Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là giá trị mang tính phổ biến chung của nhân loại, là kết quả của quá trình đấu tranh, phát triển lâu dài của tất cả các dân tộc, nhân dân trên toàn thế giới. Được thúc đẩytừnăm 1945 kể từkhi thành lập Liên Hợp Quốc, quyền con người thu hút sự quan tâm rộng rãi của dư luận vàcó sựtác động mạnh mẽ tới các quan hệ chính trị, pháp lý, xã hội ở tất cả các cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế. Nó không chỉ là nhận thức, là quan điểm mà hữu hình bằng các quy phạm pháplý đượccác quốc gia thừa nhận chung, phản ánh quy luật và hướng tất yếu của xã hội loài người cũng nhưsựhình thành các cơ chế bảo đảm để quyền con người được thực thi trên thực tế.
Tại Việt Nam, việc bảo vệ và thúcđẩyquyền con người làmụctiêu nhất quán của Đảng và Nhà nước ta từ trước đến nay. Việt Nam luôn tích cực tham gia các Điều ước và hoạt động về quyền con người của Liên Hợp Quốc. Chỉ thị 12/TW của Ban Bí Thư, ngày 12/7/1992 khẳng định: “Quyền con người là thành quả của cuộc đấu tranh lâu dài qua các thời đại của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới và cũng là cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên, quađó quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại”.
Do đó chúng ta cần phải bảo vệ thành quả này trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực TTHS. Việc bảo vệ quyền con người trong TTHS có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì trong lĩnh vực này, quyền con người dễ bị xâm phạm, dễ bị tổn thương và có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng về vật chất, thể chất lẫn tinh thần. Trong các chủ thể củahoạtđộngTTHS thì Tòa ángiữvai trò quan trọng.Đảng đã khẳng định khâu trọng tâm của chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020 là cải cáchhệ thống TAND: “Trung tâm là xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạtđộng của TAND”và „„xét xửlà trọng tâm” (Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính Trị). Báo cáo chính trị tạiĐạihội Đảnglần thứX (tháng 4/2006) cũng đã chỉ rõ sựcần thiết phải xây dựng cơ chế tài phán đối với những vi phạm nhằm tăng cường hiệu quả bảo vệ quyền con người bằng nhánh quyền Tư pháp. Đại Hội Đảng lần thứXI (tháng 01/2011) cũng đã khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước, việc thực hiện các quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Quan điểm này của Đảng là hoàn toàn đúng đắn vì trong bất kỳmột Nhà nước pháp quyền nào quyền tư pháp (mà đại diện là Tòaán) phải được coi là trung tâm và là hệ thống cấu thành quan trọng của bộ máy quyền lực Nhà nước để bảo vệ. Thực tiễn cho thấy, hàng năm Tòa án đã xét xử hàng chục nghìnvụ ántrong đó có nhiều vụ án lớn (Rusalka Khánh Hòa, Năm Cam, LãThị Kim Oanh, PMU 18, Thiên Lợi Hòa, Phương Ninh Hột, VinaShin…). Cácvụ ánđó được xét xửnghiêm minh, công bằng, đúng người, đúng tội, tạo cho nhân dân niềm tin vàohệthống pháp luật. Tuy nhiên, bên cạnhđóvẫn tồn tại một sốhạnchế,đặc biệt là tình trạng xét xử oan (vụ ánVườnĐiều ở Bình Thuận, vụ Nguyễn Minh Hùng hai lần bị tuyên án tử hình, vụ án con trâu ở Yên Bái…). Qua các vụ án oan, một đặc điểm chung rất dễ nhận thấy là luôn có những vi phạmtố tụng nghiêm trọng trong quá trình tiến hành tố tụng, kết luận vụ án luôn là kết quả của sự truy xét qua áp đặt chủ quan của người tiến hành tố tụng, có dấu hiệu mớm cung, bức cung trong quá trình điều tra (song hầunhư không chứng minh được hoặc không được Hội đồng xét xửxem xét). Hậu quả để lại của những vụ án đó, theo tác giả là không bao giờ khắc phục được. Tuy rằng Nghị quyết 388 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường oan sai trong hoạt động TTHS và Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (2009) đã phần nào khắc phục được những sai lầm do những người tiến hành tố tụng gây ra nhưng nó không giải quyết được mọi chuyện. Thực tế số người bị làm oan, bị làm sai trong quá trình TTHS được bồi thường theo Luật cũng chưađáng là bao. Và việc bồi thường đó, không bao giờ tương xứng với những gì mànhững người bị oan, bị sai đã phải gánh chịu. Do đó, tác giả nghĩ rằng, để tránh oan sai trong TTHS, Tòa án cần phải có hoạt động xét xửđúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Có như vậy thì quyền con ngườimới được đảm bảo.
Xét xửvụán hình sự là chức năng quan trọng nhất của Tòa án, là giai đoạn quyết định của toàn bộquá trình TTHS. Trong giai đoạn này, Tòa án áp dụng các biện pháp cần thiết doluật địnhđể kiểm tra lại tính hợp pháp và có căn cứ của toàn bộ các quyết định mà CQĐT và VKS đã thông qua trước khi chuyển vụ án sang Tòaán, nhằm loạitrừcác hậu quả tiêu cực do sơ suất, sai lầm…Đồngthời trên cơ sở kết quả tranh luận công khai và dân chủ tại phiên tòa để ra bản án, quyết định một cách công minh và đúng pháp luật, có căn cứvà đảmbảo sức thuyết phục. Giai đoạn nàyđược bắt đầu từkhi Tòa án nhận được hồ sơ vụ án hình sự và kết thúc bằng một bảnán (quyết định). Đâylà giai đoạn TTHS trung tâm và quan trọng để tăng cường pháp chế,bảovệ các quyền vàtựdocủacông dân, góp phần có hiệu quả vào cuộcđấu tranh phòng và chống tội phạm.
Với những lí do trên, tác giả đã chọn đềtài“Bảo đảmquyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự”làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, với mục đích góp phần nhỏ trong nghiên cứu khoa học về bảo đảmquyền con người trong TTHS trước yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích, nhiệm vụ của Luận văn 3.1. Mục đích
Trên cơ sở phân tích các quyđịnh liên quan đến bảo đảmquyền con người trong hoạt động xét xử của pháp luật Việt Nam, liên hệ với thực tiễn và so sánh với pháp luật quốc tế, tác giả làm sáng tỏ những bất cập, hạn chế để đưa ra những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật TTHS. Đồng thời, quađây, tác giả muốn nhấn mạnh vai trò của Tòa án trong việc bảo đảmquyền con người để chúng ta có cái nhìn đúng đắn hơn về vai trò, vị trí của cơ quan này.
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện đượcmục đích nói trên, tác giả đã đưara và giải quyết các nhiệm vụ sau:
– Nghiên cứu ý nghĩa của việc đảmbảo quyền con người trong TTHS (đặc biệt là trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự)
– Phân tích các quyđịnh pháp luật TTHS Việt Nam liên quan đến bảo đảm quyền con người, so sánh với các tiêu chuẩn quốc tế có liên quan.
– Nghiên cứu thực tiễn xét xử Tòa án: đánh giá hiệu quả cũng như làm sáng tỏ những hạn chế trong việc bảo đảm quyền con người.
– Đưa ra những kiến nghị, giải pháp hoàn thiện các quyđịnh của pháp luật TTHS và nâng cao hiệu quả hoạt động TTHS liên quan đến việc bảovệ quyền tựdo dân chủ của công dân.
4. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
-Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác –LêNin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhànước và pháp luật, về Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về quyền con người và bảo đảm quyền con người.
– Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng là phân tích, tổng hợp,
lịch sử, so sánh, hệ thống, thống kê…
Luận văn cũng khai thác thông tin tư liệu của các công trình nghiên cứu đãcông bố để chứng minh cho các luận điểm.
5. Những nét mới của Luận văn
– Phân tích một cách cụ thể các quyđịnh cơ bản về quyền con người được chuyển tải trong Hiến pháp và BLTTHS. Từđó tạo ra được cái nhìn thân thiện vàgần gũi hơn đối với những nhân quyền cơ bản.
– Làm rõ được vai trò của Tòa án trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự.
– Có sự đánh giá, so sánh vai trò bảo đảm quyền con người của Tòa án được quy định trong pháp luật Việt Nam và Luật nhân quyền quốc tế.
– Góp phần làm rõ thực trạng bảođảmquyền con người ở Việt Nam hiện nay, tính tương thích của pháp luật hình sự Việt Nam và Luật nhân quyền quốc tế.
– Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, phân tích, đánh giá, luận văn cũng đưa ra những giải pháp, kiến nghị để Tòa án thực hiện tốt vai trò bảo đảm quyền con người.
6. Ý nghĩa của việc nghiên cứu
Tác giả hy vọng việc nghiên cứu thành côngĐề tài sẽ đóng góp một phần khiêm tốn trong việc giải quyết về mặt khoa học một trong những nội dung cấp thiết hiện nay ở nước ta là“Tòa ánvớivấnđề bảo vệ quyềncon người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự”.
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo trong hoạt độnglậppháp TTHS, trong thực tiễn điều tra truy tố, xét xử cũng như trong nghiên cứu về TTHS.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn kết cấu gồm 3 chương như sau:
– Chương 1: Một số vấn đề về bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự
– Chương 2: Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xétxửvụ án hìnhsựtheo Pháp luật Việt Nam và Luật nhân quyền quốc tế
– Chương 3: Một số tồn tại và kiến nghị bảo đảm quyền con người trong giaiđoạn xét xử ở Việt Nam hiện nay.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 . Yêu cầu bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự
Quyền con người là một nộidunglớncủathế giới ngày nay.Đâylà giá trịcao quý, kết tinh từnền văn hóa của tất cả các dân tộc trên thế giới; là tiếng nói chung, sản phẩm chung, mục tiêu chung, phương tiện chung của mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới để bảo vệ và thúc đẩy nhân phẩm và hạnh phúc của mọi con người. Nó không còn là nhận thức, là quan điểm mà hữu hình bằng các quy phạm pháp lýđược các quốc gia thừa nhận chung, phản ánh quy luật và hướng đi tất yếu của xãhội loài người cũng nhưsựhình thành các cơ chế bảođảmđể quyền con ngườiđược thực thi trên thực tế [22]
Là thành viên của các Công ước Quốc Tế về quyền con người, Nhà nước Việt Nam luôn nỗ lực thực hiện các cam kết của mìnhđồngthờichủ độnghợp tác với các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong nhiều hoạt động trên lĩnh vực quyền con người. Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ởViệt Nam trình bàytạiHội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc ở Geneva, ThụySỹngày 08/5/2009 cũng khẳng định:“Nhà nước Việt Nam coi con người là mục tiêu và động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế, xã hội và luôn nhất quán trong việc đảm bảo và thúc đẩy các quyền con người”. Do đó, chúng ta cần phải bảo vệthành quả này trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực TTHS. TTHS là quátrình giải quyết vụ án hình sựtheo quyđịnhcủa pháp luật gồmkhởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
Trong đó giai đoạn khởi tố là giai đoạn đầu tiên của TTHS. Tại giai đoạn này sau khi tiếp nhận tin báo và tố giác tội phạm, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm hay không để quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự.
Giai đoạn điều tra là giai đoạn cơ quan có thẩm quyềnđiềutravụ áncó trách
6
nhiệm và nghĩa vụ áp dụng mọi biện pháp theo luật định để thu thập chứng cứ nhằm xác định tội phạm, người phạm tội và các vấn đề khác của vụ án
Giai đoạn truy tố là giai đoạn VKS ra quyết định truy tố bằng bản Cáo trạng hay không truy tố bị can ra xét xử trước Tòa án;
Giai đoạn xét xử sơ thẩm là giai đoạn Tòa án thụ lý, nghiên cứu hồ sơđể tiến hành giải quyết vụ án bằng việc ra bản án hoặc các quyết định.
Giai đoạn xét xử phúc thẩm là giai đoạn Tòa án cấp trên trực tiếp sẽ xét xử
lại bản án hoặc quyết định sơ thẩm của Tòaán cấp dướichưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo;
Giai đoạn thi hành án là giai đoạn cuối cùng của TTHS. Trong giai đoạn này các cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thi hành các bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, còn có thể có giai đoạn đặc biệt là giai đoạn Tòa án có thẩm quyền xét lại bản án và quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật theo các thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
Mỗigiaiđoạnthực hiệnmộtnhiệmvụnhấtđịnhnhưng cùnghướngđến mụcđích chung là giải quyếtmọivấnđềcủavụán hìnhsự.Mỗigiaiđoạntuy độc lập nhưng vẫn nằm trong mối quan hệ khăng khít với nhau và tạo thành một trìnhtựthống nhất; giaiđoạntrướclà tiềnđềcho việc thực hiện nhiệmvụcủa giaiđoạnsau, giaiđoạnsau kiểm tra giaiđoạntrước.Mỗigiaiđoạntốtụng do một chủ thể thực hiện nhưng các chủ thể có quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa phối hợpvừakiểm soátlẫn nhauđểgiải quyết đúngđắnvụán hìnhsự. Việc giải quyết đó chính là hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (CQĐT, VKS, Tòa án) vàngườitiến hànhtốtụng (Thủ trưởng, PhóThủtrưởng CQĐT,Điềutra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó Chánh án Tòaán, Thẩm phán, Hội thẩm). [10]
Như vậy, hoạt động này trước hết sẽ bảo vệ quyền lợi cho người bị hại trước sựxâm phạm của tội phạm. Tuy nhiên xét ở một góc độ khác, TTHS với tư cách là quá trình Nhà nước đưa một người ra xửlý trước pháp luật khi họ thực hiện tội
7
phạm luôn thể hiện tính quyềnlực vớisức mạnh cưỡng chế Nhà nước, vớisựthiếu bình đẳng về thế và lực của các bên tham gia quan hệ TTHS, trong đó người bị buộc tội luôn bị yếu thế hơn. Hoạt động này liên quan đến việc phát hiện, xử lý hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định là tội phạm và xử phạt người phạm tội. Vì vậy,để đạtđược mục đích của TTHS, Pháp luật TTHS của bấtkỳ quốcgia nào cũng có
quyđịnhvề những biện pháp cưỡng chế tốtụng, các hành vi, quyết địnhtố tụng đụng chạm đến quyền, lợi ích của công dân. Hay nói cách khác, khả năng ảnh hưởng củahoạtđộngTTHS tới các quyền con người của người bịtình nghi phạm tội là tất yếu. Do đó, hoạt động TTHS trong mọi quốc gia đều được xếp vào nhóm “nguy cơ cao” khi người ta nóiđến vấn đề bảo vệ quyền conngười. Trong lĩnh vực này, quyền con người của những người bị tình nghi phạm tội dễ bị xâm phạm, dễ bị
tổn thương và hậu quả để lại cũng đặc biệt nghiêm trọng khi nó động chạm đến những quyền con người cơ bảnnhư quyền sống; quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xửtàn bạo, vô nhân đạo; quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện … Cho nên khi đánh giá, xem xét tình trạng vi phạm quyền con người của một quốc gia, người ta thường bắt đầu từ lĩnh vực TTHS.
Trong những năm qua, hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS nhìn chung đã có những kết quả khả quan góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,tổ chức, bảo vệtrật tựpháp luật xã hội chủ nghĩa,đồngthời giáo dục mọi người ýthức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, tồn tại, vi phạm trong việc bắt người, giam, giữ, khám xét …; vẫn còn tình trạng xét xử oan sai chưa đúng người, đúng tội. Tình trạng đótrước hết sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của những người bị vi phạm, đặc biệt là những quyền lợi rất quan trọng và cơ bản. Không những thế nó còn có thể tạo ra những bức xúc trong xã hội. Một số phần tửphản độngnhân cơ hội này, khoác thêm lớp áo “Nhân quyền” thổi phồng, xuyên tạc, hư cấu thêm sựviệcđể kích động,lôi kéo, kêu gọi nhân dân chống lại sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta. Đây là những hậu quả rất nặng nề, khó khắc phục, có khi là không thể khắc phục. Cho nên, bảo đảm quyền con người
8
trong hoạt động TTHS cần được quan tâmởmọi góc độ. Việc ban hành các quyđịnh đúng đắn, hợp lý, khả thi phải đi đôi vớiviệc đảmbảo thực hiện các quy địnhđó trong thực tế. Việc thực hiện các quy phạm pháp luật TTHS phụ thuộc vào các chủ thể tiến hành tố tụng trong đó Tòa án đóng vai trò trọng tâm. Với hoạtđộngxét xửvà bản án được thông qua tại phiên tòa, mọi nghi ngờ, mọi vấnđề sẽ được làm sáng rõ từ nội dung vụ án cho đến hình phạt đối với bị cáo. Nếu có một phiên tòa công bằng, mọi vi phạm quyền con người trong các giai đoạn trước đó (nếu có) sẽ được phánxửvà có những chế tài phù hợp. Ngược lại, nếu phiên tòa đó không đảm bảo, thì sailầmsẽ nốitiếp sai lầm vàkếtthúc bằngmộtsai lầm. Hoặc nếunhưnhững quá trình trước (khởi tố, điều tra, truy tố) dù tiến hành đúng nhưng đến giaiđoạn xét xửlại làm sai thì vẫn cho ra một kết quả sai. Do đó, ta có thể coi, Tòa án là cánh cửa cuối cùng, là cơ hội cuối cùng để quyền con người được đảm bảo.
Từnhững sự phân tích trên cho thấy quyền con người trong hoạt động TTHS cần phải được quan tâm một cách sâu sắc và toàn diện, đặc biệt là tại giai đoạn xét xử. Cùng với nó, cần phải nghiên cứu thêm về vai trò bảo vệ quyền con người của các chủ thể tiến hành tố tụng, đặc biệt là vai trò của tòa án.
1.2. Các quyền con người có thể bị tác động trong TTHS
Trong lĩnhvựcTTHS, khi quyềnlựccưỡngchếcủanhànước bịlạm dụng, bị vi phạm thì nguy cơ ảnh hưởng đến các quyền con người là rất cao. Cónhiều quyền conngườicóthểbịtácđộngtrong lĩnhvựcnày, tuy nhiên trong phạm viđềtài, tôichỉđềcậpđếnnhững quyềnbịtácđộngtươngđốiphổbiến nhất, đó là các quyền sau đây:
1.2.1. Quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện
Trong Luật nhân quyền quốc tế, quyền này lần đầu tiên được quyđịnh tạiĐiều 9 Tuyên ngôn toàn thế giới về Quyền con người, 1948 (UDHR): “Không ai bịbắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện”,sau đó được Công ước quốc tế vềcác quyền dân sự và chính trị, 1966 (ICCPR) cụ thể hóa hơn tại Điều 9 như sau: “
1. Mọi người đều có quyền hưởng tựdo và an toàn cá nhân. Không ai bị bắt hoặc giam giữ vô cớ. Không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyềnđó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà pháp luật đã quy định.
9
2. Bất cứ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo vào lúc bị bắt về những lý do họ bị bắt và phải được thông báo không chậm trễ về sự buộc tội đối với họ.
3. Bất cứngườinàobị bắt hoặc bị giam giữvì một tội hình sựphải được sớm đưa ra tòa án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tưpháp và phảiđượcxét xử trong thờihạnhợplý hoặcđược trả tựdo. Việc tạm giam một ngườitrong thời gian chờxét xửkhông được đưa thành nguyên tắc chung, nhưng việc trả tự do cho họ có thể kèm theo những điều kiện để bảo đảm họ sẽ cómặt tại Tòa án để xét xử vào bất cứ khi nào và để thi hành án nếu bị kết tội.
4. Bất cứngười nào do bị bắt hoặc giam giữmà bị tước tựdo đều có quyền yêu cầuđược xét xửtrước Tòa án, nhằm mụcđích để Tòaán đó có thể quyếtđịnh không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả lạitựdo cho họ, nếu việc giam giữ là bất hợp pháp.
5. Bất cứngườinào trở thành nạn nhâncủa việc bị bắthoặc bị giam giữ bất hợp pháp đều có quyền được yêu cầu bồi thường”. [23, 81]
Điều 9 ICCPR đã được HRC/UNHRC giải thích tại Bình luận chung số 8 (phiên họp thứ 16, 1992) rằng:
– Phạm vi áp dụng Điều 9 ICCPR: Cho tất cả những người bịtước tựdo (những người bị buộc tội, tâm thần, lang thang, nghiện ma túy, người bị tước tự do
vì mục đích giáo dục, kiểm soát nhập cư…)
– Thời hạn tạmgiữ: theo quyđịnhcủa pháp luật quốc gia nhưng Ủyban khuyến nghị không nên tạm giữ quá hai ngày.
– Tổng thời gian bịtạm giam: thời gian bịtạm giam của người bịbuộc tội phải phùhợpvớithời hạn xét xử. Việc tạmgiam trước khi xétxửchỉ nên coi là ngoại lệ và càng ngắn càng tốt.
– Nếu muốn tiến hành việc giam giữnhư là một biện pháp ngăn chặn thìviệc thực hiện phải có căn cứ; phải được thực thi theo đúng các trình tự, thủ tục luật định. Nếubiện pháp ngăn chặn bị sử dụng một các tùy tiện thì nạn nhân phảiđược bồi thường. [21, 258]
Đặc biệt, “Tập hợp cácnguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay
10
bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào, 1988” có những quy định rất cụ thể về quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện, đó là:
– Việc bắt giữ, giam hay cầm tù chỉ được thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật một cách nghiêm ngặt và bởi những quan chức có thẩm quyền hay những người được ủy quyền thực hiện việc đó (nguyên tắc 2).
– Bất kỳhình thức giam haycầmtù nào vàtấtcả các biện pháp ảnhhưởngđến quyền con người của một người đang bị giam haybị cầmtù dưới bất kỳhình thức nào phải được ra lệnh bởi, hoặc chịu sự kiểm soát có hiệu quả của cơ quan xét xử hoặc cơ quan có thẩm quyền khác (nguyên tắc 4).
– Các nhà chức trách bắt giữ một người nào đó, tạm giam người đó hoặc điều tra vụ án chỉ được phép thực hiện những quyền hạn được giao cho họ theo pháp luật, và việc thực hiện các quyền hạn này phải chịu sự giám sát của cơ quan xét xửhay cơ quan có thẩm quyền khác (nguyên tắc 9).
– Việc bắt giữ phải có lệnh với các nội dung cụ thể theo nguyên tắc 12.
Đồng thời, văn kiện này cũng quy định rất rõ ràng và cụ thể các quyền của người bị bắtgiữ: quyền được thông báo về lý do bị bắt giữ, quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ, quyến được phiên dịch miễn phí, quyền liên lạc với thế giới bên ngoài, quyền bào chữa, quyền bảo đảmvề sức khỏe, quyền khiếu nại, quyềnđược suy đoán vô tội, quyền được bồi thường thiệt hại nếu bị giamgiữtùy tiện, quyền được phát biểu về sựđối xửtrong khi bị giam trước cơ quan xét xử hoặc có
thẩm quyền … [23, 697]
Ngoài ra, Các quy tắc chuẩn, tối thiểu của Liên hợp quốc về những biện pháp không giam giữ (Các quy tắc Tokyo), 1990 cũng quy định việc tránh giam giữ tiền xét xử như sau:
“6.1. Giam giữtrướckhi xét xửđược sửdụng như phương án cuối cùng trong quá trình TTHS, khi xét thấy cần thiết cho việc điều tra hành vi bị coi là phạm tội và cần thiết để bảo vệ xã hội và các nạn nhân.
6.2. Những biện pháp khác ngoài biện pháp giamgiữtrước khi xétxửphải được áp dụng càng sớm càng tốt. Thời gian giam giữ trước khi xétxửkhông được
11
lâu hơn thời gian cần thiết để đạt được những mục tiêu nêu trong quy tắc 5.1 và phảiđược tiến hành một cách nhân đạo, tôn trọng nhân phẩm vốn có của con người.
6.3. Người phạm tội có quyền kháng án lên TA hoặc một cơ quan độc lập có thẩm quyền khác trong các trườnghợpbiện pháp giamgiữtrướckhi xétxửđược áp dụng” [23; 752]
Pháp luật Việt Nam quy định quyền này tại Điều 71 Hiến pháp và Điều 6, 7 BLTTHS đồng thời cósựquy định rõ ràng về các biện pháp ngăn chặn để hạn chếtới mức thấp nhất sựtùy tiện trong việc bắt, giamgiữngười. Nội dung của quyền không bị bắt, giam giữtùy tiện theo Luật Nhân quyền quốc tếvà Pháp luật Việt
Namđều gồm: không được bắt giữngười người không có căn cứ; bắt giữngười không đúng thẩm quyền, bắt giữngười không đúng thủ tục; bắt người, giamgiữngười chưa cần thiết. Tuy nhiên, Luật Nhân quyền quốctế nhấnmạnh đến quy định thời gian giam giữ không được kéo dài. Và chế độ giam giữ phải khác với chế độ thi hành án phạt tù,đảmbảo đếnmức tối đa việc hạn chế các quyền con ngườicủa người bị giam giữ.
Quyền không bị bắt, giamgiữtùy tiện là cốt lõi của tự do và an toàn cá nhân. Nếu quyền tự do và an toàn cá nhân của con người không được đảm bảo một cách hiệu quả thì việc bảo vệ các quyền cá nhân khác sẽ dễ bị tổn thương và không thực tế. Khi nhân quyền này bị vi phạm thì sẽ kéo theo một số hệ quả là các nhân quyền khác cũng có nguy cơ bị ảnh hưởng theo như quyền không phân biệt đối xử; quyềnđược đối xửnhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của người bị tước tự do; quyền tự do
đi lại, cư trú; quyền được tự do tín ngưỡng…[22]
Tuy vậy, trong TTHS, quyền này vẫn có nguy cơ bị vi phạm khi các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng các biện pháp ngăn chặn một cách tùy tiện, nhất là khi áp dụng biện pháp bắt người, tạm giữ và tạm giam để điều tra, truy tố và xét xử.
1.2.2. Quyền đượcbảovệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục
UDHR và ICCPRlầnlượt ghi nhận quyền này tại Điều 5 (UDHR)và Điều7 (ICCPR) vào năm 1948 và 1966 nhưng lại không đưa ra một định nghĩa rõ ràng về
12
“tra tấn”. Phải đến năm 1984 thì Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm (CAT) mới đưara khái niệm về tra tấn như sau:
“Thuật ngữ“tra tấn”có nghĩa là bất kỳ hành vi nào cố ý gây đau đớn hoặcđau khổ nghiêm trọng về thể xác hay tinh thần cho một người, vì những mục đích như lấy thông tin hoặc lời thú tội từ người đó hay một người thứ ba, hoặc để trừng phạt người đó vì một hành vi mà người đó hay người thứ ba thực hiện hay bị nghi ngờ đãthực hiện, hoặcđể đedọahay ép buộc người đó hay người thứ ba, hoặc vìbất kỳ một lý do nào khác dựa trên sự phân biệt đối xử dưới mọi hình thức, khi nỗiđau đớnvà đau khổđó do một công chức hay người nào khác hành độngvới tưcách chính thức gây ra, hay vớisựxúi giục, đồng tình hay ưng thuận của một công chức. Khái niệm tra tấn không bao gồm những đau đớn hoặc đau khổ xuất phát từ, gắn liền với, hoặc có liên quan đến, các biện pháp trừng phạt hợp pháp”.
Tuy nhiên, CAT cũng nêu rõ nội hàm của khái niệm trên được căn cứvào mục đích của Công ước là để cuộc đấu tranh chống tra tấn và đối xử hay trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm được hiệu quả hơn [23, 148]
Điều 5 UDHR ghi nhận: “Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm” [23, 49]
Điều 7 ICCPR nói rằng:
“Không ai có thể bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm. Đặc biệt, không ai có thể bịsử dụngđể làmthí nghiệm y học hoặc khoa học mà không có sự đồng ýtựnguyện của ngườiđó”[23, 80]
Ở phiên họp lần thứ 16, 1982, HRC/UNHRC đã giải thích về Điều 7 ICCPR
tại Bình luận chung số 7. Trong phiên họp thứ 39, 1990, Ủy ban đã phản ánh, phát triển và thay thế Bình luận chung số 7 bằng Bình luận chung số 20 với các nội dung cơ bản như sau:
– Mục đích củaĐiều7 ICCPR: bảo vệ phẩm giá và sự toànvẹnvề thể chất và tinh thần của cá nhân.
– Không có giới hạn quyền đốivớicác quy định trongĐiều7 ICCPR,kể cảtrong tình trạng khẩn cấp quốc gia.
13
– Nội hàm của các khái niệm nêu trong Điều 7 ICCPR (tra tấn, trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo, hạ nhục) căn cứ vào bản chất, mục đích và tính chất nghiêm trọng của hành động đã thực hiện.
– Phạm vi ngăn cấm: các hành động gây ra đau đớn về thể chất lẫn tinh thần; các hành động nhục hình, đánhđập tàn nhẫn để trừng phạt tội phạm hayđể giáo dục, rèn luyện đối với học sinh, bệnh nhân.
– Việc kéo dài thời gian biệt giam hoặc tù giam một người, kể cả người đã bịkết án tửhình mà không có lý do chính đáng cũng bị coi là hành động tra tấn. Việc thi hành án tử hình phải thực hiện theo cách thức làmgiảm đến mức tối thiểu sựđau đớn về thể xác và tinh thần cho tử tù. [21; 287]
Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay bị cầm tùdưới bất kỳ hình thức nào, 1988 cũng quy định tại nguyên tắc 6 là:
“Không người nào bị giam hoặc cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào bị tra tấn hay đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm. Không được viện dẫn bất kỳ hoàn cảnh nào để biện minh cho việc tra tấn hay đối xử hoặc trừng phạt tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm” [23; 698]
Pháp luật Việt Nam quy định quyền này tại các Điều 71, 72 Hiến pháp; Điều 6, 7, 9 BLTTHS và các chương XII, XXII BLHS cũng chính là sựkhẳng định vềmặt pháp lý về bảo vệ quyền không bị tra tấn,đối xửhay trừng phạt tàn ác, vô nhânđạo hay bị hạ nhục.
Như vậy, quyền này có thể bịvi phạmở nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng trong TTHS là rõ nét nhất, đặc biệt là tại giai đoạn điều tra khi việc truy bức, dùng nhục hình người bị nghi ngờ phạm tội có thểđược sửdụng như là cách nhanh nhất
để lấy lờikhai người bị buộc tội…
1.2.3. Quyền được xét xử nhanh chóng, không bị trì hoãn
Điểmc khoản 3 Điều 14 ICCPR quy định: “Người bị buộc tội được xét xửmà không bị trì hoãn một cách vô lý”
Nguyên tắc 38 Tập hợp các nguyên tắc về bảo vệ tất cả những người bị giam hay bị cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào, 1988 quy định: “Một người bị giam do bị
14
cáo buộc phạm tội hình sự phải có quyền được xét xử trong một khoảng thời gian hợp lý hoặc được trả tự do trong thời gian chờ xét xử”
Quy tắc Bắc Kinh, 1985 cũng quyđịnh việc tránh trì hoãn không cần thiết:
“Mỗi vụ án phải được xét xửnhanh chóng ngay từđầu, không được có bất kỳ sựtrìhoãn không cần thiết nào” (Quy tắc 20).
Bình luận chung số 32 tại phiên họp thứ 19, 2007 của UNHRC cũng xácđịnh tại Điều 27:
“Một khía cạnh của phiên tòa công khai là tính chất nhanh chóng. Vấn đề xét xửkhông chậm trễ trong TTHS được đề cậptrong khoản 3c Điều 14, theo đó sựchậm trễ trong thủ tục tố tụng không thể biện minh bởi sự phức tạp của vụ án hoặc những hành vi của các bên là trái với nguyên tắc xét xử công bằng theo đoạn 1 của Điều 14. Trong trường hợp chậm trễ này là do thiếu nguồn lực thì cần bổ sung ngân sách cho thực thi pháp luật” [21, 367]
Quyền này cómộtý nghĩa quan trọng trong TTHS vì việc áp dụng pháp luật không chỉ cầnđúngđắn mà còn phải kịpthời. Nếu công lý không được thực hiện kịp thời thì cũng không còn nhiều ý nghĩa. Trước hết đối với quyền lợi của những người bị hại thì rõ ràng là vụ án càng kéo dài càng bị ảnh hưởng (trừ trường hợp cósựthỏa thuận bồi thường giữa các bên trong vụ án). Ngoài ra, tâm lý theo đuổi vụán kéo dài cũng rất mệt mỏi, ảnh hưởng đếncuộc sống, công việc hàng ngày của những người tham gia tố tụng. Sau đó, chính bản thân những người bị tình nghi phạm tội, những người bị buộc tội cũng bịảnh hưởng rất nghiêm trọng. Đó lànhững trườnghợpnhư do sự chậm trễ của hoạt động tư pháp mà nhiều người bị bắt,
tạmgiữ, tạmgiam sau nhiều ngày mới đượcxác định là vô tội và được trả tựdo. Ngaycả người bị buộc tội cóbị kết án đi chăng nữa thì việc chờ đợi quá lâu một hình phạt đối với mình cũng bị xem là mộthành động tra tấn [21, 287]. Những trường hợp này, dù có được giải quyết đúng người, đúng tội đi chăng nữa thì các giátrị khác mà pháp luật cần bảo vệ cũng bị tổn hại nặng nề. Tuy vậy, trong thực tiễn tốtụng, do nhiều nguyên nhân khác nhau, quyền này vẫn đã và đang bị vi phạm. Không chỉ là việc kéo dài thời gian xét xử dẫn tới việc gia hạn, án quá hạn mà còn
15
có tình trạng án kéo dài năm này qua năm khác khi vụ án bị điều tra, xét xửlạitheo thủ tục chung.
1.2.4. Quyền được xét xử công bằng
Đây thực chất là một tập hợp các đảm bảo tố tụng nhằm bảo đảm quá trình xét xử được công bằng, gồm: Bình đẳng trước Tòa án; Được xét xử bởi một Tòa ánđộc lập, không thiên vị, công khai; Được suy đoán vô tội; Không bị áp dụng hồi tố; Không hình sự hóa vụ án dân sự. Trong một số tài liệu thì mỗi bảođảmnày được coi như là một quyền con người cụ thể [22; 168]
Quyền này được đề cập tại Điều 10UDHR (quyền được xét xử công bằng vàcông khai) và Điều 11 UDHR (quyền được suy đoán vô tội, không hình sự hóa vụán dân sự, không bị áp dụnghồitố). Hai Điều này được tái quy định trong ICCPR tại các Điều 11 (không hình sự hóa vụ án dân sự); Điều 14 (quyền được xét xử công bằng; quyền được suy đoán vô tội; quyền được xét xửbởi một Tòa án độc lập, không thiên vị); Điều 15 (không bị áp dụng hồi tố).
Ở phiên họp lần thứ 21, 1984, HRC/UNHRC đã giải thích về Điều 14 ICCPR tại Bình luận chung số13. Sau này, Bình luận chung số13được thaythếbằng Bình luận chung số 32 tại phiên họp thứ 19, 2007 với các nội dung như sau:
– Mục đích của Điều 14 ICCPR: bảo đảmcông lý và làm tiền đề bảo đảm một số quyền cụ thể trong đó.
– Bản chất của Điều 14: là một tập hợp các bảođảmtố tụng nhằm bảo đảm quá trình xét xử được công bằng (quyền bình đẳng trước phiên tòa và Tòa án; quyềnđược xét xửcông bằng và tranh tụng trước một Tòa án độc lập, không thiên vị; quyền của người bị cáo buộc hình sự; quyền của người chưa thành niên; quyền
kháng cáo; quyền được bồi thường oan sai,…).
– Các quốc gia thành viên Công ước có nghĩa vụ tôn trọng và thực hiện các bảo đảm tố tụng quy định ở Điều 14.
– Các quốc gia thành viên Côngước cóthểbảolưu mộtsố bảo đảm cụ thể ở
Điều 14 nhưng không được bảo lưu chung về quyền được xét xử công bằng…
-TừĐiều 7 đến Điều 57: Ủy ban giải thích rõ ràng và cụ thể về nội hàm của
16
các tập hợp tố tụng nêu trong Điều 14 ICCPR.
-TừĐiều 58đến Điều 65, Ủyban bình luậnvề mối liên hệ giữa Điều 14 ICCPR và các quy định khác của Công ước. [21, 379]
Về Điều 11 và 15 ICCPR thì cho đến nay, HRC/UNHRC chưa đưara bình luận chung nào.
Trong Pháp luật Việt Nam, quyền nàyđượcthể hiện bằng nhiều quyđịnh trong Hiến pháp và BLTTHS. Pháp luật Quốc tế và Pháp luật Việt Namđều ghi nhận quyền xét xử công bằng là quyền cơ bản của người bị buộc tội trước cơ quan tiến hành tố tụng. Đây là một nhân quyền cơ bản và có tính phổ quát cao. Một phiên tòa công bằng là yếu tố thiết yếu để bảo đảm các quyền cơ bản khác của con người
như quyền sống, quyền tự do thân thể, quyền tự do ngôn luận …
Tuy nhiên, để có một phiên tòa công bằng thì cũng cần phải đảm bảo bởi rấtnhiềuyếutố.Và dođó,trong thựctế,quyền này dễbịvi phạmdướinhiều hình thức khác nhau.
17
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ
VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ
LUẬT NHÂN QUYỀN QUỐC TẾ
2.1. Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự theo Pháp luật Việt Nam
Các quyđịnh để bảo đảmquyền con người trong TTHS đượcthể hiện tập trung và rõ ràng nhất tại Hiến pháp và BLTTHS cũng như các văn bản liên quanđến hoạt động của TAND và VKSND. Tuy nhiên, trong phần này, chúng tôi chỉ đi phân tích các quy định của Hiến pháp 1992 và BLTTHS 2003.
2.1.1. Theo Hiến pháp 1992
Hiến pháp 1992 được thông qua vào ngày 15/4/1992, được sửa đổi vào ngày 25/12/2001. Hiến pháp 1992 ra đời trong bốicảnh những năm đầu đất nước thực hiện công cuộc đổi mới đất nước do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đề ra và để thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội năm 1991. Hiến pháp 1992 với vai trò là đạo luật gốc đã thực hiện tốt sứmệnh lịch sử, tạo nền tảng cho sựphát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Nhiều thành tựu to lớntrong quá trình phát triển của đấtnước đã diễn ra trên nền tảng mà Hiến pháp 1992 tạo ra.
Về vấn đề quyền con người, quyền công dân, Hiến pháp 1992 đã có sựghi nhận về quyền con người tại chương V từđiều 49 – 82 (tăng 05 điều so với Hiến pháp 1980). Hiến pháp 1992 đã ghi nhận hai nguyên tắc quan trọng là:
“Cácquyền conngườivềchính trị, dânsự,kinhtế,văn hóa và xãhộiđược tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” (Điều 50)
“Nhà nước bảo đảm các quyền của công dân” (Điều 51)
Đâylà lần đầu tiên trong lịch sửlập hiến Việt Nam, cụmtừ“quyền con
18
người” được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp. Từhai nguyên tắc này, Hiến pháp 1992 ghi nhận một số quyền con ngườinói chung và quyền con người trong TTHS nói riêng cũng như cơ chế đảm bảo thực thi các nguyên tắc đó trong thực tế.
Các quyền con người trong TTHS được ghi nhận trong Hiến pháp 1992 gồm:
– Quyền bình đẳng trước pháp luật (Điều 52)
– Quyền bất khả xâm phạm về thân thể (Điều 71)
– Quyền được suy đoán vô tội: thực chấtlà sựghi nhận nội dung chính của quyền (Điều 72)
– Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và đời sống riêng (Điều 73) – Quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 74)
– Quyền được xét xử bởi một Tòa án độc lập (Điều 130) – Quyền bào chữa (Điều 132)
Tuy nhiên, các quyền conngườitrênđượcthểhiện trongmốiquanhệgiữa nhà nước và công dân,chứkhôngđượcxem xét quyền con người như bản chất vốn có của nó.
Ngoài việc ghi nhận những quyền con ngườicụ thể như trên thì Hiến pháp 1992 còn quy định cơ chế thực hiện quyền. Các quyền con người trong TTHS được bảo đảm bằng hệ thốngcác cơ quan là Công an nhân dân, VKSND và TAND, trongđó các quy định về VKSND và TAND khá rõ nét và cụ thể. Theo quy định của Hiến pháp 1992 thì “VKSND thực hành quyền công tố” (Điều 137), “TAND là cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam” (Điều 127). Và cả hai hệ thống cơ quan nàyđều có chung nhiệm vụ là “bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân” (Điều 126).Đặc biệt, ngoài việc quy định các nguyên tắc xét xử thì Hiến pháp còn quy định vềcơ cấu tổ chức hoạt động của hệ thống TAND và VKSND nhằm đảm bảo việc xét xử được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện; so sánh với pháp luật quốc tế vàmột số quốc gia khác thì phải thừa nhận rằng với những quy định như hiện nay về
19
quyền con người thì Hiến pháp 1992 còn nhiều hạn chế. Tuy vậy, với những thành quả đã đạt đượcthì có thể nói rằng Hiến pháp 1992 về cơ bản là đã hoàn thành sứmệnh lịch sử, đã giải quyết được những vấn đề quan trọng đương thời, bước đầu tạo nên sự chuyển biến về nhận thức về quyền con người. Quyền con người không còn bị coi là sản phẩm của chủ nghĩa cá nhân hay là công cụ chính trị như trước nữa màđược thừa nhận một cách khách quan hơn, là sựkết tinh của nền văn minh nhân loại, là một giá trị lớn của toàn thế giới [1]
Các quyền con người quy định trong Hiến pháp đã được cụ thể hóa tươngđốiđầy đủtrong các vănbảnpháp luậtcủaViệt Nam. Tínhtừnăm 1986đến năm 2002, Việt Namđãban hành 13.000 vănbảnquy phạm pháp luật các loại, trongđócó hơn 40Bộluật và Luật, trên 120 Pháp Lệnh,gần850 vănbảncủa Chínhphủvà trên 3000 vănbảncủacácbộ,ngànhđãđượcthông qua và thực thi. Riêng trong năm 2004, Quốc hội đã thảo luận và thông qua 13 luật và 8 pháp lệnh trong các lĩnh vực khác nhau [6]
Trong lĩnh vực TTHS, các văn bản quan trọng đã được ban hành như BLHS,
BLTTHS, Luậttổ chức TAND, Luậttổchức VKSND… kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Trong các văn bản trên, BLTTHS có vai trò đặc biệt quan trọng.
2.1.2. Theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2003
BLTTHS 2003 được thông qua ngày 26/11/2003 là văn bản pháp luật TTHSđược hệ thống hóa ở mức cao nhất, điềuchỉnh toàn bộ quá trình TTHS, là nguồn chủ yếu, cơ bản và quan trọng nhất của pháp luật TTHS nước ta.
Cũng như các văn bảnluật khác thì BLTTHS 2003 có những quyđịnh phùhợp với Hiến pháp 1992.
2.1.2.1. Quy định về các nguyên tắc cơ bản:
Trên tinh thần Hiến pháp 1992, BLTTHS 2003 quyđịnh các nguyên tắc cơ bản tại chương II với 30 điều, từ điều 3 đến điều 32, trong đó đã có những nguyên
tắc quan trọng để đảm bảo quyền con người. Tuy nhiên, cũng như Hiến pháp 1992, BLTTHS 2003 quyđịnh quyền con người thể hiện trong mối quan hệ giữa Nhànước và công dân.
20
– Nguyên tắc bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong TTHS (Điều 3)
Pháp chếlà nguyên tắc quan trọng trongtổ chức và hoạt động của các cơquan nhà nước, các tổchức xã hội và của mọi cá nhân. Trong TTHS, nguyên tắc bảo đảmpháp chế là nguyên tắc bao trùm, được thể hiện trong toàn bộ các hoạtđộng TTHS, là cơ sở cho các nguyên tắc TTHS khác. Nội dung nguyên tắc này được quy định tại điều 3 BLTTHS: “Mọi hoạt động TTHS của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải đượctiến hành theo quy định của Bộ luật này”. Nguyên tắc này đòi hỏi:
+ Các cơ quan tiến hành tố tụng, những ngườitiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng phải tuân thủ các quy định của BLTTHS trong quá trình giải quyết vụ án.
+ Mọi hành vi tố tụng, quyết định tố tụng phải dựa trên các quy định của BLTTHS. Thực hiện nguyên tắcbảo đảmpháp chế xã hội chủ nghĩa trong TTHS là
trách nhiệm của mọi cơ quan, tổ chức và công dân nhưng trước tiên và chủ yếu nhất vẫn là trách nhiệm của các cơ quan và những người tiến hành tố tụng. Thực hiện nguyên tắc nàysẽ đảm bảo mọi hành vi phạm tôi đều được xửlý trước pháp luật; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội, bảo đảm các quyền
lợi hợp pháp của công dân.
– Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (Điều 4) Tôn trọng và bảo vệ các quyền con người vừa là bản chất, vừa là mục tiêu
của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đồng thời nó cũng được xácđịnh là một trong những nhiệm vụ quan trọng của BLTTHS. Nội dung nguyên tắc này quy định:
+ Các chủ thể có trách nhiệm thực hiện nguyên tắc này: Thủ trưởng, Phó thủtrưởng CQĐT,Điềutra viên; Viện trưởng, Phó viện trưởng VKS, Kiểm sát viên; Chánh án, Phó chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm.
+ Khi tiến hành tố tụng các chủ thểtrên phải có các nghĩavụtôn trọng vàbảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Mọi hành vi, quyết địnhtố tụng
21
liên quan đến các quyền cơ bản của công dân phải đượctiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật.
+ Các chủ thể trên phải thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng; kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết.
BLTTHS và một số văn bản liên quan đến tổ chức, hoạt động củaTAND, VKSND, CQĐT trong Công an nhân dân đãcó những quyđịnhcụthể làm cơsởpháp lý khá đầyđủ và chặt chẽcho việc thực hiện nguyên tắc này.Đó là các quyđịnh về quyền cơ bản của công dân, quy định về căn cứ, thủ tục áp dụng các biện
pháp TTHS, quy định trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng…
– Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (Điều 5) Sự bình đẳng trước pháp luật được hiểu là sự thể hiện ở vị trí như nhau của
mọi công dân trong mọi lĩnh vực của hoạt động nhà nước và xã hội mà không cósự ưu tiên, ưu đãi, phân biệt đối xử với bất cứ đối tượng nào. BLTTHS ghi nhận nguyêntắcnàytạiĐiều5,đồngthờithểhiện quamộtsốnguyêntắckhác như: Bảođảm quyền bìnhđẳngtrướcTòa án(Điều19), Tiếng nói vàchữviết dùng trong TTHS (Điều 24)
Nguyên tắc này quy định bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo theo mộttrìnhtự,thủtụctốtụng như nhau theo quyđịnhcủaBLTTHS;bấtcứngười nào thực hiện hành vi phạm tộiđềuphải chịu trách nhiệm hìnhsựtheo cácđiều khoản tươngứngcủaBLHS, không phân biệt dân tộc, nam nữ,tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội. Nghĩa là công dân ở địa vị pháp lý như nhau thì cóquyền và nghĩa vụ tố tụng như nhau và cơ quan có thẩm quyền phải đảm bảo cho công dân thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng đó để bảo vệ quyền và
lợi ích của mình.
– Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (Điều 6), Nội dung nguyên tắc này quy định:
Thứ nhất, không ai bị bắt, nếu không có quyết địnhcủaTòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của VKS, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Nghĩa là Tòa án hoặc
22
VKS là hai cơ quan có thẩm quyền cuối cùng trong việc bắt người, trừ trường hợp phạm tội quả tang thì bất kì ai cũng có quyền bắt. Điều 80 BLTTHS quy định Thủtrưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT có quyền ra lệnh bắt người, nhưng lệnhđóphảiđược VKS cùng cấp phê chuẩn thì mới có hiệu lực thi hành. Điều 81 BLTTHS cũng quy định Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT các cấp; người chỉ huy quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở biên giới, hảiđảo; người chỉ huy tàu bay, tàu biển có quyền ra lệnh bắt khẩn cấp; tuy nhiên, trong
thời gian 24giờmà lệnh bắt khẩn cấp không được VKS cùng cấpphê chuẩn thì người bị bắt được trả tự do;
Thứ hai, việc bắt và giam người phải theo quy định của BLTTHS.
Để tránh sựlạmdụng, vi phạm pháp luật trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, BLTTHS đã quy định một cách cụ thể, chặt chẽ các căn cứ, thẩm quyền và thủ tục áp dụng, đặc biệt là đối với biện pháp bắt và giam, giữ người. Qua đó loại bỏ và hạnchế được việc bắt, giam giữ người tùy tiện.
Thứ ba, nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, dùng nhục hình trong hoạt động TTHS. Việc truy bức, dùng nhục hình trong TTHS không chỉ xâm phạm sức khỏe, tựdo, danh dự, nhân phẩmngườitham gia tố tụng, mà còn làm cho hoạt động tốtụng bị sai lệch, ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án.
– Nguyên tắcbảohộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân” (Điều 7),
Theo nguyên tắc này thì công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản. Mọi hành vi xâm phạm tính mạng,
sứckhỏe, danhdự,nhân phẩm, tàisảnđềubịxửlý theo pháp luật. Ngoài ra, nguyêntắcnày còn nhấn mạnhđếnviệcbảohộtính mạng,sứckhỏe, danh dự, nhân phẩm tàisảncủangườibịhại, người làm chứng và những người tham gia tốtụng khác cũng như nhữngngườithân thíchcủahọ.Sự đảmbảonày ngoàiýnghĩa bảo đảm quyền con người cho những người được thụ hưởng trực tiếp còn có một ý nghĩa quan trọng khác là góp phần làm cho quá trình tố tụng được xem xét khách quan. Sự bảo đảm này sẽ tạo cho những nhân chứng, những người có
23
quyềnlợivà nghĩavụliên quan yên tâm, khai ra những thông tin chính xác, không chịu sức ép từ bên đối lập.
– Nguyêntắcbảođảmquyền bất khả xâmphạm vềchỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân (Điều 8)
Nguyên tắc này quy định không ai được xâm phạm chỗ ở, thư tín, điện thoại,điện tín của công dân một cách tùy tiện. Việc khám xét chỗ ở, khám xét, tạm giữ vàthu giữ thư tín, điện tín phải có căn cứ, đúng thẩm quyền, đúng thủ tục.
Căn cứ để có thể khám xét chỗ ở là khi có căn cứđể nhận định tại chỗ ở cócông cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội mà có hoặc đồ vật, tài liệu khác có liên quanđến vụ án hoặc khi cần phát hiện người đang bị truy nã(khoản 1 Điều 140 BLTTHS)
Căn cứđể có thể khám xét thư tín, điện thoại, điện tín của công dân là khi cần phải thu thập tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án (khoản 1 Điều 140 BLTTHS).
Việc khám xét này chỉ được thực hiện khi người ra lệnh có thẩm quyền, đólà: Viện trưởng, Phó viện trưởng VKSND và Viện kiểm sát quân sự các cấp; Chánhán, Phó chánh án TAND và Tòa án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó chánh tòa Tòa phúc thẩm TANDTC; Hội đồng xétxử; Thủtrưởng, Phóthủtrưởng CQĐT các cấp. Nếu là trường hợp lệnh khám xét do Thủ trưởng, Phóthủtrưởng CQĐT các cấp ra lệnh thì phải được VKS cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Nếu trong trường hợp không thể trì hoãn thì Thủ trưởng, Phó thủ trưởng CQĐT các cấp có quyền ra lệnh khám xét trước nhưng trong vòng 24h kể từkhi khám xét xong người ra lệnh phải thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp biết.
Ngoài ra, trong trường hợp không thể trì hoãn thì những người sau cũng cóquyền khám: Người chỉ huy đơn vị quân độiđộc lập cấp trung đoàn và tươngđương; ngườichỉhuy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng. Sau 24hkể từkhi khám xét xong, người ra lệnh phải thông báo bằng văn bản cho VKS cùng cấp biết.
BLTTHS cũng quyđịnh cụ thể thủtục khám chỗ ở; thu giữthư tín, điện thoại, điện tín của công dân tại các Điều 143, 144.
24
Theo đó,khi khám chỗ ở phải có mặtngườichủ hoặc người đãthành niên trong gia đình, có đại diện chính quyền xã, phường, thị trấn và người láng giềng. Nếu người chủ và người trong gia đình cố tình trốn tránh, vắng mặt lâu ngày màviệc khám xét không thể trì hoãn thì phải có đại diện chính quyền và hai người láng giềng chứng kiến. BLTTHS cũng quyđịnhkhông được khám chỗở vàoban đêm, trừtrường hợp không thể trì hoãn, nhưng phải ghi rõ lý do vào biên bản. Khi bắt đầu khám thì phải đọclệnh khám, đưa lệnh cho người phải thực hiện lệnh khám đọc, giải thích cho người đó và những người có mặt biết quyền và nghĩa vụ của họ. Người tiến hành khám phải yêu cầu đương sự đưa ra nhưng đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án, nếu đương sự từ chối thì tiến hành khám.
Còn việc thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín tại bưu điện thì người thi hành lệnh phải thông báo cho người phụ trách cơ quan bưu điện hữu quan trước khi tiến hành thu giữ. Khi tiến hành việc thugiữphải có đạidiện của cơ quan bưu điện chứng kiến và ký xác nhận vào biên bản. Cơ quan ra lệnh thu giữphải thông báo cho người có thư tín, điện thoại, điện tín biết. Nếu việc thông báo cản trở điều tra thìsau khi hết sự cản trở, cơ quan ra lệnh thu giữ phải thông báo ngay.
– Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa ánđã có hiệu lực pháp luật (Điều 9)
Đâylà nguyên tắcquan trọngthểhiệnsựbảo đảm về quyền con người vàtính nhân đạo trong các hoạt động TTHS. Nội dung của nguyên tắc này bao gồm:
+ Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền kết tội và áp dụng hình phạt đối với một người khi có căn cứ bằng một bản án hợp pháp và có hiệu lực pháp luật.
+ Một người chỉ phải chịu hình phạt khi bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
+ Mọi nghi ngờ trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử phải được giải thích theo hướng có lợi cho người bị buộc tội.
Như vậy, khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thìngười bị buộc tội vẫn được xem là vô tội. Vì thế, cho đến khi bản án kết tội có hiệu lực phạm luật thì ngườibị buộc tội phải được đối xửnhư một công dân bình thường
25
trong phạm vi có thể. Mọi biện pháp hạn chế quyền con người của người bị buộc tội phải là sự lựa chọn cuối cùng và vì mục đích ngăn chặn tội phạm chứ không phải đểtrừng trị họ.Việc tạm giữ, tạm giam với ý nghĩa là biện pháp ngănchặn phải được thực hiện theo chế độ giam, giữ khác với việc chấp hành hình phạt tù.
Qua đây, ta thấy hoạt động xét xử của Tòa án có vai trò quan trọng và quyếtđịnh đến việc kết tộimột người, vì chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền này. Điều nàyđòi hỏi hoạt động xét xửphải tuân thủ triệt để các quy định của pháp luật; việc ra phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các bên tham gia tố tụng.
– Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11) Nội dung của nguyên tắc này quyđịnh người bị tạmgiữ, bị can, bịcáo có
quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Quyền bào chữa của những đối tượng này phải được CQĐT, VKS, Tòa án bảo đảm. Sự bảo đảm đó được cụ thể hóa
tại Điều 56 – 58 BLTTHS, cụ thể như sau:
Trong thời hạn 03 ngàykể từngày nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa cho bị can, bị cáo; trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được đề nghị của người bào chữa kèm theo giấy tờ liên quan đến việc bào chữa cho người bịtạm giữthì CQĐT/VKS/Tòa án phải xem xét cấp giấy chứng nhận ngườibào chữa để họ thực hiện việc bào chữa. Nếu từchối cấp giấy chứng nhận thì phải nêu rõ lý do.
Ngoài ra, với trường hợp bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại BLHS hoặc bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không mời người bào chữa thì CQĐT, VKS hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn Luật sư phân công Văn phòng luật sưcửngười bào chữa cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổchức thành viên của Mặt trận cử người bào chữa cho thành viên của tổ chức mình.
– Nguyên tắcbảođảmsự vô tư của những người tiến hành hoặc người tham gia tố tụng (Điều 14).
Sựvô tư trong TTHS là một đòi hỏi quan trọng để quá trình giải quyết vụ án
26
được khách quan và đúng đắn. Do đó, Điều 14 BLTTHS quy định những người tiến hành tố tụng không được tiến hành tố tụng hoặc người phiên dịch, người giám định không được tham gia tố tụng nếu có lý do xác đáng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình.
Cụ thể nguyên tắc này, Điều 42 BLTTHS quy định những trường hợp phải từchối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng gồm:
Người tiến hành tố tụng đồng thời là người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; là người đại diện hợp pháp, người thân của những người đó hoặc của bị can, bị cáo.
Người tiến hành tố tụng đã tham giavớitư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong vụ án đó.
Hoặc có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng người tiến hành tố tụng không vô tưtrong khi làm nhiệm vụ.
Ngoài ra, tại các Điều 44, 45, 46, 47, 56, 60, 61 BLTTHS đều quy định các trường hợpcụ thể buộcphải thay đổi Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án, người bào chữa, ngườigiám định, người phiên dịch để bảođảm nguyên tắc này.
– Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm tham gia (Điều 15)
Nguyên tắc này tạođiều kiệncho nhân dân tham gia một cách trực tiếp vào hoạt động xét xử để phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh phòng ngừa vàchống tội phạm. Nội dung nguyên tắc này thể hiện:
+ Việc xét xử của TAND có Hội thẩm nhân dân, của Tòa án quân sự có Hội thẩm quân nhân tham gia.
+ Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán.
Quy định này đảm bảo cho Hội thẩm tham gia một cách thực chất vào hoạtđộng xét xử, Thẩm phán không có quyền áp đặt ý chíđốivới Hội thẩm trong việc giải quyết vụ án.
– Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 16)
27
Xét xử là hoạt động trung tâm và có vai trò quyết địnhđếntoànbộquá trình giải quyết vụ án, đòi hỏi phải được thực hiện một cách khách quan, công bằng, đúng pháp luật để có thể đưa ra một phán quyết chính xác.
Nguyên tắc này quy định:
+ Khi xét xử thì Thẩm phán và các Hội thẩm xét xử độc lập.
Tuy nhiên, không phải hiểu một cách máy móc rằng chỉ khi xét xử(khi ra phiên tòa) mới thể hiệnsựđộc lập mà sựđộc lập này ở chỗ độc lập nghiên cứu, độc
lập tư duyđể độc lập đưa ra ý kiến. Nguyên tắc nàyđược thể hiện rõ nhất ở giai đoạn nghị án. Trong đó, các vấn đề của vụ án sẽ được giải quyết bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề một. Để nguyên tắc này được đảm bảo, BLTTHS cũng quy định rõ Thẩm phán là người biểu quyết sau cùng, người có ý kiến thiểu sốcó quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơvụ án
(Điều 222 BLTTHS)
+ Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật.
Quyđịnh này đòi hỏi khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm không được tùy tiện, chủ quan mà phải tuân thủ các quyđịnh của pháp luật để giải quyết vụ án.Điều 222 BLTTHS cũng quy định khi nghị án thì Thẩm phán và Hội thẩm chỉđược căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa và nội dung nghịán sẽ được ghi vào biên bản nghị án và làm căn cứ để tuyên án.
Sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xử là hai yêu cầu có mối quan hệ chặt chẽ, không thể tách rời. Sự độc lập đó phải nằm trong khuôn khổ pháp luật và ngược lại, chỉ khi tuân theo pháp luật thì mới có sự độc lập.
– Nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể (Điều 17)
Nguyên tắc này quyđịnh Tòa án xét xửtậpthể và quyết định theo đa số, không vụ án nào được xét xử bởi một cá nhân duy nhất.
Cụ thể, theo quy định của BLTTHS thì thành phần HĐXX sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm. Với vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp hoặcbị cáo bị đưa ra xét xửvềtội theo khung hình phạt có mức cao nhất làtửhình thì Hội
28
đồng xét xửsẽ gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm (Điều 185). Thành phần HĐXX phúc thẩm gồm ba Thẩm phán và trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai Hội thẩm (Điều 244). Thành phần Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Tòa hìnhsựTANDTC hoặc Tòa án Quân sự Trung ương có ba Thẩm phán. Nếu Ủy ban Thẩm phán hoặc Hội đồng Thẩmphán giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì thành viên tham gia xétxửphải chiếm hai phần ba tổngsốthành viêncủaban Thẩm phán hoặcHộiđồng Thẩm phán (Điều 281, 296).
BLTTHS cũng quy định quá trình nghị án để cho ra bản án thì các thành viên của HĐXX biểu quyết theo đa số từng vấn đề một, trong đó Thẩm phán biểu quyết cuối cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được lưu vào hồ sơ vụ án (Điều 222 BLTTHS)
Nguyên tắc này làmộtđảm bảo quan trọng để quá trình xét xửvụán diễn ra một cách toàn diện, khách quan; tránh sự chủ quan, độc đoán, tùy tiện.
– Nguyên tắc xét xử công khai (Điều 18)
Tính công khai trong xét xửlà một đảm bảo quan trọng để nhân dân có thể kiểm tra, giám sát hoạtđộng xét xửcũng như đảm bảo cho các hoạt động tại phiên tòa được tiến hành một cách khách quan, đúng đắn.
Điều 18 BLTTHS quy định:
Thứnhất, việc xét xửcủa Tòa ánđược tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do BLTTHS quy định.
Theo Điều 197 BLTTHS, mọi công dân từ 16 tuổi trở lên đều có quyền tham dựphiên tòa. Những người dưới 16 tuổi có thể tham gia phiên tòa nếu được Tòa án triệu tập đểxét hỏi. Các phiên tòa thường được tiến hànhtại trụsở các Tòa án hoặcđược xét xử lưu động tại nơi xảy ra hành vi phạm tội hoặc nơi cư trú của bị cáo.
Thứhai, trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ
tục của dân tộc hoặc theo yêu cầu chính đáng của những người tham gia tố tụng thì Tòa án có thể xét xửkín nhưng phải tuyên án công khai. Ngoài ra, theo Điều 307 BLTTHS, khi xét xửngười chưa thành niên phạm tội, trong trường hợp cần thiết, Tòa án có thể quyếtđịnh xét xửkín. Như vậy, việc xét xử công khaiđược đảm bảo,
29
việc xửkín hếtsức hạn chế, chỉ trong những trườnghợpcần thiết mới áp dụng. Ngay cả trong những phiên xử kín, việc tuyên án vẫn phải công khai.
– Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử (Điều 20) BTTHS quy định hai cấp xét xử là: cấp sơ thẩm và phúc thẩm.
Xét xử sơ thẩm là xét xử lần đầu vụ án. Bản án, quyết định của Tòa án cấp sơthẩm không có kháng cáo, kháng nghị thì sau 15 ngày kể từ ngày tuyên án hoặc từngàybị cáo, đương sựvắng mặt tại phiên tòa nhận được bản án hoặc từngàybảnán, quyếtđịnhđược niêm yết sẽ cóhiệu lực pháp luật.Nếubản án, quyết định của Tòa án có kháng cáo, kháng nghị hợp lệ thì vụ án sẽ được xét xử ở cấp thứ hai là xét xử phúc thẩm.
Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyếtđịnhsơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật. Theo Điều 241 BLTTHS, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị. Nếu xét thấy cần thiết thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể xem xét các phần khác không bị kháng cáo, kháng nghị của bản án để kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của của bản án, quyết định sơ thẩm. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay.
Ngoài ra, đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện cóvi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủtục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm
Việc quy định hai cấp xét xửsẽ tạo điềukiện cho vụán đượcđánh giá một cách kỹ lượng, toàn diện, đảm bảo cho Tòa án cấp trên khắc phục, sửa chữa những sai phạm trong bản án và quyết định của Tòa án cấp dưới để đưa phán quyết cuối cùng một cách đúng đắn và chính xác.
– Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án (Điều 19)
Bình đẳng trước Tòa án là sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủthể tham gia vào quá trình xét xử vụ án. Đây là một đảm bảo quan trọng để các chủthể thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, đảm bảo cho quá trình xét xử vụ án diễn ra một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Nội dung nguyên tắc này gồm:
+ Bên buộc tội và bêngỡ tội, những người tham giatố tụng khác đều bình
30
đẳng với nhau trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án.
+ Tòa án có trách nhiệm phải tạo mọi điều kiện để các chủ thể thực hiện các quyền của mình nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án.
Sựquyđịnhnày thể hiện sựdân chủ trong hoạt động xét xử, đảmbảo tínhđúng đắn, công bằng và khách quan cho phán quyết của Tòa án
– Nguyên tắc bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của Tòa án (Điều 22)
Bản án, quyết định của Tòa án làsựthể hiện sự phán quyết của Tòa án, đánh dấu sựkết thúc quá trình xét xử. Mọi vấn đề của vụ án (bị cáo phạm tội hay không phạm tội, hình phạt áp dụng, vấn đề bồi thường dân sự) sẽ được kết luận. BLTTHS quy định bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành. Mọi công dân, cơ quan, tổ chức phải chấp hành nghiêm chỉnh bảnán, quyết định của Tòa án và phải chịu trách nhiệmtrướcpháp luật về việc chấp hành đó. Đểnguyên tắcnàyđược thi hành, Phần thứnăm của BLTTHSđã quyđịnh cụ thểnhững vấn đề liên quan đến việc thi hành án và chấp hành bản án, quyết định của Tòa án. Bên cạnh đó, BLHS 1999 cũng quy định ba tội danh liên quan đến vấn đềnày là “Tội không chấp hành án” (Điều 304 BLHS), “Tội không thi hành án” (Điều 305 BLHS), “Tội cản trở việc thi hành án” (Điều 306 BLHS). Những quy định trên chứng tỏ vai trò quan trọng của bản án, quyết định của Tòa án, đồng thời quy định nghĩa vụ tôn trọng các phán quyết của Tòa án cũng như các biện pháp cưỡng chếkhi có vi phạm xảy ra.
– Nguyên tắc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan (Điều 29)
Theo quy định của Điều 29 BLTTHS thì nội dung của nguyên tắcnày được thể hiện như sau:
+ Người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạtđộngTTHS gây ra cóquyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi.
+ Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động TTHS đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi cho người bị oan, người đã gây thiệt hại cótrách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
31
Nguyên tắc này thể hiện sự tôn trọng triệt để các quyền cơ bản của công dânđồng thời nâng cao trách nhiệm của các cơ quan và những người có thẩm quyền tiến hành các hoạt động TTHS, để các hoạt động này ngày càng trở nên đúng đắn.
– Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong TTHS (Điều 31)Điều 31 BLTTHS quy định:
Thứ nhất, mọi công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại
Thứ hai, công dân có quyền tố cáo những việc làm trái pháp luật trong hoạtđộng TTHS của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng.
Thứba, cơ quan có thẩm quyền phải tiếp nhận, xem xét và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các khiếu nại tố cáo; thông báo bằng văn bản kết quả giải quyết cho người khiếu nại, tố cáo biết và có biện pháp khắc phục. Trình tự, thủ tục vàthẩm quyền giải quyết việc khiếu nại, tố cáo tại chương XXXV của BLTTHS 2003.
Nguyên tắcnày thể hiện bản chất dân chủ của hoạt động TTHS, là phương tiện bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và công dân, là mộttrong các hình thức để phát hiện và khắc phục các vi phạm trong tiến trình giải quyết vụ án.
– Nguyên tắcgiám sát của cơ quan, tổchức, đại biểu dân cử đối với hoạtđộng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng (Điều 32)
Để bảo đảm quyền con người trong TTHS, cũng như việc tạo điều kiện cho mọi người, mọi cơ quan, tổ chức có điều kiện tham gia đấu tranh mọi hành vi vi phạm pháp luật, Điều 32 BLTTHS quy định:
+ Các chủ thể có quyền giám sát hoạt độngvà việc giải quyết khiếu nại, tốcáo của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là: các cơ quan nhà nước, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận,đại biểu dân cử
+ Nếu phát hiện có hành vi trái pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hànhtốtụng thì các chủ thể trên có quyền yêu cầu/kiến nghị với các cơquan tiến hành tố tụng có thẩm quyền xem xét, giải quyết theo quyđịnh của BLTTHS 2003.
32
+ Việc giải quyết và trả lời yêu cầu/kiến nghị phải theo quy định của pháp luật. 2.1.2.2. Quy định về các biện pháp ngăn chặn
BLTTHS quy định 06 biện pháp ngăn chặn gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, cấmđi khỏi nơi cư trú, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảmđồng thời quy định một cách khácụ thể và đầy đủ về căn cứ, thẩmquyền cũng như thủ tục áp dụng các biện pháp này; là sự cụ thể hóa các nguyên tắc cơ bản của BLTTHS. Các biện pháp này nếu được áp dụng đúng đắn và chính xác thì sẽ phát huyđược tác dụng kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc đảm bảo cho quá trình điều tra, truy tố, xét xửvà thi hành án. Ngược lại, nếu nó bị áp dụng một cách tùy tiện, đặc biệt là với biện pháp bắt, tạmgiữ, tạmgiam thì sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng đến quyền tựdo, an toàn cá nhân của người bị áp dụng. Do đó, BLTTHS đãcó những quy định chi tiết và cụ thể để việc áp dụng các biện pháp này khi cần thiết không làm ảnh hưởng đến các quyền con người của người bị áp dụng.
Đó là các quy định về chủ thể có thẩm quyền áp dụng.
Theo quy định của BLTTHS thì việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn phải do các chủ thể đặc biệt quyết định. Các chủ thể đó gồm:
– Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT.
– Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND và VKS quân sự các cấp. – Chánh án và Phó Chánh án TAND và Tòa án quân sự các cấp.
Ngoài ra còn có một nhóm các chủ thể đặc biệt gồm: HĐXX, người chỉ huyđơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huyđồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; người chỉ huy tàu bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biểnđã rời khỏi sân bay, bến cảng.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ VỤ ÁN HÌNH SỰ
Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự Bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử vụ án hình sự

