Tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân

Tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân

MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

– TYT không những giúp cá nhân TNT về mình mà cònlà tiền đề, động lực có tác động trựctiếp đếnsự phát triển nhân cách. Thiếusự TYT là thiếu hiểu biết và thiếu cảm xúc của chính cá nhân về các phƣơng diệncủabảnthân, dẫn đến việc cá nhân đókhông tự điều chỉnh đƣợc hành động để hoàn thiện mình. TYT không nhữngđiều chỉnh quá trình thực hiện hành độngmà cònđiều khiển những kích thích hành động, đây là mộtbiểu hiện ở mức độcao tính chủ thể củanhân cách. Những yêucầucủa xã hội chỉ trở thành yêu cầu bên trong của cá nhân khi cá nhân cảmthấy yêu cầu đó hợp lí, cần thiết cho chính mình. TYTlà vấn đề cốtyếu của nhân cách con ngƣời ở những tầng bậckhác nhau. Mức độcủaTYT quyết định mức độcủatự địnhhƣớng, tự điều chỉnh động cơ, tự điểu khiển thực hiện, tự điều khiển kiểm tra, đánh giá hành động, hoạt động.

Trong quá trình sống và hoạt động, con ngƣời không chỉdừng lại ở mức độtựnhận biết về mình mà còn tỏ thái độ và TĐGbảnthân mình. Một cơ sở quan trọngđể cá nhân tiến tới tự kiểm soát, TĐCHV của mình là cá nhân TĐG đúng mình. Khi TYT không phù hợp sẽ ảnh hƣởng tiêu cực tớisự hình thành và phát triển nhân cách. Xu hƣớng thứ nhất, cá nhân dễ dàng, lí tƣởng hoá bản thân, tạo ra sự không

tƣơng ứng giữa khát vọng với khả năng bản thân hiện có, nguyên nhân của những xung đột nội tâm. Những xung đột này, mộtmặt, tự cảntrở sự phát triển nhân cách củachính bảnthân, mặt khác, gây nên những khó khăn cho mối quan hệ củacánhân với những ngƣời xung quanh. Xu hƣớng thứ hai, cá nhân không tin tƣởng vào năng lực của mình nên tự triệt tiêu khát vọngcủa bảnthân, không có khả năng hoạt động độc lập, sáng tạo.

– Trong mấy năm qua, tình trạng tái phạm tội của những ngƣời đã từng bị kếtán tù vẫn là vấn đề đáng quan tâmcủatoàn xã hội. Theo báo cáo tổngkếtvề công tác thi hành án phạt tù năm 2009 của Tổng cục cảnh sát thi hành án hìnhsự và Hỗ

trợ tƣ pháp –Bộ Công an chothấy tỷlệ tái phạm tội trung bình ở Việt Nam là 20% [1], đối với tội phạm về ma túy thì tỷ lệ này lên tới 40,6% [84, tr.941]. Tình trạng

8

này do ảnh hƣởng của nhiều yếu tố, trong đó TYT củaphạm nhân về HVPT và TYT của họ về HVCHHPT có vai trò rất quan trọng. Nó là yếu tố trực tiếp tác động đếnHVCHHPT, tức là, ý thứckỷluật, tinh thần học tập, lao độngchuẩn bịcho việc tái hòa nhập cồng đồng. Do vậy, việc phòng ngừa tình trạng tái phạm tội đối với những ngƣời bị kết án nói chung, những ngƣời bị kết án tù về các tội ma túy nói riêng là mộtvấnđề rất quan trọng xuyên suốt toàn bộquá trình thi hành án và “hậu” thi hành án hình sự. Sự chuẩn bị tốt về điều kiện tái hòa nhập cộng đồngđối vớinhững ngƣời đã từng phạm tội về ma túy sẽ phát huy đƣợc hiệu quả tốt hơn nếu có nghiên cứu đầy đủ về tâm lý của họ, trongđócó TYT về HVPT và HVCHHPT, vì nếu hiểu đúng về TYTvề HVPT và HVCHHPTcủahọsẽ có những biện pháp giáo dục phù hợp và có hiệu quả.

– Thực trạng vấn đề nghiên cứu TYT và HVCHHPTcủaphạm nhân dƣới gócđộtâm lý học còn rất ít, đặcbiệt nghiên cứu TYTvề HVPT và HVCHHPT của phạm nhân nói chung và phạm nhân CHHPT các tội phạmvề ma túy nói riêng ở

nƣớc ta chƣa đƣợc nghiên cứu một cách có hệ thống.

Về mặt lýluận, nghiên cứu này sẽ bổ sung thêm những vấn đề lý luận về TYT củaphạm nhân qua đó góp phần xây dựng lý luận của tâm lý học pháp luật ở nƣớc ta hiện nay nói chung và bổ sung lý luận cho môn học “Tâm lý quản lý giáo dục phạm nhân” nói riêngtạiHọc viện Cảnh sát Nhân dân. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu TYT về HVPT và HVCHHPTcủaphạm nhân chấp hành án các tội về ma túy góp phần vào việc quản lý giáo dục cải tạo phạm nhân nói chung và những phạm nhân CHHPT các tội về ma túy nói riêng. Xuất phát từ những cơ sở trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề: “Tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân” làmđề tài nghiên cứu của mình.

2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Chỉra thực trạng TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân. Làm rõ một sốyếu tố ảnhhƣởng(niềm tin,mốiquan hệ tƣơng tác giữa phạm nhân với phạm nhân, giữa phạm nhân với gia đình, giữa phạm nhân với cánbộtrại giam) và từ đó đề xuất mộtsốbiện pháp nhằm nâng cao TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân.

3. ĐỐI TƢỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tƣợng nghiên cứu

Biểu hiện TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân. 3.2. Khách thể nghiên cứu

– Phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù: 400 phạm nhân – Cán bộ trại giam: 100 cán bộ trại giam

– Gia đình phạm nhân đang CHHPT các tội về ma túy: 10 gia đình

4. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

4.1. Xây dựng cơ sở lý luận nghiên cứu TYTvề HVPT và HVCHHPT, nhƣ: khái niệm TYT, HVPT, HVCHHPT.

4.2. Nghiên cứu thực trạng vấn đề

Làm rõ thực trạng TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân và phân tích mộtsốyếu tốảnhhƣởngđến TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân các tội về ma túy.

4.3. Đề xuất mộtsố biện pháp nâng cao TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt độngquản lý, giáo dục phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù tại các trại giam thuộc Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tƣ pháp – Bộ Công an (TCVIII-BCA).

5. GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU

5.1. Giới hạn về nội dung

TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân là vấn đề rất rộng, trong khuôn khổ nghiên cứu thực tiễn của luận án chúng tôi chỉtậptrung nghiên cứu thực trạng TYTcủaphạm nhân qua: biểu hiện và mức độ của TYTvềHVPT và HVCHHPT trong quá trình cải tạo của phạm nhân phạm các tội về ma túy.

– Có nhiềuyếutố khác nhau tác động đến TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân. Tuy nhiên, luận án chỉphân tích mộtsốyếutố tác độngđến TYTvềHVPT và HVCHHPT của họ: niềm tin của phạm nhân vào tƣơng lai; mối quan hệ giữa phạm nhân vớiphạm nhân; mốiquan hệ giữa phạm nhân vớigia đình; mối quan hệ giữa phạm nhân với cán bộ trại giam.

5.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu

Đề tàitiến hành nghiên cứu tại 4 trại giam: trại giam Tân Lập – Phú Thọ; trại giam Hoàng Tiến – Hải Dƣơng; trại giam Phú Sơn 4 – Thái Nguyên; trại giam Ngọc

Lý – BắcGiang, thuộc Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tƣ pháp – Bộ công an (TC VIII-BCA).

5.3. Giới hạn về khách thể nghiên cứu

– Phạm nhân là ngƣời Việt Nam phạm các tội về ma túy hiện đang chấp hành hình phạt tù tại 4 trại giam (trại giam Hoàng Tiến, trại giam Ngọc Lý, trại giam Tân Lập, trại giam Phú Sơn 4) có độ tuổi từ 18 trở lên (từ đây trở đi gọi chung là “phạm nhân”).

– Cán bộ trại giam (cán bộ trinh sát, cán bộ giáo dục, cán bộ quản giáo, cán bộ cảnh sát bảo vệ).

– Gia đình của phạm nhân đang CHHPT các tội về ma túy

6. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

6.1. TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân các tội về ma túy thể hiện rõ nhất ở TNT, TĐG về HVPT và HVCHHPT, trongđó thể hiện rõ nhất ở mặt:

TNT về nguyên nhân và hậuquả củaHVPT, TĐG HVPT và hành vi chấp hành lao động, hành vi chấp hành nội quy, kỷ luật trong trại giam.

6.2. Có nhiều yếu tố tác độngđến TYTvề HVPT và HVCHHPT củaphạm nhân. Yếutốniềm tin củaphạm nhân vào tƣơng lai và mốiquan hệ giữa phạm nhân và cán bộ trại giam có ảnh hƣởng mạnh tới TYT về HVPT và HVCHHPT.

Ngƣợc lại, mối quan hệ giữa phạm nhân với phạm nhân ảnh hƣởng yếutớiTYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân.

7. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1. Phƣơng pháp luận

– Nguyên tắc hoạt động: Hoạt động là phƣơng thức hình thành, phát triển và thể hiện TYT nói chung và TYT về HVPT và HVCHHPT nói riêng. Đồngthời TYT củacon ngƣời là cái giúp mỗicá nhân hoạt độngtự tu dƣỡng, TĐCHV của bảnthân ở trình độ TYT. Do đó nếu TYT phù hợp về HVPT và HVCHHPT cơ sởđể PNCHHPTmộtcách chủ động, tích cực bằng chínhnội lực củabản thân họ. Sự chấp hành hình phạt tù mộtcách chủ động, tích cựctừ nội lực củaphạm nhân sẽlàm thay đổi TYT của họ về chính HVPT của mình.

– Nguyên tắc hệ thống:Đểviệc CHHPT của PN đƣợc tốt hơn thì những yếu tố

nhƣ nhận thức của PN về hình phạt tù, niềm tin của PN vàobảnthân, sự tác động củacác bạn tù, của gia đình, cán bộ trại giam là rất quan trọng. Do vậy, cần nghiên cứu thực trạng TYT về HVPT và HVCHHPTcủaPN trong mối quan hệ tƣơng hỗ của các yếu tố tác động tới TYT của họ.

7.2. Hệ thống phƣơng pháp nghiên cứu

– Phƣơng pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu – Phƣơng pháp điều tra bằng phiếu hỏi

– Phƣơng pháp phỏng vấn sâu – Phƣơng pháp quan sát

– Phƣơng pháp nghiên cứu TYT của phạm nhân qua lịch sử cuộc đời – Phƣơng pháp chuyên gia

– Phƣơng pháp nghiên cứu trƣờng hợp

8. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

Đã có những nghiên cứu về TYT, song chƣa có nghiên cứu TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân. Do vậy, kết quả nghiên cứu lý luận củaluận án góp phần bổ sung các khái niệm TYTvề HVPT và HVCHHPT của phạm nhân phạm các tội về ma tuý, chỉ ra đƣợc những cấu thành tâm lýcủacác khái niệm trên cho tâm lý học nói chung và tâm lý học pháp luật nói riêng ở nƣớc ta hiện nay.

Kết quả nghiên cứu thực tiễn góp phần làm sáng rõ thực trạng TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân phạm các tội về ma tuý, là cơ sở giáo dục, cải tạohọ đạt hiệu quả cao hơn.

Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo để giáo dục về TYT chấp hành các hành vi cần thiết của phạm nhân ở trong trại giam.

9. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN

Luận án gồm: Mở đầu, 3 chƣơng, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, danh mục các công trình công bố, phụ lục.

Tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân
Tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân

CHƢƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU TỰ Ý THỨC VỀ HÀNH VI PHẠM TỘI

VÀ HÀNH VI CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ CỦA PHẠM NHÂN

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊNCỨU VỀ TỰ Ý THỨC VÀTỰÝ THỨC VỀHÀNH VI PHẠM TỘI VÀ HÀNH VI CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ

1.1.1. Tổng quan những nghiên cứu về tự ý thức

1.1.1.1. Những nghiên cứu về tự ý thức ở nước ngoài

1.1.1.2. Những nghiên cứu về tự ý thức ở Việt Nam

1.1.2. Những nghiên cứu tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù

1.1.2.1. Những nghiên cứu tựý thứcvề hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù ở nước ngoài

21

1.1.2.2. Những nghiên cứu tựý thứcvề hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù ở Việt Nam

1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA TỰ Ý THỨC VỀ HÀNH VI PHẠM TỘI VÀ HÀNH VI CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ CỦA PHẠM NHÂN PHẠM CÁC TỘI VỀ MA TÚY

1.2.1. Các khái niệm cơ bản

TYT là mức độ phát triển cao của ý thức. Do vậy khi nghiên cứu TYT chúng tôi tiếp cận trong mối liên hệ với khái niệm ý thức.

22

1.2.1.1. Ý thức

Ý thức là một phạm trù lớn, vô cùng phứctạp, đƣợc nhiềulĩnh vực khoa học xã hội quan tâm nghiên cứu. Trong triết học, đây là một phạm trù cơ bản, là vấnđề trung tâm để giải quyết các vấn đề của lĩnh vực này. Từ góc độ tâm lý học, trong nghiên cứu này, chúng tôi xem xét khái niệm ý thức theo các quan điểm khác nhau của các trƣờng phái tâm lý học.

Các đạidiện của tâm lý học duy tâm, nội quan, phân tâm, HV, hiện sinh (V. Vunt, W. Giêmx, Phrớt, Tônman, Rôgiơ…) cho rằng: ý thức là cái gìđó ở bên ngoài, không có phẩm chất và cấu trúc, hoặc một cái gì đó trừu tƣợng – trải nghiệm, thể nghiệm, máy móc và thụ động; tách rời khỏi thế giới đối tƣợng xung quanh, các quan hệ xã hội và các hoạtđộngcủa con ngƣời tạo ra thế giới và các quan hệ ấy.

Tráingƣợcvớicác quanđiểmduy tâm và duy vật siêu hình, tâm lý học mác – xít đã vận dụng sáng tạo các nguyên lý của triết học mác – xít, xây dựng nên mộtphƣơng pháp luận riêng cho tâm lý học với các nguyên tắc cơ bản: coi tâm lý là hoạt động; tâm lý có tính lịch sử – xã hội và v.v… Trên cơ sở đó, cách tiếp cận vấnđề và giải thích thực sự về tâm lý, ý thức đƣợc thay đổi tâm gốc. Phƣơng pháp tiếp cận hoạt động, ngày nay, đƣợc thừa nhận là cách tiếp cận chủ yếu để nghiên cứu các quy luật phát triển ý thức, nhân cách con ngƣời. Tâm lý học mác xít xem ý thức là sự phản ánh tồn tại khách quan vào não ngƣời, ý thức là hình thức đặc thù củatâm lý ngƣời, đƣợc hình thành trong những hoạt động sống của con ngƣời, là sảnphẩm của những quan hệ xã hội đã đƣợc hình thành trong lịch sử mà con ngƣời tham gia vào. Trong quá trình ấy, con ngƣời đồng thời là sản phẩm và là chủthểcủasự phát triển của xã hội loài ngƣời, với tính cách là mộtchủ thể hoạt độngcó ý thức. Ý thức giúp con ngƣời đi sâu vào khám phá, hiểu biết một cách sâusắc, đẩyđủvề bản chất của sự vật vàhiện tƣợng, tạo ra những mối quan hệ với thế giới đa dạng phong phú đó.

Khi tìm hiểu về ý thức chúng tôi đồng nhất với quan điểm của các nhà tâm lý học mác xít cho rằng:

23

Ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhấtchỉcó ở con người, là khả năng con người hiểu được các tri thức mà họđã tiếp thu được, là tri thức về tri thức, phản ánh của phản ánh.

* Đặc điểm của ý thức

– Tính nhận thức của ý thức

Đây là mặt nhận thức của ý thức, là hiểu biết của hiểu biết, gồm các mức độ:

Nhận thức cảm tính: manglạinhững tƣ liệu cho ý thức; cảm giác cho ta hìnhảnh từng thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tƣợng; tri giác mang lại cho ta những hình ảnh trọn vẹn bên ngoài của sự vật, hiện tƣợng. Những hình ảnhđógiúp chúng ta thấy đƣợc sự tồn tại thật của thế giới khách quan và đó là nội dung ban đầu và cũng là bậc sơ cấp của ý thức.

Nhận thức lý tính: mang lại cho ta hình ảnhkhái quát bản chất của thực tại khách quan và mối liên hệ giữa các sự vật và hiện tƣợng. Đây là nội dunghếtsức cơ bản của tri thức. Tri thức là hạt nhân cơ bản của ý thức. Do vậy ý thức là sự hiểu biết về thế giới khách quan.

– Tính đánh giá (tính phê phán) của ý thức

Khi nhận thức thế giới, con ngƣời phải lựa chọn và thể hiện các mức độ rung

cảmcủacá nhân nhƣ yêu ghét, hoài nghi, phù hợp hay không phù hợp…Đó là sự đánh giá của cá nhân đối với cái đƣợc nhận thức, là sự biểu hiện của ý thức trong những điều kiện cụ thể. Ví dụ, một ngƣời có ý thức pháp luật giao thông đƣờng bộ

thƣờng có nhận xét, đánh giá về nội dung, quy tắc của luật giao thông đƣờng bộ và từ đó có thể đồng tình hay không đồng tình.

– Tính điều chỉnh (tính hoàn thiện) của ý thức

Ý thức điều chỉnh, điều khiển hoạt động của con ngƣời làm cho hoạt động có ý thức. Đó là quá trình conngƣời vậndụng những hiểu biết và tỏ thái độ của mình nhằm thích nghi, cải tạo thế giới và cải biến cả bản thân. Một con ngƣời có ý thức hay không sẽ đƣợc đánh giá qua mặt này của ý thức.

* Các biểu hiện của ý thức

– Ý thức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con ngƣời về thế giới.

24

Đó là nhận thức cái bản chất, nhận thức khái quát bằng ngôn ngữ. Từ đó, cá nhân có thể dự kiến trƣớc đƣợc kế hoạch, kết quả của HV và làm HV mang tính có chủ định.

– Ý thức thể hiện thái độ của con ngƣời đối với thế giới.

Ý thức không chỉ nhận thức sâu sắc về thế giới mà còn thể hiện thái độ đối với thế giới.

– Ý thức thể hiện năng lực điều khiển, điều chỉnh HV của con ngƣời.

Trên cơ sở nhận thức bản chất khái quát và tỏ thái độ với thế giới, ý thức điều khiển, điều chỉnh HVcủaconngƣời đạttới mục đích đã đề ra. Vì thế ý thức có khảnăng sáng tạo.

– TYT là mức độ phát triển cao của ý thức.

Con ngƣời không chỉ ý thức về thế giới càng ngày càng sâu sắc hơn mà còn có khả năng TYT, có nghĩa là khả năng nhận thức về mình, tự đánh giá bản thân, tựđiều khiển, điều chỉnh, tự hoàn thiện mình.

1.2.1.2. Tự ý thức

Theo từ điển Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, TYT đƣợc giải nghĩa là “sự hiểu biết đầy đủ về bản thân mình, về giá trịvà vai trò của bảnthân mình trong cuộc sống, trong xã hội” [116].

Từ điển Tâm lý học do A.V. Petrovski và M.G. Iarosevski tổng chủ biên định nghĩa: “TYT chính là quan niệm về cái Tôi, hình ảnh cái Tôi của cá nhân” [114].Đó là “Hệthống các biểu tƣợng của con ngƣời về bảnthân, tƣơng đối ổnđịnh,

đƣợc trải nghiệm nhƣ mộthệ thống độc đáo. Trên cơsở đó, cá nhân xây dựng sựtác động qua lại của mình với những ngƣời khác, với thế giới bên ngoài”.

Purkey (1998) địnhnghĩa TYT là “Tổng thể mộthệ thống phức tạp (có tổchức, có biến động) về các niềm tin, thái độ và ý kiến mà mỗi ngƣời cho là sự thật về sự tồn tại cá nhân của mình [102].

Franken (1994) cho rằng khái niệm cái Tôi có liên quan đến sự TYT bản thân. Những ngƣời TYT tốtcó mộtkhái niệm cái Tôi khá rõ ràng “Khi con ngƣời biết mình, họcó kết quả tối đa bởivìhọ biết những gì họ có thể làm và những gì họkhông thể làm” [96].

25

Susan Harter nói về quan hệ giữa cái Tôi và TYT, ông cho rằng cái Tôi đƣợc gắnvào một hệ thống các quá trình quan hệ bên trong baogồmba phần: Ban đầu làTYT, trẻ biết gì về bản thân chúng và khi nào thì chúng có đƣợc sự hiểu biết này? Sự hiểu biết này có quan hệ với sự biểu về những yếu tố khác của môi trƣờng xã hội và thể lực củachúng nhƣ thế nào? Phần thứ hai là TĐG, các yếutốnào ảnh

hƣởng đến các kinh nghiệmcủatrẻ về bản thân chúng ? Những kinh nghiệm này có ảnhhƣởng hoặc có ý nghĩa đối với các HVcủachúng hay không? Phần thứ ba là tựđiều chỉnhbảnthân: Khi nào trẻ em có thể tự kiểm soát bản thân và chúng làm việc đó nhƣ thế nào? Yếu tố nào ảnh hƣởng tới quá trình này ? [97].

Khi nghiên cứu ý thức về cái Tôi, theo quan điểmcủaA.V. Petrovski thì TYT chính là sự phát hiện ra cái Tôi và là hìnhảnhcủacái Tôi. Con ngƣời khi tham gia vào quan hệ xã hội đã tách biệt bản thân mình khỏi môi trƣờng xung quanh, cảm thấy bản thân là chủ thể của các trạng thái, hoạt động, của các quá trình tâm lý, thểchất củamình. “cái Tôi” tƣơng phản với“ngƣời khác” nhƣng luôn luôn quan hệ mật thiết với nhau. Xem xét quá trình khám phá ra cái Tôi của nhân cách, I.X.Konđiđến kếtluận là ở tuổithiếu niên mộthệ thống chi tiết TĐG đạođức xã hội bắt đầuhình thành thông qua kết quả của việc tham gia tích cực vào cuộc sống xã hội và hoạt động lao động, hoàn thành sự phát triển TYT và hình thành hìnhảnh “cái Tôi” [110].

Theo A.N. Leonchiev, sự không trùnghợpgiữa “cái Tôi” với cái mà chủthểhiểu biết về bảnthân mình là điều đã hoàn toàn rõ ràng. Ngay từ lúc còn rất nhỏ (khoảng 2-3 tuổi) cá nhân đã bắt đầu có những hiểu biết, những biểu tƣợng về bản thân. Còn ý thức bản ngã, ý thức về “cái Tôi” của mình, là kết quả, là sảnphẩm

đƣợc hình thành của mộtcon ngƣời với tƣ cách là mộtnhân cách [38]. Nhƣ vậy, theo Leonchiep thì có mốiquan hệ khá chặt chẽ giữa cái Tôi và TYT, tuy nhiên giữa chúng cũng có sự khác biệt tƣơng đối với nhau.

Theo Vƣgotxki: “TYT là ý thức xã hội đƣợc chuyển vào bên trong”. Từ luận điểmnày ông đi đến nhận xét: Thiếu niên trong quan hệ với ngƣời lớn đã “tích cực lĩnh hội từ thế giới ngƣời lớn những giá trị khác nhau, những chuẩn mực, phƣơng thức hành động, là những cái tạo thành nội dung mới của ý thức, biến chúng thành

26

những yêu cầu đối với bản thân mình, thành tiêu chuẩn đánh giá và TĐG”. Nhƣvậy theo tác giả, TĐG chỉ xảy ra khi nào có TYT, nhờ có TYT mới có thể có TĐG. Quan điểmnàyđã đƣợc X.L. Rubinstein khẳng định khi ông diễn giải quá trình hình thành TYT. Ông cho rằng: “Trong sự phát triển của ý thức diễn ra một loạt các mức độtừ sự nhận thức đơn giản về bản thân dẫn tới sự nhận thức bản thân ngày càng sâu sắc hơn”[115].

Trong TYT thì TĐG là mức độ phát triển cao, xuất hiện muộn trong sự phát triển tâm lý cá nhân. TYT phát triển tới một giai đoạn nhất định thì TĐG mới hình thành nhƣ V.P Levcovic quan niệm: “TĐG là giai đoạn phát triển cao của TYT nóbao gồm không chỉ sự nhận thức về bản thân mà cả sự đánh giá đúng sức lực, khả năng và thái độ phê phán đối với bản thân”[113].

Mộtsố tác giả nhƣ Nguyễn Quang Uẩn, Đinh Văn Vang, Nguyễn Văn Lũy cho rằng: “TYT là mức độphát triển cao củaý thức. TYT là ý thức về mình, cónghĩa là khi bản thân trở thành đối tƣợng “mổ xẻ”, phân tích, lý giải…thì lúc đó, con ngƣời đang TYT. TYT đƣợc biểu hiện ở những mặt sau: Chủ thể TNT về bản thân mình từ bên ngoài đến nội dung tâm hồn, đến vị thế và các quan hệ xã hội, trêncơ sở đótự nhận xét, TĐG. Có thái độ rõ ràng đối với bản thân, tự điều chỉnh, điều khiển HV theo mục đích tự giác. Chủ thể có khả năng tự giáo dục, tự hoàn thiện mình”[69].

Khi nghiên cứu về sự phát triển nhân cáchcủahọc sinh THCS, Lê Văn Hồng và Lê Ngọc Lan nhấn mạnh: “Do sự phát triển mạnh mẽ của cơ thể, của trí tuệ và đặcbiệt, do sự phát triển của các mối quan hệ xã hội và sự giao tiếp trong tậpthểmà ởthiếu niên đã xuất hiện nhu cầuquan tâm đếnđờisống nội tâm củamình, quan tâmđếnnhững phẩm chất nhân cách riêng, xuất hiện nhu cầu TĐG, so sánh mình với ngƣời khác.Mức độTYTcủacác em thiếu niên cũng có khác nhau. Ban đầu các em nhận thức HV của mình (những cử chỉ, HV riêng lẻ, sau đến toàn bộHV nói chung). Tiếp đến là nhận thức những phẩm chất và năng lực của mình trong các phạm vi khác nhau. Trƣớc hếtlà những phẩm chất liên quan đến việc hoàn thành nhiệmvụhọctập (sự chú ý, chuyên cần, kiên trì…). Rồiđến những phẩm chất thể hiện thái độ đối với ngƣời khác và bản thân. Cuối cùng mới là những phẩm

27

chất phức tạp thể hiện mối quan hệ nhiềumặt củanhân cách (tình cảm trách nhiệm, lòng tự trọng,…)” [27, tr45-46].

Tóm lại, các ý kiến của các tác giả nƣớc ngoài và các tác giả trong nƣớc khi nghiên cứu về TYT đềucó điểmchung: TYT là mộtmức độphát triển cao của ý thức, đƣợc biểu hiện: thứ nhất, cá nhân TNT về mình (từ hình thứcbề ngoàiđến nội dung tâm hồn);thứhai, trên cơ sở TNT về mình cá nhân TĐG chính bản thân mình; thứ ba, khả năng tự điều chỉnh HVcủamình dựa trên những quy tắc HV màcá nhân đã thừa nhận và lựa chọn.

Từ những quan điểm và phân tích ở trên chúng tôi đi đến định nghĩa:

Tự ý thức là một dạng phát triển cao của ý thức được cấu thành bởi tự nhận thức, tự đánh giá và tự điều chỉnh hành vi của bản thân theo chuẩn mực, quy định của xã hội được họ thừa nhận và lựa chọn.

Có thể nói rằng, tấtcả những gì thuộc về chủthể đều có thể trở thành đối

tƣợng củaTYT. Do đó, TYT có nội dung rất phong phú và đa dạng: banđầu, cánhân nhận thức về chính mình từ hình thức bên ngoài, tiếp đến, nhận thức về nhữngđặcđiểmnhân cách, vị trí vai trò của mình trong các mối quan hệ xã hội. Trên cơ sở TNT về bản thân và những hiểu biết về thế giới bên ngoài, cá nhân TĐG mình,

từ đó, điều chỉnh HV của mình cho ngày càng phù hợp với quy tắc và chuẩn mực

đƣợc cá nhân thừa nhận và lựa chọn.

Theo chúng tôi, TYTthƣờng đƣợc biểu hiện ở:

– TNT về bản thân, ban đầu, thông qua những nhận xét, đánh giá của ngƣời khác, thông qua các trải nghiệm trong các hoạt động, cá nhân TNT về các đặcđiểm củabản thân, đồng thời, trên cơ sở nhận thức các quy tắc HV, những chuẩn mực xãhội, họ thừa nhận và lựa chọn những điều phù hợp.

– Trên cơ sở đó, cá nhân tiến hành phân tích, đánh giá nhữngđặcđiểmcủa chính mình trong các mốiquan hệ xã hội, trong các điều kiện hoạt động cụ thể. Cùng với sự TĐG, ở cá nhân xuất hiện tự bàytỏ thái độđối với chính mình (có thể là hài lòngvớichính mình, cảm thấy tự hào hay hổ thẹn với chính mình…).

28

– Kết quả trên sẽ dẫnđếntự điều chỉnh, điều khiển các hoạt động của mình cho ngày càng phù hợp hơn với những quy tắc HV, những chuẩn mực xã hội mà mình đã thừa nhận và lựa chọn.

Dấu hiệu đặctrƣngcủachủ thể TYT thểhiện ở TNT, TĐG và điều khiển -điều chỉnh bản thân chủ thể. Từ đó,chúng ta có thểđo TYT ở các mức độcao – thấp, ổn định – không ổn định, tích cực – tiêu cực trong các dấu hiệu của nó.

Bản chất tâm lý của TYT là ý thức về chính bản thân chủ thể từ hình thức bề ngoài đến nội dung tâm hồn và sự điều chỉnh hành vicủa bảnthân..

* Đặc điểm của TYT

– Tính nhận thức của TYT

Đƣợc thể hiện ở chỗ cá nhân TNT về sự hiểu biết của bản thân, TNT về thái độcủa bảnthân và TNT về HVcủabản thân. Tính nhận thức thể hiện sự đúng hay sai, gắn với quy tắc và chuẩn mực xã hội đƣợc cá nhân thừa nhận và lựa chọn.

– Tính đánh giá (tính phê phán) của TYT

TĐG là một cơ sở của TYT, nóthể hiện ở chỗtốt hayxấudựa trên quy tắc và chuẩn mực mà cá nhân thừa nhận và lựa chọn.

– Tính điều chỉnh (tính hoàn thiện) của TYT

Mỗicá nhân dựa trên sự TNT về hiểu biết của bản thân từ đó phê phán và dẫn tớitự điểu chỉnh để dẫn tới sự hoàn thiện bản thân. Tính tự điều chỉnh là tiêu chíđể đánh giá TYT vì điều chỉnh sẽ đem lại kết quả của TYT.

Nhƣ vậy, TYT là điều kiện để mỗi cá nhân trở thànhchủthể hành động độc lập, trở thành chủ thể của xã hội.

* Cấu trúc (cấu thành) của tự ý thức

Vấn đề cấutrúc của tự ý đƣợc các nhà tâm lý học Xôviết nghiên cứu nhiều. Chesnokova (1977) xem xét TYT nhƣ một quá trình phức tạp, nhiều bậc, trên cơ sở các quá trình tâm lý (quá trình nhận thức, xúc cảm và ý chí). Theo tác giả, cấu trúc TYT có các thành tố: TNT, thái độ cảm xúc, giá trị tự điều chỉnh [3].

Mộtsố nhà khoa học nhƣ: Petrulite (1985), Mironova (1985), Coodiev (1980) xem xét cấu trúc về mặt thời gian của tự ý thức.Nó đƣợc biểu hiện dƣớidạng:“Cái

29

Tôiquá khứ”, “Cái tôi hiện tại”,“Cái Tôi lý tƣởng”. Các tác giả trên đã đồng nhất các quá trình tâm lý với các yếu tố TYT.

Có quan điểm cho rằng TNT khác với TYT ở chỗ TNT là một quá trình hƣớng vào bản thân, nhận thức những thông tin về chính mình, nghĩa là TNT cầnphải xem nhƣ là cơ chếhình thành TYT chứ không phải là mộtthànhtốcủa TYT. Tựđiều chỉnh HV cũng không thể coi là mộtthànhtốcủa TYT vì nó thực hiện chức năng điều chỉnh của TYT trong HV và hoạt động.

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực nghiệm, các nhà tâm lý học đƣa ra phân loại các hình thức biểu hiện của TYT. Có ba hình thức biểu hiện chính, với các sắc thái khác nhau đó là:

– Nhận thức – TNT, phân tích, đánh giá biểu tƣợng về bản thân

-Cảmxúc – thái độ cảmxúc của con ngƣời đối với bản thân: Khiêm tốn, tựhào, kiêu hãnh.

– Ý chí – những biểu hiện tâm lý tích cực,gồmcả điều chỉnh có ý thức các HV, hành động của bản thân, thái độ đối với xung quanh: kiềmchế, tự chủ, kỷluật, tự kiểm soát.

Theo tác giả Trần Ninh Giang thì “Trong hoạt động tâm lý của con ngƣời, TYT là một cấu trúc chỉnh thể, thống nhất ở mức tƣơng quan nhất định cả ba hình thức: tự nhận thức, thái độ cảm xúc và ý chí” [20, tr 307-308].

V.V.Xtolin cho rằng: “TYT là thể thống nhất không thể tách rời của ba mặt – TNT, tự tỏ thái độ, và tự điều chỉnh bản thân” [120, tr.245].

Từ chỗxác định TYT là trình độ phát triển cao của ý thức, các tác giả trong

nƣớc – Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành cũng đi đến khẳng định thành phần của TYT bao gồm: “khả năng TNT về mình, tự xácđịnh thái độ đối với bản thân, tự điều khiển, điều chỉnh, tự hoàn thiện mình”. Nhƣ vậy, cũng

nhƣ ý thức, cấu trúc của TYT gồm 3 mặt: mặt nhận thức, mặt thái độ và mặt hành động, song ở trình độ phát triển cao.

Kế thừa có chọn lọcquan điểmcủacác tác giảnghiên cứu TYT đi trƣớc, chúng tôi cho rằng, TYT là mộtcấutrúc tâm lý phức tạpbao gồm: TNT về bản thân; TĐG bản thân; Tự điều chỉnh HV của bản thân.

– TYT thể hiện qua TNT về bản thân

30

TNT củamỗicá nhân có đƣợc trên cơ sở: thứ nhất, từ những ý kiến nhận xét về các mặt khác nhau của họ, thông qua giao tiếp với những ngƣời xung quanh; thứhai, từ những trải nghiệmcủabản thân trong các hoạt độngcụ thể, cá nhân có cơ hội kiểm nghiệm những ý kiến nhận xét đó, tự rút ra những điều đúng, những điều

chƣa đúng, để khẳng định nhữngđặc điểmcủamình, đồngthời, tự bản thân họ cũng khám phá, phát hiện thêmnhiều đặcđiểmkhác củabảnthân. TNT là tập hợp những tri thức, hiểu biết củamỗicá nhân về bản thân bằng nhiều con đƣờng khác nhau trong cuộc sống.

TNT là sự hiểu biết về bản thân (từ nhữngđặcđiểmhình thức bên ngoàiđến nhữngđặcđiểmnhân cách, đạo đức, cả nhữngđiểmmạnh và những điểmyếu). TNT cho phép mỗi chủ thể hiểu về ngƣời khác, cách ngƣời kháccảmnhận về chủthể cũng nhƣ thái độ và phản hồi củachủthể. Do đó, TNT là cơ sở, nềntảng hỗtrợ cho năng lực tƣ duy cảm xúc. TNT là cơ sở của TĐG và tự điều chỉnh bản thân, bởi nếuchủ thể không hiểu biết về mình, không hiểu cảmxúc của bản thân thì sẽ không hiểu đƣợc cảm xúc của ngƣời khác? TNT còn giúp chủ thể biết động cơ và hứng thú, đam mê của mình. Từ đó, hƣớng chủthể đến nhữnghoạt động yêu thích, làm việc vui vẻ và có hiệu quả hơn và hài lòng với bản thân hơn. Mức độ hiểu biết bảnthân càng rõ ràng, chủ thể càng có khả năng kiểm soát và lựa chọn HV muốn biểu hiện.

Tóm lại, theo chúng tôi hiểu thìtựnhận thức là nhận biết và hiểu rõ bản thân mìnhđã biết về những cái gì, cái gì mình chưa biết, những tiềm năng, tình cảm, những mặt mạnh, mặt yếu của mìnhđể có thể xácđịnhmụctiêu phù hợp, ra quyết định đúng.

– TYT thể hiện qua TĐG bản thân

Khi xem xét về những thay đổi của TNT trong quá trình phát triển, Damon và Hart (1982) khẳng địnhTĐG bản thân thay đổi qua các thời kỳ sống khác nhau. Thực tế cho thấy, trong TĐG của cá nhân ngày càng gia tăng nhữngyếutốtrừu

tƣợng. Khi đề cập đến cái Tôi, cá nhân ngày càngđềcậpđến những đặc điểmtâm lý hơn là những đặc điểm về cơ thể [95, tr.51, tr.727-735].

31

TĐG của cá nhân thể hiện nhận thức của họ về bản thân mình, tổng thể những niềm tin về chính những thuộc tính của bản thân. Nó thể hiện cách cá nhân đánh giábảnthân trong những lĩnh vực quan trọng đối với chính mình. Trong đó, cá nhân có thể có sự đánh giá tích cực bản thân mình ở lĩnh vực này và đánh giá tiêu cực với bảnthân ở lĩnh vực khác. Những nghiên cứu khẳng định rằng, mỗi cá nhân có thái độđối vớibảnthân mộtcách tổng thể, phản ánh cách đánh giá giá trị của chính mình một cách khái quát [97]. Nhƣ vậy, có thể xem xétthái độcủabản thân của cánhân là sự TĐG của cá nhân về những thuộc tính và đặcđiểmcủa bản thân về tổng thể cũng nhƣ các khía cạnh cụ thể, trong từng hoàn cảnh cụ thể.

Tóm lại, trên cơ sở những hiểu biết vềmình, cá nhân TĐG chính mình, thể hiện sự đồngtình hay không hài lòng/phê phánnhững đặc điểmcủabản thân như hình thức bên ngoài, cử chỉ, điệu bộ, lời nói, việc làm của chính mình.

– TYT thể hiện qua tự điều chỉnh hành vi của bản thân

Từ chỗnhận thức về sự hiểu biết của bản thân, nhận thức những chuẩn mực, quy địnhđúng và thừa nhận và lựa chọn chúng, cá nhân TĐG bảnthân, thể hiện thái độ đồngtình hay phê phán vớichính mình. Trên cơ sở đó, họđƣa ra những biện pháp, chiến lƣợc cầnthiết để điều chỉnhbản thân cho phù hợp hơn với chuẩn mực mà mình đã thừa nhận và lựa chọn.

Chức năng điều chỉnhbảnthân thông qua việc xác định các lựa chọn củachủthể và các kế hoạch cho tƣơng lai (Maumeister, & Vohs, 2003; Carver & Scheier, 1998) đƣợc dựa trênsự TNT bảnthân. Con ngƣời là giống loài duy nhất có năng lực lập kế hoạch dài hạn và các kế hoạch liên quan đến học hành, gia đình, việc làm đòi hỏi cái Tôi phải có năng lực tự điều chỉnh bản thân. Nguồn năng lƣợng đƣợc huy động cho quá trìnhtự điều chỉnh bảnthân thƣờng có tính chất hạn chế. Các nghiên cứu cho thấy rằng, những ngƣời theo chế độ ăn kiêngdễ trở nênyếuhơn vào banđêmkhi họ mệt mỏi. Những ngƣời đã từng hút thuốc dễ lặp lại thói quen hút thuốc khi gặp các tình huống khó khăn. Nhữngngƣời bịchứng “nghiện ăn” dễ ăn uống“say sƣa”sau một ngày dài tự kiểm soát mình. Năng lƣợng cho sự tự kiểm soát cũng có giới hạn.Mọingƣời đềucần nghỉ ngơi để hồi phục năng lƣợng duy trì các mục tiêu về mặt sức khỏe.

32

Ở mộtmức độnào đó, tự điểu chỉnh cũng bị quy định bởi yếu tố văn hóa của môi trƣờng xã hội hóa (Dhawan, Roseman, Naidu, Thapa & Rettek, 1995). Cái Tôi độclập nhấn mạnh đến những gì làm mình khác biệt vớinhững ngƣời khác. Tựđiều chỉnh bản thân liên quan đến các thành công của cá nhân sẽ đƣợc xếp hạng cao

nhƣ mộtđặc điểmquan trọngvớisinh viên Mỹ. Ngƣợc lại, các sinh viên Nhật

thƣờng nhận thức về bảnthân theo các vai trò xã hội, trong mốiquan hệvớigia đình và xã hội [34, tr.50-51].

Tự điều chỉnh bản thân dựa trên cơ sở TNT, TĐG và tỏ thái độ với chính bản thân mình. Ở các cá nhân, tự điều khiển, điều chỉnh bản thân diễn ra ở cácmức độkhác nhau và theo các chiều hƣớng không nhƣ nhau, phụ thuộc trƣớc hết vào chính mức độTNT và sau đólà kết quả TĐG củahọ vàođặcđiểmnhân cách, đạođức của bản thân.

* Sự hình thành và phát triển của tự ý thức

– Sự hình thành tự ý thức

Các nhà tâm lý học mác xít đại diện là các tác giả: X.L Rubinstêin quan niệm: “TYT là sản phẩm tƣơng đối muộn của ý thức, TYT đòi hỏi đứa trẻ phát triển thành chủ thể tách mình khỏi môi trƣờng của nó một cách có ý thức”.

Điều đáng quan tâm là: trong khi chỉ rõ nétđặctrƣng của TYT là hƣớng vào khám phá chính bản thân mình, X.L.Rubinsteinđã đồngthời nhấn mạnh nguồn gốc xã hội của TYT. Tác giả cho rằng: Nhận thức và cảm xúc về bản thân không phải cái gì ẩn nấp ở thế giới bên trong mà là sự quan hệ của con ngƣời với thế giới bên ngoài. Với quan niệm nhƣ vậy, ông đã chia sẻ cách đặt vấn đề của A.N. Leonchiev

–ngƣời khẳng định bảnchất hoạt độngvà nguồn gốc xã hội của”Ý thức về cái Tôi”: “Nó vốn có mộtsự vận độngbên trong, phản ánh chính đời sống thực tế của chủthể, mà sự vận động bên trong này giữ vai trò trung giới chođờisống ấy; chúng ta thấy rằng chỉ trong sự vận độngđócác kiến thức mới xácđịnh đƣợc tính

tƣơng ứng của nó với thế giới khách quan và mới có hiệu lực” [38, tr.267-268].

Cũng dƣới góc độ nguồn gốc xã hội của TYT, T.V Đragunova đã khai thácđịnh nghĩacủaVƣgoski: “TYT là ý thức xã hội đƣợc chuyển vào bên trong” và điđến nhận xét rằng: Thiếu niên trong mối quan hệ với ngƣời lớn đã “tích cực lĩnh hội

33

từ thế giới ngƣời lớn những giá trị khác nhau, những chuẩn mực, phƣơng thức HV, là những cái tạo thành nội dungmới củaý thức, và đƣợc biến thành những yêu cầu đối với bản thân mình, thành tiêu chuẩn đánh giá và TĐG” [58, tr.152]. Chúng ta có thể thấy giá trịcốtlõi của quan niệm này là tác giả đã vạch ra đƣợc điểm mấu chốt trong cơ chế hình thành TYT trên cơ sở lĩnh hội những yêu cầu, chuẩn mực xã hội và biến chúng thành những yêu cầu đối với bản thân.

Chúng tôi tán thành với các quan niệm của các nhà tâm lý học macxitvề sự hình thành và phát triển của TYT. Chúng ta không thể nghiên cứu TYT táchrời vớiý thức nói chung; việc bồi dƣỡng và phát triển TYT về mộtmặt nàođócủa nhân cách phải gắn trƣớc hết với việc bồi dƣỡng ý thức cá nhânvề mặt đó.

TYT không có ngay từ khi đứatrẻ mới sinh ra, cũng không do yếu tốbẩm sinh di truyền mà TYT hình thành khi đứa trẻ bắtđầuphân biệt đƣợc nó với những

ngƣời xung quanh.

Ở trẻ em, ban đầu chỉ có biểu tƣợng về bản thân mình, trên cơ sở sự đánh giá củangƣời khác, sau đó chúngmới dầndần hình thành khả năng phân tích thế giới bên trong của mình [56, tr.64]. Con ngƣời xem xétbảnthân mình thông qua sự so sánh mình với ngƣời khác, so sánh mình với những yêu cầu, chuẩnmực, đạođức củaxã hội. Trong quá trình phát triển củamỗicá nhân, việc nhận thức ngƣời khác luôn xảy ra trƣớc việc nhận thức bản thân. Hơn nữa, nhận thức ngƣời khác còn là nguồn gốc là chỗ dựa để nhận biết bản thân.

– Sự phát triểntự ý thức

TYT là mức độphát triển cao củaý thức. Ý thức củacá nhân đƣợc hình thành và phát triển trong hoạt động và giao tiếp của cá nhân với ngƣời khác, với xãhội. Sự phát triển của TYT gắnliền với quá trình hoà nhập của cá nhân với môi

trƣờng bên ngoài. Theo V.C Merlin thì TYT đƣợc phát triển theo 4 giai đoạn, tƣơng ứng với các giai đoạn cuộc đời: giai đoạn 1 “Ý thức và sự đồng nhất” – nămđầuđời – tự phân tách và cho mình nhập cuộc; giai đoạn 2 “Ý thức cái Tôi” – năm thứ 2 đến năm thứ 3 – ý thức bản thân nhƣ chủ thể hoạt động; giai đoạn 3 “Ý thức các thuộc tính tâm lý củamình nhờ khái quát những gìtự quan sátđƣợc”;giai đoạn 4 “Tựđánh giá đạo đức – xã hội” – tuổi thanh niên [trích theo 20, tr.312].

34

Theo S.Freud, trẻ em có xuhƣớng tự đồngnhất mình với ngƣời mà em yêu thích thông qua cơ chế bắt chƣớc một cách vô thức. TYT phát triển mạnh mẽ nhất từ giai đoạn trẻ thơ đến khi cá nhân có sự trƣởng thành về mặt tính dục. Đó là giai đoạn từ lúc mới sinh tới khoảng 16 tuổi [6, tr.338-339].

Theo A.N. Leonchiev thì “Những hoạt động muôn màu muôn vẻ củachủthểđandệtvào nhau và thắt lại thành nhữngđầumối, do các quan hệ khách quan có bảnchất xã hội mà tấtyếuchủthể phải gia nhập vào đó. Nhữngđầumốinày và hệ thống thứ bậccủanóđã tạothành Trung tâmcủanhân cách. Đó chínhlà “cáiTôi hay ý thức bản ngã” [38, tr.270].

Chúng tôi tán thành vớiquan điểmcủaA.N. Leonchiev khi ông cho rằng, TYT không phải bẩmsinh hay di truyền, mà đƣợc hình thành và phát triển một cáchdần dần từ thấp đếncao, từ đơngiản đếnphức tạp, từ chỗ kém hoàn thiện đến chỗngày càng hoàn thiện hơn thông qua hoạt động muôn màu muôn vẻ mà chủthểtrực tiếp tham gia vào. Nhƣ vậy, có thể nói sự hình thành và phát triển TYT của cánhân mỗi ngƣời đƣợc bắt đầu từ khoảng tuổi lên ba kết thúc khi cá nhân từ giã cõiđời. TYT của cá nhân có thể phát triển theo các chiều hƣớng khác nhau. Thứ nhất, TYT của cá nhân phát triển theo hƣớng phù hợp với chuẩn mực xã hội; thứ hai cá nhân phát triển TYT theo khuynh hƣớng không phù hợpvớichuẩn mực xã hội (TYT quá cao hoặc quá thấp về bản thân).

1.2.1.3. Hành vi phạm tội

a. Hành vi

Muốn tìm hiểu HVPT trƣớc hếtcầntìm hiểu quan niệm thế nào là HV. Những

ngƣời theo chủ nghĩa HV (Watson, E.C. Tolma, C.L.Hull…) quan niệm HV hếtsứcđơngiản. Đó là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trả lời các kích thích tác động vào cơ thể (S-R). Những ngƣời theo thuyết HV mới nhƣ B.F.Skinner cho rằng con

ngƣời còn có sự lựa chọn các kích thích, họ chỉ trả lời các kích thích có lợi cho bản thân mình. Quá trình sống là quá trình cá nhân trả lời các kích thích có lợicho chính mình. Với quan niệm nhƣ vậy về HV, chuẩn mực để đánh giá HV cũng vẫn là mức độthích ứng của cá nhân với môi trƣờng. Cá nhân nào thích ứng đƣợc với môi trƣờng có nghĩa ngƣời đócó HV phù hợpvớichuẩn mực. Nhƣ vậy, các nhà

35

HV mới vẫn không thoát khỏi ảnh hƣởng của những luận điểm có từ thời J.B.Watson [61, tr.171-179].

Trong tâm lý học mác xít, con ngƣời đƣợc coi là mộtchủ thể tích cực chứ không phải là mộtcá thể thích nghi thụ độngvới môi trƣờng. HV củachủthể

thƣờng bao giờ cũng có mục đích. Nó đảmbảocho sự tồn tại và phát triển ngày càng cao của con ngƣời. Hầu hết HVcủacon ngƣời là HV mang tính chủ động, vì nó tích cực tác độngvào môi trƣờng, cải tạomôi trƣờng nhằm thỏa mãn các nhu cầungày càng cao hơn. Do HV củacon ngƣời chịu sự tác động và chi phối của nhiều yếu tố, vì thế, khi xét chuẩn mực HVcủamộtcá nhân phải xét trong một môi

trƣờng, một cộng đồng nhất định.

Tiếp thu có chọn lọccác khái niệm HVcủacác nhà khoa học, chúng tôi kết luận: HV là cách xử sựcủacon người trong một hoàn cảnh cụ thể, được biểu hiện ra bên ngoài bằng những hành động nhất định (việc làm, lời nói, cử chỉ, điệu bộ).

Nhƣ vậy, khi xem xét các xử sự của con ngƣời trong những hoàn cảnh cụ thể có thể đƣợc điều hành bởiý thức (HV có ý thức), nhƣng cũng có nhữngxử sự của conngƣời dƣớingƣỡng ý thức (HV vô thức). Nhƣ vậy, nói đến HVcủacon ngƣời sẽ bao gồm HV ý thức và HV vô thức.

b. Hành vi phạm tội

Trongđờisống xã hội, xét dƣới góc độ pháp luật, HVcủacon ngƣời luôn tồn tại dƣới hai dạng cơ bản là HV hợp pháp và HV vi phạm pháp luật.

Trongtừ điển luật học, HV vi phạm pháp luật đƣợc hiểu là: “Mộtdạng HV pháp luật thể hiện ở HVcủacá nhân, cơ quan, tổ chức không tuân thủ các nghĩa vụ do pháp luật qui định (không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các qui định của pháp luật) hoặc đã làm những việc mà pháp luật cấm, gây thiệt hạihoặc dẫn đến nguy cơ gây thiệt hại cho các lợi ích khác nhau” [68, tr.324-325].

Theo giáo sƣ Võ Khánh Vinh thì “Hành vi phạmtộilà mộtquá trình đƣợc diễn ra trong một khoảng không gian nhất định, hàm chứacảnhững hoạt độngđã

đƣợc khách quan hóa ra bên ngoàicấuthành nên cấu thành tội phạm cụ thể và lẫn những hiện tƣợng, quá trình tâm lý diễn ra trƣớc đó đóng vai trò quyếtđịnh việc thực hiện các hành động đó” [76, tr.116]. Cũng theo tác giả thì hành vi phạm tội là

36

một khái niệm rất rộng, khái niệm đó rộng hơn khái niệm tội phạm. “Tội phạm, nhƣmọihành vi khác của con ngƣời suy cho cùng là kết quả của sự tác độnglẫnnhau củacá nhân và hoàn cảnh khách quan bên ngoài. Trong sự tác động đó quyếtđịnh thực hiện tội phạm đƣợc thông qua và đƣợc thể hiện trong thực tế” [76, tr.113].

Theo tác giả Lê Minh Tâm “HV vi phạm pháp luật là HV trái pháp luật và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ” [64, tr.486].

HV vi phạm pháp luật trong xã hội rất đa dạng, căn cứ vàomức độnguy hiểm cho xã hội, nó có thể đƣợc chia thành hai loại cơ bản: HVPT và các HV vi phạm pháp luật khác (HV vi phạm pháp luật hành chính, HV vi phạm luật dân dự,lao

động…). Trong nghiên cứu của mình, chúng tôi chỉ quan tâm tới HVPT.

Trên cơ sở các học thuyết về HV, các nhà tâm lý học pháp lý Nga, đại diện là M.I.Enhikev và A.V.Xakharov cho rằng: HVPT là HV có ý thức, có ý chí, nguy hiểm cho xã hội, trái với pháp luật và phải chịu hình phạt [110, tr.323]. Còn theo Iu.Trupharovski, HVPT là một hành động có động cơ, có định hƣớng, có ý thức và

đƣợc điều khiển chống đối pháp luật để đạt mộtmục đích nhất định và hành động đó không thể chia nhỏ đƣợc nữa [119, tr.175].

Những nhà khoa học pháp lý hình sự và các nhà Tâm lý học pháp lý tại Việt Nam cũng có những quan điểm khác nhau về khái niệm HVPT.

Các tác giả của cuốn “Những vấn đề cơ bản của tâm lý học tội phạm, tâm lýhọc điều tra tội phạm và tâm lý học quản lý” cho rằng: HVPT là những HV lệch chuẩn xã hội, vi phạm các quy phạm pháp luật hình sự đếnmức phải xử lý bằng hình phạt [57, tr.24].

Dƣới góc độpháp luật thì: HVPT là HV nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, có ý thức, có ý chí và được thể hiện ra bên ngoài bằng hình thức hành động hoặc không hành động.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi cho rằng: HVPT là cáchxử sựcủacon người trong một hoàn cảnh cụ thể, có nội dung tâm lý riêng, được biểu hiện ra bên ngoài bằng những hànhđộngnhất định(việc làm,lờinói, cử chỉ, điệu bộ), trái với pháp luật hình sự.

37

* Đặc điểm của hành vi phạm tội

Theo chúng tôi, khi xem xét HVPT cần phải dựa vào những đặc điểm sau:

Thứ nhất, HV bị coi là HVPT khi HV đó phải có tính nguy hiểm cho xã hội. Tính nguy hiểm cho xã hội của HVđƣợc thể hiện ở chỗnó gây thiệt hại hoặc

đe dọa gây thiệt hại cho cá nhân, nhóm, xã hội đƣợc luật hình sự bảo vệ. Nếu một HV không đƣợc coi là nguy hiểm cho xã hội thì không coi là tội phạm. Nhƣng không phải tất cả HV nguy hiểm choxã hội đềulà tội phạm. Những HV tuy có dấu hiệu tội phạm, nhƣng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì không phải là tội phạm và đƣợc xử lý bằng các biện pháp khác. Nhƣ vậy, khi xác định tội phạm

trƣớc tiên phải xác định tính nguy hiểm cho xã hội của HV.

Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của HVPT là căn cứ để phân chia tội phạm thành tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Thứhai, HVPT đƣợc biểu hiện dƣớihình thức hành độnghoặc không hànhđộng. HVPT đƣợc biểu hiện dƣới hình thức hành động tức là chủ thể làm một việc mà pháp luật hình sự cấm. Về mặt tâm lý, HVđó làm thay đổi trạng thái bình

thƣờng của đối tƣợng tác động, gây thiệt hại cho quan hệ xã hội đƣợc luật hình sựbảovệ. Ví dụ: HV cƣớp giật tài sản; HV hiếp dâm; HV trộm cắp tài sản; HV giết

ngƣời.

HVPT biểu hiện dƣới hình thức không hànhđộng tức là chủ thể không làm mộtviệc mà pháp luật yêu cầu phải làm, mặc dù ngƣời đó có nghĩa vụ và điều kiện để làm, làm biến đổi tình trạng bình thƣờng của đối tƣợng tác động, gây thiệt hại cho quan hệ xã hội đƣợc luật hình sự bảo vệ. Ví dụ HV không cứu giúp ngƣời đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng [48].

Thứba, HVPT là HV có ý thức và có ý chí nhằm hƣớng tới một mục đích nhất định. HVPT bị thúc đẩy bởi động cơ nhằm thỏa mãn nhu cầu nhất định.

Do đó, nếu mộtHV nguy hiểm cho xã hội đƣợc thực hiện bởimộtngƣời không có khảnăng nhận thức hoặc có khả năng nhận thức nhƣng không có khả năng điều khiển đƣợc HV củamình vì nhiều lý do khác nhau thì không bị coi làHVPT. Ví dụ: HV nguy hiểm của ngƣời bị bệnh tâm thần.

38

Thứtư, HVPT là HV tráivớiquy địnhcủa pháp luật hìnhsự.MộtHV gây nguy hiểm cho xã hội nhƣng chƣa đƣợc quy định trong Luật hìnhsự ở khoảnnào, điều nào, chƣơng nào, thì không thể coi là HVPT. Mộtngƣời thực hiện mộtHV nguy hiểm choxã hội đã đƣợc Luậthình sự quy định một cách cụ thể mới phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự [Điều 2-Bộ luật hình sự].

Thứ năm, HVPT có thể là HV vô ý hoặc HV cố ý. HV vô ý phạm tội là HVPT xét về mặt tâm lý, thì trƣớc khi thực hiện nó, ngƣời phạm tội chƣa nhận thức rằng nó vi phạm quy định của pháp luật hình sự, họ thực hiện HVđónhƣ các HV bình

thƣờng khác. HVcố ý phạmtội là ngƣời phạm tội trƣớc khi thực hiện tội phạmđãbiết trƣớc HVcủamình vi phạm pháp luật hình sự nhƣng vẫn thực hiện nó. Tuy nhiên, trong hoạt động phạm tội có HVPT hỗn hợp, ban đầu do vô ý chủ thể thực hiện HVPT, nhƣng sau đó chủ thể phát hiện HVPT củamình vi phạm quy định pháp luật hình sự, nhƣng không dừng lại và vẫn tiếp tục thực hiện HVPT đến cùng. Hoặc ban đầu chủ thể cố ý thực hiện HVPT sauđó lạivô ý thực hiện mộtHVPT khác.

Thứsáu, HVPT bịthúc đẩy bởi động cơ nhất định nhằm đạtmục đích cụ thể. Độngcơ phạmtội là độnglực bên trong thúc đẩy ngƣời phạm tội thực hiện HVPT. Mục đích phạm tội là kết quả ngƣời phạm tội mong muốn đạt đƣợc bằng cách thực hiện tội phạm

Thứbảy, HVPT đƣợc xử lý bằng hình phạt. Hình phạt là biện pháp cƣỡng chếnghiêm khắc nhất của Nhànƣớc đối vớingƣời thực hiện HVPT. Do đó, khi đề cậpđến tội phạmthì phải nói đến hình phạt, tội phạm luôn luôn gắn liền với hình phạt.

* Nhu cầu và động cơ của hành vi phạm tội

– Nhu cầu và việc thỏa mãn nhu cầu của con ngƣời là động lực thúc đẩy hoạt động, điều chỉnh HVcủacá nhân và nhóm xã hội. Nhu cầuquy địnhhƣớng lựa chọn của ý nghĩ, rung cảm, ý chí và hoạt động của con ngƣời. Trong lĩnh vực pháp lý hình sự, thì nhu cầu thực hiện chức năng làm động lực thúc đẩy HV của ngƣời phạm tội. Chính nhu cầuquy địnhxu hƣớng lựa chọn ý định, độngcơ, mục đích phạm tội. Ngoài nhữngđặcđiểm chungcủanhu cầu, nhu cầu của ngƣời phạm tội

39

còn có thể có các đặc trƣng sau: tính nhỏ nhen, nghiêng về vật chất, thực dụng; sự lệch lạc so với chuẩn mực xã hội, chống đối lại xã hội; nhu cầu quá cao ngoàikhảnăng thỏa mãn cho phép; tính đồi bại, suy thoái. Sự chênh lệch giữa nhu cầu và khảnăng thỏa mãn nhu cầu có thể trở thành điềukiện của HVPT. Nhu cầuquá lớn, lòng tham, tính đốkị, ý muốn ”hơnngƣời” thƣờng dẫn tớiHVPT (tham ô, hối lộ, trộm cắp, cƣớp giật, cƣỡng đoạt…).

-Động cơ phạm tội là động lực thúc đẩy ngƣời phạm tội hành động để đạt

đƣợc mục đích đã đề ra. Tất cả những ngƣời phạmtội cố ý đều donhữngđộngcơnhất định thúc đẩy. Chỉ trong trƣờng hợp cá nhân vô ý do cẩu thả chƣa kịp suy nghĩ thì HV của họ không có động cơ phạm tội rõ ràng. Động cơ gắn liền với nhân cách củangƣời phạm tội, vì vậy việc phát hiện động cơ phạm tội và nghiên cứu chúng gắnvới nhân cách ngƣời phạmtội sẽ có tác dụng lớn trong việc xácđịnh mức độnguy hiểmcủaHV cho xã hội, xác địnhmức độnguy hiểmcủangƣời phạm tội, dự báo khả năng tái phạm tội của cá nhân [57, tr.25].

Bởi vậy, nghiên cứu HVPT và tự ý thức về HVPT và HVCHHPT có mối quan hệ, liên quan làm sáng tỏ động cơ phạm tội. Động cơ phạm tội không phải là yếutốtrực tiếp đƣa một cá nhân đến thực hiện HVPT. Sau khi nó xuất hiện ở cá nhân, ở họcòn diễn ra quá trình đấu tranh động cơ. Quá trình đấu tranh động cơ thực chất là quá trình tác động qua lại giữa những yếu tố tâm lý tiêu cực và yếu tố tâm lý tích cực. Những yếu tố tâm lý tiêu cực ở đây chính là mục đích phạm tội, động cơ phạm tội, những yếutố tâm lý tích cực là những hiểu biết củacá nhân về pháp luật (những kiến thức pháp luật, sợ bị pháp luật trừng trị…), những giá trị đạo đức mà cá nhân lĩnhhội đƣợc, nhữngnguyên tắc tôn giáo,… Kết quả của quá trình đấu tranh độngcơ là việc cá nhân ra quyết định phạm tội hay từ bỏ phạm tội. Nếu nhƣ tâm lýtiêu cực lấn át tâm lý tích cực thì cá nhân sẽ ra quyếtđịnh phạmtội, ngƣợc lại, nếu tâm lý tích cực lấn át tâm lý tiêu cực, thì họsẽ từ bỏ ý định phạmtội của mình. Nói cách khác, sự đấu tranh động cơ thực chất là quá trình cọ sát lẫn nhau giữa cái hơn và cái thiệt, cái đúng- cái sai, cái đƣợc- cái mất… Nếu nhữngyếu tốtâm lý tiêu cực mạnh hơn thì HVPT xẩy ra và nó đƣợc thực hiện đến cùng và tâm lý tích cực thắng thì HVPT không xẩy ra hoặc nó không đƣợc thực hiện đến cùng.

40

Quá trình đấu tranh động cơ không những phụ thuộc vàomặt chủquan (nhƣ trên), mà còn phụ thuộc vào mặt khách quan củacá nhân. Mặc dù cá nhân đã ra quyếtđịnh phạm tội, nhƣng HVPT có diễn ra hay không còn phụ thuộc vàođiều kiện khách quan thực hiện phạm tội (điều kiện tự nhiên: thời tiết, địa điểm, thời gian;điều kiện xã hội:sự tuần tra, canh gác của lực lƣợng bảo vệ, vũ trang, thực tiễn công tác điều tra của cơ quan chức năng, hệ thống pháp luật chặt chẽ và hiệu lực, dƣ luận xã hội, sự cảnh giác của đối tƣợng…; điều kiện của bản thân: mê tín, sự căng thẳng, sức khoẻ,…). Điều kiện khách quan thay đổi có thể làm thay đổi hoặc xuất hiện ý đồmới và ý đồphạm tội có thể biến mất khi không gặp điều kiện khách quan thuận lợi cho việc thực hiện HVPT.

Trong những trƣờng hợp điều kiện khách quan thỏa mãn với kế hoạch phạm tội (đúng theo dự kiến ban đầu đề ra) sẽ củng cố thêm ý chí, tăng thêm ý thức đi

ngƣợc lại lợi ích của ngƣời khác và lợi ích của xã hội. Vì vậy ngƣời gây ra HVPT

thƣờng thận trọng xóa đi các dấu vết của hoạt động phạm tội, tạo hiện trƣờng giả, tích cực tìm tòi, suy nghĩ lập kế hoạch cho HVPT mới (đối với nhữngngƣờiphạm

tội nhiều lần, lì lợm…) chuẩn bị lờikhai nếubị bắt,tạotrạng thái bấtcần, thản nhiên.

Trƣờng hợp ăn năn hối hận: hình ảnh về kết quả của HVPT gây nên những cảmxúc nặng nề, ghê sợ ở ngƣời phạm tội, có ngƣời phạm tội dosợ bịphát giác, bị trừng phạt ngự trị, đã gây ra sự căng thẳng tâm lývà đƣợc biểu hiện qua HV bên ngoài nhƣ hoạt động không hợp cảnh, giảm khả năng tự điều khiển, giật mình nghi ngờ… Nhiều đối tƣợng do không chịu đựng nổi đã ra đầuthú trƣớc cơ quan pháp luật; có ngƣời phạm tội thì tìm những hoàn cảnh để lãng quên: uống rƣợu nhiều, xa lánh địa bàn gây án, la cà quán nƣớc, nơi đông ngƣời để tìm hiểu quá trình điều tra của cơ quan công an… (đối với ngƣời phạm tội lần đầu, phạm tội nghiêm trọng, tính cách nhút nhát…). Nói chungởngƣời phạm tội đều có tâm lý chung: sợ bịphát giác, sợ bị trừng phạt nên xuất hiện sự căng thẳng tâm lý. Những nhân tố ảnh

hƣởng đến sự gia tăng trạng thái căng thẳng tâm lý: thứ nhất, nguyên nhân của việc thực hiện HVPT; thứ hai, sự tri giác hậu quảdo HVPT gây ra và những cảmxúc

trƣớc hậu quả đó; thứ ba, những đánh giávề sự ngụy trang che dấu tội phạm và

41

trách nhiệm hìnhsự củabản thân trƣớc hoạt động đó. Đối với hành vi phạmtội về ma túy thì động cơ chủ yếu xuất phát tự lợi ích cá nhân của chính chủ thể thực hiện hành vi phạm tội. Đặc biệt động cơ từ lợi ích kinh tế thể hiện rất rõ ở nhóm đối

tƣợng có hành vi phạm tội về ma túy không có tiền sử nghiện.

c. Hành vi phạm tội về ma túy

Ma túy là loại độc dƣợc gây nghiện nên Nhà nƣớc độc quyền quản lý. Nghiêmcấmviệc trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chất ma túy. Nghiêmcấmcác hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếmđoạt, sử dụng các chất ma túy cũng nhƣ các tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy. Vì vậy, các tội phạm về ma túy xâm phạmchế độđộc quyềnquản lý của Nhà nƣớc về các chất ma túy; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội; xâm phạm sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc.

Các tội phạm về ma túy là HV nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện, có lỗi, xâm phạm trật tự quản lý của Nhànước đối với các chất ma túy, chất gây nghiện đángbị xử lý bằng hình phạt [84, tr.920]. HVPT về ma túy cũng giống nhƣ các HVPT khác đều là trái với quy định của pháp luật hình sự. Tuy nhiên, HVPT về ma túy là những HV xâm phạm trật tự quản lýcủa Nhà nước đối với các chất ma túy. (HVPT xâm phạm sở hữu là những HV xâm phạm vào các quan hệ sở hữu đƣợc pháp luật hình sự bảo vệ; HVPT xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con ngƣời là HV gây tổn hại hoặc đe dọa đến quyền sống, quyền đƣợc bảo hộ về sức khỏe, nhân phẩm, danh dự con ngƣời).

Nghiên cứu về HVPT về ma túy chúng tôi hiểu: HVPT về ma túy là cách xử sự củacon người trong một hoàn cảnh cụ thể, có nội dung tâm lý riêng và được biểu hiện ra bên ngoài bằng việc làm,lờinói, cử chỉ, điệu bộ xác định, trái với quy định củapháp luật hìnhsự về trậttự quản lý củanhà nước về chất ma tuý, chất gây nghiện.

* Biểu hiện của HVPT về ma túy

Có nhiều biểu hiện của HVPT về ma túy, qua nghiên cứu chúng tôi gộp các HVPT về ma túy thành 5 nhóm HV sau:

– HV trồng cây thuốc phiện hoặc các loại cây khác có chất ma túy;

42

– Các HV sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy; chiếm đoạt chất ma túy;tổchức sử dụng, chứa chấp việc sử dụng, cƣỡng bức, lôi kéo ngƣời khác sử dụng trái phép chất ma túy;

– HV sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy;

– HV sản xuất, tàng trữ,vậnchuyển mua bán các phƣơng tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy;

– HV vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma túy khác.

Nhìn chung xét về cơ cấucủa tình hình tội phạmvề ma túy cho thấy: Các HV tàng trữ, vậnchuyển, mua bán trái phép chất ma túy chiếmtỷlệ cao nhất (khoảng 81,4%) trong các HVPT về ma túy; tiếp đến là HVtổ chứcsử dụng trái phép chất ma túy chiếm khoảng 15,5%; sốcòn lại là các HVPT ma túy khác [84, tr.928].Vớithực tiễn trên, trong luận án chúng tôi chỉ nghiên cứu phạm nhân CHHPT các tội về ma túy với các HVPT cụ thể: Tàng trữ trái phép chất ma túy; Vận chuyển trái phép chất ma túy; Mua bán trái phép chất ma túy; tổchức sửdụng trái phép chất ma túy; chiếm đoạt chất ma túy.

* Người phạm tội

Trong pháp luật hìnhsự khái niệm“ngƣời phạmtội” dùng để chỉngƣời đã thực hiện HVđƣợc luật hình sự quy định là tội phạm, HV của ngƣời đó đãcấu thành tội phạm.

Khái nhiệm“ngƣời phạmtội” là khái niệm chỉmộtthực tế khách quan là một

ngƣời đã thực hiện tội phạm chứ không phải tùy thuộc vàonhận định chủquan của các cơ quan áp dụng pháp luật. Các cơ quan áp dụng pháp luật có thể nhận địnhđúng thực tế khách quan, tức là nhận thức đúng ngƣời phạm tội, tiến hành khởi tố, truy tố và kết án ngƣời phạm tội, nhƣng cũng có thể nhận định không đúng thực tế khách quan đó, dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội, tuyên bố một ngƣời phạm tội là ngƣời

vô tội v.v… Hiểu phạm tội, ngƣời phạm tội nhƣ vậy chúng ta mới có căn cứ để xác định các khái niệm khác nhƣ phạm tội nhiều lần: tức là phạmtội lầnthứ 2 trở đivề

tội phạm cùng tính chất nhƣng chƣabị xử lývề hình sự và chƣa hết thời hạn truy

43

cứu trách nhiệm hình sự (ví dụ phạm tội trộmcắptài sản của công dân, chƣa bị xửlý hìnhsự,lạiphạm tội trộmcắptài sản của công dân). Về khái niệm phạm nhiều tội: tức là phạm tội lần thứ 2 trở đi và cáclầnphạmtội đóđều khác về tính chất và

chƣabị xử lýhình sự (vídụ:đã phạmtội trộmcắptàisảncủa công dân, sau đó lại phạm tội cƣớp tài sản của công dân). Nếuchỉ coi việc mộtngƣời bị kết tội bằng bảnán của Tòa án là căncứ xác định ngƣời đólà ngƣời phạm tội thì chúng ta không thể có khái niệm phạm tội nhiều lần, phạm nhiều tội theo cách hiểu trên.

Ngƣời phạm tội có thể không bị kết tội bằng bản án của Tòa án nếu phát hiện ra tội phạm đã hết truy cứu trách nhiệm hình sự, tức là trong những trƣờng hợp đó

ngƣời phạm tội không bị coi là có tội. Trong trƣờng hợp ngƣời phạm tội bị Tòa án kết tội bằng một bản án và bản án đó có hiệu lực pháp luật thì ngƣời phạm tội bị coi là có tội.

Rõ ràng khái niệm“ngƣời phạmtội” và “ngƣời bịcoi là có phạmtội” là hai khái niệm mang những nội dung khác nhau.

– Ngƣời phạm tội là ngƣời thực hiện một HVPT đƣợc luật hình sự quy định.

– Ngƣời bị coi là có tội là ngƣời phạm tội bị Tòa án kết tội bằng mộtbảnán và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật.

Vì Tòa án nhân danh Nhà nƣớc kếttội mộtngƣời, coimộtngƣời là có tội thông qua bản ánkếttội đƣợc tuyên bố tại phiên tòa, cho nên có thể nói việc kết tội, coi mộtngƣời là có tội chính là thể hiện việc áp dụng trách nhiệm hìnhsự,nhân danh Nhà nƣớc của Tòa án đối với ngƣời phạm tội.

– Nhƣ vậy, ngƣời phạm tội có thể không phải chịu trách nhiệm hình sự, không bị coi là có tội.

– Ngƣời bị coi là có tội tức là ngƣời phạm tội đã phải chịu trách nhiệm hình sự, chịu mộthậu quảpháp lý trƣớc nhà nƣớc về việc thực hiện HVPT của mình, chịu sự lên án của Nhà nƣớc mà Tòa án là ngƣời đại diện, thông quan việc áp dụng luật hình sự, kết tội ngƣời phạm tội.

Với những phân tích trên, chúng tôi hiểu rằng người phạm tội là người thực hiện một HVPT được luật hình sự quy định.

44

Nhƣ vậy, dƣới gócđộtâm lý học thì ngƣời phạm tội mang nhân cách bị lấn át bởinhững nét tâm lý không đáp ứng đƣợc các chuẩn mực xã hội, đi ngƣợclại lợiích xã hội [5, tr.30]. Dƣới sự tác động những tiêu cực của xã hội mà ngƣời phạm tội có thể mang nhân cách phạm tội có tính hệ thống hay loại nhân cách phạm tội theo bối cảnh. Ngƣời phạm tội có nhân cách phạm tội có hệ thống họ không chỉ lợi dụng hoàn cảnh mà bản thân còn tự tạo ra hoàn cảnh thuận lợi, vƣợt qua mọitrở ngại đểthực hiện HVPT của mình. Ngƣời phạm tội mang có nhân cách phạm tội theo bối cảnh thƣờng có HVPT xảy ra trong hoàn cảnh có mâu thuẫn và xung đột.

1.2.1.4. Hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân

Để làm rõ HVCHHPT trƣớc hết chúng tôi tìm hiểu thế nào là hình phạt tù. Hình phạt tù (án phạt tù) là mộtloại hình phạt tronghệ thống hình phạt củapháp luật hình sự. Điều 26bộluật hìnhsự năm 1999 có nêu khái niệmvề hình phạt “Hìnhphạt là biện pháp cƣỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nƣớc nhằmtƣớc bỏhoặc hạn chế quyền, lợi ích của ngƣời phạm tội. Hình phạt đƣợc quy định trongBộ luật hình sự và do Toà án quyết định”.

Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị ngƣời phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành ngƣời có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục ngƣời khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.

Các hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự bao gồm hình phạt chính và hình phạt bổ sung, nội dung cụ thể của các loại hình phạt đƣợc quy định tại Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung ngày 19/06/2009 nhƣ sau:

Hình phạt chính bao gồm: cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân; tử hình.

Hìnhphạt bổsung: Cấmđảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cƣ trú; quản chế; tƣớc một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền (khi không áp dụng là hình phạt chính); trục xuất (khi không áp dụng là hình phạt chính).

Như vậy, hình phạt tù là một trong những hình phạt chính, gồm tù có thời hạn và tù chung thân.

45

– Tù có thời hạn là việcbuộc ngƣời bịkết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trongmộtthời hạn nhất định. Tù có thời hạnđối với ngƣời phạmtội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là ba mƣơi năm. Thời gian tạm giữ, tạm giam đƣợc trừ vào thời hạn chấp hành án phạt tù, cứ mộtngày tạm giữ, tạmgiam bằng một ngày tù.

– Tù chung thân là án phạt tù không có thời hạn đƣợcáp dụng đối vớinhững

ngƣời phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, nhƣng chƣađếnmức bịxử phạt tử hình. Không áp dụng tù chung thân đối với những ngƣời chƣa thành niên.

Nhƣ vậy, khi nghiên cứu về HVCHHPT, chúng tôi hiểu: HVCHHPT là cách xử sựcủa phạm nhân trong hoàn cảnh môi trường trại giam cụ thể và được biểu hiện ra bên ngoài bằng việc làm, lời nói, cử chỉ, điệu bộ xác định.

* Biểu hiện của HVCHHPT của phạm nhân phạm các tội về ma túy

– Thông qua quá trình tiếp nhận sự giáo dục (văn hóa, đạo đức, pháp luật, chính trị, học nghề…)

– Thông qua hoạt động lao động (hoàn thành mức khoán, ngày công lao động và chất lƣợng sản phẩm lao động).

– Thông qua quá trình chấp hành nội quy, kỷ luật trại giam.

– Thông qua HVđấutranh với các HV tiêu cực của các phạm nhân khác trong trại giam.

– Thông qua quá trình chấp hành cải tạo, phạm nhân phát hiện ra những thiếu xót từ phía cơ chế quản lý giáo dục cải tạo phạm nhân, từ ngƣời thực hiện luật thi hành án hìnhsự và từ đócó sự đóng góp ý kiến giúp công tác quản lý giáo dục cải tạo phạm nhân đạt hiệu quả tốt hơn.

1.2.1.5. Phạm nhân chấp hành hình phạt tù các tội về ma túy

Theo Điều 3 chƣơng 1, Luật Thi hành án hình sự có hiệu lực từ 1/7/2011 thì phạm nhân đƣợc hiểu: Phạm nhân là ngƣời đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân.

Trong phạm vi luận án này chúng tôi hiểu: Phạm nhân là người đãthực hiện HVPT sau khibịtoà án xét xử và đang thi hành án phạt tù tại trại giam hoặc trại

tạm giam.

46

Từ đó, theo chúng tôi, phạm nhân chấp hành án phạt tù các tội về ma túy là những phạm nhân đã thực hiện HVPT về ma túy (mua bán, tàng trữ, vận chuyển, tổ chức sử dụng, sản xuất trái phép chất ma túy…) sau khi bị toà án xét xử và đang thi hành án phạt tù tại trại giam hoặc trại tạm giam.

Do tính chất, phƣơng thức, thủ đoạn của HVPT về ma túy khác với HVPT của các loại tội phạm khác nên phạm nhân CHHPT các tội về ma túy có những đặc

trƣng tâm lý khác với các nhóm phạm nhân CHHPT các tội khác.

* Đặc điểm củamôi trường sống của phạm nhân

Nguyên tắc giáo dục trong trại giamtrƣớchết dựa trên sự cƣỡng chế, do đó, hầuhết các hoạt động trong trại giam trở nên khác hơn so với môi trƣờng bên ngoài. Cuộc sống của phạm nhân chủyếudiễn ra trong phạm vicủahoạt độngtrại giam và chịu sự giám sát nghiêm ngặt của cán bộ quản lý trại giam. Phạm nhân luôn nhận thức rằng họđang chịu sự quản lý chặt chẽ, trong mọilúcmọinơi. Vìvậy, khao khát tự do là một trong những nhu cầu nổitrội ởphạm nhân.

Trong môi trƣờng sống của trại giam, tấtcả các điều kiện đềumang tính trật tự cao. Việc tổ chức chặt chẽvà trậttự sẽtác độngthuận lợi đến HVCHHPT của phạm nhân, ngƣợc lại, nếu việc tổ chức sơ hở sẽ ảnh hƣởng tiêu cực đến HV này.

1.2.1.6.Tựý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân

TYT về HVPT và HVCHHPT củaphạm nhân biểu hiện ở: TNT về HVPT;đánh giá về HVPT và tự điều chỉnh bản thân thông qua HVCHHPT của họ. Trong môi trƣờng trại giam, phạm nhân có nhiều thời gian để TNT, đánh giá HVPT của mình. Không những thế, mỗiphạm nhân dù muốn hay không vẫn phải chấp hành những nội qui, qui chế khắt khecủatrại giam. Trong thời gian thi hành án ở trại giamhọ bịtƣớc quyền tự do và một số quyền công dân và bị hạn chế nhiều quyền công dân khác. Phạm nhân bị giam giữ và quản lý chặt chẽở trạigiam, họbịcách ly với xã hội bên ngoài và trong suốt thời gian thi hành án họphải chấp hành nghiêm chỉnh nội qui, qui chế trại giam. Từ những phân tích trên chúng tôi hiểu:

TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân là một dạng phát triển cao của ý thức được cấu thành bởi tự nhận thức, tự đánh giá của họ về HVPT và

47

HVCHHPT và tự điều chỉnh HVCHHPT theo nội quy, kỷ luật trại giam được phạm nhân thừa nhận và lựa chọn.

Nhƣ vậy, bản chất tâm lý của TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân là phạm nhân tách HVPT và HVCHHPT của chính mình làm đối tƣợng để nhận thức và đánh giá, từ đótự điều chỉnh HVcủabảnthân theo nội quy, kỷluật trại giam

đƣợc phạm nhận thừa nhận và lựa chọn.

* Đặc điểm của TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân

– Tính nhận thức của TYT về HVPT và HVCHHPT

Đƣợc thể hiện ở chỗtrên cơ sở HVPT mà phạm nhân đã trải qua, trên cơsởHVCHHPT mà phạm nhân đã thực hiện. Nhận thức về nguyên nhân, hậu quả, động cơ, mục đích HVPT của bản thân. Nhận thức về mục đích, ý nghĩa của hình phạt tù, nhận thức về hành vi mà phạm nhân đã thực hiện trong quá trình HHPTtạitrại giam.

– Tính đánh giá (tính phê phán) của TYT về HVPT và HVCHHPT

Đánh giávề HVPT và HVCHHPT củabản thân là mộtcơ sởcủa TYT về HVPT và HVCHHPT của chính họ. Sự TĐG về HVPT và HVCHHPT của bản thân thể hiện ở chỗphạm nhân đánh giá lại HVPT củabảnthân là do họ vô ý haycố ýphạm tội, có đáng bị xử phạt bằng hình phạt tù hay không; TĐG về HVCHHPT của mình đã thực hiện là đã tích cực hay chƣa tích cực dựa trên quy tắc và chuẩn mực mà cá nhân thừa nhận và lựa chọn.

– Tính điều chỉnh (tính hoàn thiện) của TYT về HVPT và HVCHHPT

Mỗi cá nhân dựa trên sự TNT về hiểu biết của bản thân về HVPT và HVCHHPT củamình từ đóphê phán và dẫntới tự điểu chỉnh để dẫntới sự chấp hành hình phạt tù một cách tự giác, tích cực và chủ động hơn.

* Cấu trúc (cấu thành) của TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân

– TNT về HVPT và HVCHHPT của bản thân theo chuẩn mực đƣợc thừa nhận và lựa chọn là khảnăng mỗiphạm nhân nhận ra mình đã biết về HVPT và HVCHHPT của mình ở mức nào, cái gì mình chƣa biết.

– TĐG về HVPT và HVCHHPT củabảnthân (HVPT của tôi đáng bị xử phạt bằng hình phạt tù haychỉđáng bị xử phạt hành chính; tôi là ngƣời tích cực CHHPT

48

hay tôi là ngƣời chƣa tích cực CHHPT). Trên cơ sở những hiểu biết về HVPT và HVCHHPT củabản thân, phạm nhân tỏ thái độcủa mình với chính HVPT vàHVCHHPT mà mình đã thực hiện nhƣ đồng tình hay phê phán, ăn nănhối hậnhay không ăn năn hối hận.

– Tự điều chỉnh HV CHHPT củabảnthân theo chuẩn mực đƣợc thừa nhận và lựa chọn.

Từ chỗphạm nhân nhận thứcvề sự hiểu biết của bảnthân về HVPT và HVCHHPT củamình, họtỏthái độ đồngtình hay phê phán với HV mà mình đã thực hiện. Từ đó, dẫn tới sự TNT bản thân có cần thiết điều chỉnh HV của mình hay không, hoặc mức độđiều chỉnh theo hƣớng nào cho phù hợp hơn với chuẩn mực mà mình đã thừa nhận và lựa chọn

* Các mức độ của TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân

Mức độ TYT về HVPT: HV vô ý thức, HV dobắtchƣớc, HV do xúi dục; HV do có biết nhƣng chƣa đầy đủ, do biết rõ nhƣng đấu tranh động cơ không nổi; HV biết rõ là phạm tội nhƣng vẫn quyết tâm thực hiện bằng đƣợc để đạt mục đích.

Mức độTYT về HVCHHPT: chỉ làm theo mệnh lệnh, a dua theo các bạn tù, tự mình suy nghĩ quyết định, tự mình hoàn toàn tự giác làm.

* Mối quan hệ giữa TYT về HVPT và HVCHHPT với HVCHHPT của PN.

HV CHHPT củaphạm nhân không nhữngbị chi phối bởi những nội quy, kỷluật, sự giám sátcủacán bộ trại giamđối vớiphạm nhân mà cònbịảnh hƣởng bởi TYT về HVPT củahọ. Sự ảnhhƣởng của TYT về HVPT và TYT về HVCHHPT đối với HV CHHPT diễn ra ở các trƣờng hợp:

– Trƣờng hợpthứ nhất, phạm nhân TYT về HVPT và TYT về HVCHHPT đúng dẫn tới điều chỉnh HVCHHPT phù hợp. Phạm nhân TYT đƣợc mình là ngƣời có tội, mình phải chịu hình phạt tù tại trại giammộtkhoảng thời gian nhất định theo quy định của pháp luật do đó bản thân phải tự giác, chủđộngchấp hành mọi

quy định, kỷ luật của trại giam (học tập, lao động, tuân thủ nội quy trại giam…).

– Trƣờng hợp thứ hai, phạm nhân TYT về HVPT và TYT về HVCHHPT đúng

nhƣngtự điều chỉnh HVCHHPT không phù hợp. Phạm nhân TYT đƣợc mình là

ngƣời có tội, mình phải chịu hình phạt tù tạitrại giammộtkhoảng thời gian nhất

49

định theo quy định của pháp luật nhƣng bản thân không tự giác chấp hành tốt quy định, kỷ luật của trại giam. Có biểu hiện chốngđối, vi phạm nội quy, kỷluật trại giam.

– Trƣờng hợp thứ ba, phạm nhân TYT về HVPT và TYT về HVCHHPT sai dẫn tới HVCHHPT theo hai xu hƣớng.

+ Xu hƣớng thứ nhất: Phạm nhân TYT rằng mình là ngƣời vô tội nhƣng HV củabản thân chỉ đáng bị xử phạt hành chính chứ không đáng phải chịu hình phạt tù

tạitrại giam trongmộtkhoảng thời gian nhất định theo quy định của pháp luật. Do đóbảnthân họ tiếp nhận nội quy, kỷ luật trại giammộtcách thụ động,dẫn tớivi phạm nội quy, kỷ luật trại giam.

+ Xu hƣớng thứ hai: Phạm nhân TYT rằng mình là ngƣời không có tội, HV củabản thân chỉ đáng bị xử phạt hành chính chứ không đáng phải chịu hình phạt tù

tại trại giam trong một khoảng thời gian nhất định theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bảnthân vẫnchấp nhận nội quy, kỷ luật trại giamđể không bị vi phạmkỷluật trại giam. Tuy nhiên, họdễcó những chốngđối ngầmkhi gặp những điều kiện thuận lợi cụ thể.

1.2.2. Biểu hiện của tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân phạm

1.2.2.1. Tự ý thức của phạm nhân thể hiện quatựnhận thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù

a. Tự nhận thức của phạm nhân về hành vi phạm tội

TNT về HVPT là mộttrong những nội dung cơ bản củaTYT về HVPT của phạm nhân. TNT về HVPT của phạm nhân phạm các tội về ma túy diễn ra sau khi

ngƣời phạm tội thực hiện HVPT củahọ. TNT về HVPT củaphạm nhân CHHPT các tội về ma túy bộc lộ ở các nội dung khác nhau (TNT về nguyên nhân, hậu quả

của HVPT, phƣơng thức thủ đoạn phạm tội,…”, TNT HVPT vềma túy của bản thân có vi phạm pháp luật hình sự hay không.

TNT về HVPT giúp cho phạm nhân nhìn nhận lại chính HVPT củamình so vớichuẩn mực xã hội mà họđã thừa nhận. Những phạm nhân TNT HVPT của mình là không phù hợp với chuẩn mực của pháp luật hình sự sẽ là cơ sở giúp họ

50

TĐG HVPT củamình mộtcách chính xác. Ngƣợc lại, những phạm nhân TNT HVPT về ma túy của mình là phù hợp với chuẩn mực xã hộisẽ có thể dẫntớiTĐG HVPT thiếu chính xác từ đódẫn tớiHVCHHPT một cách thiếu tự giác, một trong những nguyên nhân dẫn tới họ có thể vi phạm nội quy, kỷ luật của trại giam.

Trong nghiên cứu của mình chúng tôi tìm hiểu thực trạng TNT HVPT của phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù các tội về ma túy tại trại giam ở mộtsố nội dung: TNT về nguyên nhân dẫn tớiHVPT; TNT hậu quả của HVPT; TNT HVPT của bảnthân có vi phạm quy định trong bộ luật hình sự hay không.

Qua nghiên cứu lý luận chúng tôi thấy TNT về nguyên nhân và hậuquả của HVPT củaphạm nhân bao gồm: Nhóm thứ nhất là nhóm baogồmnhững phạm nhân nhận thức rất rõ nguyên nhân, hậuquả củaHVPT. Nhóm thứ hai là nhóm bao gồm những phạm nhân không nhận thức rõ ràng nguyên nhân, hậu quả của HVPT về ma túy củabảnthân. Họ tự nhận thấy HVPT củahọlà đúng với chuẩn mực của riêng mình,củanhóm mà họtham gia, họ chấp nhận sự trừng phạt củapháp luật chứ không chịu sự “trừngphạt” về lƣơng tâm. Nhóm thứ ba là nhóm phạm nhân nhận thức rất rõ nguyên nhân bản thân dẫn tới HVPT về ma túy nhƣng họ lại không nhận thức rõ hậu quảcủaHVPT về ma túy gây ra cho bản thân, gia đình và xã hội mà bản thân thực hiện. Nhƣ vậy, mặc dù cùng chấp hành hình phạt tù các tội về ma túy nhƣng TNT về HVPT là không nhƣ nhau. Điều đó cho thấy, công tác quản lý, giáo dục cần cụ thể đối vớitừng nhóm phạm nhân phạm các tội về ma túy sẽ đạt hiệu quả tốt hơn đối với quá trình quản lý giáo dục phạm nhân chấp hành hình phạt tù các tội về ma túy.

TNT về HVPT của bản thân có hay không vi phạm quy định trong bộ luật hình sự, đƣợc hiểu là phạm nhân chấp hành hình phạt tù các tội về ma túy nhận thức HV củamình nhƣ thế nào so với quy định của pháp luật nói chung và pháp luật hìnhsự nói riêng? HVPT về ma túy của bản thân có vi phạm pháp luật hình sự hay không vi phạm pháp luật hình sự.

b. Tự nhận thức của phạm nhân về hành vi chấp hành hình phạt tù

Trìnhđộnhận thức nói chung và nhận thức về hình phạt tù nói riêng sẽ ảnh

hƣởng đến TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân. Mặc dù HVPT về ma túy

51

củaphạm nhân xuất phát từ những nguyên nhân tâm lý khác nhau (do lợi nhuận

kinh tế, do nghiện ma túy, do bị rủ rê, do thiếu hiểu biết về pháp luật…),nhƣng phần lớnphạm nhân trƣớc khi phạm tội họ chƣa hiểu biết đầy đủvề hình phạt tù

tƣơng ứng với HVPT cụ thể của họ. Nhận thức về hình phạt tù có thể diễn ra ở các mứcđộkhác nhau. Nhóm thứ nhất là nhóm baogồmnhững phạm nhân thƣờng nhận thức hình phạt tù của bản thân thấp hơn so với hình phạt tù mà tòa án tuyên cho HVPT củahọ. Ở nhóm này, do việc nhận thức chƣa đầy đủ về sự nguy hiểm củaHVPT mà bản thân gây ra cho xã hội nên họ đánh giá mức án mà tòa tuyên đối vớihọ là nặng. Nhóm thứ hai là nhóm bao gồm những phạm nhân nhận thức hình phạt tù củabảnthân phù hợp với hình phạt tù mà tòa tuyên cho HVPT của họ. Họ tự thấy hậu quả của HVPT mà họgây ra đáng bịxử lý bằng hình phạt tù và phù hợpvới mức án tòa đã tuyên. Nhóm thứ ba là nhóm baogồmnhững phạm nhân nhận thức hình phạt tù cao hơn mức án mà tòa đã tuyên với họ. Với nhóm phạm nhân này họ nhận thấy HVPT của họ gây ra là rất nguy hại cho xã hội và đáng bịxử lý mức hình phạt cao hơn mức hình phạt mà họ đang phải chấp hành. Những phạm nhân phạm các tội về ma túy có mức án tử hìnhđƣợc ân giảm xuống mức chung thân thƣờng nằm trong nhóm thứ ba này.

Mức án mà phạm nhân phải chấp hành có thời gian dài ngắn khác nhau cũng ảnh hƣởng không nhỏ tới HV chấp hành cải tạo của phạm nhân. Thời gian đầu, phạm nhân chƣa yên tâm cải tạo. Giai đoạn này phạm nhân thƣờng có tâm lý lao độngcầmchừng, nghe ngóng tình hình trại giam, tìm hiểu tâm lý cán bộ quản giáo. Họ có những tƣ tƣởng bất an, bất cần do đó dễ dẫn tới việc vi phạm những quy chế trại giam. Thời gian sau khi đã đƣợc xét giảm án, đa số phạm nhân bắt đầu tích cực lao động cải tạo với mong muốn mình đƣợc giảm án ở mức cao nhất để nhanh đƣợc trở về với gia đình, xã hội.

1.2.2.2. Tự ý thức của phạm nhân thể hiện quatựđánh giá về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù

a. Tự ý thức của phạm nhân thể hiện qua tự đánh giá về hành vi phạm tội Nghiên cứu TĐG đối với HVPT, có thể phân chia thành những những nhóm

phạm nhân TĐG khác nhau đối với HVPT củahọ (căn cứ vào mức độăn năn, hối

52

hậnvới hậu quả của HVPT). Nhóm thứ nhất là nhóm phạm nhân ăn năn, hối hận, thấy tủi hổvề HVPT củabảnthân. Đây thƣờng là nhóm phạm nhân nhận thức rõ hậuquả, tác hại mà HVPT của mình gây ra cho bản thân, ngƣời khác và cho xã hội. “Họ TYT đƣợc họđã vi phạm pháp luật và phải chịu hình phạt tù là đúng” [5, tr.14]. Vì vậy, họ thƣờng chấp hành tốt những nội quy quy chế trại giam, tiếp nhận tích cực các tác động từ công tác giáo dục ở trại giam. Nhóm thứ hai là nhóm phạm nhân ăn năn, hối hậnvớiHVPT củabản thân nhƣng họđánh giá HVPT củabản thân so với hình phạt là quá nặng đối với họ. Vì vậy, trong quá trình chấp hành án phạt tù, nhóm này thƣờng có thái độchƣa thật sự tiếp nhận các hoạt động (giáo dục, lao động, học tập…) ở trại giammộtcáchchủ động, tự giác. Nhóm thứ ba là nhóm phạm nhân coi HVPT nhƣ một phƣơng thức sống của bản thân [5, tr14]. Họcó thái độthờ ơ, không ăn năn và hối hận, không thấy tủi hổvớiHVPT củahọ. Nhóm phạm nhân này thƣờng là nhóm phạm nhân từng có tiền án, tiền sự. Họ luôn có tâm lý chống lại các quy địnhcủa trại giammộtcách công khai hoặc ngấm ngầm, không có thái độ tự giác tiếp nhận sự tác động giáo dục của trại giam.

Trong luận án của mình chúng tôi tìm hiểu TĐG vớiHVPT củaphạm nhân bộc lộqua: TĐG về HVPT của bản thân vô ý hay cốý; TĐG HVPT của bản thân có đáng bị xửlý bằng hình phạt tù hay không.

TĐG về HVPT của bản thân là vô ý hay cố ý tức là tìm hiểu xem phạm nhân TĐG HVPT về ma túy của họ là HVcố ý (đã thấy HVPT của họ gây nguy hiểm cho xã hội nhƣng vẫn thực hiện HVPT về ma túy của mình) hay do HV vô ý phạm tội (họchƣa thấy đƣợc HVPT của mình gây ra những nguy hiểm cho xã hội).

TNT về HVPT củabản thân có bịxử lý bằng hình phạt tùđƣợc hiểu phạm nhân chấp hành hình phạt tù các tội về ma túy đánh giá HVPT củabản thân có đáng bị xử lýbằng hình phạt tù hay không? Theo đánh giá của họvề mức án mà họđang chấp hành thì mức án đó có tƣơng xứng với HVPT về ma túy củahọkhông?. Nhóm phạm nhân TNT HVPT của mình đáng bị xử lý bằng hình phạt tù, họ chấp nhận mức án mà họ đang chấp hành. Nhóm phạm nhân TNT HVPT của mình đáng bịxử lý bằng hình phạt tù, nhƣng mức án mà họ đang chấp hành là cao so với nhận thức về HVPTcủahọ. Nhóm phạm nhân TNT HVPT của bản thân chỉđáng bị xử

53

phạt hành chính (cảnh cáo, phạt tiền, cho đi cai nghiện bắt buộc) chứ chƣa đáng bị lý bằng hình phạt tù.

TĐG về HVPT của bản thân (vô ý hay cố ý, có đáng bị xử lý bằng hình phạt tù hay không) có ảnh hƣởng nhất định đến HVCHHPT của phạm nhân nói chung và phạm nhân chấp hành hình phạt tù các tội về ma túy nói riêng. Chỉ khi phạm nhân chấp hành hình phạt tù các tội về ma TNT là mình có tội, đánh giá đúng HVPTvềma túy thì việc họ chấp nhận hình phạt sẽ tự giác, tích cực hơn. Ngƣợc lại, những phạm nhân TNT HV của họ (tàng trữ, vận chuyển, mua bán ma túy…) là không có tội và HVPT về ma túy của họ là do vô ý, HVPT của họ chỉ vi phạm pháp luật hành chính chứ không đáng phải bị xử lý bằng hình phạt tù sẽ dẫn tới thái độ không đồng tình mức án mà tòa án đã tuyên. Từ đódẫntới HVCHHPT mộtcách thụ động, chống đối.

b. Tự ý thức của phạm nhân thể hiện qua tự đánh giá đối với hành vi chấp hành hình phạt tù

Trong môi trƣờng trại giam, việc mất tự do, bịhạn chếnhiều quyền lợi, điều kiện vật chất và tinhthần chỉ đƣợc đápứng ở mức tối thiểuđã ảnhhƣởng sâusắcđến TĐGcủaphạm nhân vềHVCHHPT. Thay đổi điều kiện, hoàn cảnh sống, những thử thách gò bó do nội quy, kỷ luật trại giam, những yếu tố tác động tiêu cực giữa phạm nhân vớiphạm nhân là những yếu tố cơ bảnhình thành TĐG về HVCHHPT củahọ. Căn cứvào TĐG về HVCHHPT có thể chia thành ba nhóm phạm nhân nhƣ sau: Nhóm thứ nhất là những phạm nhân TĐG tích cực đối với HVCHHPT dohọđã nhận ra tội lỗi trong quá trình điều tra, xét xử. Họ thấy đƣợc sự trừng phạt của pháp luật là thỏa đáng đối với HVPTcủamình. Những phạm nhân này dễ thích nghi với môi trƣờng trại giam. Họ có thái độtích cực tham giađầyđủ cáchoạt độngcủatrại giam (học tập, lao động, các phong trào thi đua của tậpthể phạm nhân…). Nhóm thứ hai là những phạm nhân cho rằngđã bịkết án oan, sai và hình phạt hiện tại đối vớihọlà quá nặng hoặc hình phạt không công bằng giữa cácđồng phạmcùng thực hiện một tội phạm. Số phạm nhân này bề ngoài luôn chấp hành, tuân thủ nội quy, kỷ luật trại giam, tôn trọng cán bộ, nhƣng bên trong làsự bất mãn, lạnh nhạt, hờ hững với các tác động giáo dục. Khi gặp điều kiện thuận

54

lợi, sơ hở của trại giam hoặc ứng xử không hợp lý của cánbộtrại giamhọsẽ chống đối công khai (chống lại cán bộ) hay ngấm ngầm (trốn trại, đánh đồng phạm, không tham gia đầy đủngày công và mức khoán lao động…). Nhóm thứ bagồmnhững phạm nhân luôn TĐG tiêu cực với HVCHHPT. Nhóm phạm nhân này luôn bất hợp tác, chống đối tronghầu hếttấtcả các hoạt độngcủatrại giam. Họ có tƣ tƣởng luôn bấtbình, luôn tìm cách kích động, lôi kéo phạm nhân khác vi phạm nội quy,kỷluật trại giammộtcách bí mật hoặc công khai (mangvậtcấmvào trại giam, đánh đồng phạm, lênkế hoạch trốn trại…). Đây thƣờng là những phạm nhân đã từng đi chấp hành hình phạt tù nhiều lần.

1.2.2.3. Tự ý thức của phạm nhân thể hiện qua tự điều chỉnh hành vi chấp hành hình phạt tù

TYT về HVPT và HVCHHPT củaphạm nhân phạm các tội về ma túy đƣợc biểu hiện thông qua mức độtự điều chỉnh bảnthân trong việc thực hiện các quy định chấp hành hình phạt tù của trại giam. HV đó bao gồm các nội dung sau:

– Sự điều chỉnh bản thân qua HV chấp hành trong lao động tại trại giam

Có ý thức tham gia lao động, nhận thức về laođộngcủaphạm nhân nhƣ thếnào? Trách nhiệm trong lao động. Hiểu ý nghĩa laođộnglà gì? Lao động để nuôi chính mình và đóng góp mộtphần cho xã hội. Qua lao động, giáo dục cho phạm nhân thấy đƣợc giá trị ngƣời laođộngchân chính, nhận rõ quá trình lao độngđể nhằm làm gì? Tự giác rèn luyệnkỹnăng để hoàn thành công việc lao động cánbộgiao. Biết thành quả laođộng củamình đạt cái gì tốt đẹpnhất. Công việc cánbộ giao tự giác làm, cán bộ không phải đôn đốc, nhắc nhở.

– Sự điều chỉnh bản thân qua HV chấp hành nội quy, kỷ luật trại giam

Trong trại giamđể giữ vững kỷluật trại giam và tạođiều kiện thuận lợicho việc chấp hành hình phạt tù của phạm nhân, Bộ trƣởng Bộ Công an quy địnhvề nội quy trại giam gồm các lĩnh vực cụ thể. Thứ nhất, nghiêm chỉnh chấp hành bản án, quyếtđịnhcủaToàn án, phục tùng mệnh lệnh, tuân thủ sự hƣớng dẫn của cán bộ, chiến sỹ trại giam. Thứ hai, thực hiện đúng giờ giấc, hiệu lệnh, lễ tiết tác phong trong sinh hoạt, học tập, lao động, nghỉ ngơi và vui chơi giải trí. Thứ ba, quy định trong giao tiếp qua cách xƣng hô,đối vớicán bộ, với phạm nhân với nhau và với

55

khác đến làm việc và thăm trại giam. Thứ tƣ, quy định về sinh hoạt (chỗnằmngủ, giờ giấc sinh hoạt, vệ sinh chỗ ở và nơi công cộng, giữ gìn trật tự vệ sinh trại giam và buồng giam). Thứ năm, quy định về những vật dụng đƣợc mang và không đƣợc mang sử dụng trong trại giam, ăn mặc trong trại giam. Thứ sáu, quy định về thăm gặp, tiếp xúc với ngƣời ngoài. Thứ bảy, quy định về kỷ luật lao động, học nghề, chế độnghỉ laođộng. Thứtám, quy định về trách nhiệm bảo về tài sản của trại giam và củaphạm nhân khác. Thứ chín, quy định về bảovệ tính mạng, nhân phẩm, danh dự, sức khỏe củabản thân và phạm nhân khác (cấm đe dọa, đánh đập,ức hiếp,

cƣỡngđoạt,hủy hoại thân thể, tự xăm trổ…). Thứ mƣời, quy định về khen thƣởng, xử lý kỷ luật, bồi thƣờng thiệt hại hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình chấp hành án phạt tù, bên cạnh những phạm nhân chấp hành tốt mọinội quy, quy chếcủatrại giam, tích cực học tập, lao động là những phạm nhân vi phạm nội quy, quy chế trại giam, có những phạm nhân vi phạm pháp luật hình sự và tiếp tục bị truy tố. Có những phạm nhân kích động, gây rối, lôi kéo phạm nhân khác vi phạmkỷluật trại giam, có phạm nhân nhịn ăn, tự gây thƣơng tích để gây khó khăn cho công tác quản lý giáo dục phạm nhân tại trại giam. HV CHHPTtạitrại giamcủaphạm nhân có mốitƣơng quan vớinhữngyếutốkhác nhau, trong đó có yếu tố TYT của phạm nhân về HVPT của mình.

– Sự điều chỉnh bản thân qua HV chấp hành học tập (các lớp học) do trại giam tổ chức

Ngay từ ngày với vào trại giam, mỗi phạm nhân đều đƣợc tham gia lớp học vềnội quy, quy chế trại giam. Phạm nhân có nghĩa vụ tham gia học tập trong lớp học thông qua giữ gìn trật tự, chăm chú tự giác học tập, đảmbảothời gian học tập. Tích cực lắng nghe giáo viên giảng bài, ghi chép bài đẩy đủ, tích cực phát biểu, tham gia viết thu hoạch, các bài thu hoạch, kiểm tra miệng từ đạt yêu cầu trở lên, tham giađầy đủ các buổi học tập do trại tổ chức.

– Sự điều chỉnh bản thân qua HV thực hiện nếpsống kỷluật, trật tự, văn minh tại trại giam

Xây dựng cho bản thân nếp sống lành mạnh, trong quá trình chấp hành án phải tôn trọng danh dự, tính mạng, sức khỏe, nhân phẩmcủabảnthân và ngƣời khác.

56

Ngoài ra phải vận động và tạo điều kiện giúp đỡ phạm nhân khác trong học tập, lao động, sinh hoạt nhằm giúp đỡ phạm nhân khác cảitạotiến bộ.

– Sự điều chỉnh bản thân qua HV đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, HV vi phạm của các phạm nhân khác trong trại giam

Trong luận án chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu TYT thể hiện qua sự điều chỉnh bảnthân của phạm nhân đối với HVCHHPT cụ thể đó là: HV chấp hành laođộng qua việc thực hiện ngày công, mức khoán, chất lƣợng sản phẩm lao động; HV chấp hành nội quy, kỷ luật của trại giam (thông qua việc xếp loại của trại qua các tháng, quý và năm và đã số lầnvi phạm nội quy, kỷ luật trại giam mà phạm nhân mắc phải, HV vi phạm nội quy cụ thể). Phạm nhân thƣờng mắc nhiều HV vi phạm nội quy cụ thể của trại giam. Chúng tôi xếp HV vi phạm nội quy, kỷ luật trại giam làm 7 nhóm cụ thể nhƣ sau: 1. Đánh nhau; 2. Quan hệ trái phép (với ngƣời dân, với phạm nhân ở các đội khác…); 3. Cất dấu vật cấm; 4. Tàng trữ tiền ngân; 5. Các HV liên quan đến ma túy (mang ma túy vào trại giam, sử dụng ma túy trong trại giam,

bán ma túy trong trại giam….); 6. Sử dụng điện thoại; 7. Các HV khác (chống lệnh

cán bộ, đánhbạctrong trại giam, viết thƣ trái phép, tự rời khỏi khu giam, nơi laođộng, trèo rào khu giam, gây mất trật tự…).

1.3. MỘT SỐ YẾU TỐ TÁC ĐỘNGĐẾN TỰ Ý THỨC VỀHÀNH VI PHẠM TỘI VÀ HÀNH VI CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ CỦA PHẠM NHÂN

1.3.1. Các yếu tố ảnh hƣởng tới tự ý thức

TYT, cũng nhƣ mọi hiện tƣợng tâm lý khác, bị chi phối và quy định bởi nhữngyếu tốkhách quan – những yếu tố xuất hiện vàảnhhƣởng tới cá nhân trong quá trình hoạt động và những yếu tố chủ quan – toàn bộ phẩm chất tâm lý, ý thức, nhân cách của cá nhân. Những yếu tố bên trong tác động trực tiếp đến TYT còn yếu tốbên ngoài thông qua hoạt động và giao lƣu của cá nhân chuyển thành yếu tố bên trong.

– Những yếu tố chủ quan ảnh hƣởng tới TYT

TYT,về bảnchất là trình độ phát triển cao củaý thức, ở đócá nhân ý thức về mức độtồn tạicủa các hiện tƣợng tâm lýbảnthân theo những tiêu chuẩn đánh giá củaxã hội, nhóm, tập thể mà cá nhân là thành viên. Mọi hiện tƣợng tâm lý của cá

57

nhân (xu hƣớng nhân cách, động cơ, nhu cầu, năng lực, tính cách, tính khí…) đều có liên quan tới TYT. Nhân cách càng phát triển thì những thông tin bên ngoài càng

đƣợc tiếp nhận mộtcách gián tiếp thông qua những kinh nghiệm xã hội -lịch sử đãtrở thành kinh nghiệm củabảnthân. Nhƣ vậy, đối với những nhân cách phát triển, chỉnhững đánh giá bên ngoài nào đã đƣợc thẩm thấu qua nhân cách chủ thể và

đƣợc phân tích, chọn lọc, khúc xạ qua lăng kínhchủquan của cá nhân mới có ảnh

hƣởng tớiTYT của cá nhân. Các yếu tố bên trong không tự nhiên mà có, nóđƣợc hình thành thông quahoạt động củacá nhân, đặc biệt là hoạt động chủđạo ở mỗi giai đoạn lứa tuổi khác nhau. Ngoài ra, mộtloạt cácyếutố tâm lý nhƣ nhu cầu, hứng thú củacá nhân, những phẩm chất của tính cách, tính tích cựchoạt động, chiều hƣớng của tính tích cực và cả trạng thái tâm lý cá nhân…đều có ảnh hƣởng tích cực hoặc tiêu cực tới TYT của cá nhân [30, tr.47-48].

Yếu tốtự tu dƣỡng, giáo dục có vai trò quan trọng đối với TYT. Đây là hoạt độngcó ý chí, có quy luật mà ở đó cá nhân tự xây dựng cho mình những phẩm chất tâm lý theo yêu cầucủaxã hội.Đó là quá trình cá nhân làm việc tự giác, có hệ thống nhằm loại trừ khuyết điểm, bồi dƣỡng ƣu điểm củabảnthân. Khi ở cá nhân có sự đối chiếu những nhu cầu, hứng thú, năng lực, trình độ… của mình với yêu cầu củaxã hội và từ đó dẫn tới tự tu dƣỡng. Song đòi hỏi cá nhân phải hiểu rõ đƣợc bản thân mình, có quan niệm rõ về cuộc sống, có niềm tin, có ý chí, nghị lực, có tinh thần phê bình và tự phê bình. Tự du dƣỡng là một hiện tƣợng có qui luật trong sự phát triển tâm lý con ngƣời. Tự tu dƣỡng của cá nhân là do xã hội quyết định và nóphục vụ lợi ích xã hội. Yếu tố thúc đẩy sự hoàn thiện là hoàn cảnh sống, là sự giáo dụcvà những kinh nghiệm sống của cá nhân. Bởi vì trong quá trình giáo dục đã hình thành ở cá nhân những cơ sở đạo đức, những quan niệm và khái niệmvề đạođức, niềmtin, thói quen đạo đức có vai trò điều chỉnh HVcủacá nhân trong hiện tại và qui định kế hoạch cuộc đời trong tƣơng lai.

Trìnhđộhọc vấn có ảnhhƣởngrất mạnhmẽ đếnsự phát triển TYT. Trìnhđộ học vấncàng cao thì TYT càng tăng và ngƣợc lại khi trình độ học vấn càng thấp thì TYT cũng giảm. Mối quan hệ giữa trình độ học vấn và TYT không chỉ đơn thuần là mốiquan hệ một chiều mà đó là mối quan hệ hai chiều. Trìnhđộ học vấnđạtđƣợc

58

chính là kết quả của một quá trình TYT và để đạt đƣợc trìnhđộ học vấncàng cao đòi hỏi phải có quá trình phát triển TYT tƣơng xứng. Bên cạnhđó chúng ta cũng nhận thấy rằng việc nâng cao trình độ học vấn không chỉ là trách nhiệm của cộng đồng, của xã hội mà mỗi cái nhân cần có trách nhiệm tu dƣỡng để nâng cao trình độhọc vấn của mình nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội.

– Những yếu tố khách quan ảnh hƣởng tới TYT

Tổng kết các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về TYT của các nhàtâm lýhọcXô viết, L.I.Ruvinxki và A.E.Xoloviva đã nhận xét rằng: TYT mang tính xã hội,đƣợc đảm bảobằng các điều kiện xã hội. Nhiều công trình nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những chuẩn mực xã hội mà cá nhân đã thừa nhận thƣờngđƣợc cánhân xem nhƣ tiêu chuẩn để đánh giá ngƣời khác và đánh giá chính bản thân mình. Những yếu tốxã hội ảnhhƣởng tớiquá trình TYT củacá nhân, về mặt nội dung bao giờ cũng mang tính lịch sử. Chính vì vậy khi xem xét nội dung của nhữngyếu

tố này cần đặt nó trong sự vận động cụ thể của xã hội, của mỗi thời kỳ lịch sử, thậm chí trong những lĩnh vực hoạt động xã hội nhất định. Chẳng hạn, đặcđiểm nổi bật củaxã hội Việt Nam hiện nay là quá trình chuyển từ một xã hội bị quy định bởi cơchếhành chính – quan liêu- bao cấp sang mộtxã hội vận động theo cơchếthị

trƣờng có sự định hƣớng XHCN. Trongmộtchừng mực nhất định, có thể xem xét ảnhhƣởng củasự chuyểnđổi cơ chếnói trên đến sự phát triển nhân cách con ngƣời trong đó có TYT. Những biến động và sự thay đổi của hệ giá trịxã hội đã dẫnđến sự thay đổi định hƣớng giá trị nhân cách trong mỗi cá nhân.

Phân tích nguồn gốc chức năng điều chỉnh về mặt xã hội của TYT ở cá nhân, A.V Petrovski nhận định “Nó tích cực lĩnh hội từ thế giới ngƣời lớn những giá trị khác nhau, những chuẩn mực và phƣơng thức HV, là những cái tạo thành nội dung mới củaý thức và đƣợc biến thành những yêu cầu đối với HVcủangƣời khác và đối vớibảnthân mình, thành tiêu chuẩn đánh giá và TĐG. Về mặt nội dung TYT làý thức xã hội đƣợc chuyển vào bên trong (theo địnhnghĩa của Vygotski” [58, tr.178].

Nhƣ vậy, những yêu cầu xã hội, những quy tắc và chuẩn mực xã hội có vai trò quyếtđịnhđối vớisự hình thành nội dungcủaTYT.Mỗicá nhân chịu ảnh hƣởng

59

sâusắccủa ý thức xã hội, quan điểmcủanhóm mà mình là thành viên, của tập thể. Tuy nhiên,mỗingƣời có TYT không hoàn toàn giống nhau do mỗingƣời có vốn kinh nghiệm, tính tích cực hoạt động không nhƣ nhau.

Nói về yếutốbên ngoài ảnh hƣởng tớisự hình thành và phát triển TYT còn phải nói tới khía cạnh rất quan trọng đó là môi trƣờng sống và hoạt động giao lƣu giữa cá nhân này với các cá nhân khác. Mộttrong những conđƣờng hình thành TYT của cá nhân là nhờ vào sự quan sát ngƣời khác, nhận thức ngƣời khác; từ đóliên hệ đối chiếu với bản thân, đi đến bày tỏ thái độ với bản thân, điều khiển, điều chỉnh bản thân.

L.I.Bozovic cho rằng: Sự đánh giá từ phía xã hội có vai trò hai mặt trong việc hình thành TYT củathanh thiếu niên. Thứnhất, nó là tiêu chuẩn đánh giásự phù hợpgiữa HVcủacá nhân với những đòi hỏi của những ngƣời xung quanh, nó nhƣsự máchbảocho thanh thiếu niên tính chất mốiquan hệ củahọ vớimôi trƣờng xung quanh. Do đó, nó góp phần xácđịnh đƣợc thái độcủa con ngƣời vớimôi

trƣờng cũng nhƣ với chính bản thân mình nhƣ mộtchủthể HV; Thứ hai, nó giúp thanh thiếu niên phân biệt đƣợc đối tƣợng, nội dung của TNT, bàytỏthái độ, TĐG với bản thân, trong các hành động, hoạt động của mình.

Nhƣ vậy, những thông tin bên ngoài không đƣợc tiếp thu hoàn toàn một cách rậpkhuân, một cách trọn vẹn. Nhân cách nói chung, TYT nói riêng càng phát triển thì những thông tin bên ngoài càng đƣợc tiếp thu một cách gián tiếp, có tính chọn lọc hơn.

Tóm lại, TYT củacá nhân chịu ảnhhƣởng của các yếutốbên ngoài và các yếutố bên trong. Những yếu tố bên ngoài (gia đình, nhà trƣờng, nghề nghiệp, việc làm, nhóm bạn…) liên quan chặt chẽ vớiTYT đólà những giá trị xã hội, quy tắc HV, chuẩn mực xã hội. Những yếutốbên trong là các hiện tƣợng tâm lý, trình độphát triển nhân cáchcủachủ thể, đặcbiệt là khả năng thu thập và lựa chọn thông tin về bản thân, mức độ phát triển của ý thức ở mỗi cá nhân, quá trình tự giáo dục bảnthân. Chỉ có thông qua hoạt động và giao tiếp của cá nhân trong nhóm, tậpthểthì các yếutốbên ngoàiđƣợc chuyểnhoá thành các yếutốbên trongvà từ đóảnh

hƣởng trực tiếp tới TYT của cá nhân.

60

1.3.2. Mộtsốyếu tố ảnh hƣởng tớitự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân

Có nhiều yếu tố tác động tới TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân. Yếu tốbên trong nhƣ tri thức (sự hiểu biết, sự giác ngộ), động cơ phạm tội, ý chí, niềm tin vào bản thân. Yếu tốbên ngoài nhƣ mục tiêu của giáo dục, nội dung cải tạo (học tập, rèn luyện, tham gia hoạt động xã hội…), phƣơng thức giáo dục, sự

quan tâmcủagia đình, cán bộ trại giam….Tuy nhiên, với khách thểlà phạm nhân

CHHPT các tội về ma túy có nhữngđặctrƣng riêng, chúng tôi tập trung nghiên cứu bốn yếu tố tác động đến TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân gồm:

1.3.2.1. Ảnh hưởng niềm tin vào tương lai của phạm nhân

Niềm tin là một phẩm chất của thế giới quan,tạocho con ngƣời nghị lực, ý chí để hành động phù hợp vớiquan điểmmàbảnthân đã chấp nhận. Con ngƣời có nhiều loại niềm tin khác nhau: niềm tin tôn giáo, niềm tin pháp luật, niềm tin chính trị, niềm tin vào cuộc sống tƣơng lai của mình. Niềm tin tạocho con ngƣời nghị lực, ý chí để hành động theo quan điểmcủamình, nó là lẽ sống của con ngƣời.

Ngƣợc lại, khi con ngƣời mất niềm tin vào cuộc sống, niềm tin vào con ngƣời thì dễ dẫn đến hiệntƣợng tiêu cực, bất mãn.

Với phạm nhân họ rất dễ bị hoang mang, lo lắng về tƣơng lai của mình. Việc đi tù chịu hình phạt đối vớihọlà mộtsự chịu đựng nặng nề về mặt tâm lý nhƣng nỗi lo cho tƣơng lai của bản thân (sự mặc cảm quá khứ tùtội, sự mất mát đổvỡ giađình, sự kỳ thị của xã hội, không thích nghi với sự thay đổi của xã hội trong thời

gian họ chấp hành hình phạt tù ở trại giam…) dẫn tới họ có thể mất niềm tin, mất sự tự tin để thích nghivớixã hội trong tƣơng lai. Từ đódẫntớihọtự nhận thấy cuộc đờimình nhƣ đã chấm dứt, nhƣ đã bị bỏ đi, tƣơng lai mịt mờ phía trƣớc. Dođó, qua công tác quản lý, giáo dục phạm nhân cũng cần giáo dục niềm tin cho phạm nhân vào tƣơng lai, niềm tin vào sự khoan hồng của Đảng và Nhà nƣớc đối với những ngƣời đã có thời gian lầm lỡ nhƣng nay biết sửa chữa lỗi lầm của mình. Qua công tác quản lý giáo dục cũng cần hình thành niềm tin ở phạm nhân vào HVCHHPT tích cựccủamình, tin vào thái độbiết ăn năn hối hậnvề HVPT của mình, có tinh thần hƣớng thiện, gƣơng mẫu và cải tạo tốt sẽ nhận đƣợc sự ghi nhận củacán bộ trại giam. Từ đó họ sẽ đƣợc hƣởng chính sách nhân đạo, sự khoan hồng của Đảngvà pháp luật của Nhà nƣớc để đƣợc sớm trở về với gia đình và xã hội.

61

Tóm lại, niềm tin vào tƣơng lai củaphạm nhân chính là nhờvào quá trình quản lý giáo dục tại trại giam và là kết quả, giá trị của quá trình giáo dục, cải tạo phạm nhân. Niềm tin vào tƣơng lai đƣợc xây dựng từ chínhbảnthân phạm nhân sẽ là động lực thôi thúc phạm nhân tích cực thực hiện các hoạt động trong trại giam và

từ đó biết kiềmchếbản thân không có HV vi phạm nội quy, quy chếcủatrại giam. Do vậy, cần xây dựng niềm tin cho phạm nhân, cần hƣớng họ vào những hoạt động phù hợp để thông qua đó giúp họ thỏa mãn nhu cầu chính đáng của bản thân.

1.3.2.2. Ảnh hưởng của mối quan hệ giữa các phạm nhân trong trại giam

Do hoạt động và giao tiếp trong cùng môi trƣờng trại giam, giữa các phạm nhân luôn có sự tác động lẫn nhau. Mối quan hệ giữa phạm nhân với phạm nhân có thể diễn ra theo hƣớng cùng động viên, giúp nhau cùng cải tạo tiến bộ nhƣng cũng có thể quamốiquan hệ tác động giữa phạm nhân với phạm nhân sẽ dẫntới sự a duy, bao che, xúi dục, truyền đạt cho nhau kinh nghiệm phạm tội, vi phạm nội quy, kỷluật trại giam. Sựtác động tâm lý giữa các phạm nhân thông qua các cơ chếkhác nhau.

– Cơ chế lây lan tâm lý giữa các phạm nhân

Trong tâm lý học, lây lan đƣợc coi nhƣ một cơ chế của việc hình thành tâm lý, ý thức nhóm. Hầu hết các nhà nghiên cứu đều thừa nhận ảnh hƣởng tolớncủa cơ chế lây lan tâm lý đến HV cá nhân trong nhóm. Trong trại giam, sự tác động và lây lan tâm lý có thể diễn ra trong mọi tình huống. Cơ chế lây lan tâm lý có thể diễn ra một cách từ từ; chẳng hạn khi mới xuất hiện một cảmxúc nào đó ở mộtvài phạm nhân, dần dần cảm xúc đó lây lan ra trong nhóm phạm nhân nhất định và có thể sự cộng hƣởng cảmxúc tiếp tục lây lan sang các nhóm phạm nhân khác. Hoặc sự lây lan tâm lýsẽ diễn ra theo kiểu bùng nổ, đó là khi mộtsốphạm nhân rơi vào tâm trạng căng thẳng cao độ về tinh thần, về cảm xúc, ý thức yếu đi. Sự lây lan tâm lýtừ phạm nhân này sang phạm nhân khác cho phép chúng ta giải thích các cao tràocảmxúc, tâm trạng mỗiđội phạmnhân, sự thắng của các yếu tố xúc cảm – tình cảm với ý chí.

Trong công tác quản lý giáo dục phạm nhân, việc xây dựng và giữ gìn, tuân thủ kỉluật trong trại giam là vấnđề cầnđƣợc quan tâm. Sự lây lan những cảm xúc tiêu cực là nguyên nhân dẫn đến HV vi phạm nội quy, quy chế trại giam, sẵn sàng chống lại cán bộ trại giam. Chính do lây lan tâm lý mà trạng thái cảm xúc đƣợc lan truyền trong đám đông phạm nhân với một cƣờng độ cao và tốcđộ nhanh chóng,

62

dẫntới các HV có tính bạoloạn, phá phách trại giam, ảnhhƣởng rất lớnđến HV chấp hành kỉ luật tại trại giam.

– Cơ chế bắt chước giữa các phạm nhân

Bắt chƣớc làsựmô phỏng, tái tạo, lặp lại các hành động, HV, cách thức suy nghĩ, ứng xử của một ngườihoặc nhóm ngườinào đó. Không phải mọiHVbắt

chƣớccủa phạm nhân trong trại giam đều theo hƣớng tiêu cực mà còn theo hƣớng tích cực. Trong nhiều trƣờng hợp, bắt chƣớc giúp cho sự hòa hợp giữa các phạm nhân mới nhập trại với các phạm nhân đã chấp hành án đƣợc mộtthời gian. Từnhững HV tích cực, hợp chuẩn ở những phạm nhân hạt nhân điển hình (sự tuân thủ nội quy của trại giam, hoàn thành vƣợt mức khoán lao động, có tinh thần động viên giúp đỡ các phạm nhân khác cùng tiến bộ…) đƣợc các phạm nhân khác coi nhƣ là tấm gƣơng và bắt chƣớc theo. Bên cạnh những phạm nhân luôn chấp hành tốt nội quy, quy chế của trại giam thì vẫn có những phạm nhân luôn tìm cách thực hiện những HV trái với nội quy, quy định của trại giam và HVđócó thể đƣợc các phạm nhân khácbắtchƣớc. Trongmộtnhóm phạm nhân gây rối, lúc đầucó mộtvài phạm nhân hung hăng, sự hung hăng đó của họ dần đƣợc những phạm nhân khác bắtchƣớc. Nhóm phạm nhân có thể hung hăng hay hiền lành, vô kỉ luật hay trật tự, chống đối hay không hƣởng ứng là do các tHVên bắtchƣớclẫn nhau. Bắt chƣớc là mộttrong những con đƣờng ngắn nhất để phạm nhân đồng hóa và thích nghi với nhóm (đặc biệt với nhóm không chính thức). Do đó, khi phạm nhân tham gia hoạt động, giao tiếp trong nhóm họsẽ dầndầnchịu ảnh hƣởng (tích cực hoặc tiêu cực) củanhóm đó. Thực tế cho thấy xu hƣớng phạm nhân bắt chƣớc nhau sử dụng bạo

lực để giải quyết mâu thuẫn trong môi trƣờng trại giam có chiều hƣớng gia tăng, bắtchƣớc nhau trong việc đƣa vật cấm vào sử dụng trong trại giam, đặc biệt là việc

đƣa vào trại giamđiện thoại, sử dụngđiện thoại diđộngvà ma túy là mộttrong những vi phạm có chiều hƣớng tăng ở các trại giam.

Nhƣ vậy, mốiquan hệ giữa phạm nhân vớiphạm nhân hình thành và phát triển dựa trên tính lệ thuộc lẫn nhau. Tuy nhiên, động cơ phạm tội của họ xuất phát từ lợiích cá nhân (cótiền để sử dụngma túy hoặc làm giàu từ hành vi phạmtội về ma túy) do vậy khi đi CHHPT cũng từ động cơ làm những việc để đƣợc giảm án. Bất cứviệc gì gây bất lợivà ảnhhƣởng đến việc giảm án thì họnhất địnhkhông làm.

63

1.3.2.3. Ảnh hưởng mối quan hệ giữa phạm nhân với gia đình

Gia đình là mộttrong những yếu tố có ảnhhƣởng khá mạnhđếnTYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân. Do đó, mỗi biến động lớn nhỏ trong gia đìnhđềucó tác động sâu sắc đến tâm lýcủaphạm nhân, từ đó ảnh hƣởng đến các hoạt độngcủa họ trong quá trình chấp hành hình phạt tù. Vì vậy, sự quan tâm, thăm nom

từ phía gia đình là một trong những nguồn động viên vô cùng quan trọng giúp họyên tâm laođộngcải tạotốt. Những gia đình không quan tâm, động viên, thăm gặp khi ngƣời thân của họ đang chấp hành hình phạt tù, điều này cho thấy sự không hoàn thiện của cấu trúc gia đình có ảnh hƣởng không tốt đến tâm lý phạm nhân nói chung, HV chấp hành án phạt tùcủaphạm nhân nói riêng. Từ đóở những phạm nhân này dễ xuất hiện tâm lý mặc cảm, bịbỏ rơi, họcó cảmgiác không còn chỗ bám víu về vật chất cũng nhƣ tinh thần. Điều đó cũng ảnh hƣởng tới HVCHHPT ởhọ. Tuy nhiên nếu sự quan tâm của gia đình không đúng mực, chiều con thái quá, đápứng mọiđòi hỏi củacon em trong khi họ đang chấp hành hình phạt tù cũng sẽ

tạochohọtâm lýỷ lại, dựa giẫmvào gia đìnhmọimặt, từ đó dẫn tớikhông tự giác chấp hành nội quy, kỷ luật trại giam.

1.3.2.4. Ảnh hưởng mối quan hệ giữa phạm nhân với bộ trại giam

Trong môi trƣờng trại giam, chủ thể giáo dục chính là cán bộ trại giam, đội ngũ không những thực hiện nhiệmvụquản lý trại giam mà còn giữ vai trò giáo dục phạm nhân, giáo dục những con ngƣời có những tâm lý tiêu cực, lệch chuẩn trở thành những ngƣời có nhận thức, thái độ, HVhợpchuẩn, phù hợp với chuẩn mực xã hội. Tấm gƣơng của các cán bộ trại giam tác động sâusắctớinhận thức, thái độ, HVcủaphạm nhân. Tấm gƣơng đó đƣợc thể hiện qua HV cụ thể nhƣ lời ăn tiếng nói, phong cách và kỹ năng giao tiếp, sự công minh, giải quyết công bằng giữa các phạm nhân…Ngƣợc lại, nếu cán bộ trại giam có HV thiếu công minh, giải quyết vụviệc không công bằng sẽ dẫn tới tâm lý, không tin tƣởng vào cán bộ trại giam và từ đóhình thành tâm lý chốngđối ngầm. Tâm lý chống đối, cộng với cơ chế tâm lý lây lan, bắt chƣớc thì những tƣ tƣởng chống đối ngầm sẽ đƣợc thể hiện ra thành HV chống đối công khai ở thời điểm khi có một kích thích hoặc một sự kiện nếu thiếu sự quản lý chặt chẽ của cánbộtrại giam.

TIỂU KẾT CHƢƠNG 1

Các công trình nghiên cứu khoa học ở trong và ngoài nƣớc có nhiều cách tiếp cận khác nhau về vấn đề TYT. Tuy nhiên, ở Việt Nam có rất ít công trình

64

nghiên cứu về TYT của phạm nhân nói chung và TYTvề HVPT và HVCHHPT của phạm nhân phạm các tội về ma túy nói riêng. Qua nghiên cứu mộtcách hệ thống các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nƣớc chúng tôi thấy: TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân phạm các tội về ma túy đƣợc bộc lộqua các thành phần: TNT, TĐG của phạm nhân vềHVPT và HVCHHPT, quá trình

tự điều chỉnh HVCHHPT của họ trong quá trình cải tạo tại trại giam.

Trong nghiên cứu của mình chúng tôi nghiên cứu TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân bộc lộqua: thứ nhất, tìm hiểu TNT vềHVPT của phạm nhân chấp hành hình phạt tù các tội về ma túy; thứ hai, tìm hiểu TĐG vềHVPT và HV CHHPT của họ; thứ ba, tìm hiểu sự điều chỉnh HV của bản thân thông qua hoạt động chấp hành hình phạt tù.

Có nhiều yếu tố tác động tới TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân phạm các tội về ma túy. Tuy nhiên, trong nghiên cứu của mình, chúng tôi chỉ nghiên cứu mộtsốyếu tốảnh hƣởngđến TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân các tội về ma túy gồm: ảnhhƣởngniềm tin vào tƣơng lai của phạm nhân; ảnh hƣởngcủa mốiquan hệ giữa các phạm nhân; ảnh hƣởngmốiquan hệgiữa phạm nhân với gia đình; ảnhhƣởngbởi mốiquan hệ giữa phạm nhân với cán bộ trại giam. Có thể mô hình hóa khung lý thuyết nghiên cứu TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân nhƣ sau:

Sơ đồ1: Khung lý thuyết nghiên cứu TYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân

phạm các tội về ma túy

NHỮNG BIỂU HIỆN CƠ BẢN

TỰ NHẬN THỨC

TỰ ĐIỀU CHỈNH

TỰ ĐÁNH GIÁ

NIỀM TIN CỦA PN MỐI QUAN HỆ

VÀO TƢƠNG LAI GIỮA PN VỚI PN

TỰ Ý THỨC VỀ HVPT VÀHVCHHPT CỦA PN

MỐI QUAN HỆ GIỮA PN VỚI CB

MÓI QUAN HỆ GIỮA PN VÀ GĐ

YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG

65

CHƢƠNG 2

TỔ CHỨC VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1.1. Tổ chức nghiên cứu lý luận

* Mục đích của nghiên cứu lý luận

Xây dựng khung lý thuyết cho việc nghiên cứu về TYT về HVPT vàHVCHHPT của phạm nhân các tội về ma túy.

* Nội dung của nghiên cứu lý luận

– Tổng quan các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nƣớc về vấn đề tự ýthức

– Xác định các khái niệm công cụ và các khái niệm liên quan

– Tổng hợp và phân tích các các yếu tố ảnh hƣởng đến tự ý thức * Phương pháp nghiên cứu lý luận

Để nghiên cứu lý luận, chúng tôi sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu gồmcác giai đoạn nhƣ phân tích, tổng hợp, hệ tống hoá và khái quát hoá các nghiên cứu lý luận cũng nhƣ những nghiên cứu thực tiễn của các tác giả trong và ngoài nƣớc trên cơ sở những công trình đã đƣợc đăng tải trên các sách, báo, tạp chí về những vấn đề liên quan đến đặc điểm TYT, PN.

Ngoài nghiên cứu lý luận chúng tôi sử dụng phƣơng pháp chuyên gia nhằm tiếp thu những ý kiến, kinh nghiệm của các nhà chuyên môn trong lĩnh vực tâm lýhọc, giáo dục học và những chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý giáo dục PN. Cụ thể, trong khuôn khổ luận án, chúng tôi đã phát phiếu thăm dò(phụ lục 1) 40 quản giáo có thâm niên nghề từ 5 năm trở lên ở 4 trại giam, phỏng vấn10 quản giáo và tổ chức buổi góp ý về đề cƣơng nghiên cứu có 6 chuyên gia trong lĩnh vực tâm lí học tham gia.

* Các bước nghiên cứu lý luận

Nghiên cứu lý luận bắt đầu từ năm 2009 và bao gồm hai giai đoạn:

– Giai đoạn xây dựng đề cƣơng với những công việc chủ yếu nhƣ sƣutầmvà nghiên cứu những tài liệu cần thiết, trên cơ sở đó xác định những nội dung chủ yếu, nội dung chi tiết của luận án.

66

– Giai đoạn hoàn thiện với nhiệmvụchính là hoàn chỉnh phần cơ sở lý luận với những nội dungđã đƣợc xác định.

2.1.2. Tổ chức nghiên cứu thực tiễn

* Mục đích nghiên cứu thực tiễn

– Chỉ ra thực trạng TYT về HVPT và HVCHHPT của PN CHHPT các tội vềma túy ở các nội dung: TNT về HVPT và HVCHHPT; TĐG HVPT và HVCHHPT; tự điều chỉnh bản thân thông qua HVCHHPT.

– Phát hiện những yếu tốảnh hƣởng đếnTYT về HVPT và HVCHHPT của phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù các tội về ma túy

– Đề xuấtmột số biện pháp giáo dục TYT cho PN CHHPT các tội về ma túy. * Nội dung và khách thể của nghiên cứu thực tiễn

– Thực trạng các mặt biểu hiệncủaTYT về HVPT và HVCHHPT các tội về ma túy: TNT, TĐG, Tự điều chỉnh bản thân thông quan HVCHHPT

– Các yếu tố ảnh hƣởng đến TYT về HVPT và HVCHHPT các tội về ma túy Tiến trình nghiên cứu lý luận bắt đầu từ năm 2009, gồm hai giai đoạn:

– Giai đoạn xây dựng đề cƣơng với những công việc chủ yếu nhƣ sƣutầmvà nghiên cứu những tài liệu cần thiết, trên cơ sở đó xác định những nội dung chủ yếu, nội dung chi tiết của luận án.

– Giai đoạn hoàn thiện với nhiệmvụchính là hoàn chỉnh phần cơ sở lý luận với những nội dungđã đƣợc xác định.

* Các bước nghiên cứu thực tiễn

Nghiên cứu thực tiễn đƣợc thực hiện theo các giai đoạn:

– Giai đoạn thiết kế công cụ nghiên cứu – Giai đoạn điều tra thử

– Giai đoạn điều tra chính thức – Xử lýsố liệu

– Nghiên cứu trƣờng hợp điển hình – Viết báo cáo

2.1.2.1. Giai đoạn thiết kế công cụ nghiên cứu

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\TỰ Ý THỨC VỀ HÀNH VI PHẠM TỘI VÀ HÀNH VI CHẤP HÀNH HÌNH PHẠT TÙ CỦA PHẠM NHÂN

Tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân Tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân Tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân Tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân Tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân Tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân Tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân Tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân Tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân Tự ý thức về hành vi phạm tội và hành vi chấp hành hình phạt tù của phạm nhân

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *