Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh: tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa

Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh: tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa

Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh: tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Các tộiXPSH có tính chất chiếmđoạtgồm:TộiCướptài sản, Bắtcóc chiếmđoạttài sản,Cưỡngđoạttài sản, Cướpgiật tài sản, Công nhiên chiếmđoạttài sản, Trộmcắptài sản, Lừa đảochiếmđoạttàisảnvà Lạmdụng tính nhiệm chiếmđoạttàisảnlà các tộigây nguy hiểm cho xã hội;hậuquả của nókhông chỉ xâm phạmđến quyềnsở hữu về tàisảncủa cá nhân, gia đình, tổ chức,

cơ quan…, mà còn xâmhạiđếnsức khỏe, tính mạng, tinh thần và gây hoang mang lo lắng cho người dân. Ngoài ra, còn ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, gâymấtan ninh, trật tự an toàn xã hội, cản trở

đến sự phát triển kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội….vv, của cả nước nói chung và

của TPHCM nói riêng.

Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí địa lý đặc thù, thuộc miền Đông nam bộ, diện tích khoảng 2.095,6 km², dân số khoảng 8,5 triệu người. Là trung tâm kinh

tế, chính trị, văn hóa, thương mại, du lịchlớnnhấtnước;nơi giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các tỉnh; là đầumốigiao thông quan trọng và là cửa ngõ quốc tếcủa Việt Nam và Đông Nam Á. Có đường hàng không (sân bay Tân sơn Nhất), cửa khẩu, Cảng biển, các tuyếnđườngSắt, đườngbộ. Có nhiều trường học, Bệnh viện, nhiều trung tâm văn hóa; là nơitậptrung hơn 19 khu công nghiệp, khuchếxuất, khu công nghệ cao như: khuChếxuất Tân Thuận, khu công

nghiệp Tân Tạo, khu công nghiệp VĩnhLộc…, nênđãthu hút đôngđảolaođộng từ các tỉnh về làm ăn, sinh sống, học tập. Làm tăng dân số đột biến tự phát, dẫn đếnsự dư thừa lao động và thất nghiệp, sự phân hóa giàu nghèo rõ rệt, kéo theo sự phát triển các cơ sở kinh doanh, dịch vụ: tiệm cầm đồ, cơ sở games, nhàtrọ; đi kèm là các tệ nạnxã hộinhư:mạidâm, cờ bạc, ma túy,rượuchè; cùng vớisốđốitượngsau cai nghịên ma túy, sốtộiphạmhếthạntù trả về địa

phương, mà địa phương không giúpđỡ,quản lý, giám sát chặtchẽ…Tấtcả

1

những yếu tố đó trở thành nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm, đặc biệt là các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt.

Thực tiễn trong những nămgầnđây, tình hình các tội XPSH có tính chất chiếmđoạttrênđịa bàn TPHCM có chiềuhướnggia tăng, diễn biến phức tạp; tội phạm hoạtđộng vớinhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi, liều lĩnh, công khai và thể hiện coi thường tính mạng, sức khỏe của ngườikhác.Từnăm 2006 đến 2017, đã xảy ra 63.566 vụ án các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt, với 80.277 tội phạm, chiếm 87,38% về số vụ và 85,33% về số tội phạm trong tổng số vụ và sốtộiphạm hìnhsựtrênđịabàn TPHCM. Trong đó, nhiều nhất làtộiTrộmcắptài sảncó 39.582 vụ, với 49.643 tội phạm; thứ 2 là tội Cướp giật tài sản có 15.354 vụ, với19.620tộiphạm;thứ3 là tộiCướptàisảncó 3.866 vụ, với5.121 tội phạm; thứ 4 là tội Lừa đảo chiếmđoạttài sản có 2.638 vụ, với 3.091 tội phạm; thứ5 là tộiLạmdụng tín nhiệm chiếmđoạttàisảncó 1.493 vụ, với1.918 tội phạm; thứ 6 làtộiCưỡngđoạt tài sản có 546 vụ với 715 tội phạm;thứ7 là tội Bắtcóc chiếmđoạttài sản có 89 vụ, với 145 tội phạm; ít nhất là tội Công nhiên chiếmđoạttài sản có 24 vụ và 24 tội phạm. Trung bình mỗi năm tại TPHCM có5.297 vụ và 6.690 tội phạm XPSH có tính chất chiếm đoạt (xem bảng 2.1, 2.2 và2.3 – phụ lục 1). Hệ số tội phạm trung bình trên 100.000 dân cư của TPHCM có 88

tộiphạm (xem bảng 2.4 -phụlục1). Sovớicảnướcthì trung bìnhmỗinămở TPHCM chiếm 22,75%sốvụvà chiếm 17,80%sốtộiphạm XPSH có tính chất chiếm đoạt; mật độ tội phạm gấp 30 lần sovới cả nước(xét theo diện tích km2), gấp 2,1 lần so với cả Nước (xét theo mật độ dân cư trên một tội phạm) (xem bảng 2.5 và 2.6 – phụ lục 1). So với tỉnh Đồng Nai thì trung bình mỗi năm ở TPHCM gấp 583% số vụ và 449% số tội phạm; mật độ tội phạm gấp 12 lần (xét theo diện tích km2) và gấp 1,5 lần (xét theo mật độ dân cư trên một tội phạm) (xem bảng 2.7 và 2.8 – phụ lục 1).

Trước tình hình đó, Thành ủy, UBND và các cơ quan, ban ngành của TPHCM đã tổchức triển khai thực hiện theo nhiềuchủtrương, chính sáchcủa

Đảng và Nhà nước về đấu tranh phòng, chống các tội XPSH có tính chiếmđoạt như: Nghị quyết số 49/NQ/TW của Bộ chính trị, ngày 2/6/2015“Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”; Chỉ thị số 48 – CT/TW, ngày 22/10/2010“Vềtăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”, của Ban chấp hành trung ương Đảng; Nghị quyết số37/2012/QH13 ngày 23/11/2012củaQuốc hội“Vềcông tác phòng, chống vi phạm pháp luật vàtộiphạm, công tác củaVKSND, củaTAND và công tác thi hành án năm 2013”;Kế hoạch 271/KH-BCĐ138/CP thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2012-2015 của Ban chỉ đạo 138/CP; Thông tư liên tịchsố34/2009/TTLT-BGDĐT-BCA“Về hướngdẫn phốihợpthực hiện công tác đảmbảoan ninh, trậttựtạicác cơsởgiáo dục thuộc hệ thống cơsởgiáo dục quốcdân”. Và cụthể hóa bằng việc ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, như: Chỉ thị 05.-CT/TU ngày 12/7/2007 của Thường vụThành ủy“Về tăng cườnglãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trênđịabàn thànhphốvà tổngkết5 năm (2001- 2005) thực hiệnchỉthị03- CT/TUcủaThườngvụThànhủy về phòng, chốngtộiphạm, thực hiện chương trình mục tiêu 3 giảm; tăng cường phối hợp giữa các ngành, mặt trận, đoàn thểthực hiện có hiệuquảcácChỉthị, Nghị quyết,Kế hoạch nhằm nâng cao công tác phòng ngừa xãhộitrong phòng, chốngtộiphạm”[104]. Quyếtđịnhsố333/QĐ-UB của UBND thành phố ngày 7/4/2005 “Về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2005-2010” [75] … và đạt được những kết quả nhất định. Nhưng hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống các tội XPSH có tính chất chiếmđoạtvẫn còn nhiềuhạnchếnhư:tỉlệ khám phá tộiphạm còn thấp; công tác điềutra, truy tố, xétxửcòn nhiều thiếu sót; công tác chỉ đạo, giám sátchưa đượcthường xuyên, liên tục;sựphối hợp giữa các cơ quan, ban ngành với các lực lượng phòng, chống tội phạm chưa đồngbộ;trìnhđộchuyên môn của cánbộtham gia còn thấp;ýthức đấu tranh phòng, chống tội phạm trong nhân dân còn yếu; các cơ quan, xí nghiệp, tổ

3

chức kinh tế chưa quan tâm đúng mức về việc bảo vệ tài sản.

Vì vậy, việc nghiêncứutình hình các tộiXPSH có tính chất chiếmđoạt trên địa bàn TPHCM, để tìm ra những nguyên nhân và điều kiện, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa nhóm tội này là mộtvấnđềcầnthiết. Từnhững luận giải trên, tác giảchọnđềtài: “Các tộixâm phạmsởhữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh: tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa” làm luận án Tiến sĩ là cấpthiết cóýnghĩa vềmặtlý luận và thực tiễn.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án – Mục đích nghiên cứu

Xây dựng các giải pháp phòng ngừa cáctộiXPSH có tính chất chiếmđoạt trên địa bàn TPHCM.

– Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận án cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, là khái quát tổng quan về tình hình nghiên cứu trong nước, ngoài nướcvà cácvấnđềcó liên quanđếnđềtài luận án; nhằmkếthừa và xácđịnh những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án.

Thứ hai, phân tích, đánh giá tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM từ năm 2006 đến 2017 qua các thông số về mức độ, diễn biến, cơ cấu và tính chất.

Thứ ba, tìm ra các nguyên nhân và điều kiện của tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt, cùng với những tính chất đặc thù về vị trí địa lý có liên quanđến tình hình tội phạm trên địa bàn TPHCM, từ năm 2006 đến 2017.

Thứ tư, dự báo tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM về mức độ, diễn biến, cơ cấu, tính chất, nguyên nhân và điều kiện. Đồng thời, kiến nghị các nhóm giải pháp phòng ngừa hiệu quả về tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM trong thời gian tới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu – Đối tượng nghiên cứu

Đốitượngnghiêncứucủaluận án là tình hình cáctộiXPSH có tính chất chiếm đoạt, nguyên nhân, điều kiện và thực tiễn thực hiện các giải pháp phòng ngừa tình hình các tội XPSH có tính chất chiếmđoạttrên địa bàn TPHCM.

– Phạm vi nghiên cứu

Vềnộidung nghiên cứu: luận ánđượcnghiêncứutheo chuyên ngành tội phạm học và phòng ngừa tội phạm (mã số 9380105). Nhóm tội XPSH có tính chất chiếm đoạt, gồm 8 tội danh từ Điều 133 đến Điều 140 được quy định tại chương XIV của BLHS năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Về thời gian nghiên cứu: từ năm 2006 đến năm 2017. Về địa bàn nghiên cứu: trên địa bàn TPHCM.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu – Phương pháp luận

Luận án dựa trên cơsở duyvậtbiện chứng và duyvậtlịchsửcủa chủnghĩa Mác- Lênin; tưtưởngHồChí Minh và đườnglốicủa Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về phòng ngừa tội phạm nói chung và các tội XPSH cótính chất chiếm đoạt nói riêng làm phương pháp luận trong nghiên cứu.

– Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Tác giảđã sửdụng các phương pháp nghiêncứutrong luận án là các phương pháp nghiêncứuđặc trưng của tộiphạm học như: phương pháp tổng hợp, mô tả, phân tích, thống kê, hệ thống, so sánh, điều tra xã hội học, tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu hồ sơ vụ án, nghiên cứu điển hình. Tùy thuộc vàođốitượngnghiêncứutrong từng chương, mục của luận án, tác giả sẽ lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp. Cụ thể như sau:

Phương pháp phân tích, tổng hợp, hệthống:được sửdụng nghiên cứu phân tích, tổng hợp các văn bản, tài liệu liên quan đến đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt nói riêng đã được áp

5

dụng trong thực tiễn; các kếtquảnghiêncứuvềtộiphạm học, khoa họcluật hình sự, khoa học điềutra tộiphạmvềphòng ngừa tình hình các tộiXPSH cótính chất chiếm đoạt đã được công bố và áp dụng. Sử dụng chủ yếu ở chương 1 và chương 2

Phương pháp thống kê hình sự: phương pháp nàyđược sử dụng để thống kê tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM, kết quảphòng ngừa tình hình các tộiXPSH có tính chất chiếmđoạtcủa các cơ quan chức năng trên địa bàn TPHCM trong thời gian qua, từ năm 2006 đến năm 2017. Chủ yếu sử dụng ở chương 2.

Phương pháp so sánh: phương pháp này dùng để so sánh tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM với tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên phạm vi cả nước, với tỉnh một tỉnh có cùng vị trí địa lý,điềukiện kinh tế, xãhộivà so sánh giữa các quận, huyện trênđịabàn TPHCM. Chủ yếu sử dụng ở chương 2.

Phương pháp tổngkếtkinh nghiệm:dựatrên cơ sởnghiêncứucóhệthống các báo cáo sơ kết, tổngkếttháng, quý, năm, các báo cáo chuyênđềvềcông tác phòng, chống tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt của các cơ quan đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn TPHCM trong thời gian qua; rút ra nhữngvấnđềcó tính quy luậtvềcác tộiXPSH có tính chất chiếm đoạtvà công tác phòng ngừa tình hình các tộiXPSH có tính chất chiếmđoạt trên địa bàn TPHCM. Sử dụng ở chương 2, chương 3 và chương 4.

Phương pháp nghiêncứuđiểnhình:đượcsửdụng nghiêncứucác vụánđiển hình về các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt xảy ra trên địa bàn TPHCMđểlàm rõ tính chất phạm tội, mức độhành vi phạm tội, phương thức thủđoạn

phạm tội, nhân thân người phạm tội, động cơ và mục đích phạm tội,…Chủ yếu sử dụng ở chương 2 và chương 3.

Phương pháp điều tra xã hội học: là dùng các phiếuđiềutra xã hộihọcđểthu thập ý kiến của các Thầy giáo, Cô giáo của một số trường phổ thông trung học

và một số đồng chí Cảnh sát khu vực, Điều tra viên, cán bộ trinh sát…, về những vấn đề có liên quan đến công tác phòng ngừa tình hình các tội XPSH có tính chất chiếmđoạttrên địa bàn TPHCM. Ngoài ra, thu thập ý kiến của các phạm nhân vi phạm các tội XPSH có tính chất chiếmđoạtvề hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp,

nguyên nhân, điều kiện dẫn đến việc phạm tội của họ…Phương pháp này được sửdụng ở chương 2 và chương 3.

Phương pháp xin ý kiến chuyên gia là trao đổi với các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, các cán bộ có kinh nghiệm về công tác phòng, chống tội phạm, về những vấn đề lý luận và thực tiễn phòng ngừa tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM. Được sử dụng ở chương 3 và chương 4.

5. Những điểm mới của luận án

– Điểm mới về phương pháp tiếp cận và quan điểm tiếp cận

Phương pháp tiếp cận: theo chuyên ngành tội phạm học và phòng ngừa tội

phạm, tiếp cận có hệ thống và liên ngành khoa học xã hội….

Quan điểm tiếp cận: tiếp cận theo đa chiều, toàn diện, tổng thể. – Điểm mới về khoa học

Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và hệ thống thuộc chuyên ngành tội phạm học và phòng ngừa tội phạm, đã có những đóng góp mới về mặt khoa học, như:

Thứ nhất, luận án làm rõ tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM từ năm 2006 đến năm 2017.

Thứ hai, làm sáng tỏ những nguyên nhân và điều kiện cụ thể của tình hình các tội XPSH có tính chất chiếmđoạtcùng với những đặc thù về vị trí địa lý liên quan đến THTP trên địa bàn TPHCM. Phântích đặc điểmnhân thân của người phạm tội và những tình huống, hoàn cảnh hỗ trợ cho hành vi phạm tội xảy ra.

Thứ ba, luận án dự báo tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt; vềnguyên nhân và điềukiện;dựbáovề khả năng phòng ngừa của tình hìnhtội

phạm này trong thời gian tới. Đồng thời, đề xuất những giải pháp phòng ngừa các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt phù hợp với thực tiễn trên địa bàn TPHCM .

6. Ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn của luận án – Ý nghĩa về mặt khoa học

Luận án góp phần bổ sung về lý luận phòng ngừa tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt. Luận áncó thể được sử dụng làmtài liệu phục vụ giảng dạy, họctậpvà nghiêncứukhoahọctrong lĩnhvựctộiphạm học và khoa học luật hình sự.

– Ý nghĩa về mặt thực tiễn

Luận án có thể là tài liệu tham khảo cho những cánbộđang làm việc trong các cơ quan phòng, chốngtộiphạm. Ngoài ra, luận án có giá trịlàm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng các biện pháp phòng ngừa tội phạm nói chung và phòng ngừa các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt nói riêng.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, phầnkếtluận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được kết cấu chia làm 4 chương, cụ thể như sau:

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiêncứutrong nước, ngoàinướcvànhững vấn đề cóliên quan đến luận án.

Chương 2: Tình hình các tội XPSH có tính chất chiếmđoạttrên địa bàn TPHCM từ năm 2006 đến năm 2017.

Chương 3: Nguyên nhânvà điềukiện của tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM từ năm 2006 đến năm 2017.

Chương 4:Dựbáo tình hình các tộiXPSH có tính chất chiếmđoạttrênđịa bànTPHCM và các giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm này trong thời gian tới.

Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh: tình hình nguyên  nhân và giải pháp phòng ngừa
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh: tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước

1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu trong nước, ngoài nước và các vấnđề cần giải quyết trong luận án

Trong thời gian qua, có nhiều công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nướcvề các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt ở những góc độ và phạm vi khác nhau. Có những công trình nghiêncứucảnhóm tội XPSH có tính chất chiếmđoạt, có những công trình nghiên cứu riêng một tội cụ thể trong nhóm tội XPSH có tính chất chiếm đoạt. Các công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ: góc độ tội phạm học, luật hình sự, điều tra hình sự. Kết quả của những nghiên cứu trênđãđóng góp tích cực về mặt tiếp cận, về lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu đề tàiluận án; qua đó, tác giả kế thừa nhữngưu điểmđểthực hiện nghiên cứu luận án. Những vấn đề liên quan đến đề tài luận án được đánh giá như sau:

Thứnhất, là nhữngvấnđềliên quanđếnđềtài luận ánđãđược nghiên cứu chuyên sâu, điển hình có các công trình nghiên cứu, như:

– Công trình nghiên cứu Kriminologie, của Goppinger Hans (người Đức), nhà xuất bản Verlag C.H. Beck, 6.Auflage, Munchen 2008. Crime and criminology in Japan, (tạm dịch:Tộiphạm vàtộiphạm học ởNhậtBảnhiệnđại) của Can Ueda, giáo sư, tiến sĩ luật học, Trường Đại học Tổng hợp Ritsumeikan. Theoretical basis of crime prevention (Tạm dịch là: cơ sở lý luận củaviệc phòng ngừatộiphạm)củatác giảMikovskij G.M, Nxb. Maxcơva, Jurid, Literature, năm 1977. Criminology Today, của Tiến sĩ triết học Giáo sưdanh dự Frank – Schmalleger (người Mỹ) nhà xuất bản Prentice Hall năm 2002,

trường Đạihọc Bắc Carolina ở Pembroke (Mỹ)….

– Giáo trình tội phạm học, của GS.TS Võ Khánh Vinh, tái bản năm 2011. Tội phạm học hiện đại và phòng ngừa tội phạm, của GS. TS Nguyễn Xuân Yêm, năm 2001. Mộtsốvấnđềlý luậnvề tình hìnhtộiphạmởViệt Nam và tạpchíNguyên nhân vàđiều kiệncủa tình hình tội phạm ở nước ta hiện nay – Mô hình

24

lý luận, của PGS.TS Phạm Văn Tỉnh. Đấu tranh phòng, chống tội cướp giật tài sản ở nướcta hiện nay, luận án Tiến sĩ luật học chuyên ngành tội phạm học, của tác giả Đặng Thúy Quỳnh. Đấu tranh phòng chống tội cướp tài sản trên địa bàn Hà Nội, luận án Tiến sĩ luật học chuyên ngành tội phạm học, của tác giả Đỗ Kim

Tuyến, năm 2001. …v.v.

– Nội dung của các công trình nghiên cứu trên tập trung giải quyết nhiều vấn đề về khái niệm, phân tích, đánh giá tình hình tội phạm, nguyên nhân, điều kiện phát sinhtộiphạm và các giải phápđấutranh phòng ngừa tộiphạm nói chung và các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt nói riêng. Trong đó, có một sốcông trình cungcấplý thuyết cơbảnvềtộiphạmhọcnhư: khái niệm THTP, khái niệm phòng ngừa THTP, các thông số của THTP, nguyên nhân và điều kiện của THTP, nhân thân người phạm tội, dự báo THTP, các biện pháp phòng ngừa tội phạm; chủ thể phòng ngừa THTP; một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt, như: định nghĩa; khái niệm; các thông số về mức độ, diễn biến, cơ cấu, tính chất; nguyên nhân và điều kiện; các yếu tốvề nhân thân người phạm tội; dự báo tình hình tội phạm và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt. Các công trình trên được nghiên cứu sinh tiếp thu, kế thừa và ứng dụng làm cơsở lý luận, kinh nghiệm cho việc nghiên cứu đề tài luận án.

Thứhai, là Nhữngvấnđềcó liên quanđếnđềtài luận án chưađược nghiên cứu một cách chuyên sâu, điển hình các công trình nghiên cứu, như:

– Công trình nghiên cứu của tác giả Diana Nelson và cộng sự về“Các đặcđiểmvà nguyên nhân của tội trộm cắp” năm 2002, tại Viện Tội phạm Úc đã dựa trên các nghiêncứuvề trộmcắptrước đâytrong khu vực, như nghiêncứucủa MARS (1999), (theo Điều 138) tại lãnh thổ thủ đô nước Úc.

Tác giả chỉchú trọng nghiêncứuthuhẹpdướimộtkhía cạnhhẹpvềnguyên nhân và điềukiện phát sinhtộiphạm. Chủyếuphân tíchdướigóc độnguồn tàisảnđánh cắp; thời gianxảyra vụ trộmcắp; những hàng hóa bịđánh

25

cắpở nước Úc,cách phòng ngừa chủ yếu là trấn áp tội phạm; chủ thể chính đólà lực lượng Cảnh sát. Chưa đi sâu phân tích, đánh giá tình hình trộm cắp tài sản về mực độ, diễn biến, cơ cấu và tính chất; chưa phân tích tìm ra nguyên nhân vàđiềukiện và nhữngyếutốlàm phát sinhtộiphạmđể xây dựng các biện phápđấu tranh phòng ngừa và chưa kêu gọi được các tầng lớp nhân dân, các cơ quan bàn ngành, các tổ chức chính trị xã hội tham gia tích cực phòng, chống tội phạm.

– Công trình nghiêncứu“Tộixâm phạmsởhữucótổchức”của tác giảStijn Van Daele người Bỉ, đăng trên tạp chí tội phạm toàn cầu, vào tháng 8 năm 2008, của trường đại học Ghen ở Bỉ. Tác giả chỉ chú trọng phân tích khía cạnh quốc tịch và nơi cư trú (nhân thân người phạm tội) và dấu hiệu pháp lý của các băng nhóm tội XPSH. Chưa phân tích sâu về nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh các tội XPSH và chưa xâydựng đượccác biện pháp phòng ngừa thích hợp trên nhiều lĩnh vực của nước Bỉ trong hoàn cảnh hiện tại.

– Công trình nghiên cứu“Hoạt động phòng ngừa tội phạm của lực lượng Cảnh sát nhân dân ở cơsở hiệnnay và những giải pháp hoàn thiện” của tácgiảVũ Xuân Trường, Học viện Cảnh sát nhân dân. Nghiên cứu còn thu hẹp ở mứcđộphòng ngừa tộiphạm của lực lượngCảnh sát nhân dân mà chưa phát huyđược cả hệ thống chính trị tham gia hoạt động phòng ngừa tội phạm. Chưa phân tích đượctình hìnhtộiphạm trênmộtđịabàn cụ thể cùng với tính đặc thù của nó, nên chưa tìm ra được các nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tình hình tội phạm do mặt trái của quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục…vv, tạo ra.

Nhìn chung, phầnlớncác công trình nghiêncứutậptrung các vấnđềởphạm vi một quốc gia hoặc ở một khu vực trong nước. Chưa kết hợp sâu sát với điềukiệnđịalý, tựnhiên, dân số, phong tục, tậpquán. Các công trình tuy cónghiên cứu về tình hình, nguyên nhân, điều kiện của các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt và cũng đưa ra được một số các biện pháp phòng ngừa. Nhưng vẫn còn một số hạn chế: chủ thể phòng ngừa chính là lực lượng Cảnh sát, chưa có sựtham gia, phốihợpcủa các cơ quan, ban ngành, các cấpchính quyền và nhân

26

dân. Tóm lại, tuy có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn. Nhưngđến hiện nay, chưa có công trình nào nghiêncứu dưới góc độ tội phạm học một cách đầyđủ, chuyên sâu về tình hình, nguyên nhân, điều kiện và các giải pháp phòng ngừa về các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM.

1.4. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Từviệc đánh giá tổng quan tình hình nghiêncứutrongnước và ngoài nước, Nghiên cứu sinh tiếp thu và kế thừa những ưu điểm, khắc phục những hạn chế thiếu sót và rút ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, như sau:

Thứ nhất, phân tích, đánh giá về mức độ,diễn biến, cơ cấu, tính chất của tình hình cáctộiXPSH có tính chất chiếmđoạt,trênđịabàn TPHCM từnăm 2006 đến năm 2017.

Thứhai, làm rõ nguyên nhân vàđiềukiệncủatình hình cáctộiXPSH cótính chất chiếm đoạt từ năm 2006 đến năm 2017.

Thứba,dựbáo tình hình, nguyên nhân và điềukiện của cáctộiXPSH cótính chất chiếm đoạt trênđịa bànTPHCM trong thời gian tới. Đồng thời, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng ngừa có tính khả thi và hiệu quả.

Kết luận Chương 1

Qua phân tích một số công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước đãđược công bố, có liên quanđến đề tàiluận án. Kết quả của các công trình đã đểlạinhiềuvấn đề cần tiếptục kế thừa như: cách tiếp cận, lý luận về tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt, bao gồm: khái niệm, các thông số về mức độ,

diễn biến, cơ cấu và tính chất; nguyên nhân và điều kiện; nguyên tắc và các giải pháp phòng ngừa các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt.

Các công trình nghiêncứuở nước ngoàiđã có nghiêncứuvềTHTP nói chung hoặc nghiên cứu riêng từng tội cụ thể trong nhóm tội XPSH có tính chất chiếmđoạtnhư: tội trộm cắp, cướp giật tài sản… Nhưng các công trình dừng lạiở chỗđánh giá và phân tíchdấuhiệu phạm tội; phương thứcthủđoạncủa tội

27

phạm; nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm và một số giải pháp phòng ngừa, tùy theo từng khu vực, từng quốc gia. Nhiều công trình nghiên cứu có một số hạn chế như: các cơ quan, ban ngành chưa thực sự phối hợp tốt, chủ thể chính về phòng, chống các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt là lực lượng Cảnh sát, ít đề cặpđếnvai trò của Tòa án và các cơ quan ban ngành, các cấpchính quyền trong công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đã cung cấp được rất nhiều giá trị theo cách tiếp cậndưới góc độ tội phạm học và cũngđã đóng góp nhiều cho việc hoàn thiện pháp luật; lý luận và thực tiễn đấu tranh phòng, chống các tội XPSH có tính chất chiếmđoạttrên địa bàn TPHCM, trong việc nghiên cứu đề tài luận án “Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt: tình hình, nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa”.

Qua chương 1, nghiêncứusinhđã xác địnhđược nhữngvấnđềcó liên quan đến luận án đã được nghiên cứu một cách chuyên sâu và những vấn đề cóliên quanđếnluận án chưa được nghiêncứuchuyên sâu. Kếthừa và xác định nhữngvấnđềcầntiếp tục nghiên cứu, làm rõ trong luận án, như: phân tích vàđánh giá toàndiện về mức độ, diễnbiến, cơ cấu, tính chất của tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM; tìm ra những nguyên nhân,điều kiện, đặc điểm tiêu cực của nhân thân người phạm tội, đặc điểm nhân thân ngườibịhại;từđóđềxuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệuquảphòng ngừa tình hình các tộiXPSH có tính chất chiếmđoạttrênđịa bàn TPHCM, có tính khoa học và phù hợp với thực tiễn.

28

Chương 2

TÌNH HÌNH CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. Khái quát những vấn đề lý luận về tình hình các tội xâm phạm sởhữu có tính chất chiếm đoạt

2.1.1. Khái niệm tình hình cáctộixâm phạmsởhữucó tính chất chiếm đoạt

Khi nghiêncứuvềTộiphạm học, khái niệm THTP là khái niệm cơ bản đầutiên của Tộiphạm học. Đólà mộtthuậtngữvừa mang tính khoa học, vừa được dùng trong ngôn ngữ đời thường. Theo GS.TS Võ Khánh Vinh, khái niệm “Tìnhhìnhtội phạm” được hình thành bằng cách chuyểnmứcđộnhận thức từsự kiện, hành vi và khái niệm tội phạmđơnnhất đến một khái niệm chung hơn, khái quát hơn, phức tạp hơn. Tức là đi từ nhậnthức thấp đếnmức độ nhận thức cao hơn, khái quát những nhận thức đã đạtđược. THTP là khái niệm chungđược hình thành từ tổng thể thống nhất các tội phạm đã thực hiện trong xã hội; không thể nói THTP chung chung mà phải nói trong một địa bàn nhất định và ởmộtkhoảng thời gian nhất định, nó là mộthiệntượngtiêu cực nguy hiểm lớn nhất cho xã hội. THTP cócác đặc điểmnhư: THTP là một hiện tượng xã hội; làmột hiện tượng thayđổi về mặtlịch sử; là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp; là mộthiệntượngpháp lý- hìnhsự;baogồmtổng thể thống nhất của các tội phạm trong xã hội; tồn tại trên một địa bàn nhất định và trong một khoảng thời gian nhấtđịnhvà địnhnghĩa THTP như sau:“Tìnhhìnhtộiphạm làmộthiện tượng xã hội, pháp lý – hình sự được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính giai cấp bao gồm tổng thể thống nhất (hệ thống) các tội phạm thực hiện trong một xã hội

(quốc gia) nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định” [147, tr.60- 61].

Cùngvớiquanđiểmtrên, PGS. TS Phạm Văn Tỉnh cho rằng:đấutranh với tội phạm dưới góc độ tội phạm học không phải chỉ dựa trên quan điểm xem

29

tội phạm là những hành vi riêng lẻ – đơn nhất, mà phải nhìn nhận tội phạm trong

tổng thể của nó, trong mối quan hệ của nó với “Toàn bộ xã hội”, và trong chừng mực nàođóđốitượngnghiêncứucủa tộiphạm học chính là THTP. PGS. TS Phạm Văn Tỉnh cũng đưa ra khái niệm THTP: “Tình hình tội phạm là một hiện tượng xã hội tiêu cực, mang tính lịch sử cụ thể và pháp lý hình sự, có tính giai cấp và được biểu hiện thông qua tổng thể các hành vi phạm tội cùng các chủ thểthực hiện các tộiphạmđótrongmộtđơnvịhành chính lãnhthổnhấtđịnhvàtrong một thời gian cụ thể nhất định” [112, tr.10].

Như vậy, trên cơ sở lý luận và khái niệm THTP của các nhà khoa học. Cóthể nói tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM là tổngthểcáctộiXPSH có tính chất chiếmđoạtđã xảyra trênđịabàn TPHCM trong thời gian từ năm 2006 đến năm 2017, bao gồm tất cả số vụ các tội XPSH có tính chất chiếmđoạtđã bị phát hiện và số vụchưa bị phát hiện. Qua đó, cóthể hiểu khái niệm tình hình các tội XPSH có tính chất chiếmđoạttrên địa bàn TPHCM như sau: “Tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếmđoạt trên địa bàn TPHCM là một hiện tượng xã hội, pháp lý – hình sự được thay đổi về mặt lịch sử, mang tính giai cấp bao gồm tổng thể các hành vi xâm phạm sởhữu có tính chất chiếm đoạt cùng các chủ thể thực hiện hành vi đó trên địa bàn TPHCM và trong một khoảng thời gian nhất định”.

Qua khái niệm này, tác giả cóthểnhận diệnmộtsốđặc điểmcủa tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM như sau:

Thứ nhất, tình hình các tộiXPSH có tính chất chiếmđoạttrênđịabàn TPHCM là một hiện tượng xã hội.

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lê nin thì: THTP là một hiện tượng xã hội chứ không phải một hiện tượng tự nhiên, có nghĩa là THTP có nguồn gốc từ xã hội, tồn tại trong xã hội, có nội dung xã hội, có nguyên nhân trong xã hội và số phận của nó cũng mang tính xã hội [147, tr.55]. Do vậy, tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM cũng là một hiện tượng tiêu

30

cực xã hội. Bởi lẽ nó tồn tại trong xã hội, có nguồn gốc xã hội, được hình thành từ những hành vi của con người sinh sống và làm việc trong xã hội, nên chịu tác

động của các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội…, của TPHCM, như: hiện tượng di cưlậpnghiệp, hoàn cảnh kinhtế- xã hội, văn hóa, tình trạng thất nghiệp,…Đồng thời, nó cũng có quan hệ chặt chẽ với các hiện tượng xã hội khác như: ma túy, cờbạc, mạidâm…, của mộtbộphậnngườidân. tác động tiêu cực đếnđời sống xã hội, luôn xâmhạiđếncác quan hệ xã hội, phávỡnhững giá trịxã hội làmđảolộn trật tự xã hội. Nó không chỉ gây ra những thiệt hại về vật chất, tinh thần mà còn xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của con người; gây rối loạn an ninh trật tự, an toàn xã hội, ảnhhưởngđếnkinh doanhsảnxuất,cảntrởquá trình phát triển kinh tế, xã hội của TPHCM.

Thứhai, tình hình các tộiXPSH có tính chất chiếmđoạttrênđịabàn TPHCM là hiện tượng pháp lý – hình sự.

Tình hình cáctộiXPSH có tính chất chiếmđoạttrênđịa bàn TPHCM, cũngđược dựa trên cơ sở của “Tìnhhìnhtộiphạm”, và đềulấyquyđịnh“Tội phạm” tạiKhoản 1 Điều 8 BLHS năm 1999 làm gốc. Nó được thể hiện qua các thông số về mức độ, diễn biến, cơ cấu, tính chất của 8 tội: Cướp tài sản, Bắt cóc chiếmđoạttài sản, Cưỡngđoạttài sản, Công nhiên chiếmđoạttài sản, Cướp giật tài sản, Trộm cắp tài sản, Lừa đảo chiếm đoạt tàisảnvà Lạm dụng tín nhiệm chiếmđoạttàisảntrênđịa bàn TPHCM và được quyđịnhở chương XIV của BLHS năm 1999. Ngoài ra, tình hình các tội XPSH có tính chất chiếmđoạtgiúp chúng ta có thể phân biệt được tội phạmvớicác vi phạm pháp luật, các hành vi tiêu cực trong xã hội. Từ đó có thể xác định chính xác đối tượng nghiên cứu của tộiphạm học. Sựthayđổicủa pháp luật hìnhsựtheohướngthu hẹp, haymở

rộng phạm vi trừng phạt, thì đều ảnh hưởng trực tiếp đến các thông số của tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM.

Thứ ba, tình hình các tộiXPSH có tính chất chiếmđoạttrênđịabàn TPHCM là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp.

31

Tính giai cấp của THTP thể hiện ở nguồn gốc xuất hiện, ở các nguyên nhân nhất định, ở nộidung của các tộiphạmcụthể – các thực thể, tế bàocấuthành nên hiện tượng đó và cả ở số phận của nó trong tương lai [147, tr.56]. Tính giai cấp của tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trước hết thể hiện ở quanđiểmlậppháp. Giaicấpthống trị sẽ quy định hành vi bị xem là tội phạm và xây dựng hệ thống pháp luật trừng trị tội phạm dựa trên tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi đó. Đồngthời, giaicấpthốngtrịđề ra những trình tự, thủtụccho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các hành vi phạm tội, người phạm tội này. Các tộiXPSH có tính chất chiếmđoạttrênđịa bàn TPHCM xâmhạitrực tiếpđếnquyềnsở hữutài sản, sứkhỏe của ngườikhác, tác độngxấuđếntrậttựan toàn xã hội, Nhà nước và nhân dân nên nó bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt. Tùy theo tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội gây ra cho xãhộimà ngườiphạmtộiphải chịu hình phạt tương ứng, được quyđịnhtạicácĐiềutừ136đến140 BLHS năm 1999 sửa đổi, bổsung năm 2009. Mặtkhác, tính giai cấp còn thể hiện ở tính nghiêm khắc trong các Nghị quyết, Quyết định, Chỉthị, kế hoạchđấutranh phòng, chống tình hình các tộiXPSH có tính chất chiếmđoạtcủa các cơ quan Đảng, Nhà nước nhằmbảovệ an ninh trật tự, bảo vệtính mạng và tài sản cho người dân, như: Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới”; Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 22/6/2015 của BộChínhtrị“Về tăngcườngsựlãnh đạocủaĐảngđốivớicông tác đảm bảo an ninh trật tự trong tình hình mới”; Quyết định số 282/QĐ-TTg ngày 24/2/2011củaThủtướngChínhphủ“Về ban hànhkếhoạch thực hiệnChỉthịsố48 CT/TW ngày 22 tháng 10 năm 2010củaBộChínhtrịvề tăngcườngsựlãnhđạocủaĐảngđốivớicông tác phòng, chốngtộiphạm trong tình hình mới”; Nghị quyết 63/2014/NQ-QH13“Về tăngcườngbiện phápđấutranh phòng, chống tội phạm, triển khai thực hiện Chiến lược Quốc gia phòng chống

32

tộiphạm giaiđoạn2015-2025, địnhhướngđếnnăm 2030”. Các vănbảntrên thể hiện tính giai cấp trong đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này.

Thứ tư, tình hình các tộiXPSH có tính chất chiếmđoạttrênđịabàn TPHCM là hiện tượng thay đổi theo lịchsử

Theochủnghĩa duyvậtbiện chứng của Mác- Lênin thìmọihiện tượng trong xã hộivà trongtựnhiên không phải ởtrạng thái tĩnh tại, bấtbiến màthường xuyên biếnđổi, thayđổi[147, tr.55]. Tình hình cáctộiXPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM luôn có sự vận động và biến đổi phụ thuộc vào các điềukiện lịchsửxã hộitừng giai đoạn. Nó thayđổitrong nhữngđiều kiện lịch sử nhất định; thay đổi tùy thuộc vào sự phát triển của các hình tháikinh

tế khác nhau tại TPHCM. Ngoài ra, cóthểtrong cùng một hình thái kinh tế xãhội nhưng nếu có sự thayđổi về cơcấu kinh tế, xã hội, giai cấp thì tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt cũng có sự thay đổi.

Thực tiễn sovớicác giaiđoạntrước, giaiđoạntừnăm 2006đếnnăm 2017, TPHCM tạm thời ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soátlạmphát, đảmbảoan sinh xã hội; phát triển mạnh về kinh tế, văn hóa, dịch vụ, du lịch, thương mại…, thu hútđầutưnướcngoài, đẩymạnh công nghiệp hóa, hiệnđạihóa,đôthịhóa,… đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày một nâng cao. Bên cạnh đó vẫn còn nhiều bất cập, như: nguồn lao động thường xuyên biến động, sự dịch chuyển lao động giữa các ngành kinh tế, giữa các doanh nghiệp ngày một tăng; gây mất ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh ở một số ngành nghề. Lao động phổ thông có xu hướng làm những công việc tự do hoặc tham gia các loại hình dịchvụcó thu nhập cao. Sốlaođộngcó chuyên mônkỹthuật chưa đápứngđược yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Chất lượng đào tạo nghề chưa đủ đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động. Mạng lưới cơ sở giáo dục đào

tạo phát triển không đồng đều, tập trung chủ yếu tại các quận/ huyện nội thành; cơ sở dạy nghề còn ít, quy mô dạy nghề còn nhỏ. Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả đào tạo. Tầm

33

nhìn quy hoạch chưa đủ dài; chất lượng quy hoạch còn thấp, thiếu đồng bộ, tính dự báo chưa cao nên một số quy hoạch bị phá bỏ. Ngoài ra, công tác quản lý nhànước ở một số lĩnh vực an ninh trật tự trên địa bàn TPHCM còn yếu kém, thiếu trách nhiệm, nhất là quản lýđôthị, quản lýthịtrường, quản lý hoạtđộngvăn hóa, dịchvụcông ích. Tệnạn xã hội, ma túy, mạidâm diễn biến phức tạp gây mất lòng tin của người dân thành phố. Kết quả cải cách tư pháp chưa đồng bộ ởcác lĩnh vực, nhiều vụ án và thi hành án còn tồn đọng; tỉ lệ án hủy, ántrả điều tra bổ sung tuy có giảm hơn trước nhưng vẫn còn khoảng 1,88%/ năm. Các loại hình kinh doanh dịch vụ, văn hóa biếnđổikhông hoạtđộngcông khai nhưtrước, chuyển sang hoạtđộngtiềm ẩnphức tạp. Những biếnđộngvềkinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đã làm cho tình hình các tội XPSH có tính chất chiếmđoạt trong thời gian từ năm 2006 đến năm 2017 trên địa bàn TPHCM có những diễn biến phức tạp hơn so với các giaiđoạn trước.

Thứ năm, tình hình các tộiXPSH có tính chất chiếmđoạttrênđịabàn TPHCM là hiện tượng có giới hạn về không gian và thời gian.

Khi nghiên cứu tình hình các tội XPSH có tính chất chiếmđoạtở các địa bàn khác nhauvề vị trí địa lý, dânsố, điềukiện kinhtếxãhộithì tình hình tội phạm cũng khác nhau. Nếutrên cùngmộtđịa bàn là TPHCM thì tình hình các tội XPSH có tính chất chiếmđoạt ở các thờiđiểmxã hội khác nhau như 1 năm, 5 năm, 10 năm, 20 năm …vv, cũng khác nhau. Nó phụ thuộc vào đặc điểm lịch sử xã hội, về tự nhiên, kinh tế, văn hóa của từng thời kỳ, từng giai đoạn xã hội.

Vì vậy, khi nghiên cứu tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM từnăm 2006đếnnăm 2017;nắmrõđặc điểmnày giúp chúng ta nghiêncứusâu và rút ra được nhữngđặc trưng cơ bảncủa tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trong thời gian 12 năm trên địa bàn TPHCM;từđóxây dựng các giải pháp phòng ngừa phùhợpvớiđặc điểmđặc thù của TPHCM và với từng tội phạm cụ thể.

34

2.1.2. Các thôngsố củatình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2006 đến 2017

Tình hình cáctộiXPSH có tính chất chiếmđoạttrênđịa bàn TPHCMtừnăm 2006 đến năm 2017, gồm có hai phần: phần hiện và phần ẩn. Phần hiện bao gồm các thông số về mức độ, diễn biến, cơ cấu và tính chất của tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM.

2.1.2.1. Phần hiệncủatình hình cáctộixâm phạmsởhữucó tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2006 đến 2017

Theo PGS. TS Phạm Văn Tỉnh: “Phần hiện của tình hình tội phạm là toàn bộ những hành vi phạm tội và chủ thể của các hành vi đó đã bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự ở từng đơn vị hành chính – lãnh thổ hay trên phạm vi toàn quốc, trong những khoảng thời gian nhấtđịnhvàđượcghi nhận trong thống kêhình sự” [114, tr.55]. Phần hiện của tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM từ năm 2006 đến năm 2017 là toàn bộ các hành vi phạm tội và người phạm tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM đã được xửlý theo quy định của pháp luật hình sự. Phần hiện được thể hiện qua các thông số: mức độ (thực trạng), diễn biến (động thái), cơ cấu và tính chất.

– Thông số về mức độ (thực trạng)

Mức độ củaTHTP là số lượng tội phạm đã thực hiện và những người thực hiện các tội phạm đó trên một địa bàn nhất định và trong một khoảng thời gian nhất định[149, tr.62]. Mức độ của tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt trênđịa bàn TPHCMtừnăm 2006đếnnăm 2017 là sốlượngvụán các tội XPSH có tính chất chiếmđoạtđã xảyra, sốngườiphạmtộiXPSH có tính chất chiếmđoạtđã bịTAND TPHCM xétxử;cùngvớihệ sốtộiphạm của các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt. Hệ số tội phạmđược hiểulà tổng số các hành vi phạm tội hay tổng số tội phạm được tính trên 100.000 dân cư sinh sống trênmộtđịa bàn và trong một khoảng thời gian cụ thể.

35

– Thông số về diễn biến (động thái)

Diễn biến(độngthái) củaTHTP là sựvậnđộngvàsựthayđổicủa thực trạng và cơ cấucủa THTP, là sựphản ánh xuhướngtăng, giảm hayổnđịnh tương đối của tình hình tội phạm nói chung hoặc một nhóm tội phạm hoặc một

tội phạmcụthể xảyra trong một khoảng thời gian nhất định (một năm, ba năm, năm năm,mườinăm…) [149, tr.64]. Diễn biến của tình hình cáctộiXPSH cótính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM, từ năm 2006 đến năm 2017 là sự vận động và thay đổi của mức độ và cơ cấu và là sự phản ánh xu hướng tăng, giảm, hay ổn định tương đối của tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt.

– Thông số về cơ cấu

Cơ cấucủa THTP làtỉtrọng và mốitương quan của các loạitộiphạm khác nhau trong số lượng chung của chúng trong khoảng thời gian nhất định vàở một lãnh thổ (địa bàn) nhất định [149, tr.65]. Cơ cấu tình hình các tội XPSH cótính chất chiếm đoạt trên địa bàn TPHCM, gồm có: cơ cấu theo giới tính, độ tuổi, theo trình độ học vấn, theo đơn vị hành chính; cơ cấu theo đặc điểm nhân thân củangười phạm tội; theothủ đoạnphạm tội; cơ cấutheo công cụ, phương tiện sử dụng để thực hiện tội phạm; cơ cấu theo thời gian, địa điểm gây án…vv.

– Thông số về tính chất

Tính chất của tình hình tội phạm thể hiện mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội trong cơ cấu, cũng như đặc điểm nhân thân của người phạm tội. Tính chất củatình hìnhtộiphạmđược làm sángtỏthông qua cơcấucủa nó [149, tr.66]. Tính chất của tình hình cáctộiXPSH có tính chất chiếmđoạttrênđịa bàn TPHCM thể hiện mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội trong cơ cấu, đặc điểm nhân thân của người phạmtội; đó là đặc điểmvề “Định tính”, được đánh giá vềmặt“Chất” của tình hình các tội XPSH có tính chất chiếm đoạt

2.1.2.2. Phần ẩn của tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếmđoạttrên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2006 đến năm 2017

36

Phần ẩn của THTP là tổng thể các hành vi phạm tội (cùng các chủ thể của các hành vi đó) đã xảy ra trong thực tế, song không bị phát hiện, không bị xử lý theo quy định của pháp luật hình sự hoặc không có trong thống kê hình sự [114, tr.74]. Do đó, phần ẩncủa tình hình cáctộiXPSH có tính chất chiếmđoạttrênđịa bàn TPHCM, là toàn bộ các hành vi phạm tội XPSH có tính chất chiếm đoạt đã xảy ra trên thực tế và những người thực hiện hành vi phạm tội đó không bị cơ quan chức năng ở TPHCM phát hiện, hoặc đã bị phát hiện nhưng vì lý do nào đómà không bị xử lý theo quy định của pháp luật hoặc chưa đưa vào thống kê hình sự của các cơ quan có thẩm quyền.

Tội phạm ẩn gồm có: tội phạm ẩn tự nhiên (tội phạm ẩn khách quan); tội phạm ẩn nhân tạo (tội phạm ẩn chủ quan) và tội phạm ẩn thống kê. Tội phạm ẩn khách quan là những tội phạm đã xảy ra trong thực tế, song các cơ quan có thẩm quyền khởitốvụán hìnhsựkhông có thông tinvềchúng. Tộiphạm ẩnchủquan là toàn bộ các tội phạm đã xảy ra mà thông tin về chúng đã được các chủthể trực tiếp đấu tranh phòng, chống tội phạm nắm được, song vì những lý do khác nhau, các tội phạm đó trong một thời gian nhất định hoặc vĩnh viễn không bị xử lý hoặc xử lý không đúng theo quy định của pháp luật [114, tr.333]. Tội phạm ẩn thống kê bao gồm những hành vi phạm tội (và chủ thể của nó) đã bịxửlý bằngchếtài hìnhsự,song vì nhiều lý do khác nhau,sốnàybịlọtra ngoài con số thống kê hình sự, những con số làm nền cho việc đánh giá tình hình tội phạm [75, tr.57]. Việc xác định độ ẩn của từng loại tội phạm hoặc từng nhóm tội phạm cần phải dựa vào mức độ bộc lộ của sự phạm tội và các quanhệcủa nóvớicác chủthểkhác có liên quan nhưngườibịhại, nhân chứng [161, tr.37]. Do vậy, việc đánh giá độ ẩn của tình hình các tội XPSH có tính chất chiếmđoạttrênđịa bàn TPHCM cũngchỉởmức độtươngđối. Theo nghiêncứucủa Viện Nhànước và pháp luật thì mức độẩncủaTHTP gồmcó IVcấpđộ:cao nhất là cấp độ IV; theođó thì độ ẩncủa các tộiXPSH có tính chất chiếmđọatđược xếploại ở cấpđộ II, tức là thuộc nhóm những tội phạm bị ẩn khuất thứ II.

37

2.2. Tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2006 đến năm 2017

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHẤT CHIẾM ĐOẠT TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA

Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh: tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh: tình hình nguyên nhân và giải pháp phòng ngừa

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *