Bảo đảm quyền của bị can bị cáo là người chưa thành niên trong Tố tụng hình sự Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong tiến trình phát triển không ngừng của xã hội, quyềntựdo dân chủcủa nhân dân ngày càngđược tôn trọng và phát huy trongmọilĩnh vực của đờisống, trong đó có lĩnh vực pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự. Đảmbảoquyềntựdo, dân chủ, bìnhđẳngvà bảovệquyền con người trong tố tụng hình sự luôn là động lực và thước đo của tiến bộ xã hội. Vì vậy, Nghị quyếtsố08-NQ-TW ngày 02/01/2002 của BộChínhtrịvề “Mộtsốnhiệmvụtrọng tâm công tác tư pháp trong thời giantới”, Nghị quyếtsố49 ngày 02/6/2005về“Chiếnlược Cảicách tư phápđếnnăm 2020” của BộChính trị đặt ra yêucầutôn trọng, bảo vệ hiệu quả QCN nói chung và quyền tự do dân chủ, quyền bình đẳng của các bên trong tố tụng hình sự nói riêng. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị khẳng định: “Đòi hỏicủa công dân và xã hộiđốivớicơ quan tư pháp ngày càng cao; các cơquan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, QCN, đồngthời phải là côngcụhữuhiệubảovệ pháp luật và phápchếXHCN, đấutranh có hiệu quả vớicác loạitộiphạm và viphạm”. Văn kiệnĐạihội Đảng toàn quốc lần thứ XII của Đảng cũng tiếp tục đặt ra nhiệmvụ:
“Tiếptục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, xây dựngbộmáy nhà nước tinh gọn, trong sạch, vững mạnh; hoàn thiệnhệthống pháp luật, đẩy mạnhcảicách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựngđội ngũcán bộ, công chức có phẩm chất, năng lực đápứngyêucầunhiệmvụ;phát huy dân chủ, tăng cường trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương”. Điều nàyrấtquan trọng, thể hiện sựtiếnbộdân chủ trongmỗinhà nước, thể hiệnsựnhìn nhận của nhà nước với quyền tự nhiên của con người ở mỗi giai đoạn phát triển của mình.
ỞViệt Nam, trẻ em luônđược xác định là chủnhân tương laicủa đất nước. Do đó, sau khi phê chuẩn Côngước LiênHợpquốc về quyền trẻ em năm 1989, Nhà nướcViệt Namđã có nhiềunỗlực trong việc bảovệ quyền của trẻ em trên nhiều phương diện, nhất là phương diện pháp lý. Nhà nước tađã thể chế hóa những cam kết quốc tế của mình vào nhiều lĩnh vực khác nhau của pháp luật quốc gia, trong đó có lĩnh vực pháp luật TTHS. Trong pháp luật TTHS, Nhà nước không chỉ quy định quyền của bị can, bị cáo là NCTN, màcòn quy định những bảo đảmđể quyềnđó được thực hiện đầyđủ. Ngườichưa thành niên là nhómngườidễ bịtổnthương, khi tham gia vào TTHS vớitưcách là bị can, bị cáo họ đều có thể bị tác động ở mức độ nghiêm trọng nhấtđịnhbởicác biện phápđiềutra và biện phápcưỡngchế của TTHS. Tốtụng hình sự là quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án nhưng cũng là quátrình mà bị can, bị cáo là NCTN luôn có nguy cơ bị tổn thương thêm lần nữa. Vì thế, chỉ có thể bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN trong TTHS khi các quyền nàyđượcpháp luật quyđịnhvàđượchiện thực hóabởihoạtđộng thực hiện pháp luật của những chủ thể có liên quan và sự bảo đảm chung của Nhà nước và xã hội.
Bên cạnh những tưtưởngchỉđạo, quanđiểmnguyên tắc xửlý trách nhiệm hìnhsựvớingườiphạmtộichưa thành niênđược quyđịnhtrong BLHS, BLTTHS Việt Nam cũng có những quy định, nguyên tắc riêng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đối với bị can, bị cáo là NCTN. Đáp ứng yêu cầuNghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2002 về Chiến lược Cải cách tư phápđến năm 2020 và Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trịvề nhiệmvụtrọng tâm của công tác trong thời gian tới, ngày 27/11/2015 BLTTHS đã được thông qua thay thế cho BLTTHS năm 2003.
Trong những năm qua, tình hình tội phạm có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là tình trạng NCTN vi phạm pháp luật hìnhsựvẫncòn diễn ra rấtphức
tạp. Theo số liệu của Cục thống kê tội phạm Viện kiểm sát nhân dân tối cao, số NCTN bị khởi tố mỗi năm chiếm khoảng 7 – 8% tổng số bị can và có chiều hướng gia tăng. Lứa tuổi thực hiện hành vi phạm tội cao nhất từ 16 – 18 tuổi chiếm khoảng 80 – 90% dao động theo từng năm. Thực tế cho thấy rằng, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự códấuhiệu quá tải, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn có những sai sót nhất định, nhất là việc bắt oan dẫn đếnđiều tra sai, khởi tố, xétxửchưa đúng tính chất mức độcủa hành vi phạm tội. Thẩm phán được phân công xét xử, luật sư, kiểm sát viên, điều tra viên chưađược chú trọngđàotạo, bồidưỡngnhững hiểu biếtcầnthiếtvề tâm lý học, khoa học giáo dục cũng nhưvề hoạtđộngđấutranh phòng, chốngtộiphạm do NCTN thực hiện. ĐốitượngNCTN do còn non nớtvề thể chấtvà trítuệcho nên chưa đủkhảnăngtựbảovệ những quyềnlợichính đáng của mình. BLTTHS năm 2003 ban hành sau khi Việt Nam ký kết Công ướcquốc tế vềquyền trẻ em năm 1989, chương XXXII -ThủtụctốtụngđốivớiNCTN làbước tiếnbộ so với BLTTHS 1988, thể hiện việc thực hiện cam kết của Việt NamđốivớiCôngướcquốc tế. Qua thực tiễn áp dụng BLTTHS, công tácđiều tra, truy tố, xét xử đã có tác dụng rõ rệt; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan tiến hành tố tụng được quy định rõ ràng. Tuy nhiên, vẫn còn bộc lộnhiều khiếm khuyết và bấtcậpcảlậppháp, tổchức bộmáy, độingũcán bộ tư pháp, những người tham gia tố tụng cũng như cơ quan tiến hành tố tụng. Cơ chế bảo đảm các quyền của bị can, bị cáo là NCTN chưa rõ ràng, tổchức thực hiện còn nhiều yếu kém.
Trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền, quy định mới của Hiến pháp năm 2013 vàhộinhập quốctếhiện nay, pháp luật TTHS còn có những bất cập nhất định, việc thực hiện còn những hạn chế, thiếu sót cần có giải pháp khắc phục. Yêu cầu cải cách tư pháp đòi hỏi khách quan phải tăng cường bảođảm quyền trẻ em trong lĩnh vực tư pháp hình sự trong đó có TTHS.
Chính vì những lý do trên, tác giả chọn nghiêncứu đề tài:“Bảođảm quyền củabịcan, bị cáo là người chưa thành niên trongTốtụng hình sự Việt Nam” làm luận án nghiên cứu sinh. Những biện pháp bảo đảmrấtkhác nhau, luận án chỉ tập trung vào những biện phápbảo đảmpháp lý và trong sốnhững biện phápbảođảm pháp lý thì tác giả chỉ tập trung vào biện pháp bảođảm pháp lý áp dụng trong lĩnh vực pháp luật TTHS.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu
-Mụcđích nghiêncứucủa luận án là làm rõcác vấn đề về lýluận và thực tiễn về bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN trong TTHS.
– Tìm ra những bất cập, vướng mắc trong quá trình thực hiện BLTTHS năm 2003, đồngthời tìm ra nhữnghạnchế, bấtcập, chưa hoàn thiện trong BLTTHS mới ban hành năm 2015.
-Đềxuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệuquảáp dụng BLTTHS năm 2015 nhằmbảođảm thực hiệnđầyđủcác quyền của bịcan, bị cáo là NCTN trong TTHS ở Việt Nam hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêutrên, luận án đặt ra các nhiệm vụnghiên cứu sau đây:
– Nghiêncứumộtcách cóhệthống nhữngvấnđềlý luậnvềbảođảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN trong tố tụng hình sự; khái quát hóa vấn đềbảo đảm quyền của NCTN trong TTHS Việt Nam và một số nước trên thế giới.
– Đánh giá việc áp dụng BLTTHS trong thời gian qua, làm sángtỏnhững bất cập, hạn chế của BLTTHS năm 2015 về bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN.
– Những nội dung cần sửa đổi, bổ sung nhằm góp phần hoàn thiện hơn nữa BLTTHS năm 2015 và tăng cường hiệu quả áp dụng BLTTHS trong thực tiễn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận ánlà vấn đề bảo đảmquyền của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong TTHS Việt Nam.
Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu ở ba phương diện: phương diện lý luận, phương diện luật thực định và phương diện thực tiễn thực hiện pháp luật của các cơ quan tiến hànhtốtụng, ngườitiến hànhtốtụng, ngườitham gia tố tụng cũng như các chủ thể liên quan khác.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
-Nộidung: Nghiêncứuvấnđề bảođảmquyền của bịcan, bịcáo làngườichưa thành niên trong lĩnh vực TTHS của Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế kể từ thời điểm ra đời Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 và kể từkhi Việt Nam gia nhập Công ước này. Nghiên cứuquyđịnh của BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015 để làm rõvấn đề bảo đảm quyền trong các giaiđoạntốtụng, các chủthểcủa tốtụng hìnhsự.Luận ánchỉđi sâu vào nghiên cứu chủ thể bị buộc tội là bị can, bị cáo là NCTN.
– Thời gian nghiên cứu: Khảo sát thực tiễn từ năm 2006 – 2016.
– Địa bàn nghiên cứu: Khảo sát nghiên cứu tập trung tại TP.HCM. 4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp luận
Đểhoàn thành Luận án và giải quyếtđược các yêucầuđềra Luận ánđược nghiêncứudựa trên cơ sởphương pháp luận biện chứng duyvậtcủa chủ nghĩa Mác – Lê nin; Tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, đường lối, quanđiểmcủa Đảngta vềbảođảmquyền conngườinói chung và bảođảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN nói riêng tại Nghị quyết 08/NQ-TW của BộChính trị ngày 02/01/2002về“Mộtsốnhiệmvụtrọng tâm công tác tư pháp trong thời giantới”và Nghị quyếtsố49-NQ/TW ngày 02/6/2005củaBộ
Chínhtrịvề“Chiến lược cảicách tư phápđếnnăm 2020”. Đâylà luận án thuộc mã ngành luật Hình sự và Luật tố tụng hình sự nên quá trình hoàn thiện, Luận án phải dựa trên lý luận khoa học luật Hình sự và luật TTHS Việt Nam.
4.2. Các phương pháp nghiên cứu
Luận án cònsửdụng các phương phápcụthểnhư: Phương pháp luật học so sánh; Phương pháp thống kê; Phương pháp phân tích; Phương pháp so sánh; Phương pháp tham khảo chuyên gia; Phương pháp tổngkếtthực tiễn; Phương pháp nghiêncứutài liệu; Phương phápđiềutra điểnhình; Phương pháp điều tra xã hội học. Đối với mỗi mục có thể nêu ra phương phápcụ thểnhư sau:
– Chương 1: Mang tính khái quát. Tác giảchủyếusửdụng phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá.
– Chương 2: Tác giảsửdụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống để đưa ra khái niệm chung về quyền con người và bảo đảmquyền conngườicủa NCTN; khái niệmbịcan, bịcáo là NCTN; khái niệm về quyền và bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN; nội dung và cơchếbảođảmquyền của bịcan,bịcáo là NCTN;sửdụng phương pháp luật học so sánh, phân tích đánh giámộtsốkinh nghiệm quốc tếvềnộiluật hóa các quy định của Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 liên quan đến quyền và bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN.
– Chương 3: Tác giảsửdụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê để phân tích đánh giá thực trạng quyđịnhcủa BLTTHS năm 2003vềquyền và bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN và những bất cập trong sự so sánh với những chuẩn mực quốc tế. Trên cơ sở đó tác giả đưa ra những điểm mới của BLTTHS năm 2015 với những quy định bảo đảm hơn nữa quyền của bị can, bị cáo là NCTN và những bất cập của BLTTHS năm 2015.
– Chương 4: Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệuquảáp dụng các quyđịnhcủa BLTTHS 2015 về quyền và bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN.
5. Những điểm mới của luận án
– Luận án đã làm rõ các nội dung về về bảo đảm quyền của bị can, bịcáo là NCTN trong tố tụng hình sự Việt Nam một cách khoa học.
– Thông qua sốliệu phong phú, cóđộtincậycaotừviệc nghiên cứu thực tế và khảo sát về thực trạng áp dụng pháp luậtvề bảođảm quyền của bịcan,bịcáo làngườichưa thành niên trongtốtụng hìnhsựViệt Nam(từ2006 đến 2016), trên cơ sở đó tìm ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những hạnchế đó.
– Luận án đã đưa ra hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bảođảmquyềncủabịcan,bịcáo làngườichưa thành niên trongtốtụng hìnhsựViệt Nam, baogồmba nhóm: Nhóm giải pháp tăngcườngnhận thức về bảođảm quyền của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tốtụng hình sự.
Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sựvềbảođảmquyềncủabịcan,bịcáo là ngườichưa thành niên; Nhóm giải pháp về tổ chức. Có thể xem đây là đóng góp mới và mang tính tiên phong của luận án khi hướng vào những giải pháp mang tính ứng dụng.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn luận án
– Luận án là công trình khoa học đầutiênở cấpđộtiến sĩ nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện các tri thức lý luận về bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN trong TTHS. Cụ thể:
+ Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền của bịcan, bịcáo là NCTN trongtốtụng hình sự, tác giảlàm rõ khái niệm và nội dungbảođảmquyềncủa bịcan, bịcáo là NCTN; phân tích phương thức vàcơ chế bảođảmquyền của bị can, bị cáo là NCTN; phân tích một cách cóhệ thống về lịch sử tố tụng hình sự Việt Namvà một số nướctrên thế giới về bảođảm quyền của NCTN.
+ Luận án phân tích, đánh giá khái quátvềthực trạng pháp luật vàthực tiễn áp dụngbảođảm quyềncủabịcan,bịcáo là NCTN trong thời gian qua,chỉra nhữngbấtcậptrongkỹthuậtlậppháp và trong áp dụng pháp luật về bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN.
+ Xác địnhnhữngnộidungcầnhoàn thiệnvề vấnđề bảođảmquyền của bịcan, bịcáo là NCTN nhằmđề xuất giải pháp tăngcườngbảođảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN trong BLTTHS năm 2015.
-Vớinhững đóng gópmớivềmặtkhoa họcnói trên, luận án cóýnghĩa nhất định trong nghiên cứu lý luận cũng như hoạtđộngthực tiễn.Về lý luận,kếtquảnghiêncứucủaluận án cóthểđượcsửdụng làm tài liệu nghiên cứu chuyên sâu, tài liệu tham khảo. Về thực tiễn, kết quả nghiên cứu củaluận án cóthểgiúp các nhàlậppháp tham khảo trong quá trình hoàn thiện pháp luật TTHS nói chung, hoàn thiệnvấnđềbảođảm quyềncủabịcan,bịcáo là NCTN nói riêng,đồngthời góp phần nâng cao hiệuquảáp dụng trong thực tiễn.

7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương:
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2. Nhữngvấnđề lịchsửvà lý luậnvề bảođảmquyền của bịcan, bị cáo là NCTN.
Chương 3. Thực trạng bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Chương 4. Các giải pháp tăng cường bảođảmquyền của bị can, bị cáo là NCTN trong TTHS Việt Nam
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO
LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
1.3. Đánh giá, nhận xét tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án
1.3.1 Những ưu điểm, nhữngkết quảnghiên cứu mà Luận án sẽ kếthừa, tiếp tục phát triển
Các công trình đã công bố với góc độ tiếp cận chặtchẽ từ lý luận đến thực tiễn, từ đó đánh giá thực trạng bảo đảm QCNcủa ngườitham gia tố tụng nói nói chung và quyền của bịcan, bịcáo nói riêng còn quá nhiềubấtcập, ảnh hưởng lớnđếnquyềnlợicủa họ, để khắc phục tốt điều nàyBLTTHS cần hoàn thiện về những quy định liên quanđếnbảođảmquyền của người tham gia tố tụng. Vì thế, bên cạnh việc làm rõvấnđề bảo đảmquyền của bị can, bịcáo thì luận án phải luận giải, làm rõvấn đề bảođảmquyền của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong TTHS Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu nước ngoài và ở Việt Nam đã cung cấp cho tác giả mộtcái nhìn tổng thể về vấnđề QCN nói chung và vấnđềbảođảm quyền của bị can, bị cáo là người chưa thành niên, về những vấnđề đã được nghiên cứu và những vấn đề chưa được làm sáng tỏ.
Đánh giá chung về các công trình đã được công bố có nội dung đề cậpđến vấnđề bảo vệ QCNnói chung, trong TTHS nói riêng. Tuy nhiên, chưa cómột công trình khoa học nào tiếp cận một cách toàn diện, hệ thống, đồng bộvề vấnđề bảo đảmQCN trong TTHS và cũng chưa có công trình nào đề cậpđến vấn đề bảo đảmđối với bị can, bị cáo là NCTN. Đa số các công trình chủyếuphân tích các quy định của pháp luật thực định, có so sánh với thực tiễnđể tìm ra những bất cập, hạn chế. Các công trình đã công bố chưa xây dựngđược một cơ chế bảo đảmquyền của bị can, bị cáo là NCTN (những người dễbịxâm phạm nhất) trong TTHSvề mặtlý luậnđể từđóphân tích, đánh giákhoa học thực trạng (pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật) để từ đó đưa ra những giải pháp tăng cường bảo đảm QCN của những người đó trong TTHS.
1.3.2 Những vấn đề đặt ra cần tiếptụcnghiên cứu
Một là, tiến hành nghiên cứu sâu về lý luận về quyền và bảo đảm quyền của bịcan, bịcáo là NCTN; nhữngnộidung cơ bảnvề quyền và bảođảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN; cơ chế bảo đảm quyền của bị can, bị cáo làNCTN.
Hai là, nghiên cứu thực trạng các quy định của BLTTHS Việt Nam năm 2003về bảođảmquyền của bịcan, bịcáo là NCTN; thực trạngbảođảm quyềncủabịcan, bịcáo là NCTN trongđiềutra, truy tố, xétxửcácvụán hình sự ở Việt Nam, từ đó tìm ra những hạnchế bấtcậpvà nguyên nhân của những hạnchế bấtcậpđó. Đồngthời trong quá trình nghiên cứu tác giả cập nhật những quyđịnhmớicủa BLTTHS năm 2015, nhữngđiểmphù hợp, những điểm bất cập và thực tế sẽ áp dụng trong tương lai.
Ba là, từnghiêncứulàm rõvề cơ sở lý luận, thực trạng các quyđịnh của BLTTHS 2003 về quyền và bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN.
Bốn là, Những nguyên nhân khách quan và chủ quan của những tồn tại, hạn chếnêu trên chưa được đề cập nghiên cứu và làm sáng tỏ.
Năm là, Các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng bảođảm quyềncủa bị can, bị cáo là NCTN với tình hình của Việt Nam hiện nay chưa được đề cập.
Kết luận Chương 1
Những công trìnhđãcôngbốmớichỉđề cậpmộtsố vấnđề liên quanđếncơsởlý luận và thực tiễnbảođảmquyền của bịcan,bịcáo là NCTN. Trong đó, mặc dù đã có một số nội dung là cơ sở cho việc nghiên cứu luận án nhưng để làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN trong TTHS Việt Nam, luận án cần phải tiếp tục nghiên cứu làm rõnhững vấn đề sau:
Một là, tiến hành nghiên cứu sâu về lý luận về quyền và bảo đảm quyền của bịcan, bịcáo là NCTN; nhữngnộidung cơ bảnvề quyền và bảođảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN; phương thức bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN và cơ chế bảo đảm quyền.
Hai là, nghiêncứuthực trạng các quyđịnhcủa BLTTHS Việt Nam năm 2003 về bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN; thực trạng bảo đảm quyềncủabịcan, bịcáo là NCTN trongđiềutra, truytố,xétxửcác vụán hình sự ở Việt Nam, từ đó tìm ra những hạnchế bấtcậpvà nguyên nhân của những hạnchế bấtcậpđó.Đồngthời trong quá trình nghiên cứu tác giả cập nhật những quyđịnhmớicủa BLTTHS năm 2015, nhữngđiểmphù hợp, những điểm bất cập và thực tế sẽ áp dụng trong tương lai.
Ba là, Trên cơ sở lý luận, thực trạng các quyđịnhcủa BLTTHS 2003 về quyềnvà bảo đảmquyền của bị can, bị cáo là NCTN, đề xuất những kiến nghị và giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng bảođảm quyềncủa bịcan, bị cáo là NCTN trong BLTTHS Việt Nam trong thời gian tới.
Chương 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LỊCH SỬ VÀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN
CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
2.1. Khái niệmbảođảmquyềncủabịcan, bịcáo làngườichưa thành niên
Ngườichưa thành niên là những người thuộc lớp tuổi trẻ như nhi đồng, thiếu niên hay còn gọi là trẻ em vị thành niên. Người thành niên là lớpngườiđã trưởng thành một cách hoàn chỉnh về mặt thể chất lẫn tinh thần. Mục đích của việc đánh giá đó là để quản lý xã hội, quản lý những hành vi lệch chuẩn của con người gây ra và giải quyếtvấnđề nàymột cách thấu tình, đạt lý, đảm bảo các quyền cơ bản của con người, quyền cơ bản của công dân. Tuy nhiên, vấnđề đặtra ở đâylà ranh giới nàođể phânđịnhđược ngườiđã thành niên với NCTN? Hiện nay, quanđiểmcủa các quốc gia trên thế giới vẫn còn có sựkhác nhau, vì phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội – dân trí – phong tục – tập quán và lịch sử hình thành của từng quốc gia.
Theo Công ước quốc tế về quyền trẻ emđược Đại hội đồng LiênHợp quốc thông qua ngày 20/11/1990, tạiĐiều1 có quyđịnh:“Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật phápáp dụng đối vớitrẻ em quy định tuổi thành niên sớm hơn”.
Các vănbảnpháp luật Quốc tế khác như Quy tắc tiêu chuẩntốithiểu của Liên Hợp quốc về tư pháp người chưa thành niên (Qui tắc Bắc Kinh) [27] qui định tại Điều 2, khoản 2.2, điểm a: “NCTN là trẻ em hayngườiít tuổi màtùy theo từnghệ thống pháp luật có thể bịxửlý vì phạmmộttội, theo một phương thức khác với ngườilớn”; Hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về phòng ngừa phạm pháp ở NCTN (Hướng dẫn Riyadh) [23]-(United Nations Guidelines for the Prevention of Juvenile Delinquency/ the Riyadh Guidelines); Những Qui tắc tốithiểuphổbiến của Liên Hiệp quốc [26], đều xác định NCTN là người dưới 18 tuổi.
Tuy nhiên, trongmộtsốvăn kiện của mộtsốtổchức thuộc LiênHợp
quốc như Quỹ dân số (UNCPA), Tổ chức laođộng thế giới(ILO)… quy định trẻ em là những người dưới 15 tuổi.
Khái niệm“ngườichưa thành niên” trong pháp luật hình sự Việt Nam bao gồm những người đã đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi.
Khái niệm NCTN còn được đề cập trong Hiến pháp năm 2013, BLTTHS năm 2003, Luật giáo dục năm 2005, Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, BLTTHS năm 2015 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Tấtcả các văn bản phápluật đó đều quy định độtuổi của NCTN là dướimười tám tuổi, hoàn toàn phù hợp với Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 và quyđịnhriêng những chế địnhpháp luậtđốivớiNCTN trong từng lĩnh vực cụthể.
Theo đó, khái niệm NCTN được xây dựng dựa trên sự phát triển về mặt thể chất và tinh thần của con người và được cụ thể hóa bằng giới hạn độ tuổi.
Như vậy, cóthểđịnhnghĩa khái niệm NCTN làngườidướimườitám tuổi, chưa phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần như người đã thành niên.
Thuật ngữ “ngườichưa thành niên” đã được đổi thành “ngườidưới18 tuổi” trong các quyđịnhcó liên quan của Bộluật hìnhsựnăm 2015 và BLTTHS năm 2015. Đâylà một điểmmớitrong quá trình lập pháp, việc thayđổinày có thể nhằm mục đích tránhsựmâu thuẫn giữa haibộluật trên với Luậtbảovệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (sửa đổi) trong thời gian tới. Vìtheo báo cáo của Bộ lao động và Thương binh xã hội, có tới 12/13 bộ, ngànhđược xin ý kiến, 55/63 tỉnh thành nhất trí quy định tuổi trẻ em là dưới 18 tuổi
[29]. Theo đó, trẻ em là người dưới 18 tuổi chứ không phải dưới 16 tuổi. Việc nângđộtuổi của trẻ emsẽ giúp cho nhữngngườithuộc nhóm tuổitừđủ16đếndưới18 tuổi nhậnđược chính sáchbảovệ, chăm sóc, giáodụcvề đạo đức, nhân cách, tâm lý và kỹ năng sống; qua đó có thể góp phần phòng ngừa và giảmsốlượngtộiphạm chưa thành niên. Việc BLTTHS năm 2015sửdụng têngọi“ngườidưới18tuổi” để chỉNCTN trước đâymang tính “an toàn” tạm thời và cần thiết.
Để làmrõ khái niệm bị can là NCTN thì phải xuất phát từ khái niệmbịcan. Thuật ngữ bị can được sử dụng trong luật tố tụng hình sự từ những văn bản tố tụng đầu tiên của nước ta. Nhưng khái niệm pháp lý về bị canchỉ được quyđịnhlầnđầutrong BLTTHS năm 1988(Điều34) và được sửdụng lại nguyên văn trong BLTTHS năm 2003. Theo khoản 1 Diều 49 BLTTHS năm 2003 quiđịnh:“Bịcan là người đãbịkhởitốvề hìnhsự”. Tuy nhiên, theo quan điểm của PGS, TS.Nguyễn Thái Phúc [43] thì thuật ngữ “khởi tố về hình sự” là thuật ngữ chưa chuẩn, chưa rõ ràng, cần phải định nghĩa bị can là ngườiđã bị khởi tố về trách nhiệm hình sự hoặc bị can là người đã bị cơ quan tiến hành tố tụng quyết định truy cứu trách nhiệm hình sự. Truy cứu TNHS một cá nhân là quá trình chứng minh các điều kiện TNHS của cá nhân đó. Bịcan vàngười bị tạmgiữ có những điểm giống nhau và cả hai chủ thể nàyđềuđược pháp luật suy đoán vô tội và đều có thể bị áp dụng biện pháp ngăn chặn hạn chế quyềnbấtkhả xâm phạmvề thânthểcủa mình. Bên cạnhđóbịcan cónhững khác biệtvớingười bị tạmgiữ. Ngườibị tạmgiữ là người mà tại thờiđiểmbị tạmgiữ chưa nhận được bất kỳ lời buộc tội chính thức nào từ phía cơ quan THTT nhưng các căncứvà các trườnghợptạmgiữtheoĐiều48 BLTTHS 2003 (bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, bị truy nã, tự thú, đầu thú) chính là những lời buộc tội giántiếp đối với ngườiđó. Quyếtđịnh tạmgiữ phải ghi lý do tạm giữ – tức là lời buộc tội gián tiếp và người bị
tạmgiữ biết được lý do bị tạm giữ (Điều 48 và 86 – BLTTHS năm 2003). Khi hếthạn tạm giữ người bị tạm giữ hoặc được trả lại tự do hoặc bị khởi tố bị can (chính thức bị buộc tội). Quyếtđịnh khởitố bị can không đồng nghĩa với việc thừa nhận bị can là người có tội. Bị can – đó mới chỉ là người bị cáo buộc vềviệc thực hiện hành vi có dấu hiệu của tội phạm. Vấn đề người đó có tội hay không có tội chưa được giải quyếtở thời điểmnày, bởi vì khởi tố bị can chỉ là thời điểmbắtđầu của quá trình chứng minh điều kiện trách nhiệm hình sự của người đó. Khoản 1 Điều 126 BLTTHS năm 2003 (Khởi tố bị can) cũng không qui định khi khởi tố bị can thì phải chứng minh đầy đủ lỗi của bị can.
Như vậy, qua phân tích trên, theo quan điểm của chúng tôi: Khái niệm bị can là NCTN trong TTHS Việt Nam được hiểu là người đang ở độ tuổi từđủ14đếndưới18 tuổitạithờiđiểmngườiđóthực hiện hành vi phạmtộiđược quy định trong BLHS đã bị khởi tố về hình sự.
Theo nguyên tắc suy đoán vôtộithìbịcan, bịcáođềulà chủthể của nguyên tắc suy đoán vô tội. Vậy bị cáo là gì? Theo Điều 50 – BLTTHS Việt Nam năm 2003:“Bịcáo làngườiđãbịtòa án quyếtđịnhđưara xétxử”.Định nghĩa này cũng chưa phản ánh đầyđủ dấu hiệu của bịcáo. Tòa án chỉ cóthể quyếtđịnhđưa ra xétxửđốivớinhữngbịcáođã bịVKSND truytốra trước tòa án. Quyết định này là sự khẳng định chính thức của Tòa ánvề việcđã cóđủ điều kiệncần thiết để tiến hành mở phiên tòa xét xử đối với bị cáo bịVKS truy tố, còn bị cáo có tội hay không có tội sẽ là nội dung của chức năng xét xử thực hiện ở phiên tòa và thể hiện trong bản án của Tòa án.
Trong quyđịnhcủa BLTTHS năm 2015, khái niệmbịcáođược ghi nhậntại Điều61:
“Bịcáo làngườihoặc pháp nhânđãbịTòa án quyếtđịnhđưara xét xử. Quyền và nghĩavụcủabịcáo là pháp nhânđược thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này”.
Điểmmớicủa BLTTHS Năm 2015 là mởrộng thêmchủthể vớitưcách là bị cáo ngoài là cá nhân thì nay còn có thêm pháp nhân.
Như vậy, bị cáo chưa thành niên là ngườiđang ở độ tuổi từ đủ 14 đến dưới18 tuổi đã bị VKS truy tố bằng bản cáo trạng ra trước Tòa án và Tòa án quyết định đưa ra xétxử.
BLTTHS Việt Nam quyđịnh độtuổicủabịcan, bịcáo là ngườichưa thành niên, đồngthời ghi nhận các quyền cũng như việc bảođảmquyềntốtụng của bị can, bị cáo chưa thành niên.
Trong ngônngữtiếng Việt, haitừ“bảođảm” và “đảmbảo”là haitừđồngnghĩa. TheotừđiểnTiếng Việt, khái niệm“bảođảm”được hiểu nhưsau: “Làm cho chắc chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầyđủ những gì cần thiết” [83 tr.175]. Tuy nhiên, bảođảm lạikhông hoàn toàn đồng nghĩa với“bảovệ”. Bảovệ là “chốnglạimọisựxâm phạmđể giữcho luôn luônđược nguyên vẹn” [89]. Có thể nói khái niệm“bảođảm” rộng hơn khái niệm “bảovệ”, vì trong khái niệmbảođảmđã bao hàmbảovệ và bảovệ là một hình thức của bảo đảm khi xảy ra sự xâm phạm.
Theo Từ điển tiếng Việt [89], quyền là “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi”. Trong lý luận chung vềnhà nước và pháp luật, khái niệm quyền được hiểu là khả năng về một việc gìđó do luật thừa nhận cho chủ thể nhưng thực hiện quyền đó như thế nào thì lại tùy thuộc vào sự lựa chọn của chủ thể. Quyền cơ bản của công dân được quyđịnh trong Hiến pháp của mỗi quốc gia. Còn quyền của những người tham gia tố tụng hình sự, trong đó cócả bịcan, bịcáo là NCTN được quy định trong Luật tố tụng hình sự của mỗi quốc gia.
Chúng tôi cho rằng khái niệmbảođảmquyền của bịcan, bịcáo làNCTN xuất phát từ khái niệmbảođảmquyền. Trong luận án Tiến sĩ của Trần Thanh Hương, khi bàn về khái niệm“bảođảmquyền tự do công dân” tác giảđã phân tích khái niệm bảo đảm quyền. Cụ thể:
– Quyền tự do công dân do Hiến pháp ghi nhận mới chỉ thừa nhận giá trị xãhội của các quyền đó và tạo tiền đề quan trọng để thực hiện chúng, song những quyền này nếu thiếu bảo đảm thì mới chỉtồn tạiở dạng tiềm năng. Bảo đảm làyếu tố để quyền trở thành hiện thực, không chỉ là tiềm năng hay hình thức.
– Các quyền tự do của công dân chỉ trở thành hiện thực khi có các yếu tố xã hội khách quan thuận lợi và những phương tiện, công cụ, phương thức quan trọng do nhà nước và xã hộitạora.Đólà nhữngđiềukiệnvề kinh tế, chính trị và các điều kiện về xã hội khác hình thành môi trường để mỗi công dân có khả năng sáng tạo và phát huy năng lực vốn có của mình [21].
Khái niệm bảo đảm quyền trong khoa học pháp lý được hiểu là các điều kiện khách quan và phương tiện (công cụ) tổ chức và các công cụ khác không chỉ là nhằm mục đích công bố, ghi nhận về mặt pháp lý các quyền và tự do cơbản của công dân mà còn nhằm mục đích bảo vệ các quyền, tự do cơ bản đómột cách toàn diện và thực thi chúng trong cuộc sống [21].
Bảođảmquyền làmộthiệntượngxã hội, chínhtrịvà pháp lý quan trọng. Phạm trù này được thể hiện qua các yếu tố lý luận, thực tiễn và tư tưởng.
Như vậy, chúng ta cóthểhiểubảođảmquyềncủabịcan,bịcáo là NCTN là những hoạt động, những công việc tạo ra những điều kiện, tiền đề cần thiết làm cho quyền của bị can, bị cáo là NCTN tham gia TTHS được có đầyđủ, để cho quyền đó có tính hiện thực và không mang tính hình thức.
Từkhái niệmbảođảmquyềncủabịcan,bịcáo là NCTNthểhiện haiđặc điểm sau đây:
Thứ nhất, Chủ thể bảo đảm
Bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN xuất phát từ yêu cầu bảo vệquyền con người nói chung. Vấn đề bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN thực chất là vấn đề các yếu tố bảo đảmtính hiện thực của quyền đã được pháp luật thừa nhận.
Nhà nước ghi nhận quyền của bị can, bị cáo là NCTN trong BLTTHS thìNhànướcđồngthời phải có nghĩavụphảibảođảmcho quyềnđóthực hiện không chỉ bằng biện pháp pháp lý mà còn bằng những bảo đảm kinh tế, chính trị và xã hội. Nếu không có sự bảo đảm thực thi và bảo vệ quyền của bị can, bịcáo là NCTN thì các quyền đó chỉ là những khẩu hiệu trống rỗng.
Quanđiểmbảođảmquyền của bị can, bị cáo là NCTN trong TTHS là quan điểm nhất quán của nhà nước ta. Nhà nước thực hiện bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN thông qua việc xây dựng hệ thống pháp luật TTHSđểghi nhận quyền và bảođảmquyền của bịcan, bịcáo là NCTN, đồngthời thông qua những người thamgia tố tụng để bảo đảmnhững quyền đó. Việc áp dụng luật nội dung và luật hình thức đồng thờibảođảmquyền đó thông qua hệ thống tư pháp hình sự. Các cơ quan Điều tra, VKS, Tòa án có trách nhiệm bảo đảmquyền của bị can, bị cáo là NCTN. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng bảođảmquyền cho bị can, bị cáo là NCTN trong suốt quátrình tố tụng, quá trình giải quyếtvụ ánkể từ khi họ bị khởi tố bị can hoặc bị
tạmgiữ cho đến khi kết thúc vụ án hình sự. Đồng thời, bảo đảm cho bị can, bịcáo được hưởng những quyền cụ thể mà luật tố tụng hình sự quy định cho họđược hưởng. Như vậy, chủthể bảođảmquyền của bịcan, bịcáo là NCTN trước tiên thuộc về các cơ quan xây dựng và áp dụng pháp luật TTHS.
Tuy nhiên, người bào chữa (luật sư, ngườiđạidiện hợp pháp, bào chữa viên nhân dân), ỦybanmặttrậnTổquốc Việt Nam, tổchức thành viên của mặttrận có vai trò quan trọng trong việc bảođảmquyềncủaNCTN trong TTHS.
Ngoài ra, gia đình – nhà trường – Đoàn thanh niên xã hội cũng đóng góp
một phần quan trọng để thực hiện chức năng bổ trợ tư pháp – hỗ trợ cho các cơ quan TNHTT thực hiện nhiệm vụ sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án.
Thứ hai, Đối tượng bảo đảm
Bịcan, bị cáo là NCTN cóđầyđủ cácquyền tố tụng như bị can, bị cáođã thành niên. Bên cạnh đó họ còn được thừa nhận những quyềntố tụng đặc thù để cóthể bảo vệ một cách tốt nhất lợi ích chính đáng của mình.
Quyền đặc thù của bị can, bị cáo là NCTN:
Quyềnbấtkhảxâm phạm tính mạng, sứckhỏe, nhân phẩm, danhdự củaconngườinói chung trongđócó quyềncủaNCTN.Đâylà quyền hiếnđịnh. Do đó, bị can, bị cáo là NCTN là NCTN chỉ bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử khi có đủ căn cứ pháp lý theo quy định của BLTTHS.
Quyềnđược điềutra, truy tố, xét xử phù hợp với tâm lý, lứa tuổi. Đây là quyền ưu tiên cơ bản mà NCTN được hưởng khi tham gia tố tụng, đòi hỏi tất cả các quy trình, thủ tục tố tụng, người tiến hành tố tụng, các cơ sở vật chất
– kỹ thuật phục vụ cho hoạt động tố tụng cũng phải phù hợp với tâm lý, lứa tuổi của họ. Để phù hợp với tâm lý lứa tuổi đòi hỏi một bộ máy tố tụng thân thiện với những người tiến hành tố tụng có hiểu biết về tâm lý lứa tuổi chưa thành niên, có kiến thức về khoa học giáo dục, cókỹnăng giao tiếp, có tháiđộ tôn trọng, cởi mở đối với NCTN. Ngoài ra cần có cơ sở vật chất như buồng hỏi cung, nhà tạm giữ, tạm giam, phòng xử án cũng phải được xây dựng trên các nguyên tắc của tâm lý học tư pháp, tạo cho NCTN cảm nhận được sự thân thiện, tạocảmgiác mang tínhcảmhóa giáo dục, chứkhông phải là đe dọa, trừng phạt.
Quyền được ưu tiên giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời. Trong quátrình giải quyếtvụ ánNCTN, để tránh cho NCTN tâm lý chán nản, mệt mỏi, bi quan và tiêu cực thìcầnphải có thờihạntốtụng chặt chẽ theo quyđịnh pháp luật và nhanh chóng thực hiện. Bởivì các yếutố:lo sợ quá mức về sốphận pháp lý (về thời gianbịgiamgiữcảitạo), về sựlên án của dư luận xã hội, căng thẳng khi phảiđốimặtvớinhữngđốitượng đồngphạm. Hơn nữa, lứa tuổi NCTN cũng là lứa tuổi học sinhnếuthờihạntốtụng dài thìsẽ ảnh hưởng đến thờigian học tập của NCTN. Đặc điểm này cũng đòi hỏi phải hạn chế tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung, hủy án để điều tra lại, xétxử lại thường làm cho thời gian giải quyết vụ án kéo dài không hạnđịnh.
Quyền ưu tiên được bảo đảm giữ bí mật thông tin cá nhân của NCTN. Mọi hoạt động tố tụng liên quan đến NCTN được tiến hành trong môi trường thuận tiện cho việc bảo đảm bí mật đời tư, danh dự, nhân phẩmcủa họ.
Quyền cósự hiện diệnbắtbuộc củanhững người tiến hànhtốtụng vàtham gia tố tụng có hiểu biết về tâm sinh lý NCTN, có kỹ năng và tâm huyết làm việc vớiNCTN vừa là quyềnlợicủaNCTN, vừa là biện phápbảođảm cho việc thực hiện các quyền khác mà NCTN được thụ hưởng theo quy định của pháp luật. Mục đích là nhằmbảođảmcho quyềnđược điềutra, truy tố, xét xử phù hợp với tâm lý lứa tuổi. Bởi lẽ, những người này chính là các chủthểáp dụng pháp luật, cụthể hóa các quyền của NCTN trong TTHS, là các chủ thể bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NCTN, đấu tranh cho các quyền lợi của NCTN trong TTHS [73].
Đâylà quyềnđược xác lậpvà thực hiện theohướngưu tiênđốivới NCTN, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của NCTN thể hiện trách nhiệm của xã hội và bản chất nhân văn của Nhà nước.Do vậy, từ góc độ đối tượng bảođảm, bảođảmquyền của NCTN là quá trình bảo đảm hiện thực hóa các quyền
tố tụng trên cơ sở quyền tố tụng cơ bản mà NCTN được hưởng.
Tóm lại, bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN là việc bảo đảm các điều kiện, yếu tố cần và đủ cho quá trình thực hiện quyền của bị can, bị cáo làNCTN nhằm làm cho hoạt động này có hiệu lực, hiệu quả cao nhất. Bao gồm các yếu tố cơ bản như: Hệ thống các quy phạm pháp luật về lĩnh vực nàyđầy đủ, không ngừng hoàn thiện; hệ thống cơ quan tố tụng có chất lượng, hoạt động có hiệu quả; có cơ sở vật chất, kỹ thuật đáp ứng với yêu cầu hoạt động tố tụng; có cơchếgiám sát chặt chẽ, thông suốt, cósựtham gia đôngđảocủacác cơquan nhà nước, tổ chức chính trị và công dân.
Như vậy, qua phân tích, chúng tôi cóthểđưara khái niệmbảođảm quyền của bị can bị cáo là NCTN như sau: Bảo đảm quyền của bị can, bị cáo làNCTN là hoạt động của nhà nước, cơ quan tiến hành tố tụng, các tổ chức, cánhân trong việc xây dựng các quy phạm pháp luật và thực hiện pháp luật trên cơ sở những bảo đảm chung cho quyền con người nhằm mục đích bảo vệ các quyền của bị can, bị cáo là NCTN và thực thi chúng trong cuộc sống.
2.2.Nộidungbảođảmquyền củabịcan, bịcáo làngườichưa thành niên trong tố tụng hình sự
2.2.1. Những bảo đảm chung
Các bảođảmchung có nhiều loại nhưbảođảmkinh tế, chính trị, xãhội. Trongsốcác bảođảmchung thì cácbảođảmvậtchất hay còngọibảođảm kinh tế có vị trí quan trọng số một.
Trong bất kỳ giai đoạn nào của lịch sử thì kinh tế là cơ sở nền tảng vật chất để phát triển xã hội. Vì thế, những điều kiện để ổn định và không ngừng nâng cao đời sống vật chất của con người có tính quyếtđịnh đối với việc thực hiện hóa các vấn đề liên quanđến bảo đảmQCN, quyền công dân nói chung và bảo đảmQCN trong lĩnh vực TTHS nói riêng. Vấnđề nàyC. Mác đã chỉrõ:“Quyềnconngườiphụthuộc vào trìnhđộphát triển kinhtế và sựphát triển văn hóa do chế độ kinh tế đó quy định” [9]
Trongđiềukiệnđổimớiở nước ta hiện nay, phát triển năng lực sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân là yêucầucơ bản và cấp thiết để thực hiện có hiệu quả chiến lược QCN, quyền công dân. Đáp ứng yêu cầu ấy, Hiến pháp năm 2013 xác định:Nhà nước phát triểnnềnkinhtế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thịtrường cósựquản lý của Nhà nước, theođịnhhướng XHCN. Cơ cấukinh tế nhiều thành phầnvớicác hình thức tổ chức sảnxuất kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tưnhân trong đó sở hữu toàn dân và tập thể làm nền tảng.
Vớimục đích của chính sách kinh tế là làm cho dân giàu, nước mạnh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở giảiphóng năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế. Cho nên, phát triểnnềnkinh tế thị trường ở nước ta hiện nay là mộtđảmbảoquan trọng trong việc thực hiện QCN, quyền công dân nói chung vàđảmbảoQCN trong lĩnh vực TTHS nói riêng. Bởivậy, chỉtrên cơ sở đảm bảo được sự ổn định về đời sống kinh tế, thì các đảmbảokhác về mặt chính trị, văn hóa, xã hội mớiđược thực hiện. Bởivì, sự phát triển kinh tế là cơ sở và nền tảng cho sự phát triển các lĩnh vực khác của đời sống xã hội và ngược
lại. Để đápứngyêucầuđó, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật nhằm đảm bảo các chính sách về bảo vệ quyền tự do sản xuất kinh doanh, về chính sáchbảohiểm, bảohộngườilao động, bảohộngườitiêu dùng và đặc biệt là bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khi bịxâm hại hoặc bị tranh chấp.
Bảođảmkinh tế cho việc thực hiện QCN là việc tạo ra tiền đề vật chấtđể quyền đó thực hiện.
Các bảo đảmchính trị có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền của bịcan, bịcáo là NCTN. Đảngvà Nhà nước ta luôn luôn coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển của xã hội. Xuất phát từ bản chất của Nhà nước, QCN luôn được Nhà nước coi trọng và ghi nhận trong các bản Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật. Bảo đảm QCN nói chung và bảođảmquyền của bịcan, bịcáo là NCTN nói riêng là vấnđề nhạy cảm mang tính thời sự. Mục tiêu của việc bảođảmquyền của bịcan, bịcáo là NCTN trong TTHS là hướngtớimộtxã hộidân chủ, văn minh. Trongđiều kiệnnước ta hiện nay, để đảmbảomục tiêu dânchủthì Nhànước ta đã vàđang xây dựng và hoàn thiệnhệ thống pháp luậttạocơ sở pháp lý cho việc bảo đảm và thúc đẩy, phát triển QCN nói chung. Trong lĩnh vực TTHS, quyền con người được xây dựng cho những người tham gia tố tụng, trong đó bị can, bịcáo là NCTN là đốitượngdễ tổnthương nhấtđược quyđịnhthành một chương riêng trong BLTTHS thể hiện sự tôn trọng QCNcủa chủ thể đặc biệt này. Trong quá trìnhđiềutra, truy tố, xétxửbảođảmmọihành vi phạmtộiđềuđược phát hiệnkịpthời, không làm oanngườivôtộivà xửlýmộtcách nghiêm minh.
Các bảođảmxã hộicómốiquanhệ mậtthiếtvớicác bảođảmkhác. Bảođảmxã hội là điều kiệncần thiết bảo đảmcuộc sống và sự phát triển của con người. Trong hệ thống các bảo đảm về xã hội, yếu tố truyền thống và tập quán cóảnhhưởngkhôngnhỏtớiviệc bảođảmQCN trong tư pháp hìnhsựnói chung và bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN nói riêng. Tập quán xã hộiluôn cótầmảnhhưởngtớiýthức pháp luật, văn hóa pháp luật của người tiến hành tố tụng, bảođảmcho quyền của bị can, bị cáo là NCTN được thực hiện trong TTHS.
Từ những phân tích trên, chúng ta thấy pháp luật hiện diện ở tất cả cácđiều kiện, bảo đảm khác nhau, tạo cơ sở pháp lý cho các điều kiện, bảo đảm đóphát huy được vai trò và hiệu quả của chúng trong việc thực hiện QCN nói chung và quyền của bị can, bị cáo là NCTN nói riêng.
Như vậy, bảo đảm về chính trị, kinh tế, xã hội là điều kiện cần nhưng chưa đủđểtạora mộtmôi trường xã hộicho QCNđược thực hiện mà cần phải cóbảođảmvềmặtpháp luật là cơ sởpháp lý quan trọngđểbảođảm QCN, đồng thời bảo đảm về mặt pháp lý có ý nghĩa trực tiếp trong việc thực hiện trên thực tế. Sự phân định các thành tố trong việc bảo đảm chỉ là tươngđối vì các bảo đảm đều thể hiện qua hình thức pháp lý.
2.2.2. Bảo đảm pháp lý
Vấn đề bảo đảm pháp lý được xâydựng trêncơ sở điều kiệnchính trị, kinh tế, xã hội nhất định và tác động trở lại cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Sự ổn định và phát triển kinh tế thúc đẩy hình thành một trật tự pháp lý. Việc bảođảmcho thực hiện QCN khôngchỉlà biện pháp mang tính pháp lý màtrước hết là bằng chính sách, cơ chế của nhà nước tạo điều kiện cho con người phát triển mọi mặt, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân. Pháp luật là yếu tố cơbản, tiên quyết cho bảo đảm QCN, quyền tự do dân chủ của công dân. Pháp luật càng phát triển, tựdo của các chủthểtrong xã hộicàng cao vì nó tạo hành lang an toàn và rõ ràng cho công dân khi tham gia vào các quanhệ xãhội và để nhà nước biết đúng giới hạn của việc thực hiện quyền lực của mình. Nhà nước ngăn chặn những hành vi xâm hại quyền công dân và xử lý nghiêm minh nhữngchủthểvi phạm, trên cơ sởđótạora phương thức, côngcụđểbảo vệ quyền tự do của mình khi bị xâm hại. Nhà nước bảo đảm QCN ở các mức độkhác nhau bằng các quy phạm pháp luậtcụthể. Nghị quyết 48/NQ- TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và phát triển hệthống pháp luật Việt Namđếnnăm 2020đã chỉrõ: Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo đảm QCN, quyền tự do dân chủ của công dân. Củng cố cơ sởpháp lývềtrách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành kịp thời, đồng bộ và tổ chức thực thi các luật, các điều ước quốc tế màViệt Nam là thành viên về QCN, quyền công dân trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội [16].
Ở Việt Nam, QCN là các giá trị đối với những thành quả cách mạng đãđạtđược trên các lĩnh vực của đờisống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc đã được quy định bằng pháp luật thành các quyền và nghĩa vụ của công dân.
Vì vậy, Điều 14 – Hiến pháp 2013 quy định:
“Ởnước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các QCN, quyền công dânvềchính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và phápluật”.
Bảo đảm pháp lý là hệ thống các biện pháp pháp lý bảo vệ công dân và các biện pháp hợp pháp thực thi các quyền và tự do cơ bản. Các công cụ pháp lý thực thi các quyền và tự do cơ bản của công dân được ghi nhận trong các quy phạm pháp luật gồm có: phạm vi thực hiện các quyền và tự do; các cách thức cụthểhóa các quyền và tựdo; các sựkiện pháp lý liên quanđếnviệc bảo đảmcác quyền và tự do; các thủ tục hay hình thức pháp lý; các biện pháp khuyến khích hay ưu đãi nhằm tạo động lực thực thi hợp pháp các quyền và tự do. Các bảo đảm pháp lý rất nhiều và rất đa dạng. Bảo đảm pháp lý không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp mà còn được ghi nhận trong các đạo luật và văn bản dưới luật.
Trong khoahọcpháp lý có quanđiểmcho rằng khái niệmbảođảm pháp lý bao gồm: Các biện pháp giám sát và kiểm tra do luật quy định nhằm phát hiện các vi phạm pháp luật; các biện phápbảovệcó tính chất pháp lý; các biện pháp trách nhiệm pháp lý; các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp bảovệpháp luật khác; các biện phápbảovệpháp luật bằngthủtục tốtụng;
các biện pháp phòngngừa… Quanđiểmnày có tính khái quát hơn và phản ánh đầy đủ hơn bản chất của bảo đảm pháp lý.
Pháp luật TTHS là ngành luậtđiềuchỉnh các mốiquanhệ phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Các quy phạm pháp luật TTHS quyđịnh tương đối chi tiết và cụ thể trình tự, thủ tục khởi tố, điều tra, truy tố xét xử và thi hành án hình sự; quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quanhệ giữa các cơ quan tiến hànhtốtụng; nhiệm vụ, quyềnhạnvà trách nhiệm của nhữngngườitiến hànhtốtụng; quyền và nghĩa vụcủa những ngườitham gia tốtụng, của các cơ quan,tổchức và công dânđể hoạtđộng TTHS được vận hành có hiệu quả [55].
Trong tố tụng hình sự, các biện phápbảođảmpháp lý về quyềncủa bịcan, bị cáo là NCTN bao gồm: nguyêntắctố tụng, quy định quyền của bị can, bị cáo là NCTN; quy định về thủ tục, trình tự tố tụng, các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử; hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát; trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng.
Bảođảmquyền của bị can, bị cáo là NCTN trong TTHS hay còn gọi làbảo đảmTTHS chính là một dạng bảo đảm pháp lý. Bảođảmcho các quyềnđó có tính hiện thực bằng nhiều điều kiện (kinh tế, chính trị, tổ chức…) trongđócóbảođảmpháp lý. Bảođảmpháp lý cũng là những quyđịnhcủa pháp luật, nhưng những quy định này không phải là nội dung của các quyền chủ thể mà là những quy định của luật nhằm để cho các quyền chủ thể có tính khả thi khi thực hiện. Thí dụ, bị can là NCTN có quyền chủ thể TTHS như những bịcan khác là quyền có NBC, tuy nhiên vì là NCTN có thể chưa hiểuđầyđủ vềcác quyền TTHS của mình và không có đầy đủ khả năng thực hiện các quyền của mình trong TTHS, cần cósự trợgiúp pháp lý nhiều hơn so với bị can làngười thành niên, vì thế BLTTHS đã quy định trong mọi trường hợp đối với bị can là NCTN phải có sự tham gia của NBC, nếu không chọn được NBC thìcơ quan THTTchỉđịnh(bào chữa bắtbuộc). Quyđịnhnày của BLTTHS chính là một trong những bảo đảm pháp lý cho quyền bào chữa của bị can là NCTN.
Xuấtphát từ đặc điểm đặc thù về điềukiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và phong tục tập quán của mỗi nước trên thế giới khác nhau cho nên hệthống pháp luật của các nước không giống nhau và vấn đề tình hình tội phạmở các nước cũng khác nhau. Đồngthờiđốivớivấnđề NCTN phạmtộicủa các nước cũng có sự khác nhau. Tuy nhiên, trên thực tế vấn đề QCN và bảo vệ QCN luôn luôn được các quốc gia quan tâm, đặc biệt là đối tượng NCTN. Tínhđếnthờiđiểmđếnnay thì trên thế giớiđã có 197 quốc gia tham gia Côngướcquốc tế vềquyền trẻ em năm 1989, đây cũng chính là sự thể hiện quan tâm chungcủacộngđồngquốc tế nhằmhướngtớimục đíchbảovệquyền trẻ em. Chính vì lý đó, cho nên pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thếgiới trên cơ sở Côngướcquốc tế vềquyền trẻ em năm 1989đềucó quyđịnh theo hướng bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích hợp pháp cho NCTN.
Mục đích của hoạtđộngtốtụng là giải quyết khách quan, toàn diện, đầy đủ, đúng pháp luật các vụ án để xác định đúng quyền và nghĩa vụ pháp lýmà công dân phải thực hiện, tránh việc xử oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.
Để đảm bảo QCNnói chung và quyền của bị can, bị cáo là NCTN nói riêng thì cùng với việc xây dựng hệ thống các quy phạm phápluật vềQCN, một yêu cầu quan trọng đặt ra là phải thường xuyên làm tốt công tác hệ thống hóa các vănbảnquy phạm pháp luật trong lĩnh vực nàyđểkịp thời loạibỏnhững quy phạm pháp luật không còn phù hợp, sửa đổi, bổsung những quy phạm pháp luật chưa sát hợp với thực tiễn, làm cơ sở cho việc ban hành mới những quy phạm pháp luật do nhucầuthực tiễn của đờisống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đặt ra cho lĩnh vực này.
Thể chế hóa quyền của bị can, bị cáo là NCTN không chỉ là sự cụ thểhóa các quyềntốtụng, mà nó còn bao hàmcảviệc quyđịnhhình thức, biện phápxửlý những hành vi vi phạm quyền của bịcan, bịcáo là NCTN; quyđịnh về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan tiến hành tố tụng; cụ thể hóa các Công ước quốc tế vềquyền con người mà quốc gia đã tham gia ký kết hay phê chuẩn. Quyền của bịcan, bị cáo là NCTN được thể chế hóa trong TTHS, nhưng nếu không có cơ chế bảo đảm thực hiện các quy định đó thì không thể nói đã có bảo đảm pháp lý về quyền của bị can, bị cáo là NCTN. Vì vậy, phải triển khai các hoạt động phổbiến, tuyên truyền, giáo dục, giải thích pháp luật, hướngdẫnthực hiện
pháp luật… nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho mọi thành viên trong xã hội.
Tóm lại, xây dựng và không ngừng hoàn thiện hệ thống các quy phạm pháp luật về QCN nói chung và quy phạm pháp luật về QCN trong TTHS là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để từ đó tổ chức thực hiện các đảm bảo khác vềQCN nói chung và quyền của bị can, bị cáo là NCTN trong TTHS nói riêng.
2.2.3. Bảo đảm về tổ chức
Để đáp ứng những yêu cầu đang đặt ra của công cuộc đổi mới toàn diện ở nước ta, cùng với việc phải cải cách bộ máy nhà nước như là một nhiệm vụtrọng tâm thì phải xây dựng và hoàn thiện các thiết chế về tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp để các cơ quan này hoạt động đúng chức năng, thẩm quyền, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là một tất yếu. Bởi vì, hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng là hoạt động trực tiếp liên quan đến các quyền của bị can, bị cáo là NCTN nên thực chất đó là hoạt động bảo vệ QCN. QCN nói chung và quyền trẻ em nói riêng được thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau, rấtđa dạng. Chính vìvậymà việc bảovệcác quyềnđócũngrấtđa dạng, bằng những phương thức, phương tiện và biện pháp khác nhau cả về mặt tổ chức, quản lý, hành chính, kinh tế lẫn các biện pháp pháp lý, đặc biệt là lĩnh vực TTHS. Luật TTHS bảo vệ các quyền của trẻ em bằng việc quy định những điều khoản nhằm bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự được khách quan, toàn diện và đúng pháp luật, tránh làm oan người vô tội đồng thời trao cho các em những quyền tố tụng để các emtự bảo vệ quyền lợi của mình. Đối với bị can, bị cáo lại là NCTN thì cần có những cơ chếhữuhiệu hơnđểbảovệquyềnlợihợppháp của các em, bởilẽhọlànhững người còn non nớt, chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về trí tuệ và thểchất, họ đang ở trong thời kỳ hình thành nhân cách, nhận thức và hiểu biết xã hộicònhạnchế. Đểcơ quan tiến hànhtốtụng thực hiệntốtnhiệmvụtrên theo quy định của pháp luật, Nhà nước đã thành lập một số cơ quan, tổ chức như các đoàn luật sư, văn phòng luật sư, các tổ chức trợ giúp pháp lý, các cơ
quan bổ trợ tư pháp… Các cơ quan, tổ chức này đã góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ có hiệu quả quyền, lợi ích hợp pháp của công dân nói chung cũng như quyền của bị can, bị cáo nói riêng.
2.3. Cơ chế bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là người chưa thành niên Cơ chế bảođảmquyền conngườilà khái niệm cóýnghĩa quan trọng
trên nhiều phương diện. Cơchế được hiểu là tổng thể các bảo đảm vật chất, chính trị, tư tưởng, pháp lý, tổ chức nghiệp vụ cho việc thực hiện một quyền nào đó hoặc một việc nào đó [94]. Từ “cơ chế” là chuyển ngữcủa từmécanisme của phương Tây. TừđiểnLe Petit Larousse (1990) giải nghĩa ”mécanisme” là “cách thức hoạtđộng củamột tậphợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau”. Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ [89] định nghĩa: cơ chế làcách thức mà theo đó một quá trình thực hiện.
Nghiên cứu cơ chế bảođảmquyền của bị can, bị cáo là NCTN trong tốtụng hìnhsựvớitư cách là cơ chếpháp lý, trước hếtlà nghiêncứucác quyđịnhcủa pháp luật TTHS về nhiệm vụ, các nguyên tắc tốtụng hình sự, các quy định về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp, quy định các hoạtđộng tố tụng, các quyền tố tụng của người tham gia tố tụng.
Thông thường khi nóivề khái niệm cơ chế ngườita đề cậphai nội dung: thể chế và thiết chế. Thể chế được hiểu là các quy định pháp luật, các quy tắc được ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủtục nhấtđịnhcó tính ràng buộc đối với các chủ thể. Còn thiết chế là các cơ quan, tổ chức được lập ra để thực thi những chức năng, nhiệmvụ nhất định. Bảo đảm, bảovệ quyền con người có thể được thực hiện ở cấp độ toàn cầu, khu vực và từng quốc gia. Từ đây, cơ chế bảo đảm, bảovệ quyền con người được hiểu là những thể chế, thiết chế do toàn nhân loại, xã hội, do Nhà nước tạo ra nhằmbảođảm, bảovệconngườiở cấpđộtoàn cầu, khu vực và ở từng quốc gia [37]. Căncứvào phạm vi và cấp độ, cơ chế bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là NCTN cóthểphân chia thành 2 loại:
2.3.1. Cơ chế quốc tế
Với sự nỗ lực của các quốc gia, các điều ước quốc tế về tư pháp người chưa thành niên được các quốc gia tham gia xây dựng đều hướng tới việc bảo vệ, bảo đảm một cách triệt để các quyền và lợi ích đặc biệt của đối tương này.
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 được Đại hộiđồngLiênHợpquốc thông qua ngày 16/12/1966 và có hiệu lực từngày 23/03/1976 thì hoạt động tố tụng áp dụng đối với NCTN phải xem xéttới độtuổi họ và mục đích thúc đẩy sự phục hồi nhân cáchcủa họ. Việc xác định độtuổiđược xem là mộtyêucầuquan trọng, bởikhông áp dụng hình phạttửhìnhđốivớingườidưới18 tuổi (Khoản 5Điều6). “Tấtcảmọingườiđều
bìnhđẳngtrước Tòa án và cơ quan tài phán… Tuy nhiên, các phán quyết trong các vụ án dân sự hoặc hình sự phải được công bố, trừ trường hợp lợi ích
của ngườivịthành niênđòihỏicầnàmkhác…” (Điều14). Mặtkhác, Côngước cũng dành cho NCTN là trẻ em được hưởng sự bảo hộ của gia đình, Nhànước -Điều24 quyđịnh:“Mọitrẻem, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tàisảnhoặc dòng dõi đều có quyền được hưởng những bảo hộ của gia đình, xã hội và nhà nước theo qui chế đối với vị thành niên”. Đồng thời, Điểm b, Khoản 3, Điều 10 có quyđịnh:Khibịtước đoạtquyềntựdo NCTN phảiđược đốixửmột cách nhânđạovớisựtôn trọng nhân phẩmvốncó của con người. Bịcan làNCTN phải được giam giữ tách riêng khỏi người lớn và phải được đưa ra xét xử càng sớm càng tốt. Những phạm nhân là NCTN phải được tách riêng khỏi người lớn và phải được đối xử phù hợp với lứa tuổi và tư cách pháp lý của họ.
Côngước quốc tếvềquyềntrẻemđã được thông qua và kýkếtngày 20/11/1989 (còngọilà Côngước của Liênhợpquốc vềquyềntrẻem năm 1989) và có hiệulựctừngày 2/9/1990, hiện nayđã có 197 quốc gia thành viên tham gia. Công ước để ngỏ cho các quốc gia tham gia ký kết, phê chuẩn và gia nhập. Ngoàilờinóiđầu, nộidung của Côngước gồm3 phầnvới54điều khoản, bao quát được tất cả những khía cạnh liên quan đến quyền trẻ em và xác địnhrõ nghĩavụcủa các quốc gia trong việc đảmbảoquyền của trẻem, mối quan hệ giữa trẻ em và quyền con người nói chung. Công ước quyền trẻ em đã thể hiện sự tôn trọng và quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với trẻem – tương lai của nhân loại.
Ngày 26/1/1990 Việt Namđã ký Côngước của Liênhợpquốc vềquyền trẻ em và phê chuẩn ngày 20/2/1990 (không có bảo lưu nào). Việt Nam là quốc gia đầu tiên ở Châu Á và là quốc gia thứ hai trên thế giới phê chuẩn Côngước, Việt Nam phê chuẩn 2 nghịđịnhthưbổsung Côngước, đólà:
Nghị định thư (không bắt buộc) về buôn bán trẻ em, mạidâm trẻ em và văn hóa khiêu dâm trẻ em; Nghịđịnhthư (khôngbắtbuộc) về sửdụng trẻ em trong xung đột vũ trang.
Ngay sau khi phê chuẩn Công ước vào năm 1991, Nhà nước Việt Nam đãban hành haiđạoluật riêngvềquyềntrẻem (LuậtBảovệ,Chăm sóc và Giáo dục trẻ em [59] và Luật Phổ cập giáo dục tiểu học [60]). Càng về sau, pháp luật Việt Nam càng thể chế hóa những bảo đảm của Nhà nước và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em một cách rộng rãi và hiệu quả hơn.
Như vậy, Việt Nam phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em 1989 đã tạo cơ sở pháp lí quốc tế cho việc bảo vệ quyền trẻ emở Việt Nam đồng thời làm thayđổi nhiều hoạt động đảmbảocó hiệu quả quyền của trẻ em.
Tư pháp NCTN là bộ phận của nền tư pháp quốc gia bao gồm các quyđịnh của pháp luật và việc áp dụng các quy định đó đối với NCTN phạm pháp do một hệ thống cơ quan tài phán và một đội ngũ những người tham gia vào các hoạt động tư pháp thực hiện theo nguyên tắc coi hạnh phúc và sự cải tạo của NCTN là mục tiêu hàngđầu, đồngthời duy trì trậttựcông cộng và đạo đức xã hội, đảmbảoviệc xử lý NCTN phạm pháp luôn phù hợp, tương xứng với hoàn cảnh, động cơ và hành vi phạm pháp củahọ.
Để thực thimộthệ thống tư pháp NCTN theo nghĩa trên, Côngước quốc tế về quyềntrẻemđã xây dựng các chuẩn mực quốc tế về quyền của những trẻ embị tướctự do (Điều 37) và những trẻ em bị tình nghi, bị quy làphạmtội (Điều40), trên cơ sở đó đưa ra những hướng dẫn, tính chương trình nhằm giúp hình thành ở mỗi quốc gia thành viên một hệ thống luật pháp, các thiết chế và các thủ tục tố tụng tư pháp cũng như các biện pháp xử lý phù hợp ngoài hệ thống tư pháp để áp dụng cho trẻ em bị rơi vào hoàn cảnh nói trên.
Trẻ em bị tước quyền tự do là trẻ em bị áp dụng bất kỳ hình thức giam giữ nào dù ở nơi giam giữ chung hay giam giữ riêng hoặc bị bỏ tù mà vì bị nhưthế nên trẻ em không được tự do rời bỏ nơi giam giữ trừ khi có quyết định của cơ quan tư pháp, cơ quan hành chính hoặc một cơ quan công quyền khác [26].
Côngướcquốctếvềquyềntrẻem năm 1989 quyđịnh:việctước quyền tự do của trẻ em phải tuân theo 3 điều kiện nhất định, có nghĩa là phảiđượctiến hành theo quy định của pháp luật; phải là biện pháp cuối cùng và chỉ đượcáp dụng trong thời gian thích hợp ngắn nhất (Điều 37(b)).
NCTN được hưởng các quyền sau đây:
+ Có luật sư bào chữa và được thường xuyên tiếp xúc với luật sư của mình; + Được cung cấp, nếucó thể, các cơ hộitiếp tục có việc làm, được
nhận thù lao, tiền công, được tiếp tục đào tạo, giáo dục;
+ Được nhận và giữ các thứ phục vụ cho việc vui chơi giải trí thích hợp (Mục 18).
Điều40 – Côngướcquốc tế về quyền trẻ em năm 1989 quyđịnhvềquyền của trẻ em bị cho là, bị tố cáo hoặc bị công nhận là đã phạm tội.
Khoản 1 Điều 40 đưa ra 4 chuẩnmực về đối xử vớitrẻem phạm tội, đó là:
1/Đốixửtheo hình thức phùhợpvớiviệc cổvũ phẩm cách và phẩm giá của trẻ em về nhân cách và phẩm giá vốn có;
2/ Tăngcườnglòng tôn trọng của đứa trẻ đốivớicác QCN và các quyền tự do cơ bản của người khác;
3/ Phù hợp với lứa tuổi của trẻ em;
4/ Thúc đẩy sự tái hòa nhập và vai trò của trẻ em trong xã hội.
Khoản 2Điều40 – Côngước quốc tế vềquyền trẻ em năm 1989 xác định tám đảm bảo cho một quá trình tố tụng hợp lý đối với trẻ em bị truy tố:
– Luật hình sự không có hiệu lực hồi tố, nghĩa là đảmbảokhông trẻ em nào bị truy tố về những hành vi mà pháp luật quốc gia và quốc tế không cấm vào thời điểm thực hiện hành vi đó (Mục a);
– Được hưởng nguyên tắc suy đoán vô tội, nghĩa là trẻ emvẫnđược coi là vô tội cho tới khi bị chứng minh rằng đã phạm tội theo pháp luật quy định (Mục bI);
– Trước khi bị đưa ra xét xử: Trẻ em phải được thông báo nhanh chóng, trực tiếpvề nhữngđiềubịbuộc tộivà phảiđược sựgiúpđỡ về mặtpháp lýhoặc sựgiúpđỡ thíchhợpkhácđểchuẩnbịtrình bàysựbảovệ của mình (Mục bII);
-Tạiphiên tòa xétxử:Trẻ em phảiđượcsựgiúpđỡ pháp lýđể tham gia cùngvớicha mẹ hoặc ngườigiámhộpháp lý vàomộtcuộc tườngtrình, thẩmvấncông bằng, đúng pháp luật trước mộtHộiđồngxétxửcó thẩm quyền, độc lập, vô tư và có khả năng ra quyết định một cách không chậm trễ (Mục bIII);
-Đốivớiviệc làm chứng: Trẻ em khôngbịép buộc làm chứng hay nhận tội; có quyền thẩm vấn hay nhờ thẩm vấn những nhân chứng chống lại mìnhđồngthời có quyền đưa ra nhữngngườilàm chứng cho mình trong những điều kiện bình đẳng (Mục b IV);
– Quyền được kháng cáo đối với những quyết định sơ thẩmđể được xét xử phúc thẩmbởimột hội đồng xét xử có thẩm quyền cao hơn, độc lập và vôtư (Mục bV);
– Quyền của trẻ emđược cóngườiphiên dịch miễn phí trong những trường hợp cần thiết (Mục b VI);
– Quyền của trẻ em được giữ bí mật những điều riêng tư trong suốt quátrình tố tụng (Mục b VII);
Thực chất Điều 40 – Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 là sựkhái quát, nâng cao và “luậthóa”Quy tắc tốithiểuphổbiến của Liên Hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với NCTN (Quy tắc Bắc Kinh) được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua ngày 29/11/1985 [27]. Do đó việc nghiên cứu Quy tắc Bắc kinh là điều cần thiết để làm rõ hơn nội dung của Công ước.
Phần II của Quy tắcBắc Kinh về “Điềutra và truy tố” nêu những quy tắc hànhđộngtừphía các cơ quan có thẩm quyềnở các giaiđoạntốtụng “trước tòa án” để đảm bảocác quyền trẻ em bị tình nghi là phạm tội như quyđịnh tại Điều 40 (2)(b) của Công ước. Bao gồm các quy tắc sau đây:
– Trong những tiếp xúc ban đầu với trẻ em phạm phápbị tạmgiữ, cán bộhay cơ quan có thẩm quyền phải tôn trọngđịa vịhợppháp của NCTN, tránh làmtổnhạiđếntrẻ em, xem xéthợplýđếnnhững hoàn cảnh của vụviệc và xem xét không chậm trễ việc thả người bị bắt giữ đó (Quy tắc 10).
– Bấtcứkhi nào thích hợp cần quyết định xử lý theo cách khác, không dùng đến hình thức xét xử chính thức. Việc xử lý theo cách khác (chuyểntừxử lý hình sự sang các hình thức trợ giúp xã hội từ phía gia đình, nhà trường, các tổ chức kiểm soát xã hội) trong những vụ án không nghiêm trọng theo các tiêu chuẩn của từnghệ thống pháp luậtchỉđược áp dụngvớicác điềukiện:
phải cósựđồngýcủa NCTN hoặc cha, mẹ, ngườigiámhộvà phải do nhà chức trách có thẩm quyền quyết định (Quy tắc 11).
-Tạmgiữchờ xétxửchỉđược sửdụng như phươngkế cuối cùngchỉtrong thời gian ngắn nhất có thể cho phép. Các cánbộvà cơ quan có thẩm quyền phảiđảmbảocho trẻ embịtạmgiữđược bảovệ, chăm sóc và nhận những sự giúp đỡ cần thiết tùy theo tuổi tác, giới tính, hoàn cảnh, đặc biệt là phải chống lại những ảnh hưởng tiêu cực, tiêm nhiễm tội phạm từ phía người
lớn phạm tội đang bị giam giữ trong trại (Quy tắc 13).
-Cầnphải chuyên môn hóa, hướngdẫnvà đàotạođặcbiệt lực lượng cảnh sát được giao giải quyết những vấn đề liên quan đến NCTN. Yêucầu đặt ra là cảnh sát phải nắm được tình hình và hành động theo phương thức thích hợp, điều đó cóý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ quá trình xử lý NCTN vìCảnh sát là điểm đột phá đầu tiên trong hệ thống tài phán đối với NCTN (Quy
tắc 12).
Trong phần III – “Xét xử và quyết định” của Quy tắc Bắc Kinh nêu các quy tắc hành động của các cơ quan có thẩm quyềntạigiai đoạn xét xử và thi hành án nhằmđảmbảocác quyền của trẻembịquy là phạmtộitheoĐiều 40(2)(b). Đâylà những quy tắc chỉđạothực tế để lựa chọn cáchxửlý phùhợp nhất được quốc tế thừa nhận. Bao gồm những quy tắc sau đây:
– Xétxửtrẻ em phạmtộitheo những nguyên tắc của mộtphiên tòa công bằng và bình đẳng với một không khí hiểu biết cho phép trẻ em tham gia và tự do bày tỏ ý kiến (Quy tắc 14).
– Việc định tội và định hình phải luôn phù hợp với hoàn cảnh, động cơ, nhu cầu của NCTN và yêucầucủa xã hội. Không được kết án tử hình đối với bấtcứtội phạm nào, không được áp dụng những hình phạt nhục hình đối với NCTN;chỉquyếtđịnhhình phạttước bỏtựdo cá nhân vì hành vi nghiêm trọng có dùngbạolực chốnglạingườikhác và trừkhi không có cách giải quyết thích hợp khác (Quy tắc 17).
Mộtđặc trưng không thể thiếu trong việc xétxửNCTN là cơ quan có thẩm quyền có thể đìnhchỉvụánbấtkỳlúc nào khihọbiếtđếnnhững tình tiết của vụ án.
-Cầncó nhiều biện phápxửlý khác nhauđể tránhtốiđa hình phạt giam giữ (Quy tắc 18).
TheoHướngdẫnRiyadh, phòng ngừa phạm phápởNCTN làmộtbộphận chính yếu của phòng ngừa tội phạm trong xã hội, còn phòng ngừa tội phạm là một bộ phận của công tác phòng ngừa chung. Phòng ngừa NCTN phạm pháp là việc giúp các em có nguy cơ vi phạm cao khôngdẫnđếnviệc phạm pháp thông qua sự thu hút các em tham gia vào các hoạt động hợp pháp, hữu ích vềmặt xã hội với một định hướng và cách nhìn nhân đạo đối với cuộc sống.
Xét theo quan điểm trên thì mặc dù Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 không có điều khoản riêng quy định trực tiếp việc phòng ngừa trẻem phạmtộinhưng qua các điều5, 18, 19, 27 của Côngước đã khẳngđịnh trách nhiệm của Cha, Mẹ, gia đình, người giám hộ, nhà trường và toàn cộngđồngtrong việc hướngdẫnchỉbảotrẻ em phát triển theo cách phùhợpvới nhịp phát triển và khả năng của trẻ em.
Côngước quốc tế vềquyền trẻ em và HướngdẫnRiyadhđềucoi giađình là đơn vị trung tâm chịu trách nhiệm xã hội hóa ban đầu đối với trẻ em trên cơ sở duy trì sự toàn vẹn của gia đình, do đó, gia đình giữ vị trí hàng đầu trong việc phòng ngừa chung đối với trẻ em. Điều 19 – Công ước quốc tế vềquyền trẻ em năm 1989 nói rõ: Nhà nước phải thực hiện các biện pháp pháp luật, hành chính, xã hội và giáo dục thích hợpđể bảo vệ trẻ emkhỏi mọi hình thức bạo lực về thể xác hoặc tinh thần, hỗ trợ cha mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo vệ sự phát triểntốt về thể chất và trí tuệ của các em. Quy tắc Riyadh nhấn mạnh “sự chú ý đặc biệt phải được dành cho trẻ em của những gia đình chịuảnhhưởngcủasựbiếnđộngkinhtế,văn hóa và xãhộibấtthường, dồn dập vì những biến động như vậy làm mất khả năng xã hội của gia đình trong việc bảo đảm nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em theo truyền thống của giađình mình”.
Điều29 – Công ướcquốc tế vềquyền trẻ em năm 1989 đã khẳng định:
Nhà trường giữ vai trò quan trọng trong việc xã hộihóa và giáo dục trẻ em.Đồng thờitrong Hướng dẫn Riyadh còn khuyến nghị nhà trường là nơi phòng ngừa, nơi phát hiệnsửdụngrượuvà ma túy của trẻ em, là trung tâm tham khảo cho việc cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn cho NCTN. Qua nhà trường, một bộ phận lớn trẻ em sẽ được hưởng các dịch vụ nói trên“đặcbiệt là các em cónhu cầu khác biệt hoặc bị lạm dụng, bị sao nhãng hoặc là nạn nhân của sự bóc lột” (nguyên tắc 26).
Theo Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợpquốc vềbảo vệ NCTN bịtước quyền tự do được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua ngày 14/02/1990 (Quy tắc 1990). Theonộidung Côngước, NCTNbịtước quyền
tự do thì phải đảmbảomục tiêu làm giảm bớt những tác động không có lợi do mọi hình thức giam giữ gây ra và nhằm khuyến khích sự hòa nhập cộng đồng của NCTN. Qui tắc 1990được xây dựng dựa trên cơ sở Điều37 của Côngước về quyền trẻ em, cụ thể như sau:
ĐốivớiNCTNbịbắtgiữhoặc chờ tạmgiam xétxử:nguyên tắc bao trùm là NCTN phải được coi là vô tội và phảiđược đối xử như người vô tội (mục 17). Vì rằng việc tước quyềntựdocủaNCTN phảiđược coi là biện pháp cuối cùng và chỉ áp dụng trong thời gian ngắn nhất, do đó Tòa án và Cơ quan điều tra phải có những ưu tiên cao nhất cho quá trình xử lý khẩn trương những vụ án này.
Trong khi bị giam, NCTN được giam giữ riêng, tách biệt với NCTN đã bị kết án và có các quyền sau:
1/ Có luật sư bào chữa và thường xuyên được tiếp xúc với luật sư của mình. 2/Được cung cấp, nếucó thể, các cơ hộitiếp xúc có việc làm, được nhận thù lao, tiền công, được tiếp tục đào tạo, giáo dục.
3/Được nhận vàgiữcác thứphục vụcho việc vui chơi, giải trí thích hợp (mục 18).
Tóm lại: Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 và các văn bản khác của Liênhợpquốc đã tạothànhmộthệ thống tươngđốiđầyđủcác chuẩn mực và các địnhhướngcho các quốc gia xây dựng và thực hiệnhệthống tư pháp NCTN phùhợpvớiđiềukiện của từngnước.Tấtcảcác văn kiệnđóđềuphốihợpvà liênkếtchặtchẽvớinhau. Nhữngđiềukhoản của Công ước quốc tế về quyền trẻ em cùng với những quy định của các văn bản quốc tếkhác phản ánh nhữngkếtquảcủa kinh nghiệm và sựnỗlực qua vài thập kỷ về những đường hướng tốt nhất để bảo vệ quyền trẻ em.
2.3.2. Cơ chế bảo đảm quyền của bị can, bị cáo là người chưa thành niên ở Việt Nam
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\Bảo đảm quyền con người của bị can, bị cáo trong Tố tụng Hình sự Việt Nam
Bảo đảm quyền của bị can bị cáo là người chưa thành niên trong Tố tụng hình sự Việt Nam Bảo đảm quyền của bị can bị cáo là người chưa thành niên trong Tố tụng hình sự Việt Nam Bảo đảm quyền của bị can bị cáo là người chưa thành niên trong Tố tụng hình sự Việt Nam Bảo đảm quyền của bị can bị cáo là người chưa thành niên trong Tố tụng hình sự Việt Nam Bảo đảm quyền của bị can bị cáo là người chưa thành niên trong Tố tụng hình sự Việt Nam Bảo đảm quyền của bị can bị cáo là người chưa thành niên trong Tố tụng hình sự Việt Nam Bảo đảm quyền của bị can bị cáo là người chưa thành niên trong Tố tụng hình sự Việt Nam

