Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiêncứu đềtài
Quyền tự do, dân chủ (TDDC) của công dân là những quyền cơ bản, quan trọng nhất của con người, được Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền ngày 10/12/1948. Ở Việt Nam, ngay từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, các quyền này đã được nêu rõ trong bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ
tịchHồChí Minh công bố ngày 2/9/1945, và được thể chế trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn, thời kỳphát triển của đất nước. Ngày nay, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), tăng cường hội nhập quốc tế, tiến hành cải cách, đổi mới toàn diện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, việc tăng cường bảo đảm các quyền con người, quyền và lợi ích cơ bản củacông dân, trong đócó các quyền về TDDC đã và đang được Đảng, Nhà nước ta hết sức quan tâm, chú trọng, coi đây là một trong những đặc trưng cơ bản của Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân mà chúng ta đang tiến hành xây dựng.
Các quyền TDDC của công dân là các quyền hiến định,trong những năm gần đây, việc bảo vệ các quyền TDDC của công dân, bảo vệ nhân quyềnởnướcta đã đạt được những kết quả đáng khíchlệ,không những được dư luận trong nước đánh giá cao mà trên trường quốc tế cũng ghi nhận thông qua sự kiện Việt Namđược Đại hội đồngLiên hợp quốc khóa 68 bầu làm thành viên Hội đồng nhân quyền ngày 12/11/2013. Thể chế các quy định của Hiến pháp, Nhà nước ta đã có nhiều cơ chế, biện pháp để bảo vệ các quyền TDDC của công dân, trongđó có pháp luật hìnhsự.Bộluật hìnhsự (BLHS) năm 1985 đãquyđịnhmột chương riêng biệt vềnhững tội xâm phạm quyền TDDC của công dân, bao gồm10điều từ Điều 119đến Điều 128.Đến khi BLHS năm 1999 ra đời, thay thế BLHS năm 1985để phùhợpvới thực tiễn của đất nước, đã có sự sửa đổi, bổ sung căn bản và tiếp tục quy định các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân tại Chương XIII của Bộ luật, gồm 10 điều
7
từĐiều 123 đến Điều132. Ngày 19/6/2009, Luật sửađổi,bổsung một số điều của BLHS năm 1999 được Quốc hội khóa XII nước CHXHCN Việt Nam thông qua, trong đó Tội xâm phạm quyền tác giả (Điều 131) được chuyển sang Chương XVI về các tội xâm phạm trậttựquản lý kinhtế(thành Điều 170a); do vậy, Chương VIII về các tội xâmphạm quyền TDDC của công dân chỉ còn 09 Điều từ Điều 123 đến Điều 130 và Điều 132.Kể từ thời điểm có hiệulực ngày 1/7/2000, qua thực tiễn 13 năm thi hành, các quyđịnh của BLHS năm 1999 liên quan trách nhiệm hình sự (TNHS) đối với các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân đã phát huy hiệu lực, hiệu quả trong giải quyết, xử lý các
tội xâm phạm quyền TDDC của công dân, thể hiện chính sách hình sự, từng bước đáp ứng yêu cầu bảo đảm TDDC, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức. Tuy nhiên, trong tình hình mới, tội phạm xâm phạm quyền TDDC của công dân có môi trường hoạt động mới, khá đa dạng cả về cơ cấu,
tính chất của tội phạm, hình thức thể hiện và quy mô của tộiphạm… Từ năm 2006 – 6/2013, trên phạm vi cả nước,các cơ quan tiến hànhtố tụng đã điều tra, truytố,xét xử 1111 vụ/2912 bị cáo về các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân. Không dừng ở consố thống kê hàng nghìnvụ vàbị cáo, tình hình các tộixâm phạm quyền TDDC của công dân cũng có diễn biến phức
tạp, gây nhiềuhậuquả nghiêm trọng, xảyra nhiều nhất là các vụ ánvềbắt, giữ, giam người trái pháp luật,đối xửbấtbình đẳngđối vớiphụ nữ,xâm
phạm chỗ ở của công dân, xâm phạm quyền khiếu nại, tố cáo của côngdân… diễn ra ở nhiều nơi trên toàn quốc. Mặc dù, trong những năm qua, các cơ quan bảo vệ pháp luậtđã tíchcựcđấutranh, ngăn chặn các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân, nhưng việc phát hiện, điều tra, truy tố, xétxửnhóm tội phạm này còn hạn chế, nhiều trường hợptruycứuTNHS còn chưa kịp thời hoặc chưa thật chính xác, do vậy, nhiều lúc, nhiều nơi, các quyền TDDC của công dân chưa thực sựđược bảo vệ toàn diện. Trên thực tế, nhiều hành vi xâm phạmdướicác hình thức, cách thức khác nhau, chưađược nhận diện,đánh giá đúng mức để xử lý TNHS. Một trong những nguyên nhân quan trọng
8
là do các quyđịnh của BLHSvề TNHS đốivới các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân còn nhiều vướngmắc, bất cậptrong thực tiễn áp dụng mà chưađược hướngdẫn kịp thời; một sốhành vi nguy hiểm mới nảysinh chưa được dự liệu, quy định tội danh trong luật, nên không có căn cứ để truy cứu TNHS. Trong BLHS, hình phạt nghiêm khắc nhất áp dụng đối với các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân là phạt tù có thời hạn với khung hình phạtchủyếu dưới 7 năm, nên thực tiễn áp dụng, Tòa án thường tuyên mức phạt tù nhẹ, chưa bảo đảm răn đe, ngăn chặn các tội phạm này. Do vậy, hiệu quả áp dụng các quy định về TNHS đối với các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân trên thực tế còn có nhiều hạn chế, chưa được ghi nhận đáng kể trong đấu tranh xử lý tội phạm và bảo vệ các quyền TDDC của công dân.
Về mặt xã hội, tư tưởng nhân quyền, dân chủ của nhà nước pháp quyền với cốt lõi là đề cao quyền con người, quyền công dân ngày càngđược phổ biến rộng rãi và đòi hỏi được nhận thức rõ ràng hơn trong đời sống, cũng chính là một trong những định hướnglớncủaquá trình sửa đổi,hoàn thiện Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước ta thời gian vừa qua. Hiến pháp năm 2013 đã cósự sửađổi,bổ sung quan trọng, đó là ghi nhận và quy định các quyền con người đồngthời với các quyền cơ bản của công dân, một trong những thành tựu lập hiến thểhiệnsự tiếnbộ,đổi mới vềquan điểm,tư tưởngcủa Nhà nước về bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong điều kiện xây dựng nhànước pháp quyền XHCN.Đâylà một yêu cầu quan trọngđốivới việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định liên quan của BLHSđể phù hợp với tinh thần Hiến pháp mới về quyền con người, quyền công dân.Mặtkhác, trên thực tế hiện nay,ởnhiều lúc nhiều nơi, việc tôn trọng và bảo vệ các quyền TDDC của con người, của công dân cũng chưađược thựchiện một cáchđầyđủ và toàn diện, người dân chưa thựcsựcảmthấy an toàn, hạnh phúc trong môi trường sống của mình. Do đó, việc nghiên cứu, hoàn thiện các quy định về TNHSđốivới các tộixâm phạm quyền TDDCcủacon người, của công dân trong BLHS và đề ra các giải pháp hữu hiệu, góp phần nâng cao hiệu quả
9
việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của con người,củacông dân mà Hiến pháp ghi nhận, tạo môi trường sống an lành cho người dân, thể hiện tốt hơn các giá trị của Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN đang là vấn đềđặt ra, cần kịp thời giải quyết.
Trên bình diện khoa học luật hình sự, nhiều vấn đề lý luận cơ bản như khái niệm,ýnghĩa, cơ sở và các hình thức…củaTNHSđốivới cáctộixâm phạm quyền TDDCvẫnchưađược quan tâm, giải quyết thỏa đáng. Do vậy, việc nghiên cứu cácvấn đề về lýluận, thực tiễn của các tội xâm phạm quyền TDDC và TNHSđốivới các tội phạm này nhằm làm sáng tỏ vềmặtlý luận cũng như nâng cao hiệnquảthực tiễn áp dụng các quy định của BLHS, đang là vấn đề rất cần được quan tâm, nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh xây dựng Nhà nướcpháp quyền XHCN, tôn trọng và nâng cao việc bảo vệcác quyền của con người, quyền của công dânở nướcta hiện nay.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu TNHSđốivới các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân trên khía cạnhlậppháp và áp dụng pháp luật có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách. Do vậy, việc lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân” làm luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh là hoàn toàn cần thiết vàđúng đắn.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án * Mục đích
Luận án có mục đích nghiên cứu,bổsung lý luận, làm rõ thực trạng việc áp dụng quy định của BLHS về TNHS đối với các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân. Trên cơsởđó,đề xuất nhữngnộidungcụthể nhằm hoàn thiện quyđịnh củaBLHSvềTNHSđối vớicáctộixâm phạm quyền TDDC của con người, của công dân và đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trong thực tiễn hiện nay.
* Nhiệm vụ
Để thực hiện mục đích, luận án đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
10
– Làm sángtỏkhái niệm TNHSđốivớicác tộixâm phạm quyền TDDC; phân tích ý nghĩa của việc quy định TNHS đối với các tội xâm phạm quyền TDDC. Làm rõ quá trình phát triển các quy định về TNHS đối với các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân trong pháp luật hình sự Việt Nam qua các giai đoạn. Nghiên cứu những quy định về TNHS đối với các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân trong pháp luật hình sự một số nước trên thế
giới, chỉ ra sự khác biệt và những nét tương đồng, rút ra một số bài học kinh nghiệm đối với việc hoàn thiện các quy định liên quan của BLHS Việt Nam.
– Đánh giá các quy định của BLHS năm 1999 về TNHS đối với các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân ở nội dung thểhiện và mức độ đáp ứng yêu cầu lý luận về TNHS đối với cáctộixâm phạm quyền TDDCcủacông dân (cơ sở, hình thức của TNHS và các dấu hiệu định khung hình phạt).
– Phân tích thực tiễn áp dụng các quyđịnhcủa BLHS năm 1999vềTNHSđối với các tộixâm phạm quyền TDDC của công dân ở nước ta trong thời gian qua, chỉ ra những hạn chế, vướng mắc và những nguyên nhân cơbản trong thực tiễn áp dụng.
– Trên cơ sở đó, đề xuất những kiến nghị hoàn thiện các quy định liên quan TNHS đối với các tội xâm phạm quyền TDDC của con người, của công dân trong BLHS, đồng thời, đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng nhằm bảo vệ toàn diện các quyền TDDC của con người, của công dân.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đốitượng nghiên cứu của luận án là TNHSđối với cáctội xâm phạm quyền TDDC.
TNHS đối với các tội xâm phạm quyền TDDC là một vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, phạm vi nghiên cứu của luận án được xác định là dướigóc độ luật hình sự bao gồm các nội dung lý luận và thực tiễn:
-Mộtsốvấn đề chung mang tính lý luận về khái niệm,ýnghĩa của TNHS đối với các tội xâm phạm quyền TDDC; sự phát triển các quy định của
11
pháp luật hình sự Việt Nam về TNHSđối với các tộixâm phạm quyền TDDC của công dân và kinh nghiệmmột sốnước trên thế giới.
– Nghiên cứu các nội dung lý luận và pháp luật về cơ sở, hình thức của TNHSđối với các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân theo quyđịnh của BLHS năm 1999 và thực tiễn áp dụng các quyđịnhcủaChương XIII BLHS năm 1999 về TNHS đối với các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân ở Việt Nam, trong thời gian từ năm 2006 đến 6/2013, có so sánh với giaiđoạn từ năm 2000 đến 2005.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiêncứu
Việc nghiên cứu luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước vềđấu tranh phòng, chống tội phạm và chính sách hình sự đối với các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân ở nước ta hiện nay, tác giảđã vận dụng các nguyên lýcủa chủnghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích, đánh giá và làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu.
Luận án được nghiên cứu trên cơ sở sử dụng kết hợp các phương pháp thống kê, lịch sử, phân tích, so sánh, logic pháp lý để lập luận, đánh giá làm sáng tỏ những luận chứng và các quan điểm khoa học về vấn đề nghiên cứu. Tiến hành khảo sát thực tiễnở một sốcơ quan tiến hành tốtụng; trao đổi phỏngvấncá nhân là những người tiến hành tốtụng và tham giatốtụng. Tham khảo ý kiến của một sốchuyên gia, nhà khoa học và giảng dạytrong lĩnh vực pháp luật hình sự,tham khảo các công trình nghiên cứutrong vàngoài nước về vấn đềnghiên cứu.
5. Những đóng góp mới của luận án
Đây là công trình chuyên khảo trong khoa học luật hình sự Việt Nam nghiên cứu một cáchcó hệthống và có tính đồng bộ những vấn đề lý luận và thực tiễnvềTNHSđốivới các tội xâm phạm quyền TDDC ở cấp độ một luận án tiến sĩ luật học. Luận án có những đóng góp mới sau:
12
– Làm sáng tỏ những nội dung lý luận về TNHSđối với các tội xâm phạm quyền TDDC như: về khái niệm TNHS đối với các tội xâm phạm quyền TDDC, ý nghĩa của việc quy định TNHS đối với các tội phạm này trong pháp luật hình sự Việt Nam. Làm rõ quá trình phát triển các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về TNHS đối với các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân qua từng giai đoạn từ năm 1945 đến nay;
– Phân tích, đánh giá nội dung thể hiện và mứcđộ đápứng các yêu cầu lý luận của TNHS đối với các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân trong BLHS ở các nội dung cụ thể như: TNHS đối với các loại tội phạm trong nhóm
tội xâm phạm quyền TDDC của công dân, tội phạm hóa – phi tội phạm hóa, hình sự hóa – phi hình sự hóa…;
– Nghiên cứu, so sánh, đánh giá và rút ra nhận định về TNHSđối với các tội xâm phạm quyền TDDC củacông dân trong BLHS Việt Nam với những quy định liên quan trong BLHS một số nước trên thế giới;
– Phân tích làm rõ cơ sở, hình thức TNHSđốivớicác tội xâm phạm quyền TDDC của công dân trong BLHS năm 1999; làm rõ thực trạng áp dụng TNHSđối vớicác tội phạm này trong thời gian gần đâytừnăm 2006 đến 6/2013. Trên cơ sở đó,chỉ ra nhữngmặtcòn hạn chế, bất cập và xác định nguyên nhân làm cơ sở đề ra các giải pháp khắc phục.
– Đưa ra những nội dung kiến nghị hoàn thiện các quy định của BLHS năm 1999 về TNHS đối với các tội xâm phạm quyền TDDC của con người, của công dân và đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần giải quyết vấn đề TNHSđối với người phạm tộiđược chính xác, có căn cứ và đúng pháp luật, tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống các tội phạm này.
6. Ý nghĩa của luận án * Ý nghĩa lý luận
Kếtquả nghiêncứu sẽ bổ sung, đóng góp làm sáng tỏ một số vấn đềvề khái niệm, ý nghĩa củaviệc quyđịnhTNHSđốivới các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân, lịch sử quy định của pháp luật hình sự Việt Nam
13
về TNHS đối với các tội xâm phạm quyền TDDCcủacông dân, quy định của pháp luật hình sựmột sốnướcvềTNHS đốivớicác tội xâm phạm quyền TDDC của công dân; cơ sở và hình thức của TNHS đối với các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân, góp phần làm dày và phong phúlý luận về vấn đề này.Đồng thời, qua các kiến nghịsẽgóp thêm quanđiểmnghiên cứu trong việc hoàn thiện các quy định của BLHS liên quan TNHS đối với các tội xâm phạm quyền TDDC của con người,củacông dân đáp ứng yêucầucủathực tiễn, phù hợp tinh thần Hiến pháp năm 2013.
* Ý nghĩa thực tiễn
Là tài liệu tham khảo có giá trịcho công tác nghiên cứu, giảng dạy pháp luật hình sự về các tội xâm phạm quyền TDDC của con người, của công dân; làm tài liệu nghiên cứu cho cơ quan, người tiến hành tố tụng khi áp dụng những quyđịnh BLHS về nhómtộixâm phạm quyền TDDC của con người, của công dân trong thực tiễn điều tra, truytố,xét xử, quađó bảo đảmxử lý đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, định tội danh và quyết định hình phạt có căn cứ xác đáng.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu,kếtluận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương, 12 mục.
14
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Hiện nay, cũng có nhiều công trình nghiêncứukhoa học ở trong vàngoài nước liên quan các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân dưới các hình thức, chuyên ngành, với phạm vi và mứcđộkhác nhau.Ở ngoài nước, các công trình nghiên cứu liên quan thường gắn liền với các quyền TDDC của con người, của công dân ởnước nghiên cứu.Ở trong nước,các công trình nghiên cứu khá đa dạng về hình thức nghiên cứu, như: luận văn,luận án; đềtài khoa học cấp bộ, cấp cơ sở; sách chuyên khảo, giáo trình và những bài viết
đăng tải, công bố trên các tập san, tạp chí…; các công trình nghiên cứu cũng dưới nhiều góc độ và thuộc nhiều chuyên ngành luật khác nhau, như: luật
hình sự, tội phạm học, lý luận chung về nhà nước và pháp luật…; đối tượng, phạm vi nghiên cứu của các công trình đã được công bố cũng rất khác nhau, một số công trình nghiên cứu tổng thể các tội phạm về quyền con người, một số công trình chỉ đi sâu nghiên cứu một hoặc một sốtộiphạmvề quyền TDDC của công dân, một số công trình lại giới hạn nghiên cứu tình hình tội phạm ở một số địa phương, tỉnh thành nhất định.
Tùy theomụcđích nghiên cứu, các nhiệmvụđược xác định,giải quyết trong các công trình khoa học đã được công bốcũng khác nhau: có công trình chỉ tập trung nghiên cứu những vấnđề lý luận cơ bản, có công trình chỉ ra những vướng mắc trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân. Đa số các nghiên cứu trong nước tập trung vào tội phạm cụ thể, trongđó có một số tội phạmđược nghiên cứu khásâu như: Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, Tội xâm phạm chỗở của công dân. Một số công trình nghiên cứuđánh giá tổng thể vềquyền TDDC của công dân nói chung được pháp luật hình sự bảo vệ. Các nghiên cứu không phân tách hai khái niệm tội xâm phạm quyềntựdo của công dân và tội xâm phạm quyền dân chủ củacông dân.Dướigóc độkhoahọcluật hìnhsự,đa

phần các nghiên cứucòn giới hạnở những bình luận mang tính giải thích, giới thiệu các quyđịnh của BLHSvề các tộixâm phạm quyền TDDC của công dân.
Có thể điểm qua một số công trình khoahọc đã được công bố ở Việt Nam và nước ngoài có nội dung nghiên cứu liên quan đề tài các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân sau đây.
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊNCỨUTRONG NƯỚC
1.2. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊNCỨUNGOÀI NƯỚC
1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN TIẾPTỤCNGHIÊNCỨU
Qua phân tích, đánh giá tình hình nghiêncứunhư trên, có thể thấy những nội dung lý luận cơ bản về TNHS đối với các tội xâm phạm các quyền TDDC như: khái niệm,đặc điểmcủa TNHSđối với các tội xâm phạm các
29
quyền TDDC, cơ sở pháp lý và hình thức của TNHSđối với các tội xâm phạm các quyền TDDCcủacông dân trong BLHS năm 1999… chưa được quan tâm nghiên cứuthỏa đáng. Việc nghiêncứuvề TNHSđối với các tội xâm phạm các quyền TDDC của con người, của công dân dưới góc độ lý luận về TNHS còn nhiều khoảng trống trong khoa học luật hình sự Việt Nam. Các nghiên cứu về thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS về TNHSđối với các
tội phạm này còn thiếu và chưa mang tính tổng thể. Các giải pháp, kiến nghị liên quan TNHSđối với cáctội xâm phạm các quyền TDDC của công dân trong các công trình nghiên cứu chưa toàn diện, không còn mang tính thời sự, chưađề cập đến quyền con người mà Hiến pháp năm 2013 ghi nhận, do đó chúng còn thiếu cơ sở lý luận và cũng chưa bảo đảm phù hợp tình hình thực tiễn.
Hiến pháp năm 2013 mới được thông qua, tại Chương II về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã ghi nhận mới một số quyền TDDC của con người,đồng thờisửađổi, bổ sung một số quy định về quyền TDDC của công dân, thểhiện rõ sự đổi mới vềtư tưởng, nhận thức trong bảo vệ các quyền TDDC ở Việt Nam hiện nay. Điều này cần phải được nghiên cứu, thể chế hóa vào nội dung các pháp luật liên quan, trong đó có việc hoàn thiện các quyđịnhcủa BLHSvề TNHSđối với các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân để bảo vệ các quyền TDDC của con người, của công dân theo đúng tinh thần mà Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận.
Trước thực tiễn tình hình nghiên cứu nêu trên, để đáp ứng những đòi hỏi đặt ra, nghiên cứu sinh xácđịnh nhữngvấnđề lý luận và thực tiễnvềTNHSđối với các tộixâm phạm quyền TDDC của công dân cần được tiếp tục nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay, đó là:
– Nghiên cứu, đưa ra khái niệm khoa học mang tính tổng quát nhấtvềTNHSđối với các tộixâm phạm quyền TDDC; xác định ý nghĩa của việc quyđịnhTNHS,đặc điểmTNHS đối vớicáctộiphạm này. Làm rõ lịchsử các quyđịnhvề TNHSđối với các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân trong pháp luật hình sự Việt Nam cũng như việc tìm hiểu các quy định tương
30
ứngtrong pháp luật hình sự một số nướccũng là các vấn đềcầnphảiđược quan tâm nghiên cứu để bổ sung kinh nghiệm, lý luận khoa học Luật hình sự về vấn đề TNHS đối với cáctộixâm phạm quyền TDDC của công dân.
– Làm rõ thực trạng các quyđịnh về cơ sở,hình thức TNHS đối với các tội xâm phạm quyền TDDCcủacông dân trong BLHS hiện hành; phân tích thực tiễn áp dụng các quy định về TNHS đối với các tội phạm này trong giai đoạn hiện nay, chỉ ra những vướng mắc, bất cập và nguyên nhân là những vấn đềcó ý nghĩa thực tiễn quan trọng, giúp cho việc đề ra những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng bảo đảmphùhợp với thực tiễn, có tínhkhảthi cao, đáp ứng tốt yêu cầu đấutranh phòng, chống các tội xâm phạm quyền TDDC của công dân trong tình hình hiện nay.
– Trên cơ sởnhững nghiên cứu, đánh giávềlý luận và thực tiễn,đềxuất những kiến nghị hoàn thiện các quyđịnh của BLHSvềTNHSđối với các tội xâm phạm quyền TDDC của con người, của công dân bảođảm sáthợp với các quyđịnhmới về quyền TDDC củacon người, của công dân trong Hiến pháp năm 2013 và đề ra giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng, là mục đích quan trọng đặt ra, cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết.
Việc tiếp tục nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề nêu trên, nhằm bổsung lý luận về TNHSđối với các tộixâm phạm các quyền TDDC của công dân theo quyđịnh của BLHS năm 1999, là yêucầumang tính cấp thiết, nhất là việc phân tích chuyên sâu các nội dung, hình thức thể hiện của TNHSđối vớicác tội xâm phạm các quyền TDDC của công dân trong BLHS năm 1999 và qua nghiên cứu thực tiễn áp dụng, chỉ rõ vướng mắc,bấtcập vànguyên nhân, từ đó đưa ra những kiến nghị,đề xuất cótính khả thi, phù hợp với thực tiễn.Đâychính là những vấn đề đượcluận án xác địnhcần được nghiên cứu, giải quyết một cách căn bản, thấu đáo, nhằm góp phần hoàn thiện các quyđịnh củaBLHS liên quan TNHS và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chốngđối với các tội xâm phạm quyền TDDC củacon người, của công dân ở Việt Nam trong tình hình mới.
31
MỘTSỐVẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNHSỰ
ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ
CỦACÔNG DÂN
2.1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨACỦAVIỆC QUY ĐỊNHTRÁCH NHIỆM HÌNH SỰĐỐIVỚICÁC TỘIXÂM PHẠM QUYỀN TỰDO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN
Bộ luật hình sự năm 1999 (sửađổi, bổsung năm 2009) với những quyđịnhvề các tội xâm phạm các quyền TDDC của công dân và TNHS đối với các tội phạm này tại Chương XIII, là cơ sở pháp lý để xử lý nghiêm minh, kịp thời những hành vi xâm phạm các quyền TDDC của công dân, thể hiệnsựtôn trọng và bảo vệ các quyền TDDC của công dân được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận. Là một dạng của trách nhiệm pháp lý, TNHS là hậu quả pháp lý bất
lợi của việc thực hiệntộiphạm,thểhiện bằng việc áp dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được BLHS quy định đối với người phạm
tội. Việc xác địnhTNHSđối với người phạmtộilà một vấnđề trọng tâm, xuyên suốt trong quá trình giải quyếtvụán hình sự và việc làm sáng tỏ TNHSđối với một nhóm tội phạmcụ thể- trong phạm vi nghiên cứu của luận án, làđối với các tộixâm phạm quyền TDDC của công dân – không thểkhôngđềcậpđến những vấn đềchung về khái niệm, ý nghĩa của việc quy định TNHSđối với nhóm tội phạm này.
2.1.1. Khái niệm các tội xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dânĐể có khái niệm toàn diện về các tội xâm phạm quyền TDDC của công
dân,cầnxác định đúng những nội dung cơ bản của các quyền TDDCgắnvới quyền con người, quyền công dân, bởi quyền TDDC thể hiện bản chất của quyền con người, quyền công dân, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu như quyền con người là khái niệm ở nghĩa rộng nhất thì quyền công dân hẹp hơn và quyền TDDC của công dân lại thuộc nội dung quyền công dân,đến lượt
32
mình, quyền công dân lại cũng thuộc nội dung quyền con người [86]. Do vậy, quyền TDDC của con người, của công dân chỉ được làm rõ khi đặt trong nghiên cứu về quyền con người, quyền công dân, phản ánhsự ghi nhận và thể hiện nội dung bảo vệ các quyền đó trong hiến pháp và pháp luật của mỗi nhà nước.
Quyền con người với các nội dung cơ bản có thể thấy trong pháp luật quốctế vàmộtsố quốc gia tiêu biểu cho sựtôn trọng và bảovệ các quyền TDDC trong các giai đoạn phát triển của thế giới. Ở Mỹ, Tuyên ngôn độc lập năm 1776 ghi nhận mọi người sinh ra đều bình đẳng; tạo hóa đã cho họ các quyền không thể thay thế được; trong những quyền ấy có quyềnđược sống, quyền tựdo, và quyền mưu cầu hạnh phúc. Ở Pháp, Hiến pháp năm 1791, đã xác định quyền conngườilà quyền tự do,sở hữu, được an toàn và chống lại áp bức. Trong Lời nói đầu của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc, quyền con người được xác định với những nguyên tắc cơ bản, trongđóthừa nhận nhân phẩmvốncó, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và
hòa bình trên thế giới…việc xây dựng một thế giới trong đó con người được
tự do ngôn luận và tín ngưỡng, không còn phải chịu nỗi sợ hãi và cùng cực được coi là nguyện vọng caocả nhất của loài người. Nhân quyền phảiđược pháp luật bảo vệ đểmỗi người không buộc phải nổi loạn như là biện pháp cuối cùng để chống lạichế độ cường quyền và áp bức. Trên cơ sở đó,các công ước sau này của Liên hợp quốc đã ghi nhận, cụ thể hóa quyền con người với những giátrịcốtlõi, yêu cầu bảo vệ nhân phẩm của tấtcảcon người vàxácđịnh”các quyền con người phải được bảo vệ bằng pháp luật” [83, tr. 62]. Là giá trị chung củanhân loại, quyền con ngườicần đượcthừa nhận vàbảođảm thực thi bởi pháp luật của mỗi quốc gia. Trên cơ sở pháp luật quốc tế, các quốc gia sẽnội luật hóa, xây dựng các thiết chế đểbảođảmthực thi quyền con người ở quốc gia đó.Mỗi quốc gia, mặcdù có hệthống pháp luật khác nhau nhưng việc thực thi quyền con người thường không tách rời quyền công dân, bởi con người tồn tại với tư cách công dân của quốc gia, và mỗi công dân
33
đều có quyền con người trong cộng đồng nhân loại trên thế giới. So với quyền con người, quyền công dân trong pháp luật mỗi quốc gia được xác định hẹp hơn, gắn với trách nhiệm, nghĩa vụ công dân của quốc gia đó. Dưới phương diện chủthể và nội dung thì quyền con người và quyền công dân là những khái niệm không đồng nhất và khái niệm quyền con người là rộng hơn so với khái niệm quyền công dân [50, tr. 61]. Nói cách khác, quyền công dân hẹp hơn và không chứa đựng đầy đủ quyền con người. Dưới góc độ pháp lý, nội hàm quyền công dân không bao quát tất cả các quyền cá nhân của con ngườiđược nhà nước thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ. Chủ thể thực hiện quyền con người bao gồmcông dân và cả những cá nhân không là công dân của Nhà nước đó, những chủ thể này mặc dù không được hưởngđầyđủ quyền công dân, nhưngvẫnđược hưởng các quyền con người tại quốc gia mà họđang sinh sống, làm việc như quyền được sinh sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ vềtính mạng, danh dự, và nhân phẩm… mà hiến pháp và pháp luật thừa nhận và bảo vệ.Còn quyền công dânchỉdành cho chủthể là công dân của một quốc gia thực hiện, nhưng cũng thể hiện là bộ phận của quyền con người và quyền conngườibao hàm các quyền công dân.Điều này khiến cho sự thống nhất giữa quyền công dân với quyền con người trở thành một nguyên
tắc cơ bản trong quyđịnhcủa hiến pháp và pháp luật về quyền con người, quyền công dân của mỗi quốc gia.
Dưới góc độ chung, các quyền TDDC được hiểu là quyền làm chủ của người dân đối với Nhà nước, xã hội, quyền làm chủ suy nghĩ, hành động trên cơ sở tôn trọng lợi ích chung và trật tự của cộng đồng, xã hội. Xét theo phạm trù triết học,tựdo là khả năng biểu hiện ý chí, hànhđộngtheo ý muốn của mình trêncơ sởnhận thức quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội. Trongđời sống thựctiễn, tự do là quyềnđượcsống và hoạt động theo ý nguyện của mình, không bị cấm đoán, ràng buộc, xâm phạm. Một trong những cách hiểu được thừa nhận rộng rãi nhất, tự do là khả năng con người có thể làmbấtcứ điều gì mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào [4, tr. 18] nhưng không
34
có nghĩa lợi dụng tự do để thỏa mãn những mong muốn, tham vọng cá nhân, phá hoại trật tự xã hội và xâm phạm đến quyền lợi của người khác, làm phương hại đến sự phát triển của mỗi cá nhân cũng như cả cộng đồng. Theo Hegel, tự do là cái tất yếu đượcnhận thức [4, tr. 19], tự do thể hiện, hành động theo mong muốn của bản thân mình nhưng phải trên cơ sở nhận thức và tôn trọng cái tất yếu – các quy luật tự nhiên, xã hội. Còn dân chủ có nghĩa là người dân làm chủ,được quyết định các vấn đề quan trọng của xã hội, đất nước; các quyền, lợi ích của người dân được tôn trọng, bảo vệ. Về cơ bản, cội nguồn của khái niệm dân chủ bắtnguồn từ xã hội Athen cổ đại, theo nghĩa gốc tiếng Hy Lạp là “quyền lực thuộc về nhân dân“, người dân có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến cuộc sống cá nhân và xã hội…Ngoài ra, nó cũng cóthể đượcxem xét như một hình thức chính quyền tuyên bố chính thức nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và thừa nhận quyền tự do và bình đẳng của công dân…[76, tr. 87]. Dân chủ là dân có quyền tham gia, bàn bạc vào công việc chung, quyền lợicủa
từng thành viên trong xã hội được tôn trọng; là chế độ chính trị theo đó quyền làm chủ thuộc về nhân dân [95, tr. 398]. Ngày nay, dân chủ không chỉ là mục tiêu phấnđấu của con ngườiđược thế giới quan tâm,đối vớiViệt Nam,đó còn là một trong những giá trị mangýnghĩa quan trọngđối với sự nghiệp phát triển XHCN. Điều này, Nghị quyếtĐạihội đại biểutoàn quốc lần thứ IX của Đảngđã phù hợp khi đề ra: “Phát huy dân chủ, giữ vữngkỷluật,kỷcương, tăng cường pháp chế…” [20, tr. 49].
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ CỦA CÔNG DÂN
Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm quyền tự do dân chủ của công dân

