Áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Suy đoán vô tội là một trong những nguyên tắc cơ bản, đã bắt đầu xuất hiện từrất sớmvà ngày càng phát triển, trởthành thành tựu quan trọng của khoa học pháp lý hiện đại. Năm 1789, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Cộng hoà Pháp ra đời, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, nguyên tắc suy đoán vô tội đã chính thức được ghi nhận về mặt pháp lý tại Điều 9 của Tuyên ngôn này: “Mọi người đều được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội; nếu xét thấy cần thiết phải bắt giữ thì mọi sựcưỡng bức vượt quá mức cần thiết cho việc bắt giữđều bịluật pháp xửlýnghiêm khắc” [1]. Đây là sự thể hiện đầu tiên trong văn bản pháp lý về một tư tưởng tiến bộ của nhân loại, khẳng định tất yếu lịch sử phát triển của văn minh nhân loại, ngày càng được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quan trọng và được cộng đồng quốc tếcông nhận như Tuyên ngôn nhân quyền của Liên Hợp Quốc năm 1948, Công ước quốc tếvềcác quyền dân sự, chính trịcủa Liên hợp quốc năm 1966,

Tuyên ngôn nhân quyền của Cách mạng tư sản Pháp 1789, Hiến pháp Liên Xô 1977, Hiến pháp Liên bang Nga 1993.

Ở nước ta, một số nội dung của nguyên tắc suy đoánvô tội lần đầu tiên được pháp điển hoá trong BLTTHS năm 1988 (Điều 10 và Điều 11), sau đó tiếp tục được kế thừa và hoàn thiện qua các văn bản pháp luật khác như Hiến pháp năm 1992 (Điều 71), BLTTHS năm 2003 (Điều 9 và Điều 10), Hiến pháp 2013 (Điều 31) và BLTTHS năm 2015 (Điều 13). Đặc biệt, Điều 13 BLTTHS năm 2015 (BLTTHS) đã quy định một cách tương đối đầy đủ và toàn diện nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội:“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ

tục do bộ luật này quy định và có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật. Khi khôngđủ vàkhông thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ

tục do bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội” [21]. Trên thực tế, các cơ quan tiến hành tốtụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã áp dụng một cách hiệu quả

nguyên tắc suy đoán vô tội trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, góp phần đáng

1

kể nâng cao chất lượng xét xử các vụ án hình sự, giảm bớt các trường hợp khởi tố, điều tra, truy tố và xét xét xử oan sai đối với người bị buộc tội. Tuy nhiên, do nguyên

tắc này mới được quy định một cách đầy đủ trong BLTTHS nên việc áp dụng trong thực tiễn tố tụng để giải quyết các vụ án hình sự ở nước ta vẫn còn những hạn chế, thiếu sót cần được làm rõ và khắc phục. Đặc biệt, giai đoạn xét xử vụ án hình sự là rất quan trọng, quyết định số phận của vụ án nên nguyên tắc suy đoán vô tội phải đượcáp dụng triệt để nhằm tránh xét xử oan sai, tuy nhiên vẫn còn những vi phạm, hạn chếtrên thựctếdẫn đến chất lượngxét xử cácvụ ánhìnhsựcòn chưa được như mong muốn. Nhận thức được điều đó, xét thấy việc nghiên cứu đề tài “Áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hìnhsự”là hết sức cấp thiết cả vềmặtlý luận và thực tiễn, vì vậy, họcviên quyết định lựa chọn nghiên cứu đề tài nêu trênđể làmluận văn thạc sỹ luật học của mình.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ khái niệm, nội dung và ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự nói chung và trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự nói riêng. Đồng thời, làm rõ thực tiễn việc áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tộitrong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thông qua số liệu thu

4

thập được trên địa bàn cảnước trong thời gian 05 năm qua (2018-2022), qua đótrình bày nhữngkết quả đạt được, nhữnghạn chế, thiếu sót, nguyên nhânvà từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng nguyên tắc suyđoán vô tội khi THQCT trong giai đoạn xét xửsơ thẩm vụ án hình sự.

Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận như khái niệm, nội dung, đặc điểm, ý nghĩa nguyên tắc suy đoán vô tội trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; Làm sáng tỏ sự thể hiện của nguyên tắc suy đoán vô tội thông qua các chế định tố tụng hình sự trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; Phân tích thực tiễn áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong giaiđoạn xét xửsơ thẩm vụ án hình sự; Tìm hiểu nguyên nhân của hạn chế, thiếu sót và đềxuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quảáp dụng nguyên tắc suy đoán vô

tộikhi THQCT trong giai đoạn xét xửsơ thẩmvụ án hình sự.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượngnghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận của nguyên tắc suy đoán vô tội, quy định của pháp luật về nguyên tắc suy đoán vô tội; lý luận vàthực tiễn áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong giai đoạn xét xửsơ thẩmvụ án hình sự trên địa bàn cả nước.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Vềlý luận:Đềtài tậptrung nghiên cứu khái niệm,nộidung,đặcđiểm, ý nghĩa và sự thể hiện của áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tộikhi THQCT trong giai đoạn xét xửsơ thẩm vụ án hình sự theo quy định của BLTTHS.

Về thực tiễn: Đề tài nghiên cứu việc áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tộicủa VKS/ KSV khi THQCT trong giai đoạn xét xửsơ thẩm vụ án hình sự trong phạm vi cả nước từ năm 2018-2022.

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận văn là hệ thống quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Namvềbảo vệquyền con người nói chung và bảo đảmáp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong giai đoạn xét xửsơ thẩm vụ án hình sựnói riêng.

Cơ sởphương pháp luận của luận văn là chủnghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong khi thực hiện đề tài, tácgiả đã sử dụngkết hợp các phương pháp cụ thể bao gồm: Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, so sánh, phương pháp tổng hợp, khái quát, phương pháp thống kê, phương pháp chứng minh…

6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn

Ý nghĩa lý luận của luận văn: Góp phần phát triển và làm rõ hơncác vấn đềlý luận của nguyên tắc suy đoán vô tộitrong tố tụng hình sự, việc áp dụng khi thực hành quyền công tốtrong giai đoạn xét xửsơ thẩmvụán hình sự. Qua đó, tác giảmong muốn đóng góp làm giàu thêm kho tàng lýluận vềsuy đoán vô tội trongtố

tụng hình sựnói chung và áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi thực hành quyền công tốtrong giai đoạn xét xửsơ thẩm vụ án hình sự nói riêng, từ đó làm sáng tỏ các vấn đề về lý luận về việc áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội.

Ý nghĩa thực tiễn của luận văn: Nghiên cứu, đánh giá tình hình thực tiễn vàđề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Trên cơ sởđó, tạo điều kiện nâng cao trìnhđộ lýluận của người tố tụng hình sự và người tham gia tốtụng, làm hạnchếcác trường hợpxétxửoan sai, bỏlọt tộiphạm, bảo vệquyền con người của người bị buộc tội trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

Đồng thời, luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảngdạycủacác cơ sởđàotạo luật của Việt Nam trong chuyên ngành luật tố tụng hình sự, các nhà khoa học cũng như các bạn đọc khác quan tâmđến lĩnh vực này.

7. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung chính của luận văn gồm 3 phần:

Áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Chương 1: Một sốvấn đềlý luận và quyđịnh của pháp luật vềáp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi thực hành quyền công tốtrong giaiđoạn xét xửsơ thẩm vụ án hình sự.

Chương 2: Thực tiễn áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xửsơ thẩm vụ án hình sự.

Chương 3:Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc suyđoán vô tội khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xửsơ thẩm vụ án hình sự.

7

Chương 1:

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI KHI THỰC HÀNH QUYỀN

CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ

1.1. Một sốvấn đềlý luận vềáp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi thực hànhquyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.1.1. Khái niệm nguyên tắc suy đoán vô tội

Thuật ngữ “suy đoán” bắt nguồn từ tiếng La tinh “praesumptino”, hay trong tiếng Anhlà “presump”, được hiểu là sự suy đoán hay giả định một vấn đề nào đólà đúng cho đến khi chưa bịbác bỏ. Suy đoán, theo gốc Latinh (praesumptio) cónghĩa là giảđịnh,còn suy đoán vô tội (tiếng Anh: presumption of innocence), thểhiện yêu cầu: Người bị buộc tội phải được coi là vô tội khi mà tội và lỗi của người đó chưa được chứng minh theo một trình tự do pháp luật quy định và được xác định bởi một bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. [19].Như vậy, suy đoán vô tội có thể được hiểu là một sự suy đoán hay giả định của người có thẩm quyền trong tố

tụng hình sự rằng, một người có hành vi phạm tội hoặc bị nghi là thực hiện hành vi phạm tội sẽ được xem là không có tội cho đến khi có đủ các căn cứ xác đáng bác bỏ

được suy đoán trên – tức là chứng minh được người đó có tội. Theo Từ điển Luật học, suy đoán vô tội là một nguyên tắccơ bản và quan trọng của tốtụng hình sự, theo đó, bị can, bị cáo được coi là vô tội, không phải chịu trách nhiệm hình sự khi

lỗi của người đó chưa được chứng minh theo trình tựluật định và chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật [35].

Tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội có cội nguồn từ thời La Mã cổ đại khi Hoàng đế La Mã Justinian (thế kỷ VI tr.CN) ban hành một bản tóm lược Luật La Mã được gọi là “Digest of Justinian”, trong đó có quy định về nguyên tắc chung liên quan đến chứng minh thuộc về bên tố tụng (dân sự) “Ei incumbit probatio qui dicit, non qui negat” – có nghĩa là “chứng minh là công việc thuộc về anh ta, người khẳng định, chứ không phải làngười phủ định” [42]. Theo đó, trách nhiệm chứng minh thuộc về bên tố cáo và người nào đi kiện thì người đó chứng minh trước. Sau

8

đó, các triều đại La Mãđã ápdụng nguyên tắc này trong quá trình xét xử hìnhsự vàbắt đầu khẳng định nghĩa vụchứng minh thuộc vềbên buộc tội và một hệquảtất yếu là bịcáo luôn được coi là vô tội. Tuy nhiên, nguyên tắc nàychỉtrởthành nguyên tắc pháp luật khi Cách mạng tư sản Pháp thắng lợi, cùng với đó là đòi hỏi ngày càng gay gắt của xã hội: Cần phải có biện pháp hạn chế, chống lại sự chuyên quyền, độc đoán xâm phạm quyền con người trong tốtụng hình sựtừphía Nhànước. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, nguyên tắc suy đoán vô tội đã chính thức được ghi nhận vềmặtpháp lý tại Điều 9 Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền Cộng hòa Pháp ra đời ngày 23-08-1789:“Bởi vì mọi người đều được coi là vô tội cho tới khi anh/chị ta bị tuyên bố có tội, nên khi cần thiết phải bắt giữ, mọi hành vi sử dụngvũ lực quá mức tối thiểu cần thiết để bắt và giam giữ người đó sẽ bị xử lý thích đáng” [1]. Tiếp đó, Điều 11 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền ngày 10-12- 1948 của Liên hợp quốc một lần nữa khẳng định nguyên tắc này với nội dung đầyđủ hơn: “Mọi người, nếu bị quy tội hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi một toà án công khai, nơi người đó đã có được tất cả những đảm bảo cần thiết để bào chữa cho mình, chứng minh được tội trạng của người đó dựa trên cơ sở luật pháp” [1]. Trước yêu cầu bảo vệ quyền con người và xu thế hội nhập quốc tế ngày

càng mạnh mẽ, suy đoán vô tội – một trong những nguyên tắc cơ bản trong luật tố

tụng hình sự tiếp tục được ghi nhận và áp dụng rộng rãi trong nền tư pháp của nhiều quốc gia văn minh với các cách thức thể hiện khác nhau. Theo quy định của các văn bản pháp lý quốc tế, quyền của bị cáo bắt nguồn từ một nguyên tắc cơ bản của luật hình sự là suy đoán vô tội. Tòa án nhân quyền châu Âu (ECHR) đã phán quyết rằng, quy định này yêu cầu các công chức không được “tuyên bố chính thức rằng ai đó có tội, trừ khi có quyết định của tòa án” [33].

Không chỉ pháp luật của các nước tư bản, nơi lần đầu tiên ghi nhận suy đoán vô tội là một nguyên tắc, pháp luật các nước xã hội chủ nghĩa cũng từng bước ghi nhận nguyên tắc này, tiêu biểu như Liên Xô – Nhà nước Xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới – đã bước đầu xác định nguyên tắc suy đoán vô tội trong bản Hiến pháp Liên Xô năm 1977 [31] tiếp tục được kế thừa trong Hiến pháp Liên bang Nga năm

9

1993 [31]. Cụ thể, Điều 160 Hiến pháp Liên Xô năm 1977 quy định: “Không ai bịcoi là có tội trong việc thực hiện tội phạm và chịu hình phạt hình sự ngoài bản án của Tòa án và theo đúng quy định của pháp luật”. Điều 48 Hiến pháp Liên Bang Nga năm 1993 (hiện hành) quy định:

“1. Bị can trong việc thực hiện tội phạm được coi là không có tội khi tội của họchưa được chứng minh theo trình tự quyđịnhcủa pháp luật và chưa có bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án;

2. Bị can không có trách nhiệm chứng minh sự vô tội của mình;

3. Những tranh cãi không khắc phục được về tội của bị can được giải thích có lợi cho bị can”.

Như vậy, dựa vào những quy định trong pháp luật tố tụng của Liên bang Nga ta có thể thấy rằng nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định một cách cụ thể và chi tiết đặc biệt là về trình tự, thủ tục chứng minh, nghĩa vụ chứng minh của bên buộc tội. Nguyên tắc suy đoán vô tội ở Nga thể hiện được sự bảo đảm quyền con người một cách tối ưu nhất, áp dụng mọi biện pháp có lợi cho người bị buộc tội trong mọi giai đoạn tố tụng [31].

Tại Canada, Điều11.d của Hiến chương vềquyền và tựdo -đâylà một bộphận của Hiến pháp Canada quy định: “Bất kỳ người nào bị buộc phạm một tội đều có quyền suy đoán vô tội cho đến khi được một toà án độc lập và công bằng xét xửmột cách công khai theo quyđịnh của pháp luật” [1]. Theo quy định của Hiến chương, ta có thể thấy rằng, pháp luật Canada cũng ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội và ứng dụng vào trong quá trình xét xửcủa pháp luật quốc gia mình. Mục đích là nhằm bảo vệ một người bị buộc tội có quyền suy đoán mình vô tội chođến khi có quyết định có hiệu lực của toà án.

Ở Trung Quốc, Điều 12 BLTTHS năm 1996 quy định: “Không ai bị coi là cótội, nếu không bị xét xử bởi một toà án nhân dân theo quy định của pháp luật”[33];

Trong pháp luật tố tụng hình sự của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, mặc dù tên gọicủa nguyên tắc suy đoán vô tộichưa được ghi nhận trong luật nhưng nội dung quan trọng nhất của nguyên tắc này đã được thừa nhận, chỉ khi một người bị

10

đem ra xét xử ở toà án và có bản án có hiệu lực pháp luật, thì người đó mới được coi là có tội. Nhằm tránh khuynh hướng nhìn nhận những người bị buộc tội như là người đã được coi là phạm tội, dù tội trạng của họ chưa được chứng minh. Và giaiđoạn xét xử là giai đoạn cực kì quan trọng trong quá trình tố tụng, ở giai đoạn này nguyên tắc suy đoán vô tội được áp dụng một cách triệt để nhất cho đến khi bản án, quyết định của toà án đưa ra có hiệu lực pháp luật.

Như vậy, pháp luật tố tụng hìnhsự của hầu hết số nước trên thế giới, ở mứcđộkhác nhau đều ghi nhận những nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội, phát huy một cách tối đa nhất mọi biện pháp đểbảo đảmquyền con người trong quátrình tố tụng hình sự của mỗi quốc gia.

Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 1992 đã quy định một số nội dung của suy đoán vô tội, tuy còn chưa đầy đủ nhưng đã đặt nền tảng cho sự phát triển, hoàn thiện vềsuy đoán vô tội sau này. Tại Điều 72 Hiến pháp 1992quy định:“Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật”.

Hiến pháp năm 2013 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ Nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳhọp thứ 6 thông qua ngày 28/11/2013, có hiệu lực từ ngày 1/1/2014 là sự thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta, Nhân dân ta về chế độ

chính trị, kinh tế, văn hoá, phápluật…của đất nước trong thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế. Hiến pháp đã quy định những nội dung có tính nguyên tắc trong xây dựng và áp dụng pháp luật, đặc biệt trong lĩnh vựctốtụng hình sự. Trong sốđó có nội dung mang tính nguyên tắc thì nguyên tắc “suy đoán vô tội” được quyđịnh tại Khoản 1 Điều 31 của Hiến pháp: “Người bị buộc tội được coi là không có tội chođến khi được chứng minh theo trình tựluật định và có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật”.

Trên cơ sởquyđịnh của Hiến pháp năm 2013, Điều 13 BLTTHS năm 2015 (BLTTHS) đã quy định về nguyên tắc suy đoán vô tội với nội dung như sau:“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ

11

và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tốtụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”[21].

Với quyđịnh nêu trên, nguyên tắc suy đoán vô tội được xác định có hai nội dung cơ bản: Thứ nhất, người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi tội của họ được chứng minh theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định và có bản án kết tội của toà án đãcó hiệu lực pháp luật; Thứhai, khi các cơ quan tiến hành tố

tụng, người tiến hành tố tụng không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định thì phải kết luận người bị buộc

tội không có tội.

Từ những phân tích nêu trên, có thể đưa ra khái niệm về nguyên tắc suy đoán vô tội như sau: Suy đoán vô tộilà một trong những nguyên tắc quan trọng được quyđịnh trong BLTTHS, trong đó,người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khiđược các cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh theo trình tự, thủ tục do BLTTHSquy định và có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật, trường hợp không đủ và không thểlàm sángtỏcăn cứđểbuộc tội, kếttội theo trình tự,thủtục do BLTTHS quyđịnh thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hànhtốtụng phảikếtluậnngườibịbuộc tội không có tội.

*Sự tiến bộ và hoàn thiện về mặt lí luận pháp lý qua các văn bản pháp luật của Việt Nam về nguyên tắc suy đoán vô tội.

Trước đây, có những quan điểmcho rằng nội dung quyđịnh tại Điều 9 -Bộluật Tố tụng Hình sự năm 2003 “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Không ai bịcoi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” được xem lànguyên tắc “suy đoán vô tội”. Tuy nhiên,Bộ luật Tố tụngHình sự năm 2003 cũng như những văn bản pháp luật có liên quan không có quy định chính thức về nguyên tắc “suy đoán vô tội”.

Đến Hiến pháp năm 2013 nguyên tắc suy đoán vô tội tiếp tục được quyđịnh tại Khoản 1 – Điều 13 với nội dung “Người bị buộc tội được coi là không có

12

tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.

Để cụ thể hóaquan điểm tiến bộ này, Điều 13 – Bộ luật Tố tụng Hình sự2015 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủtục do Bộluật này quyđịnh thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội”. Có thể nói, lần đầu tiên nguyên tắc suy đoán vô tội được chính thức quyđịnh trong BLTTHS 2015. Đây là một quy định tiến bộ làsự cụ thể hóatinh thần Hiến pháp 2013 về bảođảm quyền được suy đoán vô tội của người bị buộc tội. Nó không chỉ phù hợp với tình hình phát triển kinh tếcủa đất nướcmà còn chứng tỏquyền con ngườingày càng được pháp luật tôn trọng, bảo vệ.

Điều 13 – BLTTHS năm 2015 ghi nhận nguyên tắc “suyđoán vô tội” với những nội dung của quy phạm bao hàm cả nội dung ở nguyên tắc Điều 9 – BLTTHS năm 2003. Bên cạnh đó, Điều 13 BLTTHS năm 2015 đã mở rộng hơn nội hàm so với Điều 9 – BLTTHS 2003, thể hiện được bản chất của nguyên tắc “suy đoán vô tội”, đó là “khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành

tố tụng phải kết luận người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không có tội”.

Song song với những nội hàm của nguyên tắc suy đoán vô tội thì tại Điều 15 của Bộ luật TTHS 2015 cũng quy định về nguyên tắc xác định sự thật của vụ án như sau: “Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Người bịbuộc tộicó quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vôtội”. Thực chất đây cũng thuộc về nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội. Như vậy, đểxác địnhmộtngườiđã thực hiện hành vi phạm tội, trên cơsởđótruy cứu trách nhiệm hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh được người bị buộc tội là người thực hiện hành vi phạm tội nàođóđược quy địnhtrong Bộ luật Hình sự. Nếu không chứng minh được một người đã thực hiện tội phạm thì không thể kết tội

13

người đó.Ngườibịbuộc tội không có nghĩavụchứng minhsựvô tội củamình. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hànhtố

tụng phải áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xácđịnh vô tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người

bị buộc tội….

Do đó, việc ghi nhận nguyên tắc “suy đoán vô tội” trong BLTTHS năm 2015 đặt ra cho các cơ quan tiến hành tố tụng phải cẩn trọng hơn nữa và có trách nhiệm hơn trong hoạt động chứng minh tội phạm. Bên cạnh đó, khi có những vụ án rơi vào trường hợp chứng cứ không đầy đủ, thiếu tính vững chắc thì người tiến hành tố tụng sẽ dễ dàng hơn trong việc đưa ra kết luận về kết quả của vụ án theo nguyên tắc “suy đoán vô tội”, hạn chế tình trạng tạo ra những chứng cứ khống, gây oan sai như đã xảyra trong thời gian qua. Như vậy, nguyên tắc nàyđảmbảo cho sựbìnhđẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội trong việc xácđịnhsự thật khách quancủa vụán.

1.1.2.Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.1.2.1. Khái niệm áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Hiện nay trong khoa học pháp lý Việt Nam chưa có một khái niệm về áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Các khái niệm khoa học pháp lý hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc nghiêncứu vềnguyên tắc suy đoán vô tội, nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc suy đoán vô tội. Do đó, việc tìm hiểu và xây dựng khái niệm trên là rất cần thiết. Một mặt giúp các cơquan tiến hành tốtụng hiểu thếnào là áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, từ đó có câu trả lời tại sao vàsự cần thiết phải áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩmvụán hình sự. Mặt khác, bổsung thêm quan điểmkhoa học vềáp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình

14

sự. Trước hết ta có thểthấy pháp luật là hệthống các quy phạm pháp luật do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận thể hiện ý chí nhà nước, có tính bắt buộc chung, được nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theođường lối của nhà nước. Trong Từ điển tiếng Việt, từ “áp dụng” có thể được hiểu là “Đem dùng trong thực tế điều đã được nhận thức được”[36, tr 9]. Từ cách hiểu về từ “áp dụng” có thể hiểu rằng hoạt động áp dụng pháp luật là đem pháp luật ra dùng trong thực tế. Việc đưara khái niệm vềáp dụng pháp luật được đềcập đến nhiều tác phẩm của các nhà nghiên cứu pháp luật với nhiều nộidung có những điểm khác nhau nhấtđịnh. Trên cơ sở tìm hiểu những quan niệm về áp dụng pháp luật, tác giả hoàn toàn ủnghộ với quan điểm của tác giả Nguyễn Ngọc Hồi khi cho rằng việc áp dụng pháp luật “là một trong các hình thức thực hiện pháp luật vàđó là hình thức thực hiện pháp luật có sự can thiệp của Nhà nước”. Theo đó “Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước, do các cơ quan tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụthểđốivới các cá nhân,tổchức cụ thể”. Căn cứ vào tính chất của các hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã phân chia thực hiện pháp luật thành những hìnhthức cụ thểnhư: Tuân thủpháp luật; thi hành pháp luật; sửdụng pháp luật; áp dụng pháp luật. Áp dụng pháp luật là một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật cơ bản, có tính chất đặc biệt trong đó nhà nước thông qua các cơ quan hoặc người có thẩm quyền cá biệt hoá các quy định của pháp luật vào trong những trường hợp cụ thể của đời sống xã hội. Nội dung của áp dụng pháp luật bao gồm: 1/ Xác định sự kiện pháp lý cần áp dụng pháp luật; 2/ Nhận thức quy định của pháp luật áp dụng; 3/ So sánh sự phù hợp giữa quy định pháp luật áp dụng và sự kiện pháp lý để xác định quy phạm pháp luật cầnáp dụng; 4/ Ra quyết định áp dụng pháp luật.

Áp dụng pháp luật hình sự có tầm quan trọng đặc biệt, vừa có những đặc điểm chung như các dạng áp dụng pháp luật khác, vừa có những đặc điểmriêng của mình. Chủthểáp dụng pháp luật hình sựlà các cơ quan tiến hànhtốtụng, người tiến hành tố tụng hình sự, trong số đó có VKSND.

15

Điều 2 Luật Tổ chức VKSND năm 2014 quy định:“Viện kiểm sát nhân dân làcơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hoàxã hội chủ nghĩa Việt Nam”[22, Điều 2]. THQCT là hoạt động của VKSND trong tố

tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố vàtrong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xửvụán hình sự. Như vậy, THQCT là nhiệm vụ, quyền hạnmà Nhà nước trao cho VKSND và chỉthực hiện trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Đối tượng để VKS thực hiện chức năng THQCT là

tội phạm vàngườiphạm tộivớinộidung VKS đạidiện Nhànướcbuộctộingười phạm tội khi thực hiện hành vi được coi là tội phạm theo quy định của BLHS.

Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự, tiếp theo giai đoạn truy tố, đây là giai đoạn bao gồm hai phần cơ bản chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên toà sơ thẩm. Trong giai đoạn này, VKS mà đại diện là KSV chuẩn bịtấtcảcác điều kiện để buộc tội bị cáo, như nghiên cứu, nắm vững nội dung vụ án, chuẩn bị bản luận tội, công bố cáo trạng, tham gia xét hỏi, luận tội và tranh luận tại phiên tòa. Nhiệm vụtrọng tâm của KSV là bảo đảm việc truy tố, buộc tội của VKS làđúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra oan sai và bỏ lọt tội phạm; bảo đảm HĐXX ra bản án, quyết định phù hợp, thống nhất với quan điểm truy tố, buộc tội củaVKS. Đểcó được kết quảđó, VKS/KSV phải chứng minh bằnghệthống chứng cứvềviệc bịcáo đãthực hiện hành vi phạm tội, tộiphạm do bịcáo thực hiện được quy định trong BLHS.Đồngthời, VKS/KSV phải áp dụng triệt đểnguyên tắc suy đoán vô tộiđểbảo đảmrằng, bịcáo không thuộcmộttrong các trường hợp được loại trừtrách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự.Những chứng cứ VKS dùng để buộc tội bị cáo trước tòa án được thu thập đầy đủ, đúng quyđịnh của pháp luật, được kiểm tra, đánh giá tại phiên tòa, được tranh luận với những người tham gia tốtụng, những chứng cứđóchứng minh bịcáo đã phạm tội theo đúng nội dung cáo trạng truytốvà quanđiểm buộctộicủaVKS trước tòa án. Trường hợp không thể và không đủ căn cứ chứng minh bị cáo đã thực hiện tội phạm

16

thì KSV phải kết luận bị cáo không có tội, rút quyết định truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bị cáo vô tội.

Như vậycó thểđưara khái niệmvềáp dụng nguyên tắc suy đoán vô tộikhi THQCT trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như sau: “Áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động có tính tổ chức, tính quyền lực nhà nước, do VKS/ KSV tiến hành nhằm cá biệt hoá nguyên tắc suy đoán vô tộivào quá trình xétxửsơ thẩm vụán hìnhsựđểbảođảm việc buộc tội đúng quy định của pháp luật”.

1.1.2.2. Đặc điểmáp dụng nguyên tắc suy đoán vô tộikhi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Thứ nhất,áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động có tính tổ chức, quyền lực nhà nước, chỉ do VKS thực hiện.

THQCT trong giai đoạn xét xửsơ thẩmvụán hình sựphản ánh cụthểchức năng buộc tội của Nhà nước đối với người có hành vi nguy hiểm cho xã hội, trước hết là để bảo vệ lợi íchchung của Nhà nước, của tập thể rồi mới đến lợi ích của cánhân. Xét trong mối quan hệ giữa công tố và tư tố thì đây làmột đặc điểm cơ bản đểphân định hai hình thức buộc tội: buộc tội nhân danh Nhà nước (công tố) và buộc tội nhân danh cá nhân (tư tố). Khoa học luật tố tụng hình sự hiện nay thừa nhận ba chức năng tố tụng hìnhsự cơbản là chức năng buộc tội, chức năng bào chữa (gỡ tội) và chức năng xét xử [19, tr 45]. Chức năng tố tụng được coi là một dạng chức năng nhà nước mang tính định hướng, trong đó có sự phân định rõ ràngsự hoạt động của các chủthểkhác nhau khi thực hiện đểđạt được mục đích nhấtđịnh vớinhững quyền hạn và nhiệm vụ khác nhau.

Như vậy, mỗi chức năng tố tụng sẽ tương ứng với một (hoặc một số) chủ thểvới những nhiệm vụ, quyền hạn phù hợp với từng chức năng cụthể. Trong giaiđoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, các chức năng tố tụng cơ bản đó cùng được thực hiện bởi ba nhóm chủ thể đặc thù: chức năng xét xử do toà án thực hiện; chức năng buộc tội do VKS và bịhại thực hiện; chức năng bào chữa do người bịbuộc tội,

17

người bào chữa, người đại diện cho người bị buộc tội thực hiện. Chính vì thế không chỉ có VKS mới thực hiện việc buộc tội người phạm tội tại phiên toà mà việc buộc

tội còn có thể được thực hiện nhân danh cá nhân người bị hại. Hình thức buộc tội nàyđược gọi là tư tố, việc buộc tội không phải vì lợi ích của Nhà nước trước tiên mà độnglực chính là để bảo vệ lợi ích của chính cá nhân người bị hại. Ngày nay, chế địnhtư tố này vẫn được ghi nhận ở một số quốc gia trên thế giới và cả ở Việt Nam và chếđịnh này cho phép người bịthiệt hại do hành vi phạm tội gây ra có quyền trình khiếu kiện và việc buộc tội của riêng mình (độc lập với buộc tội của VKS). Ở Việt Nam, đối với một số tội chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bịhại và người bị hại trình bày lời buộc tội tại phiên tòa. Do đó, tại phiên toà có thể có cảhai chủthểcùng thực hiện việc buộc tội đối vớingười phạm tội nhưng chỉcó việc buộc tội nhân danh nhànước mới được gọi làquyền công tố và việc buộc tội nhân danh Nhà nước phải được thực hiện bởi một chủ thể là cơ quan trong bộ máy Nhà nước được giao thẩm quyền (ở Việt Nam là VKS, ở các quốc gia khác là Viện công tố hoặc VKS).

Tính tổ chức, quyền lực nhànước được thể hiện thông qua việc VKSND đại diện cho Nhà nước tiến hành các hoạt độngtố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự, buộc tội đối với người phạm tội để bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và

lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là sự tiếp nối, kế tục của THQCT trong giai đoạn điều tra, truytốnhưng thểhiện rõ nét và đầyđủhơn bản chất của quyền côngtốlà quyền đại diện Nhà nước đểbuộc tội người phạm tội trước toà và bảo vệsựbuộctộiđó.Mộttrong những nguyên tắcđặc thù của hoạtđộng tố tụng hình sự là nguyên tắc trách nhiệm thực hành quyền công tố, được quyđịnh tại Điều 20 BLTTHS, do VKSND thực hiện nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự, truy tố, buộc tội người thực hiện hành vi phạm tội. Chính vì vậy, THQCT của VKS được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghịkhởi tố cho đến khi có bản án, quyết định của toà án có hiệu lực pháp luật. Mặc dùcùng hướng tới mục đích chung là đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự người

18

phạm tội có căn cứ, đúng pháp luật nhưnghoạt độngTHQCT của VKS ở mỗi giaiđoạn tố tụng là khác nhau. Trong giai đoạn điều tra và truy tố, hoạt động THQCT của VKS là để thu thập, kiểm tra, đánh giá các chứng cứ nhằm điđến kết luận vềviệc có quyết định truy tố người phạm tội ra trước toà án hay không? THQCT của VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là sự tiếp nối của giai đoạn điều tra, truytốnhưng ởthang bậc cao hơn, không chỉlà hoạtđộngáp dụng pháp luật nhằm thực hiện việc buộc tội người phạm tội mà còn là sự bảo vệ quan điểm buộc tội trước toà án[27, tr72]. Tại phiên tòa, hoạt động THQCT được thực hiện bằng các hoạt động công bố cáo trạng, xét hỏi, luận tội và tranh luận. Trong thủ tục luận tội, KSV có thể thay đổi quan điểm buộc tội của VKS bằng việc thay đổi tội danh, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố [32, tr 15-20]. Cũng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, tính tranh tụng, đối kháng giữa bên buộc tội (KSV, Bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại) và bên bào chữa (Bị cáo, người bào chữa) được thể hiện một cách công khai, đầy đủ và trực tiếp nhất tại phiên toà. KSV muốn bảo vệ được quan điểm buộc tội của mình thì phải chứng minh, lập luận một cách công khai, có căn cứ, có sức thuyết phục trước HĐXX, người tham gia tố

tụng về tội danh của bị cáo và đảm bảo uy tín của Nhà nước trong việc bảo vệ lợi ích chung của toàn xã hội và cả lợi ích hợp pháp của bị cáo. Tòa án có trách nhiệm và tạo điều kiện cho các chủthểtranh tụng thực hiện đầyđủquyền, nghĩa vụcủa mình nhằm xác định sựthật của vụán một cách khách quan, toàn diện và đầyđủ

[34]. Trong quá trình buộctộitại phiên tòa, KSVvẫnphải coi trọng, áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội để có sự xử sự đúng mực đối với bị cáo, phát hiện hoặc tiếp nhận những chứng cứ chứng minh sự vô tội (hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự) cho bị cáo, từ đó có kết luận đúng đắn đối với tội của bị cáo cũng như các vấn đề khác liên quan đến trách nhiệm của bị cáo, như vấn đề bồi thường thiệt hại, xử lývật chứng.

Thứ hai, áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động có tính kế thừa hoạt động áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội trong quá trình THQCT trong giai đoạn điều tra, truy tố.

19

Quá trình chứng minh tội phạm, đi tìm sựthật khách quan của vụán không tránh khỏi khó khăn, vướng mắc khi có những trường hợp CQĐT, VKS hoặc Toàán đã áp dụng hết những biện pháp điều tra hợp pháp theo quy định của BLTTHSđểchứng minh nhưng khôngđủhoặc khôngthểthu thậpđượcđầyđủchứng cứchứng minh tội phạm hoặc hành vi phạm tội của người bị buộc tội. Do vậy, căncứđểbuộc tội,kếttộiđãkhôngđượclàm sáng tỏ.Trong trường hợp đó,cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội. Điều đócó nghĩa là cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải sử dụng những chứng cứ theo hướng có lợi (gỡ tội) để áp dụng, dồn về cho người bị buộc tội để họ được hưởngnhững lợi ích đó nhằm gỡ tội, chứng minh sự vô tội của họ [31]. “Không có tội” ở đây được hiểu là người bị buộc tội không phạm tội hoàn toàn hoặc phạm vào tội nhẹ hơn tội đã bị khởi tố, truy tố, xét xử hoặc có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được loại trừ. Trường hợp chưa áp dụng hết những biện pháp điều tra, những biện pháp hợp pháp khác trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì không được coi là trường hợp “không đủvà khôngthểlàm sáng tỏ” đểlàm căn cứkết luận người bịbuộc tội không có tội. Trong suốt quá trình THQCT, kiểm sát điều tra, truytốvà xét xử, KSV phải tôn trọng tuyệt đối nguyên tắc suy đoán vôtội đối với người bị buộc tội. KSV khôngđược quácoi trọng những chứng cứ buộc tội được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố mà phải chú trọng thu thập, đánh giá cả những chứng cứ gỡ tội trong cả quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Đối với những chứng cứ tài liệu mớiđược đưara tại phiên toà, KSV phải xem xét, kiểm tra, đánh giá một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ thông qua thủ tục xét hỏi, tranh luận để kết luận về tính có căn cứ và hợp pháp,từ đó cóthể dùng để buộc tội hoặc gỡ tội cho bị cáo.Một sốchứng cứ, tài liệu mớiđược đưara tại phiên toà có thểsẽlàm thayđổi một phần hoặc toàn bộ nội dung vụ án, có thể chứng minh bị cáo không có tội hoặc phạm vào

tội khác nhẹhơn, do vậy, KSV phải thận trọng khi kiểm tra, đánh giá, kết luận. Trường hợp có đủ căn cứ thì KSV phải thay đổi quan điểm buộc tội, đề nghị HĐXX xét xử bị cáo về tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh VKS đã truy tố hoặc về

20

một khoản khác nhẹ hơn trong cùng Điều luật. Trường hợp không thể kết luận được tại phiên toà thì phải đề nghị hoãn phiên toà để tiếp tục điều tra bổ sung, xem xét, đánh giá, kết luận đối với chứng cứ, tài liệu mới đó [9].

Thứba, áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tộikhi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật, có sự kết hợp chặt chẽ với các nguyên tắc khác

Trong tố tụng hình sự, VKS không chỉ thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn THQCT mà còn kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng để bảo đảm cho việc giải quyết vụán hình sựđược thực hiện theo đúng quyđịnh của pháp luật, không đểxảyra trường hợp oan sai hoặc bỏlọt tội phạm. Do đó,bản thân VKS/ KSV cũng phải chấp hành nghiêm ngặt các quyđịnh của pháp luậttốtụng hình sựtrong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, VKS tuân thủchặt chẽ các quy định của pháp luật tại phiên tòa về thay đổi người tiến hành tố tụng (KSV), về công bố cáo trạng, xét hỏi, rút quyết định truy tố, tranh luận. Trong các hoạt động này, KSV luôn tôn trọng và áp dụng nguyên tắc suy đoánvô tội đối với bịcáo trong sựkết hợp với các nguyên tắc khác được quyđịnh trong BLHS, nhưnguyên tắc bảo đảmpháp chếxã hội chủnghĩa trong tốtụng hình sự, nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc

tội, nguyên tắc trách nhiệm THQCT, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng

hình sự, nguyên tắc trang tụng trong xét xử được bảo đảm…Việc tuân thủ chặt chẽquy định của pháp luật cũng như sự kết hợp chặt chẽ các nguyên tắc khác bảo đảm cho việc KSV thực hiện, áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội một cách hiệu quả, cócăn cứvà đúng pháp luật. Tại phiên tòa, đểbảo đảmbuộc tội, kết tội bịcáo được đúng đắn, khách quan thì KSV cũng như các thành viên HĐXX phải tiến hành việc công bố cáo trạng, xét hỏi, luận tội, tranh luận một cách đầy đủ, đúng trìnhtự thủ

tục theo quy định của BLTTHS. Trường hợp việc xét hỏi phiến diện, khôngđầy đủ, không khách quan hoặc việc tranh luận của KSV không có sựđốiđáp đến cùng từng ý kiến sẽdẫn đến tình trạng phán quyết của Tòa án không đúng đắn vềtội

21

danh, áp dụng hình phạt cũng như các vấn đềkhác có liên quan. Áp dụng triệt đểnguyên tắc suy đoán vô tội tại phiên tòa, KSV phải là người chứng minh việc bị cáo phạm tội bằng việc xét hỏi, kiểm tra, đánh giá chứng cứ đã thu thập được trong quátrình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, tranh luận với bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác để khẳng định việc buộc tội bị cáo là đúng đắn. Trường hợp KSV đã thực hiện hết các hoạt động đó nhưng không đủ hoặc không thể làm sáng tỏcăn cứ buộc tội bị cáo thì KSV phải quyết định thay đổi tội danh, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo không phạm tội.

Thứ tư, áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong giai đoạn xét xửsơ thẩm vụ án hình sự là hoạt động của VKS để bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự.

Với nhiệm vụ, quyền hạn THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp của mình, VKS luôn đặt trên vai trách nhiệm buộc tội đối với người phạm tội đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của họ được Nhà nước bảo vệ. Do vậy, trong hoạt động áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong giai đoạn xétxử sơ thẩm vụán hình sự, VKS một mặtbảo vệquanđiểm truytố,buộc tội của mình đã được khẳng định trong cáo trạng nhưng đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo trong trường hợp xuất hiện nhữngnộidung, tình tiết có lợi cho bị cáo. Khi quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án để xét xử, về căn bản, VKS đã thu thập,đánh giá đầy đủ các chứng cứ buộc tội đối với bị can làm căn cứ để xét xử, buộc tội bị can, bị cáo tại phiên tòa. Nhiệm vụ chủ yếu và quan trọng của KSV tại phiên tòa là bảo vệ được quan điểm truy tố của VKS, tức là bảo vệ được sự buộc tội của VKSđối với bị cáo về tội danh, về hình phạt, về bồi thường thiệt hại cũng như các vấn đềkhác có liên quan đến việc giải quyết đúng đắn vụán hình sự[24]. Tuy nhiên, tại phiên tòa, có thể xuất hiện những quan điểm khác trái với quan điểm của VKS về

tội danh, vềloại và mức hình phạt cũng như các vấn đềkhác liên quan đến trách nhiệm của bị cáo, đồng thời, có thể xuất hiện những chứng cứ mới chứng minh có lợi chobịcáo, như bịcáo bịbức cung, dùng nhục hình,bịcáo có tình tiết ngoại

phạm, bịcáo có những tình tiết giảmnhẹtrách nhiệm hình sựmới…Trong những

22

trường hợp đó, KSV phải áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội để đem lại lợi ích hợp pháp cho bị cáo, như đề nghị hoãn phiên tòa để trả hồ sơ điều tra bổ sung, thay đổi

tội danh sang tội khác nhẹ hơn hoặc sang khoản khác nhẹ hơn trong cùng điều luật, rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố, hoặc đề nghị Tòa án buộc bị cáo bồi thường thiệt hại ở mức độ thấp hơn hoặc trả lại vật chứng cho bị cáo. Những hoạtđộng đó của KSV đúng với bản chất chức năng, nhiệmvụcủa VKS trong tốtụng hình sự là bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan,tổchức, cá nhân, trong đó có quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo.

1.1.2.3 Ý nghĩa áp dụng nguyên tắc suy đoán vôtộikhi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Thứ nhất, áp dụngnguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong giai đoạn xét xửsơ thẩmvụán hìnhsựđịnh hướng cho tư duy, hành động của KSV trong quátrình xét xử tại phiên tòa, không được định kiến, mặc nhiên coi người bị buộc tội làcó tội, từ đó có thái độ vô tư, khách quan, công bằng trong quá trình xét xử vụ án hình sự.

Với nội dung người bịbuộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự thủ tục do BLTTHS quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nên KSV trong quá trình xét xử vụ án hình sự phải có tư duy coi bị cáo là người không có tội, từ đó có thái độ, hành động xét hỏi, luận tội, tranh luận đúng đắn, phù hợp. Khi xét hỏi, tranh luận, đối đáp, phát biểu ý kiến, KSV phải dõng dạc, từ tốn, không được cáu gắt, nóng giận, xúc phạm người khác. KSV phải tôn trọng sự thật khách quan của vụ án, không được định kiến cho rằng bịcáo đúng là người phạm tội đã bị khởi tố, điều tra, truy tố; có thái độ, vô tư, khách quan, công bằng khi đánh giá chứng cứ, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹtrách nhiệm hình sự cho bị cáo. Trường hợp tại phiên tòa, kết quả xét hỏi, tranh luận xác định bị cáo không phạm tội hoặc phạm tội khác nhẹ hơn thì KSV phải tôn trọng sự thật khách quan đó để có quan điểm đúng đắn đối với việc xử lý bị cáo.

23

Thứ hai,áp dụngnguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong giai đoạn xét xửsơ thẩm vụán hình sựràng buộc trách nhiệm chứng minhtộiphạm cho KSV, không bắt buộc bị cáo phải chứng minh cho sự vô tội của mình.

Tại phiên tòa, việc chứng minh bị cáo phạm tội thuộc trách nhiệm của KSV, do vậy, KSV phải vậndụng kinh nghiệm, kỹnăngcủamình trong xét hỏi, tranh luận để kiểm tra, đánh giá, thu thập chứng mới nhằm phục vụ cho việc buộc tội của mình. Bị cáo có thể chối tội, không khai trước tòa hoặc bị cáo và người bào chữa cóthể có quan điểm, ý kiến khác với quan điểm buộc tội của KSV thì KSV phải coi đó là quyền của bị cáo, người bào chữa, không được cho đó là hành vi ngoan cố, chốngđối để làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo. Trong trường hợp đó, KSV phải đưa ra những chứng cứ đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tốkết hợp với những chứng cứđãđượckiểm tra, đánh giátạiphiên tòa, những lập luận lo-gic, có căn cứ xác đáng để buộc tội bị cáo, bác bỏ quan điểm, ý kiến khôngđúng đắn của bị cáo và người bào chữa.

Thứba,áp dụngnguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong giai đoạn xét xửsơ thẩmvụán hìnhsựthểhiện tính nhân đạo, tính công bằng và tính hợp pháp trong tố tụng hình sự

Nguyên tắc suy đoán vô tội yêu cầu KSV phải có những chứng cứ xác đáng chứng minh hành vi phạm tội của bịcáo, những chứng cứđó được thu thập một cách hợppháp và bảođảmsựcông bằng trong đánh giá chứng cứ, trong xét xử, không thiên vị hoặc không định kiến. Trường hợp những chứng cứ chứng minh tội phạm còn có mâu thuẫn mà không thể giải quyết được thì không được dùng để buộc tội bịcáo mà phải suy đoán (giải thích) có lợi cho bịcáo. Khi không thểchứng minh một cách đầyđủ về tội của bị cáothì phải kết luận bị cáo không có tội.Đối với tất cảcácbịcáo trong cùngmộtvụán hoặc trong các vụán khác nhau, việc đánh giá chứng cứ, đánh giá tính chất mức độnguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đểáp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội luôn công bằng, không thiên vị, không phân biệt quốc tịch, tôn giáo, giới tính, địa vịxã hội cũng như các yếu tốkhác của bị cáo.

24

Thứ tư,áp dụngnguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sựlà công cụ pháp lý để bảo đảm cho quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo không bị xâm hại, không để xảy ra oan sai và bỏ lọt tội phạm, từđóbảođảmquyền con người, quyền công dân theo quyđịnhcủaHiến pháp vàpháp luật.

Áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sựlà một bảo đảm pháp lý quan trọng, là lá chắn vững chắc nhất đểbảo vệquyền con người, quyền công dân trong tốtụng hìnhsựnhằm phòng ngừa, ngăn chặn những vi phạm từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, như việc bắt, giữ, giam, kết án trái pháp luật. Nó đòi hỏi KSV, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án nhận thức rõ tầmquan trọng của việc áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội đểtừđó ýthức được trách nhiệm củamình, trước hết phải tôn trọng sựthật khách quan của vụán, sau đó tuân thủchặt chẽkhông chỉnguyên tắc suy đoán vô tội mà cả những nguyên tắc khác nhằm bảo đảm xử lý đúng người, đúng tội, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm. Bị cáo, người bào chữa sửdụng nguyên tắc suy đoán vô tội như một công cụpháp lý đểbảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, đấu tranh với sự buộc tội, kết tội oan sai hoặc không phù hợp với quy định của pháp luật.

1.2. Quy định của pháp luật về áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

BLTTHS không có điều khoản nào quy định về áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong giaiđoạnxét xửsơ thẩmvụán hìnhsựmà chỉquyđịnh nguyên tắc suy đoán vô tội tại Điều 13 BLTTHS, những nguyên tắc khi tiến hành tố

tụng hình sựcũng như nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan tiến hành tốtụng, người tiến hành tốtụng, quyền và nghĩa vụcủa người tham gia tốtụng cũng như những nội dung khác trong tố tụng hình sự. Những quy định cụ thể về VKS và KSV trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự tập trung tại các Điều 41, 42, 266, 267, 306, 307, 319, 321, 322 BLTTHS. Từnhững quyđịnh của BLTTHS, quychếTHQCT, kiểm sát xét xửvụán hình sự, những văn bản khác của ngành Kiểm sát

25

nhân dân, có thểxác định quyđịnh của pháp luật (cũng là nội dung) vềáp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự như sau:

1.2.1. Áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội trong thể hiện hành vi, thái độđối với bị cáo

Theo quy định của BLTTHS thì bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố vềhình sự, bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Theo nguyên tắc suy đoán vô tội thì trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị can, bị cáo là người được coi là không có tội vì tội của họ chưa được chứng minh đầy đủ theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định và chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Do vậy, trong lý luận cũng như thực tiễn THQCT, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử, KSV luôn coi bị can, bị cáo là người không cótội để từ đócó quan điểm buộc tội, gỡ tội một cách khách quan cũng như thái độ cư xử một cáchđúng đắn. KSV khi THQCT, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử luôn chấp hành đúng quy định của ngành Kiểm sát như: Quy chế Công tác THQCT, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (Ban hành kèm theo Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày 17/04/2020 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao); QuychếCông tác THQCT, kiểm sát xét xử vụ án hìnhsự(Ban hành kèm theo Quyết định số 505/QĐ- VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao); Chỉ thị

số 04/CT-VKSTC ngày 7/10/2015 của Viện trưởng VKSNDTC về Tăng cường các biện pháp phòng, chống oan, sai và nâng cao trách nhiệm trong giải quyết bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự; Chỉ thị số 09/CT-VKSTC, ngày 06/4/2016 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao về“Tăng cường các biện pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của KSV tại phiên tòa”; Quyết định số46/QĐ-VKSTC ngày 20/02/2017 củaViện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, ban hành “Quy tắc ứng xử của KSV khi THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp tại phiên tòa, phiênhọpcủa Tòa án”;Chỉthịsố05/CT-VKSTC ngày 15/05/2018 của Viện trưởng VKSNDTC “Về tăng cường trách nhiệm của Viện Kiểm sát nhân dân trong việc bắt, tạm giữ, tạm giam và thi hành án hình sự”; Chỉ thị số 05/2020 ngày

26

27/4/2020 của Viện trưởng VKSNDTC“Vềtăng cường trách nhiệm công tố trong giải quyết vụ án hình sự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm”và một số văn bản khác. Trong giai đoạn xét xử vụ án hình, mọi cử chỉ, hành động, lời nói, tư thế, tác phong, thái độ của KSV luôn chuẩn mực theo những nguyên tắc quy định trong BLTTHS và quyđịnhcủangành Kiểm sát,thểhiện hình ảnh ngườiKSV “Công minh, Chính trực, Khánh quan, Thận trọng, Khiêm tốn”.KSV luôn có tháiđộ tôn trọng đối với bị can (trong giai đoạn chuẩn bị xét xử), bị cáo (trong giaiđoạn xét xử tại phiên tòa), không có hành động, lời nói chỉ trích, miệt thị, coi thường, xúc phạm danh dự, nhân phẩm bị can, bị cáo, người bào chữa, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của bị can, bị cáo cả trong trường hợp bị can, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội của mình hoặc phản đối quan điểm buộc tội của KSV. Khi tiến hành các hoạt động tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử với bị can hoặc đối với bị cáo tại phiên tòa, cách xưng hô đối với bị can, bị cáo là cá nhân, KSV sử dụng từ “Bị can, Bị cáo” hoặc cùng với tên hoặc họ tên của bị can, bị cáo. Trường hợp bị can, bị cáo là pháp nhân thương mại phạm tội, KSV sử dụng từ “Bị can, Bị cáo” hoặc cùng với tên đầy đủ của phápnhân đó. Khi THQCT, kiểm sát việc bắt bị can, bị cáo để tạm giam của Tòa án, KSV luôn kiểm sát chặt chẽ hoạt động của ĐTV, cán bộ nhà tạm giữ, tạm giam để bảo đảm ĐTV, Cán bộ nhà tạm giữ, tạm giam không có hành vi bức cung, dùng nhục hình, làm sai lệch hồsơ vụán hoặc có lời lẽ, hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của bị can, bị cáo. KSV bảo đảm cho bị can, bị cáođược thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quyđịnh của BLTTHS, như bảo đảm quyền của người bị buộc tội theo quy định tại các Điều 58, 59, 60, 61 BLTTHS. Khi THQCT và kiểm sát xét xử tại phiên tòa, KSV luôn tuân thủ triệt để những quyđịnh của BLTTHS, của ngành Kiểm sát trong Quy tắc ứng xử của KSV tại phiên tòa, phiên họpcủa Tòa án. Khi xét hỏi bịcáo, KSV luôngiữthái độbình tĩnh, không nóng nảy đối với bị cáo, không có thái độ, lời lẽ xúc phạm bị cáo. Khi tranh luận, đối đápvớibịcáo hoặc ngườibào chữa, KSV luôn bình tĩnh, khách quan và tôn trọng ýkiến bào chữa của bịcáo,ngườibào chữa, nhữngngườitham giatốtụng,

27

ghi nhận ý kiến đúng đắn của họ nhưng cũng cương quyết bác bỏ những ý kiến,đềnghị không có căn cứ pháp luật, trái với đạo đức xã hội.

1.2.2. Áp dụng nguyên tắcsuy đoán vôtộitrong việc thực hiện triệtđểnhững quy định của pháp luật đểchứng minh tội phạm, buộc tội đối với bị can, bịcáo

Theo quyđịnh tại Điều 13 BLTTHS vềnguyên tắc suy đoán vô tội thì “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ

tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật”[21,Điều13]. Với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của được pháp luật quy định, VKSND THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp trong lĩnh vực hìnhsự nhằm đảm bảo mọi tội phạm phải được phát hiện và xử lý kịp thời. Khi THQCT, kiểm sát việc xét xử, VKS/ KSV thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn buộc tội của VKSđối với người phạm tội, do vậy, KSV phải có trách nhiệm chứng minh tội phạm, chứng minh việc phạm tội của bị can, bị cáo.

Thực tiễn THQCT, kiểm sát xét xử vụ án cho thấy, nhiệm vụ quan trọng vàtrọng tâm nhất của KSV là buộc tội bị can, bị cáo, tức là chứng minh sự có tội của bị can, bị cáo. Đây cũng là trách nhiệm thực hiện nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội nêu trên,đó cũng là là trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc vềcác cơquan tiến hành tốtụng, người tiến hành tốtụng. Do vậy, trong giai đoạn xét xử, KSV luôn thực hiện những hoạt động tốtụng như công bốcáo trạng, quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên toà, xét hỏi, luận tội, tranh luậnđểrõ những nội dung cần chứng minh tộiphạm được quy định tại Điều 85 BLTTHS. Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quyết định truytốbịcan phải có căn cứvà hợp pháp, tức là phải có đầyđủchứng cứchứng minh có sự việc phạm tội, bị can có hành vi phạm tội, việc điều tra chấp hành đúng các quyđịnh củaBLTTHS. Việc buộc tội bịcáo tại phiên tòa phải bảo đảm đầy đủ chứng cứ chứng minh tội phạm, hành vi phạm tội đã được làm rõ, kiểm tra trong quá trình điều tra, truy tố và kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Tại phiên tòa, KSV áp dụng triệtđểnhững quyđịnh của pháp luật vềnhiệm vụ, quyền hạn

28

của VKS, KSV như xét hỏi, luận tội, tranh luận để bảo vệ quan điểm truy tố, buộc tội của VKS. Khi xét hỏi, KSV chú trọng hỏi bị cáo về những chứng cứ, tài liệu,đồ

vật liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội và những tình tiết khác của vụ án (khoản 2 Điều 309 BLTTHS) như: Thời gian, địa điểmphạm tội, hành vi phạm tội cụthể,động cơ, mục đích, lỗicủa tội phạm; nguyên nhân dẫn đến việc bịcáo phạm tội; thiệt hạivà việc khắc phục thiệt hại, vậtchứng đã thu giữ, đã xửlý; công cụ,

phương tiện đã sử dụng; người đồng phạm, vai trò của đồng phạm; nhân thân bị cáo, nhận thức của bị cáo về hành vi phạm tội…; những vấn đề mà HĐXX chưa hỏi hoặc đã hỏi mà bị cáo trả lời chưa rõ ràng hoặc còn có mâu thuẫn thì KSV tập trung hỏi để làm rõ. Khi luận tội, tranh luận, KSV tập trung phân tích, đánh giá đúng tính chất, mức độnguy hiểm cho xã hội củahành vi phạm tội, phương thức, thủđoạn thực hiện tội phạm, xem xét mức độ lỗi, động cơ, mục đích phạm tội, mức độ hậu quả tác

hại do tội phạm gây ra. KSV phân tích những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo (chỉ được coi là tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015), những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo (áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 BLHS); xác định nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội; nhân thân, vai trò của bị cáo (của từng bị cáo trong vụ ánđồngphạm). Sau khi xét hỏi, phân tích, đánh giá, xác định vai trò, vị trí

của bị cáo thì kết luận bị cáo đã phạm tội gì (hoặc các tội gì), tội đó (hoặc các tội đó) được quy định tại điều,khoản, điểm nào của BLHS. Đối với bị cáo không nhận tội, chối tội hoặc không khai trước tòa, hoặclờikhai có mâu thuẫn với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố thì KSV đề nghị HĐXX công bố lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố để đấu tranh, làm rõ bị cáo có hay không có hành vi phạm

tội. Đồng thời, trong luận tộiKSV viện dẫn những chứngcứđểbuộc tội, như lời khai của bị cáo khác,của bị hại,người làm chứng, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản v.v…

Khi tranh luận, đối đáp, KSV căn cứ vào lý luận của cấu thành từng tội phạm cụthể, lý luậnvềchứng cứđểlậpluậnmộtcách lôgic từng vấn đề, đốiđápđến cùng với từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng khác. KSV

29

viện dẫn các chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án đã được thu thập trong quá trìnhđiều tra, truy tố và đã được kiểm tra, đánh giá tại phiên tòa, các quy định của BLHS, BLTTHS, các văn bản dưới luật, các quy định chuyên ngành, các quy tắc trong cuộc sống đểtranh luận, đối đáp, lậpluận chặt chẽđểbảo vệquanđiểmbuộc tội của VKS, đồngthời kiên quyết bácbỏýkiến sai trái hoặc không có căn cứ, trái pháp luật của người tham gia tranh luận.

1.2.3. Áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội trong kết luận về tội phạm đối với bị cáo

Thực tiễn áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự cho thấy, nhiệm vụ quan trọng và trọng tâm nhất của KSV là buộc tội bị can, bị cáo, tức là chứng minh sự có tội của bị can, bị cáo, kết luận về tội của bịcan, bịcáo. Tuy nhiên, nhiệmvụgỡtội cho bịcan, bịcáo cũng luôn được KSV coi trọng để đảm bảo khôngđể xảyra oan sai,bỏlọt tội phạm trong tố tụng hình sự. Do vậy, ngay trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, KSV vẫn luôn nghiên cứu kỹhồ sơ vụ án để tiếp tục phát hiện những vi phạm của CQĐT, ĐTV trong giai đoạnđiều tra, truy tố, tiếp tục phát hiện những chứng cứ, tình tiết loại trừtrách nhiệm hình sự cho bị bị can (nếu có); tiếp tục thu thập các chứng cứ, tài liệu mới (nếu có) chứng minh bị cáo không phạm tội hoặc phạm tội khác, khoản khác nhẹ hơn. Việc

buộc tội bị cáo tại phiên tòa phải bảo đảm có đầy đủ chứng cứ chứng minh tội phạm, hành vi phạm tội đã được thu thập trong quá trình điều tra, truy tố và kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Tại phiên tòa, KSV áp dụng triệt đểnhững quyđịnh của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của VKS, KSV như xét hỏi, luận tội, tranh luận để bảo vệ quan điểm truy tố, buộc tội của VKS. Đối với bị cáo không nhận tội, KSV hỏi rõ lý do và tiếp tục xét hỏi đểxác định căn cứ, lý do bịcáo không nhận tội. Trường hợp qua xét hỏi thấy có căn cứ xác định bị cáo không phạm tội thì KSV rút quyết định truy tố, đềnghị HĐXX tuyênbịcáo không phạm tội theo quyđịnhtạiĐiều 320 BLTTHS. Trường hợp thấy bị cáo không phạm vào tội VKS đã truy tố màphạm tội khác nhẹ hơn hoặc thuộc khoản khác nhẹ hơn thì KSV thay đổi quan điểm truy tố, buộc tội của VKS sang tội danh hoặc khoản khác nhẹ hơn. KSV có thể rút

30

bớt tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tăng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc giảm bớt trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị cáo. Trường hợp cóđủ căn cứ để kết luận về một tội danh khác nặng hơn thì KSVkhông được đề nghịxét xửtheo tội danh nặng hơn mà đềnghị HĐXX hoãn phiên tòa, trảhồsơ vụán cho VKS đểxem xét, quyết định, bảo đảm tính khách quan và đúng đắn củaviệc giải quyết vụ án.

Khi tranh luận, KSV đối đáp đến cùng với từng ý kiến của bị cáo, người bào chữa hoặc của người tham gia tốtụng khác khi họkhông đồng ý với quan điểm buộc tội của VKS/ KSV để bảo vệ quan điểm buộc tội của VKS đồng thời bác bỏ ý kiến sai trái hoặc không đúng của người tham gia tranh luận.

Tuy nhiên, nếu quá trình tranh luận phát hiện những tình tiết mới, những lập luận có căn cứ có thể làm thay đổi nội dung vụ án hoặc thay đổi quan điểm, đường lối xử lý vụ ánmà không thể làm rõ, kết luận được khi tranh luận thì KSV đề nghịHĐXX trở lại phần xét hỏi và có thể đề nghị hoãn phiên tòa để tiến hành xác minh, điều tra bổ sung, đó là thực hiện đúng nguyên tắc suy đoán vô tội, thể hiện sự gỡ tội cho bị cáo. Kết luận về tội của bị cáo của KSV khi THQCT trong giai đoạn xétxửsơ thẩmvụán hình sựphải luôn khách quan, đúng đắn, làm cơ sởvững chắc cho HĐXX ra phán quyết đúng đắn để giải quyết vụ án hình sự, bảo đảm thực hiện tốt nguyên tắc suy đoán vô tội. Trên cơ sở kết luận đúng đắn đó, VKS/ KSV bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, đặc biệt của bị cáo, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tố tụng hình sự.

31

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Áp dụng nguyêntắcsuy đoán vô tội trong THQCT xét xử vụ án hình sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong tố tụng hình sự, nó bảo đảm cho việc điều tra, truy

tố, buộc tội của VKS trong toàn bộquá trình giải quyết vụán có căn cứvà đúng pháp luật;bảođảm cho việc nhanh chóng phát hiệntộiphạm, kịpthời điềutra, làm sáng tỏ tội phạm và người phạm tội, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội không bị xâm hại, không để xảyra tình trạng khởi tố, điều tra oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm. Trong giai đoạn xét xử, trên cơ sởxét hỏi, tranh luận công khai, dân chủ, công bằng, khách quan, nội dung vụ ánđược sángtỏ, bị cáo, người bào chữa được đưara chứng cứ, tài liệu đồvật, công khai, dân chủđưara quanđiểmbào chữa,gỡtộicủa mình, tranh luận bình đẳng với KSV và nhữngngười

tham gia tố tụng khác. Bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bị hại được tham gia vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đã bị tội phạm xâm hại. KSV luôn coi trọng nguyên tắc suy đoán vôtội để nhận định, đánh giá sự việc, đưa ra kết luận của mình một cách khách quan, toàndiện và đầy đủ vềviệc bị cáo có tội hay không có tội. Kết quả tranh tụng giúp cho HĐXXđưara được phán quyết đúng đắn của mình, hạn chế và tiến tới loại trừ việc xét xử oan, sai đối

với bịcáo. Thực hiện tốt việc áp dụng nguyên tắcsuy đoán vôtộigóp phần thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của ngành Kiểm sát, qua đó giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổchức, cá nhân, đặc biệt là của bịcan,bịcáo, bảo đảm thực hiện tốt nguyên tắc suy đoán vô tộitrong tốtụng hình sự.Tại chương 1, học viên đã tập trung nghiên cứu, làm rõ các nội dung quan trọng như khái niệm suy đoán vô tội,

nội dung của suy đoán vô tội theo quy định của BLTTHS; kháiniệm, đặc điểm, ýnghĩa, quyđịnh của pháp luật (nội dung) áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Những nội dung trên là căn cứ, cơ sởđểhọc viên tiếp tục nghiên cứu thực tiễn áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi THQCT trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.

32

Chương 2:

THỰC TIỄN ÁP DỤNG NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN VÔ TỘI KHI THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM

VỤ ÁN HÌNH SỰ

2.1. Tình hình thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Năm 2018: VKS các cấp truytốra trước tòa án đểxét xửtheo thủtục sơ thẩm 66.994 vụ/114.649 bị cáo, toà án đã xét xử 61.669 vụ/103.574 bị cáo.[37]

Năm 2019: VKS các cấp truytốra trước tòa án đểxét xửtheo thủtục sơ thẩm: 67.497 vụ/115.755 bị cáo, toà án đã xét xử: 61.850 vụ/103.185 bị cáo.[38]

Năm 2020: VKS các cấp truytốra trước tòa án đểxét xửtheo thủtục sơ thẩm 72.263 vụ/ 129.147 bị cáo, toà án đã xét xử: 59.343 vụ/102.618 bị cáo.[39]

Năm 2021: VKS các cấp truytốra trước tòa án đểxét xửtheo thủtục sơ thẩm: 81.596 vụ/ 149.170 bị cáo, toà án đã xét xử: 65.696 vụ/113.276 bị cáo.[40]

Năm 2022: VKS các cấp truytốra trước tòa án đểxét xửtheo thủtục sơ thẩm 83.464 vụ/160.537 bị cáo, toà án đã xét xử: 68.896 vụ/128.851 bị cáo[41].

Bảng số liệu: Tình hình thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử

sơ thẩm vụ án hình sự từ năm 2018 đến năm 2022.

NămThụ lý xét xửĐã xét xửGhi chú
Số vụSố bị canSố vụSố bị cáo
201866.994114.64961.669103.574
201967.497115.75561.850103.185
202072.263129.14759.343102.618
202181.596149.17065.696113.276
202283.464160.53768.896128.851
Tổng số371.814669.258317.454551.504

(Nguồn: Cục thống kê tội phạm – VKSND tối cao)

Đểbảo đảmviệc truy tố, xét xửđúng tội, đúng quyđịnh của pháp luật, không làm oan người vô tội và bỏlọt tội phạm, VKS đồng thời thực hiện cảhai

33

nhiệm vụ, quyền hạn THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp ngay từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Hoạt động này bảo đảm cho việc THQCT của KSV tại giai đoạn xétxửđược hiệu quả, khắc phục tình trạng buộc tội oan sai tại phiên tòa. Trong những năm qua, VKSND các cấp đã thực hành quyền công tố, kiểm sát 100% vụ án hình sự ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, bảo đảm việc xử lý tội phạm được nhanh chóng, kịp thời và chính xác. Ví dụ: Trong năm 2022, VKSND các cấp đã thực hành quyền công tố, kiểm sát 100% vụ án hình sự ngay từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm. Thông qua thực hiện chức năng này, VKS đã yêu cầu CQĐT hủy bỏ 48 quyết định khởi tố vụán (năm 2021 là 66), ban hành 1.042 kiến nghị yêu cầu CQĐT, cơ quan tổ chức liên quan khắc phục, phòng ngừa vi phạm (năm 2021 là 980). Sốkiến nghịđược chấp nhận vượt 18,5% so với yêu cầu của Quốc hội.Trong công tác THQCT, kiểm sátđiều tra, truy tố, toàn ngành kiểm sát đã tăng cường các hoạt động công tố, kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn. KSV đã trực tiếp kiểm sát chặt chẽ 72.694 hoạt động điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ của CQĐT theo quy định của BLTTHS, đạt tỷ lệ 99,9%; ban hành gần 89.000 yêu cầu điều tra vụ án, tăng 17%, chiếm tỷ lệ 85%số vụ ánmới khởi tố; tham gia và trực tiếp hỏi cung bịcan gần 45.000 vụán; trực tiếp tiến hành một sốhoạt động điều tra hơn

24.000 vụ án… Thông qua đó, VKS đã kịp thời phát hiện, yêu cầu CQĐT thay đổi, bổ sung và khởi tố 594 vụ án, bị can; trực tiếp quyết định hủy bỏ 18 quyết định tạmđình chỉ, đình chỉ vụ án, bị can và quyết định khởi tố 07 bị can để yêu cầu điều tra. Kết quả số người bị bắt, tạm giữ, chuyển xử lý hình sự đạt tỷ lệ 98%, tăng 0,6%; tỷ

lệ trả hồ sơ để điều tra bổ sung tiếp tục giảm; tỷ lệ truy tố đúng tội danh vượt 4,9% so với chỉ tiêu của Quốc hội.

Hồ sơ vụ án kèm theo bản cáo trạng (hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn) VKS chuyển sang Tòa án cơ bản đáp ứng yêu cầu đểxét xử, tuy nhiên, vẫn còn một số trường hợp cần phải điều tra bổ sung, tiếp tục thu thập chứng cứ, được thể hiện trong số liệu về tình hình toà án sơ thẩm trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung trong giai đoạn xét xử như sau:

34

Năm 2018: Toà án cấp sơ thẩm trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung trong giai

đoạn xét xử được VKS chấp nhận 1.338 vụ;[37]

Năm 2019: Toà án cấp sơ thẩm trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung trong giai

đoạn xét xử được VKS chấp nhận: 769 vụ; [38]

Năm 2020: Toà án cấp sơ thẩm trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung trong giai

đoạn xét xử được VKS chấp nhận: 852 vụ; [39]

Năm 2021: Toà án cấp sơ thẩm trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung trong giai

đoạn xét xử được VKS chấp nhận: 1.198 vụ [40]

Năm 2022: Toà án cấp sơ thẩm trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung trong giai

đoạn xét xử được VKS chấp nhận 1.324 vụ. [41]

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\Áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự

Áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *