụ việc nói riêng phải phục vụ đắc lựccho việc thực hiện các cam kết của Việt Nam khi trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới, đẩy mạnh hội nhập kinhtế quốc tế.
Thứba: Hiệu quả quá trình thực thi pháp luật TTTM nói chung và trọng tàivụ việc nói riêng làm cho phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thật sự có hiệu quả.
Thứtư: Đảm bảo tính đồng bộ củacả hệthống pháp luật. Hoạt động giải quyết tranh chấp bằng trọng tài do tính chất đặc thù của nó có liên quan đến rất nhiều lĩnh vực khác nhau dođóviệc hoàn thiện pháp luật TTTM phải gắn với việc hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đảm bảo tínhđồng bộ củacả hệ thống pháp luật.
3.3. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng hình thức trọng tàivụ việcgiải quyết tranh chấp trong thương mại tại Việt Nam
3.3.1. Giải pháp về mặt cơ chế, chính sách và pháp luật
Thứnhất, cầncó cơchếhỗtrợpháp lýtừ phía NhànướcđốivớiTTTM nói chung vàtrọng tài vụ việc nói riêng.
Thứhai,đểtriển khai tốt thi hành Luật TTTM năm 2010.
Thứba,cầncó các biện pháp giáo dục, tuyên truyền cho nhân dân hiểu biết vai trò vàýnghĩa củatổ chứcxã hội dân sự đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt trong nền kinhtế thịtrường đãhội nhập.
Thứtư, tăng cường sự giám sát của Quốc hội đối với việc hủy quyết định trọng tài, công nhận và thi hành phán quyết trọng tài sao cho việc hủy quyết địnhcủatrọng tài là vô cùng hãn hữu,chỉtrong các trường hợp đặc biệt và rõ ràng theo quy địnhcủapháp luật.
3.3.2. Giải pháp về phía các trọng tài viên
Thứnhất, cần tăng cường năng lực đội ngũ Trọng tài viên
Thứhai, cần tăng cường và nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho Trọng tài viên, nâng cao uy tín cá nhân Trọng tài viên cũng như uy tín của Trung tâm TTTM.
Thứba, cần thành lập Hiệp hội trọng tài để đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trọng tài viên, giám sát việc tuân theo quytắc đạo đứcnghề nghiệp,tổ chứcbồi dưỡng về kiến thức và kỹ năng hành nghề cho trọng tài viên; trao đổi, tổng kết kinh nghiệm hoạt động trọng tài trong cả nước; thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế về trọng tài.
3.3.3. Các giải pháp về phía tòa án và cơ quan thi hành án
Thứnhất, xây dựng được cơ chế phối hợp chặt chẽ, thường xuyên với Toà án, cơ quan thi
12
hành án, các Trung tâm Trọng tài nước ngoài.
Thứhai, tòa án hiểu việc hỗ trợ trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp là đương nhiên chứ không phải là sự can thiệp của tòa án vào giải quyết tranh chấp của trọng tài.
Thứba, hoàn thiện cơ chế thi hành quyết định trọng tài
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI VỤ VIỆC THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI VỤ VIỆC THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI VỤ VIỆC THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI VỤ VIỆC THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI VỤ VIỆC THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM


