CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ HÌNH SỰ SƠ THẨM THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM

CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ HÌNH SỰ SƠ THẨM THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM

CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ HÌNH SỰ SƠ THẨM THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Thực hành quyền công tố là một trong hai chức năng của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) đã được hiến định. Hiến pháp năm 2013 ghi nhận “VKSND thực hành quyền côngtố,kiểm sát hoạtđộngtưpháp”(Điều107). Thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, do VKSND thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phảiđượcphát hiện, khởitố,điềutra, truytố,xétxửkịpthời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oanngườivô tội, khôngđểlọttội phạm và người phạm tội; đồng thời, không để người bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ,

tạm giam bị hạn chế quyền con người, quyền công dân.

Tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, Kiểm sát viên tham gia với tư cách là người đại diện VKSND thaymặtNhà nước để thực hành quyền công tố nhằm buộc tội bị cáo. Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Kiểm sát viên có các nhiệm vụ và quyền hạn như công bốcáo trạng, quyết định của VKSND liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên tòa; tham gia xét hỏi, thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm; tranh luận với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm. Thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơthẩmvụán hìnhsựnhằm truytố,buộctội ngườicó hành vi phạmtộira trước Toà án theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm không để lọt kẻ phạm tội vàlàm oan người vô tội.

Thời gian quaĐảngđãcó nhiềuchủtrương, chính sách nhằmbảođảm chất lượng thực hành quyền công tố nói chung và thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát trong hoạtđộngxétxửsơ thẩmvụán hìnhsựnói riêng. Nghịquyết số 08-NQ/TW ngày 2/1/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng

2

tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đã nêu rõ: “Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp. Hoạtđộngcôngtốphảiđượcthực hiện ngaytừkhi khởitốvụán vàtrong quá trìnhtốtụng nhằmđảmbảokhôngbỏlọttộiphạm, không làm oan ngườivô tội… Nghị quyếtsố49/NQ-TWcủaBộChínhtrịvềChiếnlượccải cách tư phápđếnnăm 2020, Văn kiệnHộinghịlầnthứchín Ban chấp hành trung ương Đảng khóa X đặt ra yêu cầu đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 phải bảo đảm các điều kiện cho VKSND thực hiện tốtchức năng thực hành quyền côngtố.Những quanđiểmđóđãđượcthểchếhóa trong Hiến pháp năm 2013, LuậtTổchức VKSND năm 2014,BộluậtTốtụng hình sự năm 2003, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Triển khai thực hiện nhữngchủtrương, chính sáchcủaĐảng,pháp luật của Nhà nước về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát, thời gian qua, nhìn chung VKSND đã thực hiện tố chức năng thực hành quyền công tố tại phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự, góp phần to lớn trong đấu tranh phòng chống tộiphạm,giữgìn an ninh chính trị, trậttựan toàn xã hội,bảovệquyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn tồn tại nhiều thiếu sót, hạn chế. Tình trạng oan, sai trong hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án vẫn diễn ra. Nhiều vụ án sơ thẩm hình sự Tòa án trả hồsơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung do truy tố chưa đúng người, đúng tội.

Một số vụ án phán quyết của Tòa án khác với những nội dung thực hành quyền công tố, hay Viện kiểm sát truy tố bị cáo nhưng Toà án tuyên bị cáo không phạm

tội. Điều đó cho thấy chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại một số phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự chưa thật sự bảo đảm.

Trên phương diện nghiên cứu, chủ đề chất lượng thực hành quyền công tốcủaKiểm sát viêntạiphiên tòa xétxửsơ thẩm cácvụán hìnhsựkhông phải hoàn toàn mới. Tuy nhiên, nhữngvấnđềlý luận cănbảncủachấtlượngthực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm đều chưa được nhìn nhận một cách toàn diện và giải quyết thấu đáo; do đó, hệ thống các tiêu chí đánh giá chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xétxửhìnhsựsơ thẩm chưađượcnhận diện thật rõ nét. Thực trạng hoạt động lập pháp gần đây cho thấy, một số đạo luật liên quan đến tổ chức vàhoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra chưa thể hiện đúng tinh thần của Hiến pháp năm 2013 về chức năng của các cơ quan tố tụng. Tương tự, việc định ra hay luật hóa những tiêu chí để đánh giá chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa chưa được quan tâm.

Cải cách tư pháp ở Việt Nam đang đặt ra những yêu cầu mới. Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố góp phần bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luậtđượcchấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.Bốicảnh nàyđòihỏi công tác thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử sơ thẩm cácvụán hìnhsựphải không ngừng nâng cao chất lượng,bảo đảmchính xác,đúng pháp luật. Do vậy, nghiên cứu vấn đề chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm lại càng có ý nghĩa hết sức cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn. Từ những lý do trên đây, nghiên cứu sinh chọn đề tài“Chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xétxửhìnhsựsơ thẩm theo yêucầucảicách tư phápởViệt Nam” làm luận án tiến sĩ luật học, chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật.

2. Mục đích nhiệm vụ của luận án 2.1. Mục đích của luận án

Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng thực hành quyền công tố (THQCT) của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơthẩm theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam, tác giả đề xuất các quan điểm,đưa ra những giải pháp nhằm bảo đảm chất lượng THQCT của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp.

4

2.2. Nhiệm vụ của luận án

Để thực hiện mục đích nêu trên, luận án có nhiệm vụ là:

– Phân tích làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về chất lượng THQCT của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm theo yêu cầu cải cách tư phápởViệt Nam như: khái niệm,đặcđiểm,vai trò, tiêu chí đánh giá, nhữngyếutố bảo đảm và yêu cầu của cải cách tư pháp.

– Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ kiểm sát viên và rút ra những ưuđiểm, thuận lợi và khó khăn vướng mắc.

– Đánh giá thực trạng chất lượng THQCT của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm theo yêu cầu cải cách tư pháp.

– Phân tích và đề xuất các quan điểm và đưa ra những giải pháp bảo đảm chất lượng THQCT của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm theo yêu cầu cải cách tư pháp.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Dưới góc độlý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về chất lượng THQCT của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm theo yêu cầucảicách tư pháp ởViệt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

-Vềđốitượng: Luận ántậptrung nghiêncứunhữngvấnđềlý luận vàthực tiễn về chất lượng THQCT của kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự sơ thẩm. Không nghiêncứuchấtlượngTHQCTcủakiểm sát viêntạiphiên tòa phúc thẩm, giámđốcthẩm và tái thẩm. Luận án cũng khôngđềcậpđếnhoạtđộng thực tiễn của viện kiểm sát quân sự.

– Về không gian: Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn vềchất lượng THQCT của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm trên phạm vi toàn quốc.

– Về thời gian: Những số liệu thống kê làm cơ sở đánh giá thực trạng hoạtđộng THQCT của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự tác giả sử dụng từnăm 2010 đến nay.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1. Cơsởlý luận: Luận án nghiêncứudựatrên cơsởlý luậncủachủnghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, các quanđiểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách bộ máy nhà nước nói chung vàcải cách tư pháp nói riêng.

4.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó chú trọng các phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, lịch sử cụ thể. Ngoài ra luận văn còn sử dụng một số phương pháp của các bộ môn khoa học khác như thống kê, so sánh, lý thuyết hệ thống…

Phương pháp phân tích, tổnghợpđượcsửdụngởchương 1 nhằm phân tích, đánh giá các công trình khoa học có liên quan đến đề tài.

Phương pháp phân tích, tổnghợpđượcsửdụngởchương 2 nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài.

Phương pháp thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, lý thuyếthệthốngđược sử dụng ở chương 3 trên cơ sở phương pháp luận của Triết học Mác-Lênin, nhằm đánh giá đúng thực trạng chất lượng thực hành quyền công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự.

Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, quynạp- diễn dịchđượcsửdụng ở chương 4, để đề xuất các quan điểm, giải pháp phù hợp thực tế, khả thi nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự.

5. Những điểm mới của luận án

Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu toàn diện và hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng thực hành quyền công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam; vì vậy, luận án có một số điểm mới về mặt khoa học như sau:

1) Luận án đã xây dựng khái niệm, phân tích đặc điểm và vai trò chất lượng thực hành quyền công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm.

2) Luận án xây dựngđượccác tiêu chí đánh giá chấtlượngthực hành quyền công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam.

3) Luận án phân tích, chỉ ra được những kết quả, hạn chế và nguyên nhân thực trạng chấtlượngthực hành quyền côngtốcủakiểm sát viêntạiphiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.

4) Luận án đề xuất các quan điểm và giải pháp bảo đảm chất lượng thực hành quyền công tố của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

-Vềlý luận:Kếtquảnghiêncứucủaluận án góp phần làm phong phúthêm lý luận về chất lượng THQCT của kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm.

-Vềthực tiễn: Nhữngkếtquảcủaluận ánsẽgóp phần nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự. Đồng thời, luận án là nguồn tư liệu tham khảo tốt cho công tác nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 10 tiết.

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUANĐẾN ĐỀ TÀI

Vấn đềTHQCT nói chung và chất lượng THQCT của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự nói riêng được nhiều nhà khoa học trong giới luật học quan tâm nghiên cứu từ lâu. KhiĐảngvà Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh cải cách tư pháp,vấn đềnày càng được quan tâm đặc biệt. Trong thời gian này, cókhá nhiều công trình mà chủ yếu là các sách chuyên khảo, luận án, luận văn thạc sĩ luật, chuyên đề tại các hội thảo, đề tài khoa học, các bài viết trên các tạp chí chuyên ngành… liên quan đến đốitượng đềtài luận án nghiên cứu. Có thểnêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:

1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊNCỨULIÊN QUANĐẾNCẢICÁCH TƯ PHÁP

1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUANĐẾN CHẤTLƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ

1.3.2. Nhữngvấnđềđặtracầntiếptụcnghiêncứutrongđềtài luận án

Từ việc nghiên cứu, khái quát các công trình nghiên cứu liên quan đến đềtài Chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xửhình sự sơ thẩm theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam cho thấy, nhìn chungở những cấp độ và khía cạnh khác nhau, các tác giả đã phân tích, lập luận và xây dựng được những vấn đề lý luận cơ bản về THQCT, chất lượng THQCT, cũng như đánh giá thực trạng và đưa ra nguyên nhân; đề xuất những quan điểm, giải pháp bảo đảm chất lượng cho hoạt động này. Tuy nhiên, do mục đích và phạm vi nghiên cứu của các công trình có khác nhau nên kết quả đạt được còn ở mức độnhất định. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống trên phạm vi toàn quốc về chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại

CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ HÌNH SỰ SƠ THẨM THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM
CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ HÌNH SỰ SƠ THẨM THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM

phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam. Do đó, tiếp thu, phát triển những kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan, tác giả tập trung nghiên cứu những nội dung sau:

– Về lý luận, luận án tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ:

+ Trên cơsởphân tíchmộtsốkhái niệm côngcụnhư quyền công tố, THQCT, luận án sẽ làm rõ khái niệm chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm.

+ Tiêu chí đánh giá chấtlượngthực hành quyền côngtốcủaKiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm.

+ Yếu tố bảo đảm chất lượng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm.

+ Yêu cầu của cải cách tư pháp đối với việc bảo đảm chất lượng THQCT của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm.

– Về mặt thực tiễn, luận án tập trung phân tích:

+ Thực trạng đội ngũ Kiểm sát viên.

+ Thực trạng chất lượng THQCT của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xửhình sự sơ thẩm.

+ Nguyên nhân của những thực trạng đó.

Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đối tượngnghiên cứu, luận án đềxuất các quan điểmvà giải pháp bảo đảmchất lượngthực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hìnhsựsơ thẩm theo yêu cầu cải cách tư pháp.

35

Tiểu kết chương 1

Cải cách tư pháp, trong đó có VKSND là một trong những nội dung quan trọng trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam xãhội chủ nghĩa. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách bảo đảm cho hoạt động tư pháp thể hiện tính dân chủ và hiệu lực, hiệu quả, đápứngđượcyêucầuđấutranh phòng, chốngtộiphạm trong tình hình mới. Hai nghị quyết của Bộ Chính trị là những cơ sở lý luận quan trọng định hướng cho quá trình cải cách đó là Nghị quyết số 08 và Nghị quyết số 49…

Từ khi Nghị quyết số 08 và số 49 ra đời đã thu hút sự quan tâm đặc biệt củacác cơ quan,tổchức và các nhà khoahọcpháp lý nghiêncứutổchứcbộmáy, chức năng, nhiệmvụcủaVKSND, cũng như vai trò,vịtrí, nhiệm vụ, quyền hạn, tuyển chọn,bổnhiệm Kiểm sát viên…Đólà những sách chuyên khảo;đềtài khoa học; luận án, luận văn và các bài viết đăng trên cáctạpchíchuyên ngành Luật. Các công trình nghiên cứu này, do tác giả xác định phạm vi, mụcđích nghiêncứukhác nhau nênkếtquảnghiêncứucũng khác nhau, phùhợp với phạm vi, mục đích của mỗi tác giả. Thông qua việc phân tích khái quát các công trình nghiên cứu có liên quan, tác giả nhận thấy, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện về hệ thống vấn đề chất lượng THQCT của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm. Nhưng những kết quả của các công trình nghiên cứu đó có giá trị tham khảo quan trọng cho việc hoàn thành luận án của tác giả.

36 Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG

TỐ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ HÌNH SỰ SƠ

THẨM THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP

2.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, VAI TRÒ CHẤT LƯỢNGTHỰC HÀNH QUYỀN CÔNGTỐCỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ HÌNH SỰSƠ THẨM THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP

Để làm rõ khái niệm chất lượng THQCT trong XXST các vụ án hình sựcủaKiểm sát viên VKSND,trướchếtchúng ta phải tìm hiểu nhữngvấnđềcóliên quan như: quyền côngtốlà gì? THQCT là gì? Chấtlượnglà gì?Đâylànhữngnộidung quan trọng, liên quan trực tiếpđếnkhái niệm chất lượng THQCT tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự của Kiểm sát viên VKSND.

2.1.1. Khái niệm chấtlượngthực hành quyền côngtốcủaKiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự sơ thẩm

Khái niệm “công tố”, “quyền công tố” đã được khá nhiều người làm công tác nghiêncứukhoahọcluật học, xây dựng pháp luật và áp dụng pháp luậtởnước ta quan tâm nghiên cứu từ rất sớm. Về mặt lập pháp, chúng tôi không đồngý với một số người cho rằng thuật ngữ “công tố”, “quyền công tố”, “thực hành quyền côngtố”lầnđầutiên xuất hiện là trong Hiến pháp 1980. Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng thuậtngữ”công tố”, “quyền côngtố”đãxuất hiệntừthời Pháp thuộc và tiếp tục được sử dụng trong khá nhiều văn bản pháp luật mà chủyếu là các sắc lệnh vào giai đoạn đầu của chính thể Việt Nam Dân chủ cộng hòa (khoảng từ năm 1945 đến năm 1960). Khi đó, có một cơ quan nhà nước là Viện Côngtố.Thời gianđầu,tiếp thu mô hìnhcủachếđộcũ (chịuảnhhưởngcủa Pháp), Viện Công tố nằm trong hệ thống Tòa án nhưng đến năm 1958 thì tách ra thành một hệ thống độc lập (Ngày 29/4/1958, Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 8 đãthông qua Đề án của Hội đồng Chính phủ về việc thành lập hệ thống Viện Công tố) [8, tr.581] và đến năm 1960 mới chuyển thành Viện Kiểm sát nhân dân. Vào những nămđầucủathiên niênkỷnày khi mà chúng ta nghiêncứuđểsửađổi

37

chức năng của Viện Kiểm sát nhân dân trong Hiến pháp và Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, khái niệm “công tố”, “quyền côngtố”lạiđượctậptrung nghiên cứu.

Theo Đại từ điển Tiếng Việt, công tố có nghĩa là “điều tra, truy tố và buộc tội kẻ phạm pháp trước Tòa án” [123, tr.204]. Theo nghĩa này, công tố bao gồm cả hoạt động điều tra tội phạm và truy tố, buộc tội kẻ phạm tội trước Tòa án.

TheoTừđiểnLuật học, côngtố”là quyền củanhànướctruycứutrách nhiệm hìnhsựđốivớingườiphạm tội” [11, tr.188]. Nghĩa này không rõ ràng, bởi khái niệm “truy cứu trách nhiệm hình sự” còn bao gồmcả hoạt động xét xửcủa Tòa án.

Dưới góc độ nghiên cứu, trước đây đã có khá nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “công tố”, “quyền công tố” [95, tr.21-42]. Khái quát lại, có một sốquan điểm cơ bản sau đây:

– Loại quan điểm thứ nhất đánh đồng quyền công tố với chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện Kiểm sát.

– Loại quan điểm thứ hai coi quyền công tố chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện Kiểm sát trong tố tụng hình sự.

– Loại quanđiểmthứba coi quyền côngtốlà quyềncủaViện Kiểm sát truy tố kẻ phạm tội ra tòa và thực hiện việc buộc tội tại phiên tòa hình sự sơ thẩm.

Quan điểm thứ hai nêu trên là quan điểm chính thống trong ngành Kiểm sát nhân dân, được viết thành giáo trình và được giảng dạy trong các trung tâmđào tạo của ngành.

Sau đó, trong giai đoạn nghiên cứu, sửa đổi Hiến pháp 1992 và Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1992 (khoảng từ năm 1998 đến năm 2002), khái niệm “công tố”, “quyền công tố” lại một lần nữa được đặt ra. Lần này, các quanđiểmtậptrung vàovấnđềphạm vi quyền côngtố.Cóthểnói phạm vi

38

quyền côngtốlàvấnđềchođếnnayvẫncònrấtnhiều quanđiểmkhác nhau. Nhưng chung quy lại, chúng tôi nhận thấy có hai nhóm quan điểm chính:

Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà còn cả trong các lĩnh vực tư pháp khác như tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động.

Nhóm quanđiểmthứhai (chiếm đasố)cho rằng, quyền côngtốchỉcótrong lĩnhvựctốtụng hìnhsự,khôngthểcó trong lĩnhvựctốtụng dânsự,tốtụng hành chính, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động.

Xuất phát từ quan điểm coi quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, chúng tôi cho rằng, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Những ý kiến cho rằng quyền công tố có trong tất cả các lĩnh vực tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động là xuất phát từ các quan điểm coi quyền công tốlà quyền truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với người có hành vi phạm tội hoặc hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích chung; làquyền Nhà nước cáo buộc một người, một tổ chức đã có những hành vi vi phạm pháp luật (nói chung); hoặc là một nội dung của hoạt động thực hiện chức năng củaViện Kiểm sát trong các lĩnhvựctư pháp khác nhau. Nhữngngườikhẳngđịnh quyền công tố có trong mọi lĩnh vực tố tụng nêu trên đều xuất phát từ hai dấu hiệu hoạt động của Viện Kiểm sát:

Thứnhất,họcho rằng Viện Kiểm sát cóbổnphận (nhân danh công quyền) đưa các vụ án (vụ vi phạm pháp luật nói chung) ra Tòa để xét xử và Viện Kiểm sát luôn luôn có quyền tham gia vào các hoạt động tố tụng (hình sự, dân sự,hành chính, kinhtế,laođộng)khi xét thấycầnthiết nhằmbảovệlợiích chung của Nhà nước và xã hội, duy trì trật tự xã hội trong vòng pháp luật.

Thứ hai, ngoài các vụ án hình sự, Viện Kiểm sát có quyền khởi tố đối với các vụ án dân sự, hành chính, lao động. Và họ coi việc khởi tố một vụ án nhưvậy, bất luận đó là loại án gì, cũng đều là dấu hiệu khởi động đầu tiên của quyền công tố.

39

Theo ý kiến chúng tôi, bổn phận của Viện Kiểm sát là đưa các vụ án nói chung ra Tòa để xét xử và quyền tham gia tố tụng của Viện Kiểm sát không thểđược coi là căn cứ, tiêu chí để xác định phạm vi quyền công tố. Một trong hai chức năng hiếnđịnhcủaViện Kiểm sát là chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật với mục đích bảo đảm cho pháp luật được chấp hành một cách nghiêm chỉnh và thống nhất. Khi phát hiện ra các vi phạm pháp luật, Viện Kiểm sát tiến hành xử lý không chỉ bằng cách đưa vụ việc ra Tòa để xét xử mà còn bằng nhiều cách khác nữa như kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu đối tượng vi phạm sửa chữa, chấn chỉnh… Còn nếu quan niệm quyền tham gia tố tụng (nói chung) của Viện Kiểm sát là quyền công tố thì lại càng không chính xác, bởi như vậy đã nhầm lẫn quyền công tố (quyền buộc tội nhân danh công quyền) sang quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện Kiểm sát (quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạtđộngtư pháp). Hai quyền này cómụcđích,đốitượng,nộidung vàphạm vi hoàn toàn khác nhau, và Viện Kiểm sát tham dự vào hoạt động tố tụng hình sự với tư cách hoàn toàn khác so với khi tham dự vào các hoạt động tố tụng khác (người buộc tội nhân danh Nhà nước và giám sát hoạt động tư pháp). Quan niệm cho rằng, do Viện Kiểm sát có quyền khởitốđốivớicácvụán dân sự, hành chính, lao động nên quyền công tố cũng có trong các lĩnh vực tố tụng này là không thuyết phục. Quyền khởi tố một vụ án hình sự là quyền của Viện Kiểm sát đứng ra để tiến hành hoạt động buộc tội nhân danh công quyền đối với người có hành vi phạm tội. Còn quyền khởitốcủaViện Kiểm sátđốivớimộtvụán dân sự, hành chính, lao động là quyền đứng ra để đề nghị, yêu cầu Tòa án xét xử, phán xét một vụ việc nào đó về các lĩnh vực trên để bảo vệ lẽ công bằng (quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân), mà lẽ công bằng ấy nếubịvi phạmsẽảnhhưởngđếntrậttựxãhộichung hoặcđếnlợiích chung. Khi khởitốmộtvụán dânsự,hành chính, laođộngvà tham gia vào các hoạtđộngtốtụng này, Viện Kiểm sát hànhđộngvớitư cách như làmột”luật sưcông”, đại diện cho công quyền đứng ra bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và

lợi ích hợp pháp của công dân, duy trì trật tự xã hội chung.

40

Vì vậy, chúng tôi cho rằng, sẽ là không phù hợp nếu quy tất cả các lĩnh vực hoạt động, các nhiệm vụ và thẩm quyền mà pháp luật giao cho Viện Kiểm sát vào khái niệm “công tố”, “quyền công tố”. Không phải mọi thẩm quyền, mọi lĩnh vực hoạt động của Viện Kiểm sát nói riêng và của các cơ quan nhà nước nói chung đều xuất phát từ chức năng với nghĩa là hoạt động đặc trưng của cơ quanđó. Ngoài lĩnh vực hoạt động chính, đặc trưng, các cơ quan còn có thể có những thẩm quyền khác, lĩnhvựchoạtđộngkhác. Những thẩm quyền, lĩnhvựchoạtđộng này thường liên quan hoặc gần gũi với chức năng nhưng đôi khi chẳng cóliên quan gì đến chức năng của cơ quan đó cả. Ở Pháp, Viện Công tố được giao nhiệm vụ giám sát hộ tịch, một nhiệm vụ chẳng có liên quan gì đến chức năng côngtốcả.ỞViệt Nam, Viện Kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nhưng điều đó không có nghĩa là mọi thẩm quyền,mọilĩnhvựchoạtđộngcủaViện Kiểm sátđềuthuộc khái niệm “công tố”, “quyền công tố” (ví dụ như Viện Kiểm sát có nhiệm vụ thống kê tội phạm nhưng khôngthểcoi thống kêtộiphạm cũng thuộc phạm vicủa”qụyền công tố” được). Trongtốtụng dânsự,Viện Kiểm sát nhân dân có thẩm quyền khởitốcácvụán dânsựnhưng không có nghĩa là phạm vi thực hành quyền côngtốbaogồmcảhoạtđộngnày.Đâychỉlàmộtthẩm quyền mà pháp luật nướcta vàmộtsốnướckhác giao cho Viện Kiểm sát mà thôi, nó hoàn toàn không thuộc chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát cáchoạt độngtưpháp. Điều đó có nghĩa là ngoài nhiệm vụ chính (mà không có nhiệm vụ này thìkhông còn là cơ quan công tố nữa) là truy tố và buộc tội kẻ phạm tội trước tòa, Viện Kiểm sát hoặc Viện Côngtốcòn có thểđượcgiao những nhiệmvụkhác nữa và ở mỗi quốc gia, trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, những nhiệm vụnày là rất khác nhau.

Tóm lại, theo chúng tôi, quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho cơ quan công tố (ở nước ta là Viện Kiểm sát) thực hiện việc đưa người phạm tội (truy tố) ra tòa án đề xét xử và buộc tội kẻ phạm tội đó tại phiên tòa. Như vậy, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực hình sự.

41

Về khái niệm THQCT

Khái niệm thực hành quyền công tố cũng như những nội dung, phạm vi củanó,mốiquan hệgiữa thực hành quyền công tố vớithực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp còn ít được đề cập vànếu có thì cũng chưa đầy đủ, rõ ràng. Một số công trình nghiên cứu khoa học gần đây khi đề cập đến hoạt độngthực hành quyền công tố cũng chỉ mới đưa ra được mộtsố biện pháp pháp lý để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm sát hình sự như kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử hình sự, kiểm sát giam, giữ vàcải tạo, kiểm sát thi hành án. Các công trình nghiên cứu này lấy những nguyên lý của V.I.Lênin về pháp chế xã hội chủ nghĩa và vai trò của Viện Kiểm sát, vềvai trò vàbổnphận củaủyviên công tố làm cơ sở lý luận và lấy các quy định củaHiến pháp và Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân từ năm 1960 đến 1992 làm cơ sở pháp lý. Bởi vậy, trong nhận thức của không ít người làm công tác nghiên cứu và thực tiễn trong cũng như ngoài ngành Kiểm sát đã nhầm lẫn giữa quyền công tố và hoạtđộng thựchành quyền côngtốtrên nhiều phương diện nhưđốitượng,nộidung, phạm vi.Đồngthời, các công trình nghiên cứu này luôn gắn quyền công tố chỉ với Viện Kiểm sát, coi đó là quyền của Viện Kiểm sát. Do đóđã không lý giải được vấn đềlà khi một số cơ quan khác (Cơ quanđiều tra, Tòa án…) sử dụng một số biện pháp như khởi tố vụ án,khởi tố bịcan… thì có phải các cơ quan này cũng thực hành quyền công tố hay không.

Mộtbộphận khác trong giới luậthọckhiđềcậpđếnthực hành quyền công tố lại xảy ra hai khuynh hướng:

Thứ nhất, họ gắn việc thực hành quyền công tố với việc thực hiện những nhiệm vụ khác của công tố viên trong tố tụng hình sự. Cơ sở lý luận mà họ dựa vào là việc tổ chức và hoạt động của cơ quan công tố ở nước ngoài, căn cứ pháp lý mà họ đưa ra là các quy định pháp luật hiện hành ở nước ta, nhưng chỉ bó hẹp trong phạm vi truytốhoặc buộctộicủaViện Kiểm sáttrướcTòa án (vốn lànhững nét hoạt động côngtốtươngđồngởViệt Nam vàmộtsố nướctrênthếgiới). Một số khác thì lại mở rộng phạm vi thực hành quyền công tố ra mọi giaiđoạn tố tụng hình sự, bao gồm cả điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.

42

Thứ hai, họ chỉ nêu ra một số biện pháp pháp lý như lập cáo trạng và luận tội tại phiên tòa hình sự sơ thẩm và coi đó là thực hành quyền công tố, thậm chícó người còn cho rằng thực hành quyền công tố chỉ là sự buộc tội trước phiên tòa hình sự sơ thẩm.

Như đã trình bày ở phần trên, chúng tôi quan niệm quyền công tố là quyền nhân danh Nhànướctruytốvà buộctộikẻphạmtộitrướctòa. Và như vậy, quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Phạm vi của quyền này bắtđầutừkhi cótộiphạmxảyra vàkếtthúc khi bản ánđãcó hiệulựcpháp luật, khôngbịkháng nghị.Đểbảođảmthực hiện quyền côngtốtrong thựctếđấu tranh chống tội phạm thì Nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, trongđóquyđịnhcác quyền năng pháp lý thuộcnộidung quyền côngtố.Các quyền năng pháp lý đó Nhà nước giao cho cơ quan nhà nước nào thực hiện đểphát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, thìcơ quan ấy được gọi là cơ quan có trách nhiệm thực hành quyền công tố.

Theo nhận thức của chúng tôi, để thực hiện quyền lực nhà nước trên một lĩnh vực cụ thể thì Nhà nước tổ chức ra một hệ thống các cơ quan nhất định đểthực hiện quyền lực đó. Hệ thống cơ quan này đóng vai trò chính trong sự phối hợp cùng các cơ quan nhà nước khác để thực hiện quyền lực nhà nước đã được xácđịnh,ởViệt Nam, căncứvào các quyđịnhpháp luậtcủaNhànướctatừnăm 1960đếnnay, Viện Kiểm sát chính thức là cơ quan được giao chức năng thực hành quyền côngtố.Thực tiễn hoạtđộngcôngtốmấychục năm qua của Viện Kiểm sát cho thấy 100% các vụ án hình sự là do Viện Kiểm sát truytố vàthực hiện sự buộc tội trước phiên tòa sơ thẩm, đưa ra lời kết luận của mình tại phiên tòa theo các trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Cùng với những hoạt động đó, Viện Kiểm sát các cấp còn có trách nhiệm xem xét, bảo đảm cho việc áp dụng, thay đổi hay hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đúng pháp luật; cóquyền khởi tố, yêu cầu khởi tố, xem xét việc khởi tố của cơ quan điều tra và Tòaán. Viện kiểm sát nhân dânđượcáp dụng “các biện pháp doBộluậtTốtụng hìnhsựquyđịnhđểxácđịnhtộiphạm vàxửlýngườiphạm tội”(Điều13Bộluật Tố tụng hình sự).

43

Thực tiễn hoạt động điều tra và xét xử ở nước ta mấy chục năm qua cho thấy rằng, cơ quan điều tra và Tòa án các cấp cũng khởi tố vụ án hình sự. Thậm chí số vụ án do các cơ quan điều tra thực hiện việc khởi tố chiếm tới khoảng hơn 95%. Số vụ án mà Viện Kiểm sát khởi tố và yêu cầu khởi tố chỉ chiếm một tỷ lệnhỏ so với tổng số án mà cơ quan điều tra khởi tố. Cơ quan điều tra có quyền bắt người phạm tội, điều tra thu thập chứng cứ v.v… Nhưng đây chỉ là những hoạtđộng bổ trợ, phục vụ cho hoạt động công tố. Trên cơ sở kết quả điều tra, lời luận

tộicủaKiểm sát viên vàkếtquảtranh luận công khaitạiphiên tòa, Tòa án áp dụng pháp luật quy kết trách nhiệm đối với bị cáo. Bản án kết tội bị cáo có hiệu

lực pháp luật chính là sự chấp nhận lời buộc tội của Viện Kiểm sát đối với người phạm tội. Hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động để bảo đảm thực hiện mụcđíchcủaquyền côngtố.Viện Kiểm sátđưavụán ra Tòavớimụcđích là Tòa tuyênmộthình phạtđốivớingườiphạm tội.Mọiphán quyếtcủaTòa án nếu thiếu sự có mặt của Kiểm sát viên đều trở lên vô hiệu.

Từ những nội dung trình bày trên, chúng tôi cho rằng, thực hành quyền công tố là thực hiện các hành vi tố tụngcầnthiết theo quy định của pháp luật tố tụnghìnhsự đểđưa người phạmtộira tòa án xét xử và buộc tội người phạm tộitạiphiên tòa.

Việc xác định rõ quyền công tố và theo đó là thực hành quyền công tố cóý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng, nó không chỉ giúp phân định rõ ràng,đúng chức năng nhiệmvụ,vịtrí vai tròcủaViện Kiểm sát tronghệthống cơquan nhà nước nói chung, trong mối quan hệ với cơ quan tư pháp nói riêng màcòn giúp cho nhận thức thống nhất từ đó làm cho hoạt động thực tiễn có hiệu quảhơn. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta đang tích cực triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp.

Một vấn đề nữa cần đặt ra để giải quyết là phạm vi thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa xét xử hình sự. Nói cách khác, hoạt động thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa hình sự chỉ có trong thủ tục sơ thẩm và phúc thẩm hay có cả trong thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm? Theo quy định của pháp luật Việt Nam (Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm

44

2014) thì cơ quan Viện Kiểm sát thực hành quyền công tốtrong tất cả giai đoạntừ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử vụ án hình sự (Điều 3, khoản 1). Trong giai đoạn xét xử, thực hành quyền côngtố được thực hiệnở tất cả các thủ tục, từ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đến giám đốc thẩm, tái thẩm. Chúng tôi cho rằng, phạm vi thực hành quyền côngtố cócảtrong giai đoạngiảmđốc thẩm và tái thẩm như quy định của pháp luật nước ta. Tuy nhiên cần lưu ý là, theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam(Bộluật Tố tụng hình sự năm 2015), thủtục giámđốc thẩm và tái thẩm là thủtục xét lại bảnán, quyếtđịnh đã có hiệu lực pháp luật nhưngbị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án hoặc phát hiện có tình tiết mới có thểlàm thayđổi nội dungvụ án. Nói cách khác, giámđốc thẩm và tái thẩm không được coi là hoạt động xét xử và vì vậy, luận án này chỉ nghiên cứu hoạtđộng thực hành quyền côngtốcủa Kiểm sát viêntạiphiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự nước ta (Bộ luật Tố tụng hình sựnăm 2015), nhiệmvụcủaKiểm sát viên khi thực hành quyền côngtốtại phiên tòa xét xử hình sự bao gồm:

– Công bố bản cáo trạng hoặc quyết định của Viện Kiểm sát liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên tòa (quyết định truy tố trong trường hợp áp dụng thủ tục rút gọn);

– Tham gia xét hỏi bị cáo, nhân chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người giám định và những người khác theo quy định của pháp luật;

– Luận tội đối với bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm (bao gồm cả việc rút một phần hoặc toàn bộ cáo trạng);

– Tranh luận với người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm.

45

Từnhững phân tích trên, theo chúng tôi, thực hành quyền côngtốcủa Kiểm sát viêntạiphiên tòa xétxửhình sự sơ thẩm là thực hiện các hành vitốtụng: công bố bản cáo trạng hoặc quyết định của Viện Kiểm sát liên quan đến việc giải quyếtvụán tại phiên tòa, tham gia xét hỏi, tranh luận vớingườibào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa sơ thẩm theo đúng quyđịnh của pháp luật.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ HÌNH SỰ SƠ THẨM THEO YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *