Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam
MỞĐẦU
1. Tínhcấpthiết của đề tài
Xãhộicàng phát triển,đờisống ngày càngđượcnâng cao.Đểthoả mãn các nhucầuăn, mặc,ở,conngườingày càngtạora vàsở hữunhững loại tàisảnvớirất nhiều những tính năng, công dụng khác nhau (các loạivậtliệu mới, các loại chất mới,
các loại máy móc thiếtbịhiệnđại,robot,…).Những loại tàisảnnàytạora hiệuquảlaođộngcao và cóthểthaythếmộtsốlượnglớnsứclaođộngcủacon người. Bên cạnh nhữnglợiích manglạicho con người, tàisảncũng luôn tiềmẩnnhững nguy cơ gây ra thiệthạicho conngườivà môi trường xung quanh (các loạivậtliệu phátnổ,
cháy, robot giết người,…).Cũng giống như thiệthạido hành vicủaconngườigây ra, khi tàisảngây thiệt hại, việcbảođảmquyềnlợicủangườibịthiệthạicũng như của ngườichịu trách nhiệmbồithường làmộtđòihỏikhách quan và pháp luật trở thành côngcụhữuhiệuđápứngđòihỏikhách quanđó.Tính khách quan của đòi hỏi này thểhiệnở chỗviệc quyđịnhvà áp dụng quyđịnhvềTNBT do tàisảngây ra là tất yếu màkhôngphụthuộc vàoýchícủaCSH, NCH, NSD tàisảncũng nhưngườibịthiệt hại. Chỉkhi giải quyếttốtcácvấnđềcó liên quanđếnTNBTTH do tài sản gây ra thì quyền vàlợiíchhợppháp chongườibịthiệthạicũng nhưngườichịu trách nhiệm bồi thường thiệt hạimớiđượcbảo đảm.
Trướckhi BLDS 2015 có hiệu lực, vănbảnpháp luật quyđịnhvềBTTH do tài sản gây ra là BLDS 2005, trong đó có những quy định đượchướng dẫn bởiNQ 03/2006. Vềcơ bản, TNBTTH do tàisảngây rađãđượcquyđịnhthành các trườnghợpcụthể. Tuy nhiên, các quyđịnhvềBTTH do tài sản gây ra trong hai văn bản này bất cập ở chỗ:
(1)Bộluật dânsựmớichỉquyđịnhthành 4 trường hợp cụ thể về BTTH do tài sản gây ratạicácđiều623 – “BTTH do nguồn nguy hiểm caođộgây ra”, 625 – “BTTH do súc vậtvây ra”, 626 – “BTTH do câycốigây ra”, 627 – “BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gâyra”mà chưa bao quátđượctấtcảcác trườnghợpxảyra trên thực tiễn; (2) Các quyđịnhtrong hai vănbảnnày chưa rõ ràng,tảnmát, việchướngdẫnáp dụng pháp luật cũng chưa phùhợpvớibản chất của TNBTTH do tài sản gây ra. Cụ thể, có thểthấy Điều 623 chưa chỉ rõ khi nào được coi là nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, khi nào là việcsửdụng nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, đồng thời việc hướng dẫn thi hànhĐiều623 cũng chưa phù hợp;Điều626mớichỉdừnglạiở việc quyđịnhtrường hợpBTTH do câycốiđổ,gẫygây rachứchưa bao quátđượccác trường hợp khác nhưquảtrên cây rụng xuống gây thiệt hại;Điều627mớichỉdừnglạiở việc BTTH do nhàcửa, công trình xây dựng gây ra trong ba trườnghợpsụpđổ,hư hỏng,sụtlở chứchưa bao quátđượccác trườnghợpkhác như nhà cửa, công trình xây dựngbịcháy gây ra. Nhữngbấtcậpnàydẫnđếnthiếu cơ sở cho việc thực hiện, chấp hành pháp luật,đồng thời thiếu cơ sở để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh.Điềunày chứng minhbởithực tiễn giải quyết tranh chấp về BTTH ngoài hợpđồng nói chung, BTTH do tàisảngây ra nói riêng, Tòa án thườngvậndụng quyđịnhkhông phùhợplàm căncứđểđưara quyếtđịnhgiải quyếtvụviệc.Đồngthời, cùngmộtvụviệc hoặc nhữngvụviệc tươngtựnhau nhưng còn mâu thuẫn giữa cáccấpxétxửhoặc các Hội đồng xét xử trong cùng một cấp Tòa trong việc xác định các vấn đề có liên quan như chủ thể phải bồi thường, mức bồi thường,…
NhữngbấtcậpcủaBLDS 2005đãphần nàođượckhắc phụcbởicác quyđịnh trong BLDS 2015. Trongđó,khoản 3 Điều 584 BLDS 2015 là quy định mang tính bao quát và là cơ sở đểáp dụng cho các trườnghợptàisảngây thiệthạimà không thuộc các trườnghợpcụthể. Ngoài ra, các quyđịnhvềBTTH do tàisảngây ra trong các trườnghợpcụthểcũngđượcsửađổicho phùhợpvớithực tiễn. Tuy nhiên, qua nghiên cứucác quyđịnhnày, NCS nhận thấyvẫncòn nhiềuđiểmbấtcậpphảiđượchoàn thiện để bảo đảm việc ápdụng hiệu quả trong giải quyết các vụ việc thực tiễn.
TNBTTH do tàisảngây ra làmộttrong nhữngnộidung quan trọngcủachếđịnhTNBTTH ngoàihợpđồng.Tuy nhiên hiện nay còntồntạinhiều quanđiểmtrái ngượcnhauvềcácvấnđềlý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luậtvềBTTH do tàisảngây ra. Những mâu thuẫn này xoay quanh cácvấnđềpháp lý quan trọng như:
cácđiềukiện phát sinh TNBT; cơ sở đểxácđịnhchủthểchịu TNBT; tàisảngây thiệt hạicótồntạihành vi trái pháp luậtcủaCSH, NCH,sửdụng tài sản không; thiệt hại do nguồn nguy hiểm caođộgây ra và thiệthạido hành vicủaconngườigây ra có liên quanđếnnguồn nguy hiểm caođộcó cùng cơ sở pháp lý làĐiều601 BLDS 2015
không;…Ngaycảkhi BLDS 2015đãđượcthông qua và có nhiềusửađổithì những quanđiểmtrái chiều nàyvẫntồntại. Nguyên nhâncủanhững mâu thuẫn này là do những quyđịnhpháp luật chưa thựcsựrõ ràng.Nếunhư những mâu thuẫn nàyvẫntồn tạisẽảnhhưởngtrực tiếpđếnviệc áp dụng pháp luật vào thực tiễn, và điều này sẽ gâyảnhhưởngđến quyềnvàlợiích hợp pháp của các chủ thể.
Từthựctếtrên cho thấy, việc nghiêncứuđểlàm rõ cácvấnđềlý luận, các vấnđềpháp lývềTNBTTH do tàisảngây ra,bảođảmviệc hiểu và áp dụng thống nhất các quyđịnhpháp luật vào thực tiễn là yêucầubứcthiết. Dođó,việclựachọn và nghiên cứu đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sựViệt Nam”sẽ có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Phạm vi nghiên cứu củađề tài
Thứnhất, trên cơ sở những quyđịnhcủapháp luậtvềTNBTTH ngoài hợpđồng nói chung và TNBTTH do tàisảngây ra nói riêng, luận ánsẽtậptrung nghiêncứuvàlàm rõ cơ sở lý luận về TNBTTH do tài sản gây ra.
Thứhai, luận ántậptrung làm rõ các quyđịnhcủaBLDS 2005, BLDS 2015 vàcác vănbảnpháp luật có liên quanvềTNBTTH do tàisảngây ra. Thông qua đó làm rõnhững thayđổicủaBLDS 2015 sovớiBLDS 2005. Ngoài ra, luận án cũng nghiên cứu pháp luậtmộtsốnướctrên cơ sở so sánhvớicác quyđịnhcủapháp luật Việt Nam. Cùngvớiviệc nghiêncứucác quyđịnhcủapháp luật thựcđịnh,luận án cũng đi vào nghiêncứuthực tiễn áp dụng pháp luật về TNBTTH ngoài hợp đồng trên thực tế để làm nổi bật thực trạng quy định phápluật về vấnđề này.
Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễnáp dụng pháp luật về TNBTTH do tài sản gây ra, luận án sẽ đưa ra những ý kiến đánh giávà những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về vấnđề này.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mụcđích nghiêncứucủaluận án là làm sángtỏnhữngvấnđềlý luận, thực trạng quyđịnhpháp luật cũng như thực tiễn áp dụng pháp luậtvềTNBTTH do tài sản gây ra. Trên cơ sở đó,luận án cũng nhằmđưara các kiến nghị hoàn thiện quyđịnh pháp luật về TNBTTH do tàisảngây ra.Vớinhữngmụcđích như này, luận án cónhững nhiệmvụnghiên cứu cụ thể như sau:
Thứnhất, làm rõbảnchấtcủaTNBTTH do tàisảngây ra, xây dựngđượckhái niệm vàchỉrađượcnhữngđặcđiểmcủaTNBTTH do tàisảngây ra. Phân tíchđược cácvấnđềlý luậnvềcácđiềukiện phát sinh TNBTTH do tàisảngây ra cũng nhưphân tíchđượcnguyêntắcxácđịnhchủthểchịu TNBT. Quađó,chỉrasựkhác biệt vớiTNBTTH do hành vicủacon người gây ra.
Thứhai, làm rõ các trườnghợpBTTH do tài sản gây ra với các nội dung cơ bản như:đặcđiểm,thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật và những căncứloại trừtrách nhiệm.Đồngthời, nghiêncứuquyđịnhpháp luậtcủamộtsốnướctrênthếgiới theohướngso sánhvớicác quyđịnhpháp luậtcủaViệt Nam, nhằm hoàn thiện quyđịnhpháp luật Việt Nam.
Thứba, chỉra những ưuđiểm,hạnchếcủacác quyđịnhvàkiến nghị cụ thể đểhoàn thiện các quy định phápluật vềTNBTTH do tài sản gây ra.
5. phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp luận: việc nghiêncứuluận ánsẽdưa trên cơ sở phương pháp luận duyvậtbiện chứng và duyvậtlịchsửcủaChủnghĩa Mác – Lênin.Đâyđượccoi là kimchỉnam cho việcđịnhhướngcác phương pháp nghiêncứucụthểcủatácgiảtrong quá trình thực hiện luận án. Phương pháp nàyđượcNCSsửdụngđểnghiên cứu các vấnđề lý luậntrong luận án.
* Phương pháp nghiêncứucụthể: trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, trong quá trình nghiêncứuluận án, NCSsẽsửdụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
– Phương pháp phân tích và bình luậnđểlàm rõ nhữngvấnđềlý luận và quy định pháp luật hiện hành về TNBTTH do tài sản gây ra;
– Phương pháp tổnghợpnhằm khái quát hoá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về TNBTTH do tài sản gây ra, nhằm đưa ra những kiến nghị phù hợp;
– Phương pháp so sánhđểnhằmchỉra nhữngđiểmtươngđồngvà khác biệt giữa quyđịnh củapháp luật Việt Namvớipháp luậtcủa một số nướctrên thế giới.
6. Những đóng góp mới của việc nghiên cứu đề tài
Kếtquảnghiên cứu đề tài “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam”có thể mang lại nhữngđiểm mớisau:
Thứnhất, việc xácđịnhbảnchấtcủaTNBTTH do tàisảngây ra làđiểmmớiđầu tiên của luận án mà chưa có một công trình nào chỉ ra;
Thứhai, nghiêncứuvàchỉra những nét tổng quát nhấtvềTNBTTH do tài sản gây ra. Trongđó,phân tích và bình luận nhữngnộidung phùhợpcũng như chưa phùhợpcủacác khái niệmvềTNBTTH do tàisảngây racủamộtsốtác giả. Quađó,xây dựngđượckhái niệm phùhợpnhấtvề vấnđề này.
Thứba, việc phân tích và xácđịnhđượccácđiềukiện phát sinh TNBTTH do tàisảngây ra làđiểmmớicó giátrịlý luận và thực tiễn cao. Trong đó, việc phân tích vềtínhtựthân hoạtđộnggây thiệthạicủatàisảnlàmộtvấnđềlý luậnnổibậtxuyên suốt toàn bộ luận án.
Thứ tư, việc phân tích nguyêntắc chung trong việc xác địnhchủthể chịu TNBTTH trên cơ sở quyđịnhvềnănglựcchịu TNBTTHcủacá nhânsẽgóp phần xácđịnh TNBT của từng chủ thể trong các trườnghợpcụ thể.
Thứnăm, việc nghiêncứuvà xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hạitrong trườnghợptàisảnvô chủ, tàisảncủangườiđượcgiámhộ,củangườichưa thành niên gây thiệt hại thể hiện tính bao quát của việc nghiên cứu của luận án, góp phần tích cực vào việc nâng cao nhận thức trong việc nghiên cứu cũng như công tác thực tiễn.
Thứsáu, việc nghiêncứucác trườnghợpBTTH do tàisảngây ra theo hướng khái quát hoàn toànmới nhằm xây dựngmộtbứctranh toàn diện các quyđịnhpháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật. Quađó,giúp các nhàlậppháp cũng như các nhànghiêncứu có đượccái nhìn bao quát nhấtvềvấnđề này.
Thứbảy, việc nghiêncứuquy định pháp luật của một số quốc gia theo hướng so sánhsẽgóp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam, vàbảođảmsựphùhợpcủa pháp luật Việt Namvớithế giới.
Thứ tám, những đánh giá của luận án về những quy định pháp luật sẽ giúp các nhàlập pháp và các nhà nghiên cứu thấy rõ những lỗ hổng trong quy định pháp luật hiện hành về TNBTTH do tàisảngây ra. Qua đó góp phần hoàn thiện những quy định về TNBTTH ngoài hợp đồng nói chung và các quy định về TNBTTH do tài sản gây ra nói riêng.
7. ếtcấu của luận án
Ngoài phầnmở đầu,kếtluận, danhmụctài liệu tham khảo vàphụlục,nội dung của luận án bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra Chương 2: Các trườnghợpbồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
Chương 3:Mộtsốkiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng phápluật vềbồi thường thiệt hại do tài sản gây ra

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊNCỨU ĐỀ TÀI
1. Các công trình nghiên cứu đã được công bố liên quan đến đề tài luận án 1.1. Một số công trình khoa học trong nước:
1.1.1. Luận án, luận văn, khoá luận:
1.1.2. Đề tài khoa học
1.1.3. Bài đăng tạp chí
1.1.4. Sách chuyên khảo
1.2. Một số công trình khoa học nước ngoài
2. Đánh giá kết quả nghiên cứu các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án 2.1. Về mặt lý luận
2.2. Về các trường hợp BTTH do tài sản gây ra 2.2.1. BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Các công trìnhchỉđi vào nghiêncứuquyđịnhchung nhấttạiĐiều623 BLDS 2005 mà chưa có công trình nào nghiêncứuquyđịnhtạiĐiều601 BLDS 2015 . Mặt khác, khi nghiêncứucứu chung về nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, các tác giả cũng thểhiện những quan điểm trái ngược nhau về cũngmột vấnđề.
2.2.2. BTTH do động vật gây ra
Nhìnvềtổng thể, không ít công trìnhđãnghiêncứuvềvấnđềnày. Tuy nhiên, các công trình nàymớichỉnghiêncứuxoay quanhvấnđềBTTH do thúdữ(một loại nguồn nguy hiểm caođộ)gây ra và BTTH do súcvậtgây ra mà chưa có công trình nào nghiêncứu vềTNBTTH do các loài động vật khác gây ra.
2.2.3. BTTH do cây cối gây ra
Các công trình nàymới chỉ nghiêncứucác quyđịnhtrong BLDS 2005 vàcũng chưa nghiêncứu chuyên sâuvề thực tiễn áp dụng quyđịnhvềBTTH do cây cối gây ra.
2.2.4. BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra
Các công trình nói trênmớichỉnghiêncứuvềvấnđềBTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây raở mứcđộcơ bảnnhất. Chưa công trình nàođưara nhữngđặcđiểmpháp lý cơ bảncủahai loạibấtđộngsảnnày. Ngoài ra,từkhi BLDS 2015đượcthông qua, cũng chưa có công trình nào nghiêncứumộtcách cơ bảnvềvấnđềnày nên chưa có những kiến nghị phù hợp.
2.2.5. BTTH do các loại tài sản khác gây ra
Hầuhếtcác công trình nghiêncứuchỉtậptrung vào nghiêncứucác trường hợp tàisảngây thiệthạiđãđượcpháp luật quy định cụ thể tại các Điều 623, 625, 626, 627 BLDS 2005.Mộtsốcông trình cóđềcậpđếncác loại tàisảnkhác gây ra thiệt hại nhưng chưa nghiêncứucụthểcácnộidung có liên quan.Đặcbiệt, BLDS 2015được thông quađãcó quyđịnhmang tính nguyêntắcxácđịnhTNBTTH do tàisảnnói chung gây ratạikhoản 3Điều584 vàmộtsốquyđịnhkhác có liên quan. Song những quyđịnhnàyvẫncòn nhiềuđiểmbấtcậpcầnđượcgiải quyết mà chưa cómộtcông trình nào nghiên cứu và đưa ra hướng hoàn thiện.
2.3. Về kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Cóthểthấy,hầuhếtcác công trình nghiêncứuđềuchỉtậptrung vàomộtkhía cạnhnhỏcủaTNBTTH do tàisảngây ra, nên tácgiảchỉđưara kiến nghịvềmột trườnghợpcụthể. Tuy nhiên,từkhi BLDS 2015 có hiệulựcpháp luật,chứcó một công trình nào nghiêncứumộtcách tổnghợpcác quyđịnhvềTNBTTH do tài sản gây ra nên chưa công trình nào có kiến nghị hoàn thiện toàn bộ các quy định có liên quan.
3. Hệ thống các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của luận án 3.1. Cơ sở lý luận về TNBTTH do tài sản gây ra
–VềbảnchấtcủaTNBTTH do tàisảngây ra: Luận ánsẽlà công trìnhđầutiên nghiêncứu về bảnchất của TNBTTH do tài sản gây ra.
-Vềkhái niệm TNBTTH do tàisảngây ra: luận ánsẽtiếptụcnghiệncứuvàhoàn thiện khái niệm nàydướigóc độ của một chế tài dânsự.
-VềđặcđiểmTNBTTH do tàisảngây ra: luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu làm rõnhữngđặc điểm cơ bảncủaTNBTTH do tài sản gây ra.
– Về điềukiện phát sinh TNBTTH do tài sảngây ra: Luận ánsẽtậptrung nghiêncứuđểlý giải vì saolỗikhông phải làđiềukiện làm phát sinh TNBTTH,đồng thời sẽ đi vào bình luận từngđiều kiện cụ thể.
-Vềcơ sở xácđịnhchủthểchịu TNBTTH do tàisảngây ra: luận ánsẽnghiên cứu để đưa ra cơ sở xác định chủ thể chịu TNBTTH do tài sản gây ra.
-Vềsựkhác nhau giữa TNBTTH do hành vicủaconngườigây ra và TNBTTH do tàisảngây ra: luận ánsẽtiếp tục nghiên cứu làm rõ những điểm giống và khác nhau cơ bản giữa TNBTTH do hành vi và do tài sản gây ra.
-Vềlượcsửquyđịnhpháp luậtvềBTTH do tàisảngây ra: luận ánsẽtiếp tục nghiêncứunhững quyđịnhpháp luật Việt Nam qua các thời kì để xác định cơ sở pháp lý cho việc áp dụng TNBTTH do tài sản gây ra trong từng giai đoạn.
3.2. Các trường hợp BTTH do tài sản gây ra
3.2.1. BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
Luận ánsẽtiếptụcnghiêncứucác quyđịnhtrong BLDS 2015 trên cơ sở so sánh,đốichiếuvớiBLDS 2005.Đồngthời, luận ánsẽđi vào nghiêncứuquyđịnh
pháp luậtmộtsốnước,quađórút ra những bàihọckinh nghiệm cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật.
3.2.2. BTTH do động vật gây ra
VềTNBT do súcvậtgây ra: Luận ánsẽtiếptụcnghiên cứu làm rõ các vấn đềnhư:đặcđiểmcủasúc vật, cácđiềukiện phát sinh TNBT,chủthểchịu TNBT và các
trườnghợploạitrừtrách nhiệm,… Đặcbiệt, luận ánsẽtậptrung nghiêncứucác quyđịnh trong BLDS 2015 nhằm đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quyđịnh về vấnđề này.
VềTNBTTH do thúdữgây ra: Luận ánsẽđi vào nghiêncứucụthểvấnđềBTTH do thú dữ gây ra. Trong đó tập trung làm rõ các đặc điểm khác biệt của thú dữ do vớicác loài động vật khác, cơ chế hoạt động gây thiệt hại, TNBTTH của các chủ thể khi thú dữ gây thiệt hại.
VềTNBTTH do các loàiđộngvậtkhác gây ra: Luận án sẽ nghiên cứu làm rõcácvấnđềcó liên quanđếnBTTH khi các loàiđộngvậtkhác trên cơ sở quyđịnhtại khoản 3 Điều 584 BLDS 2015.
3.2.3. BTTH do cây cối gây ra
Luận ánsẽtậptrung nghiêncứuquyđịnhtrong BLDS 2015vềTNBTTH do câycốigây ra, nhữngđặcđiểmcủaloại tàisảnnày sovớicác loại tài sản khác. Đồng thời sẽ nghiên cứu thực tiễn vấn đề BTTH do cây cối gây ra.
3.2.4. BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
Luận ánsẽtiếptụcnghiêncứuhoàn thiện quyđịnhpháp luậtvềTNBTTH do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra theo quy định của BLDS 2015.
3.2.5. BTTH do các loại tài sản khác gây ra
Luận ánsẽnghiêncứuquyđịnhchungvềBTTH do tàisảngây ra trong BLDS 2015. Qua đó sẽ đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quyđịnh vềvấnđề này.
3.3. iến nghị hoàn thiện pháp luật
3.3.1. Đánh giá quy định pháp luật hiện hành về TNBTTH do tài sản gây ra
Trên cơ sở phân tích những quyđịnhpháp luật hiện hành, luận ánsẽđánh giáquyđịnhpháp luật hiện hànhvềTNBTTH do tàisảngây ra. Quađótìm ra nhữngđiểmtíchcựcvàhạnchếtrong quyđịnhcủapháp luật, làm cơ sở cho việcđưara những kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
3.3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Mặcdù các tácgiảkhi nghiêncứuvềTNBTTH do tàisảngây ra,đềuđưara những kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Tuy nhiên, những kiến nghị nàychỉnhỏlẻđối vớitừng trườnghợpcụthể. Đặc biệt, từ khi BLDS 2015 có hiệu lực pháp luật, chưa cómộtcông trình nàođưara những kiến nghị tổngthểvềvấnđềnày. Do đó, việc nghiên cứuvàđưara những kiến nghị hoàn thiện pháp luậtvềTNBTTH do tàisảngây ra làmột trong những nhiệm vụ mà luận án cần phải giải quyết.
Trênđâylànộidung tómtắttổng quan tình hình nghiêncứuđềtài.Nộidung chi tiết được NCS trình bày cụ thể trong bảnPHỤ LỤC1 đính kèm luận án này.
Chương 1
CƠ SỞLÝ LUẬNCỦATRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI
DO TÀISẢNGÂY RA
1.1. hái niệm, bản chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra 1.1.1. Khái niệm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
Trong lịchsửxãhộiloài người,ở mỗimộtgiaiđoạnkhác nhau, conngườitađượcsinh ra vàđượchưởngthụnhững giá trị tinh thần và vật chất khác nhau. Nhưng cómột điểm chung của con người trong các giai đoạn phát triển đó là con ngườiđượcsinh ra trong xãhộinào cũng đều có những nhu cầu cơ bản. Từ những nhu cầu thiết yếu nhất
như ăn, mặc,ở chođếnnhững nhucầucao hơnvềkinhtế,chính trị, xã hội,… Đây lànhững nhucầukhách quangắnvớisự tồn tại, phát triển tất yếu của con người và xã hội. “Cácnhucầukhách quancủaconngườitạora quyền con người.Mộtnhucầucơ bản củacon người,vềlogic,sẽtạoramộtquyền” [110; tr.12]. Như vậy, về bản chất, quyền conngườikhông phải làýchíchủquancủamộtgiai cấp,mộttầnglớphaymộtcon ngườicụthể, mà nó là quyềntựnhiên và được hình thành một cách khách quan ngay từkhi con ngườiđượcsinh ra. Ở mỗi một thời kì lịch sử khác nhau, mỗi một quốc gia khác nhau, quyền conngườiđượcghi nhận vàbảovệở cácmứcđộvà phạm vi khác nhau. Trong xãhộingày nay,vấnđềbảovệquyền conngườingày càngđượcquan tâm sâu sắcvà nó giống nhưmộtcuộc cách mạng đang hàng ngàyđượctiến hànhở mỗiChâu
lục,mỗiquốc gia,mỗitầng lớp, … khác nhau. Việc bảo vệ quyền con ngườiđượcthực hiện bằng nhiều côngcụkhác nhau, mà một trong những công cụ có tính hiện thực nhấtđólà côngcụpháp lý.Tứclà“đểthực hiện quyền con người ở nghĩa tự nhiên cần phải thể chế hóa quyền đó thành các quyền pháp lý” [110;tr.14].
Thựctếhiện nay cho thấy, pháp luật Việt Nam đang ngày càng thể hiện sự hoàn thiện trong việc ghi nhận vàbảođảmquyền conngườiở mọilĩnhvựccủa đờisống xãhội.Điềuđóthểhiện ngay trongbảnHiến pháp năm 2013, trongđóquyền co n người tiếptụcđượcghi nhận vàđượckhẳngđịnhở mộtvịtrí quan trọng. Trong các văn bản pháp luậtđượcban hành sauđó,quyền conngườicũngđượcghi nhận vàbảođảmcảvềmứcđộvà phạm vi. Vàđểbảođảmcho công dânđượchưởng các quyền con người thựcsự,quanđiểmlậpphápcủaNhànướcta cũnghướngtớiviệc ghi nhận cho các công dânđượcquyềntựdo trong việc thực hiện các hành vi nhằm thỏa mãn các nhu cầucơ bảncủamình. Tuy nhiên,sựtựdocủamỗingườiluônnằmtrongmốiquanhệvớisựtựdocủanhữngngườikhác,tứclà việc thực hiện quyềntựdocủamình cũng phảibảođảmquyềntựdocủangườikhác. Nhà tưtưởngMotesquieu cũngđãđưara quan điểm về tự do như sau: “Tự do là quyền được làm tất cả những điều mà pháp luật không cấm. Nếu một công dân làm điều trái luật thì anh ta không còn được tự do nữa; vìnếuđểanh tatựdo làm thìmọingườiđềuđượclàm trái luậtcả”[37;tr.99]. Tưtưởngnàyvềsauđượccụthểhóa trong nhiều văn kiện quốctếvềquyền con người,
trongđótạiĐiều4 Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyềncủaPháp năm 1789 cũng khẳng định: “Tự do bao gồm quyền có thể làm mọi điều không gây hại cho người khác. Nhưvậyviệc thực hành các quyền tự nhiên của mỗi người chỉ bị giới hạn trong việc bảo đảm cho các thành viên khác của xã hội được hưởng các quyền đó; các giới hạn này chỉ có thể do pháp luật quy định” [93; Điều 4].
Theo các tưtưởngtrên,tựdo phảinằmtrong khuôn khổ của pháp luật và sự tôn trọng các quyềncủangườikhác.Sựtựdocủamỗingườikhiđãvượtquá giới hạn cho phépcủaluật (làm nhữngđiềutrái luật) cóthểgây ra những thiệthạichongườikhác. Suy rộng ra,điềuđócó nghĩa rằng việc ghi nhận vàbảođảmhiện thực hóa các quyền conngườinếukhông cósựkiểm soát bằng các thiếtchếsẽgây ra nhữngảnhhưởng tiêucựckhôngchỉđốivớitừng cá nhân, mà nó còn có thể ảnh hưởng đến sự phát triển vàtồnvongcủacảmộtquốc gia, dân tộc. Như vậy,bảođảmquyền conngườikhông chỉlàsựghi nhận và cho phépmỗicông dânđượctựdo thực hiện các hành vi mà luật không cấm, màđócòn là việc xây dựng các thiếtchếnhằm ngăn chặn hành vi lạm dụng quyềntựdo vàbảovệquyền vàlợiíchhợpphápcủamỗichủ thể trướcnhững sựvi phạmđó.Qua những phân tích này cho thấy, việc ghi nhận vàbảovệquyền con ngườilàmộttrong những cơ sở quan trọng cho việc hình thành và phát triểncủacác chế địnhpháp luật, trong đó có chế định TNBTTH ngoàihợpđồng.
Nghiêncứulịchsửhình thành và phát triểncủacácchếđịnhpháp luật cóthểthấychếđịnhTNBTTH ngoàihợpđồnglàmộttrong nhữngchếđịnhcó lịchsửhình thành và phát triểnsớmtrong cácchếđịnh pháp luật dân sự (xem chi tiết trong phụ lục 2). Trênthếgiới, quá trình hình thành và phát triểncủachếđịnhTNBTTH ngoàihợpđồngtrải qua nhiều giaiđoạnkhác nhau, trongđócó hai giai đoạn điển hình đó là giaiđoạnbồithườngdựatrênchếđộtư nhân phụccừuvàbồithường dựa trên chế độ thục kim. Ở Việt Nam, trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, chế định TNBTTH ngoàihợpđồngđượchình thành và phát triển cũng chịuảnhhưởngcủacác tưtưởngpháp luậtcủacác quốc gia trênthếgiới trong từng thời kỳ khác nhau. Do đó, quanđiểmvềBTTH trong các thờikỳkhác nhau cũng có sự thay đổi rõ rệt. Trong thời kì phong kiến,chếđịnhtrách nhiệm dânsựnói chung, TNBTTH ngoàihợpđồngnói riêng“đượcquyđịnhsơ sài vàtảnmát, các quyđịnhnày không phân biệt rõ trách nhiệm dân sự và trách nhiệm hình sự” [111;tr.141]. Tức là trong thời kỳ này, TNBTTHđượcthểhiện trong các vănbảnpháp luậtvềhìnhsựvàngườigây thiệt hại thường phải chịucảtrách nhiệm hìnhsựvà trách nhiệm dânsự.Các quyđịnhpháp luậtđềunhằmhướngtớibảovệquyềnlợicủagiaicấpthốngtrịchứkhông chú trọng vào việcbảovệquyền conngườitrong xã hội. Cùngvớisựphát triểncủaxãhộivàcông cuộcđấutranh giànhđộclập, các quyđịnhvềBTTH ngoàihợpđồngcũng cónhững thay đổi cho phùhợpvớithực tế đờisống xã hội.
Trong giaiđoạnhiện nay,chếđịnhTNBTTH ngoàihợpđồngdựatrênnềntảng củacác quyđịnhmang tính nguyêntắccủatrách nhiệm dânsự.Theođó,TNBTTH
ngoàihợpđồnglà trách nhiệmcủangườiphảibồithườngvớingườiđượcbồithường. Các quyđịnhvềBTTH ngoàihợpđồnghướngtớibảovệquyềnlợicủanhững người bịthiệt hại, và sâu xa hơn là nhằmhướngtớibảovệquyền conngườivà các quyền cơ bảncủacông dân. Trong khoahọcpháp lý dânsự,khi nóiđếnTNBTTH ngoàihợpđồng,hầuhếtcác nhà nghiêncứuđềuđồngnhất cho rằng TNBTTH ngoàihợpđồng xuất pháttừhành vi vi phạm pháp luật (hành vi gây thiệt hại).Đâykhôngchỉlà quanđiểmcủacáchọcgiảnghiêncứucácvấnđềmang tính lý luậnvềBTTH ngoàihợpđồng,màđócũng là quanđiểmcủacác học giả nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật vềBTTH ngoàihợpđồng.Cóthểminh chứng cho quanđiểmnày bằngmộtsốkhái niệm như sau:
“Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là trách nhiệm của người có hành vi trái pháp luật gây thiệthạichongườikhácvềtài sản,sứckhỏe, tính mạng, các quyền
nhân thân …” [76;tr.8]; hay
“TNBTTH ngoàihợpđồnglà quyđịnhcủaluật dânsựnhằm buộc ngườicó
hành vi xâm phạm đến tài sản, sức khỏe, tính mạng, … của các chủ thể khác mà gây thiệt hại phải bồi thường những thiệt hại mà mình gây ra” [42;tr.389].
Các khái niệm nàyđềuđượcxây dựngdựatrên căncứphát sinh trách nhiệm bồithường thiệthạingoàihợpđồngđượcquy định tại Điều 604 BLDS 2005, trong đónguyên nhân gây ra thiệthạiđượcxácđịnhlà hành vi xâm phạm cácđốitượngđược pháp luậtbảovệ.TrướcthờiđiểmBLDS 2015 có hiệu lực, các khái niệm được đưa ra hoàn toàn phùhợpvới quanđiểmlậpphápcủaViệt Nam. Tuy nhiên, BLDS 2015đượcthông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015 (có hiệulựctừngày 01 tháng 01 năm 2017)đãcósựthayđổicơ bảnvềTNBTTH ngoàihợpđồng,trongđónguyên nhân dẫnđếnthiệt hại đượcđề cập tại Điều 584 Bộ luật này không chỉ có hành vi mà còn cóhoạtđộngcủatài sản.Điềunày cho thấy, khi BLDS 2015 có hiệulựcthi hành, các quanđiểmvềTNBTTH ngoàihợpđồngsẽphải thayđổicho phùhợpvớiquanđiểm củacác nhàlậppháp.Tứclà khái niệm TNBTTH ngoàihợpđồngkhôngchỉđượcxây dựng trên cơ sở hành vi gây thiệt hại, mà còn phải dựa vào cả trường hợp tài sản gây ra thiệt hại, nhưngvẫndựatrênnềntảngcủatrách nhiệm dânsựnói chung. Theo đó, khái niệm TNBTTH ngoàihợpđồng có thể đượchiểu như sau:
“TNBTTH ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự mà trong đó một hoặc nhiều chủ thể phải bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần mà người bị thiệt hại phải gánh chịu khi các đối tượng được pháp luật bảo vệ bị xâm phạm”
Trong khoahọcpháp lýthếgiới, có nhiềuhọcthuyếtvềTNBTTH ngoàihợpđồngđượchình thành, phát triển qua nhiều thời kì lịchsửkhác nhau. Trongđócó hai họcthuyếtđiểnhìnhvẫncòntồntạitrong khoahọcpháp lý dân sự hiện đại, đó là học thuyếtcổđiển(quanđiểmcổđiển)vàhọcthuyết trách nhiệm khách quan (quanđiểm trách nhiệm khách quan; hay còn gọi là lý thuyết rủi ro).
Nhữngngườitheo thuyết cổ điển cho rằng, “cần phải có một sự quá thất (có lỗi) mớicó trách nhiệm dânsự”[60; tr.481]. Theohọcthuyết này,ngườibị thiệt hại muốnđược bồi thường thì phải chứng minhlỗicủangườigây thiệt hại. Những tư tưởng tronghọcthuyết này còntồntạichođếntậnngày nay vàđượccụthểhóa trong nhiều hệthống pháp luật trênthếgiới, trongđócó Việt Nam. Căncứquyđịnhtại Điều 604 BLDS 2005 cóthểnhận thấy, TNBTTH phát sinh khi cólỗicốýhoặc vôýcủangười gây thiệt hại. Thựctếcho thấy,họcthuyết nàychỉphùhợpvớitrườnghợpBTTH do hành vicủaconngườigây ra. Tuy nhiên,họcthuyết này cũng có nhữnghạnchếmànếukhông khắc phụcđượcsẽảnhhưởngđếnquyền vàlợiíchhợpphápcủangườibịthiệt hại.Bởivì, trên thựctế,trong nhiều trường hợp,sựkiện gây thiệthạixảyra nhưngngườibịthiệthạikhôngthểchứng minhđượclỗicủangườigây thiệthạihoặc thiệthạixảyra mà khôngmộtchủthểnào có lỗi. Dođó,“nếubuộc nạn nhân phải dẫn chứng lỗi,tứclà gián tiếp bác bỏ quyền đòi bồi thường của nạn nhân” [20; tr.242]. Mặt khác, quanđiểmlậppháp trong BLDS 2015dườngnhư chốnglạiquanđiểmcổđiển này. Theo quyđịnhtạiĐiều584 BLDS 2015, TNBTTH do hành vi hay do tàisảngây rađềukhôngphụthuộc vàođiềukiện lỗi,tứclàngườibịthiệt hại chỉ cần chứng minh có thiệthạixảyra, có nguyên nhân gây thiệthạivà cómốiquanhệnhânquảlàđãcóthể yêu cầu người gây thiệt hại hoặc người có liên quan phải BTTH.
Theo quanđiểmcủanhữngngườitheohọcthuyết trách nhiệm khách quan (lýthuyếtrủiro), TNBTTH phát sinh khôngphụthuộc vàoyếutốlỗicủabấtcứchủthểnào. Theođó,chỉcầncó thiệthạixảyra, có hành vi hoặc hoạtđộngcủa tài sản gây ra thiệthạivà cómốiquanhệnhânquảthìngườibịthiệt hại đã có thể yêu cầu BTTH màkhôngcầnchứng minhlỗicủangườiphảibồithường. Dođó,họcthuyết nàygắnliền vớiTNBTTH do tàisảngây ra. Nhữngngườiủnghộchohọcthuyết này thường đưa ra nhiều lý dođểbảovệ,vàmộttrong những lý do có tính thuyết phục nhấtđólà “lý do công bằng xãhội”[20; tr.243]. Đâykhông phải làhọcthuyếtmớixuất hiện trong pháp luật dân sự hiện đại, mà nó xuất hiện từ thời La Mã cổ đại. Trong thời kỳ La Mã cổ đại, “khi một sự tổn hại đã do một súc vật hay một người nô lệ gây nên, người chủ phải chịu tráchnhiệm”[60; tr.560]. Chođếnngày nay,họcthuyết nàyvẫntồntạivàđượcnhiều luật gia,họcgiả, nhà nghiêncứuthừa nhận. Ủng hộ cho học thuyết này, một số luật gia của Pháp đã căn cứ vào các án lệ của Pháp để khẳng định rằng “trách nhiệm do tác động củacácvậtvô tri phải làmộttrách nhiệm khách quan rõrệtkhông căn cứ vào quá thất (lỗi)”[60; tr.560]. Khi nghiêncứuvềTNBTTH do tàisảngây ra, quanđiểmcủa nhiều họcgiảViệt Nam cũng phùhợpvớihọcthuyết này khi cho rằng TNBTTH do tài sản gây ra không cần điều kiện về lỗi. Để xác định TNBTTH chỉ cần 3 điều kiện sau đây: (i) Có thiệt hại thực tế xảy ra; (ii) Có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật; (iii) Có mối quan hệnhânquảgiữasựkiện gây thiệthạitrái pháp luật và thiệthạithựctếđãxảyra [54; tr.20]. Quanđiểmnày khôngchỉđượcthểhiện khi nghiêncứutổngthểcácđiềukiện phát sinh trách nhiệmbồithường thiệt hại do tài sản gây ra, mà khi nghiên cứu về trách
nhiệmbồithường thiệthạido tàisảngây ra, nhữngngườitheo quanđiểmnày cũng khẳngđịnh“TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là loại trách nhiệm không cầnđiều kiện lỗi” [76; tr.82].
Trên cơ sở những phân tíchở trên cóthểthấy rằng, trong khoahọcpháp lýthếgiớivẫncòntồntạicáchọcthuyếtđốilậpnhauvềTNBTTH ngoàihợpđồng. Mặc dù vậy,mỗihọcthuyếtđềudựatrênnềntảng những lý luận vững chắc vàvẫnđượcáp dụngở các quốc gia khác nhau chođếntậnngày này. Thông qua quá trình lập pháp dânsựở Việt Nam, cóthểnhận thấy việc xây dựngchếđịnhTNBTTH ngoài hợpđồngkhôngđịnhhình trênmộthọcthuyếtcụthể, màdườngnhưdựatrên nền tảngcủacáchọcthuyết khác nhau.Điềunày cóthểdễdàng nhận thấy thông qua quyđịnh trong BLDS 2015, trong đó khoản 2 Điều584 đưara hai căncứ loại trừTNBTTH mà trongđóđềuthểhiệnngườichịu TNBTTH không cólỗi(thiệthạixảy ra dosựkiệnbấtkhảkháng hoặc hoàn toàn dolỗicủabênbịthiệt hại).Điềunày cho thấy,nếungườigây thiệthạicólỗisẽkhôngđượcloạitrừTNBT (tức làlỗi vẫn được coi làmộttrong cácđiềukiện phát sinh TNBTTH). Tuy vậy, theo nguyêntắcgiảm mứcbồithườngđượcquyđịnhtạikhoản 2Điều585 cóthểthấy, việcngườichịu TNBTTH “không cólỗi”chỉlàmộttrong cácđiềukiệnđểcóthểxem xét giảm mức bồithườngchứkhông phải là căncứloạitrừTNBT (tức làchủthểphảibồithường ngaycảkhi không có lỗi, haylỗikhông phải làmộttrong cácđiềukiện phát sinh TNBTTH ngoàihợpđồng). Liệu rằng,vớinhững quyđịnhnày cóthểđiđếnkếtluận chếđịnhTNBTTH ngoàihợpđồngtrong pháp luật dânsựViệt Namđượcxây dựng dựatrênsựpha trộnnềntảng lý luậncủacảhọcthuyếtcổđiểnvàhọcthuyết trách nhiệm khách quan như đã phân tích ở trên?
Theo quanđiểmcủaNCS, cóthểviệc xây dựngchếđịnhTNBTTH ngoàihợpđồngở Việt Namdựatrênnềntảng lý luậncủanhiềuhọcthuyết khác nhau, nhưngđókhông phải làsựpha trộn mà làsựvậndụng linh hoạt cácnềntảng lý luậntừcác học thuyết này.Điềunày cóthểlà cơ sở lý luận quan trọng cho việc phânđịnhrõ ràng TNBTTH do hành vi gây ravớiTNBTTH do tàisảngây ra trong BLDS 2015. Nghiên cứucác quyđịnhvềtrách nhiệm dânsựnói chung, TNBTTH nói riêng cho thấy, hành vi gây thiệthạichỉlàm phát sinh TNBTTHnếuhành viđólà hành vi trái pháp luật (những hành vi gây thiệt hại mà không trái pháp luật thì không làm phát sinh TNBTTH, vídụnhư hành vi thi hành ántửhìnhđốivớiphạm nhânmặcdù gây ra thiệt hại về tính mạng cho phạm nhân nhưng hành vi đókhông trái pháp luật nên không phát sinh TNBTH).Mộthành vi trái pháp luậtđượcthực hiệnsẽluôn kéo theo yếutốlỗicủamộtchủthểnhấtđịnh,chủthểđócóthểchính làngườithực hiện hành vi trái pháp luật hoặc cóthểlàngườicó trách nhiệm quản lýngườithực hiện hành vi trái pháp luật. Như vậy, các quyđịnhvềBTTH do hành vi trái pháp luật gây ra phùhợpvớihọc thuyết cổ điển (trách nhiệm dựa trên lỗi).
Đốivớitrườnghợptàisảngây thiệt hại, TNBTTH phát sinh khôngphụthuộc vàoyếutốlỗi(lỗi không phải là một trong các điều kiện phát sinh TNBTH). Bởi vì, lỗi chỉgắnvớihành vi trái pháp luậtcủamộtchủthểnhấtđịnhmà quanđiểmlậppháp dânsựtrong BLDS 2015đãtách biệt TNBTTH do tàisảngây ravớiTNBTTH do hành vi gây ra nhưđãđềcậpở trên. Thông qua những nghiêncứucủamình, NCS cho rằng cơ sở lý luậnđểtách biệt quyđịnhvềBTTH do tài sản gây ra chính là nền tảng lýluậncủahọcthuyết trách nhiệm khách quan (hay cònđượcgọilàhọcthuyết trách nhiệm nghiêm ngặt – trách nhiệm khôngdựatrênđiềukiện lỗi). Như vậy,họcthuyết trách nhiệm khách quan (trách nhiệm nghiêm ngặt)sẽlàhọcthuyết mà NCSsửdụng làm chủ thuyết nghiên cứu cho quá trình thực hiện luận án.
Chođếnthờiđiểmhiện nay, không có nhiều công trình khoahọcnghiên cứu mộtcách tổng quát những quyđịnhvềTNBTTH do tàisảngây ra. Các công trình nếu có cũngchỉnghiêncứuvềtừng trườnghợpriêng biệt liên quanđếnTNBT do các loại tàisảncụthểgây thiệt hại. Dođó,khái niệmvềTNBTTH do tàisảngây ra khôngđượcnhiều nhà nghiêncứuquan tâm xây dựng.Mộttrong những công trình có xây dựng khái niệm nàyđólà cuốn sách chuyên khảovề“TNBTTH do tàisảngây ra theo pháp luật dânsựViệt Nam”, xuấtbảnnăm 2013, do Tiến sĩ TrầnThịHuệlàmchủbiên. Trong đó, tại trang 16 có đưa ra khái niệm như sau:
“TNBTTH do tài sản gây ra là quy định của luật Dân sự mà khi áp dụng sẽ phát sinh một quan hệ pháp luật dân sự. Theo đó, CSH, NCH, sử dụng để tài sản gây thiệt hạivềtính mạng,sứckhoẻ, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể khác phải BTTH do tài sản gây ra” [54; tr.16].
Vớikhái niệm này, NCS nhận thấymột số vấnđề cần bànluận như sau:
Thứnhất, khái niệm nàyđượcxây dựngdướigócđộcủamộtchếđịnhluật màkhông phảimộtloại trách nhiệm dânsự.Bởivìnếunhìn nhậndướigóc độ là một loại trách nhiệm dânsựthì TNBTTH do tàisảngây ra phải làmộthậuquảbấtlợi màkhông phải“làquyđịnhcủaluật Dânsự”.Sựnhìn nhậndướigóc độ này chưa làm toát lên bản chất của TNBTTH do tài sản gây ra so với các loại trách nhiệm dân sự khác;
Thứ hai, theo khái niệm này thì khi áp dụng quyđịnhcủaluật DânsựvềTNBTTH do tàisảngây rasẽphát sinhmộtquanhệpháp luật dânsự.NCS khôngđồngnhấtvớinhậnđịnhnày.Bởivì,vềmặtlý luận, quanhệpháp luật dânsựnói chung, quanhệBTTH do tàisảngây ra nói riêng phát sinh không phải do việc áp dụng quyđịnhcủaluật mà nó phát sinhtừsựkiện pháp lýxảyra trên thựctế.Lý luận này cũngđượcthểhiệncụthểtrong giáo trình Luật dânsựViệt NamcủaTrườngĐạihọc Luật Hà Nội:“Cũng như những quanhệpháp luật khác, quanhệpháp luật dân sựphát sinh, thay đổi, hay chấm dứt do những sự kiện nhất định – những sự kiện pháp lý” [90; tr.75]. Dođó,ngay khi cósựkiện tàisảngây thiệthạicho conngườicũng nhưmôi trường xung quanh thì quanhệpháp luậtvềBTTH do tàisảngây rasẽphát sinh mà không phảiđếnkhi áp dụng pháp luật thìmớilàm phát sinh quanhệBTTH. Việc
áp dụng pháp luậtnếucóchỉnhằm giải quyết quyền vàlợiíchhợpphápcủacác bên trong quanhệ;
Thứba, NCS cũng khôngđồngnhấtvớiviệcsửdụngtừ“để”trongđoạn“… Theo đó, CSH, NCH, sử dụng để tài sản gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản,
các quyền vàlợiíchhợpphápcủachủthểkhác…”.Bởivìđiềunày có thể dẫn đến cách hiểu rằng CSH, NCH,sửdụngcốýđểcho tàisảngây ra thiệthạichochủthểkhác. Nghĩa là CSH, NCH,sửdụng tàisảnđãdùng tàisảnnhưmộtcôngcụnhằm gây ra thiệthạichochủthểkhác.Đâychính là hành vi dùng tài sản gây thiệt hại c hứ không còn làtựbảnthân tàisảngây ra thiệthạinữa.Điềunày cóthểdẫnđếnsựnhầm lẫn trong việc xácđịnh giữaTNBTTH do tài sản gây ra với TNBTTH do hành vi gây ra.
Quanđiểm lậpphápvề BTTH ngoài hợpđồngcủaViệt Nam khi xây dựng BLDS 2005 và NQ 03 cho thấy,vềnguyêntắcchung, TNBTTH phát sinh khi cóbốnđiềukiệnđólà: có thiệthạixảyra; có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại; có mối quanhệnhânquảgiữa hành vi trái pháp luật và thiệthạixảyra; cólỗicủangườigây thiệt hại.Tứclà TNBTTH khôngthểphát sinhnếuthiếuđiềukiệnvềhành vi trái pháp luật vàđiềukiệnvềlỗi. Tuy nhiên, có nhiều trườnghợpthiệthạido tàisảngây ra vàbảnthân CSH cũng như cácchủthểcó liên quanđãtuânthủđầyđủcác quyđịnhvềquản lý,sửdụng tàisản(tức là khôngthểgắnlỗicho CHS, NCH, NSD). Theo đó, trong trườnghợptàisảngây thiệt hại,nếubắtbuộcngườibịthiệt hại phải chứng minh có hành vi trái pháp luật và cólỗithì vô hình chung pháp luậtđãtướcđi quyền yêu cầuBTTHcủangườibịthiệt hại. Thựctếnàyđòihỏimộtgiải pháp phù hợp nhằm bảođảmquyềnlợicủacác bên khi tham gia vào quanhệpháp luật dânsự.Theođó,pháp luậtsẽràng buộc TNBTTHđốivớimộtchủthểcó liên quanđếnhành vi gây thiệt hại hoặc liên quanđếntàisảnđãgây ra thiệthạichochủthểkhác, nhằm khắc phục những tổn thất mà người bị thiệt hại phải gánh chịu.
TNBTTH do tàisảngây ra làmộtloại trách nhiệm dânsựxuất pháttừhoạtđộngcủatàisảnmà không cósựcan thiệptừhành vicủacon người. Trên cơ sở học thuyết trách nhiệm khách quan (trách nhiệm nghiêm ngặt), cóthểthấy rằngđâylàtrách nhiệm khôngdựatrênyếutốlỗicủaCSH, NCH, NSD tài sản. Khi tàisảngây thiệt hại,ngườichịu TNBT khôngchỉcó CSH mà còn cóthểlà cácchủthểkhác. Cơ sở đểxácđịnhchủthểchịu TNBT làsựvi phạm quyđịnhpháp luậtvềquản lý tài sảnhoặc nhữnglợiích màhọđượchưởngdo tàisảnđómang lại. Cho dù việc bồi thường thiệthạicóthểđượcthực hiện theo những phương thức khác nhau do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quyđịnhthì nó cũngđềuthểhiện nhữnghậuquảbấtlợivềvật chất màchủthể bồi thường phải gánh chịu.Ngườiđượcbồithường cóthểlàngườichịusựxâm phạm trực tiếptừtàisảnhoặc là nhữngngườicó liên quan (vídụnhư thân nhâncủangười bị xâm phạm tính mạng, người chăm sóc người bị xâm
phạmsứckhỏe trong thời gianđiềutrị,…),nhưngđóphải làngườiphảibỏra những chi phíđểkhắc phục những thiệthạido tàisảngây nên, baogồmnhững thiệthạivề
vậtchất vàcảnhữngtổnthấtvềtinh thần. Dođó,thiệthạiđượcbồithường cũng bao gồmnhữngtổnthấtvềvậtchất và nhữngtổnthấtvềtinh thần.Từnhững phân tích này, TNBTTH do tài sản gây ra có thể được hiểu như sau:
“TNBTTH do tàisảngây ra là một loại trách nhiệm dân sự mà theođóchủ sởhữu,ngườichiếm hữu,ngườisửdụng tài sản phải gánh chịu hậu quả bất lợi về vật chất nhằm bù đắp những tổn thất do tài sản gây ra cho một chủ thể nhất định”.
Qua khái niệm này và những phân tíchở trên, cóthểnhận thấy nhữngdấuhiệu cơ bảncủa TNBTTH do tài sản gây ra, cụ thể: Một là, nó luôn là hậu quả bất lợiđối với ngườiphảibồithường, nhằm bùđắptổnthấtvềvậtchất và tinh thần màngườibịthiệt hạiphải gánh chịu; Hai là, nó có tínhbắtbuộc thựchiện đối vớichủ thể nhất định; Ba là, nó phát sinh từ hoạt động gây thiệt hại của tài sản; Bốn là, chủ thể phải bồi thường cóthểlà CSH, NCH, hoặc NSD tàisản- nhữngngườivi phạm quyđịnhvềnghĩavụquản lý tài sảnhoặc được hưởngcáclợiích mà tàisảnmang lại. Đâylà khái niệmvềTNBTTH do tàisảngây rađượcnhìn nhậndướigócđộcủamộtloại trách nhiệm dân sự.Trong khoahọcpháp lý hiện đại, khái niệm này còn có thể được nhìn nhận từ nhiều gócđộkhác nhau nhưmộtquanhệpháp luật,mộtchếđịnhpháp luật.Dướigócđộlàmộtquanhệpháp luật dânsự,TNBTTH do tàisảngây ra là quanhệxãhội(quanhệgiữangườiphảibồithường vàngườiđượcbồi thường) đượccác quy phạm pháp luật vềBTTH ngoàihợpđồngđiềuchỉnh.Dướigóc độ là một chế định pháp luật, TNBTTH do tàisảngây ra là tổnghợpcác quyđịnhdo cơ quan nhànướccó thẩm quyền ban hành theo đúng trìnhtừ,thủtụcluậtđịnhnhằmđiềuchỉnh các quanhệphát sinh trong quátrìnhbồithường thiệthạido tàisảngây ra. Như vậy, có rất nhiều góc nhìn đối với khái niệm TNBTTH do tàisảngây ra màchỉkhiđứngở các gócđộđó,khái niệm này mớiđượcnhìn nhậnmộtcách toàn diện nhất. Việc phân tích vàđưara khái niệm TNBTTH do tàisảngây ra có vai trò quan trọng trong việc triển khai nghiêncứucácnộidung trong luận án.
1.1.2. Bản chất của trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
Thực tế cho thấy, trách nhiệm dân sự có thể phát sinh từ sự vi phạm các thỏa thuận tronghợpđồng(trách nhiệm dânsựtheohợpđồng), hoặc phát sinh từ hành vi vi phạm quyđịnhcủapháp luật mà không liên quanđếncác thỏa thuận tronghợpđồng(trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng). Nghĩa là, về nguyên tắc chung, một chủ thể chỉ phải chịu trách nhiệm dânsựnếucósựvi phạm thỏa thuận hoặc vi phạm quyđịnhcủapháp luật xảy ra trên thực tế. Minh chứng cho điều này, chúng ta có thể đề cập tới rất nhiều các quyđịnhpháp luật có liên quan như: (i) quyđịnhvề nguyên tắc chịu trách nhiệm dân sự tạiĐiều7 BLDS 2005 cũng như khoản 5 Điều 3 BLDS 2015; (ii) quy định về trách nhiệm dân sự từ Điều 302 đến 308 BLDS 2005 cũng như Điều 351 đến Điều 364 BLDS 2015; (iii) quy định về căn cứ phát sinh TNBTTH tại Điều 604 BLDS 2005 cũng như Điều 584
BLDS 2015;…Nếucăncứvào những quyđịnhnày cóthểthấy, khôngthểcó trách nhiệm dân sự tồn tại mà không có sự vi phạm xảy ra. Điều đó có nghĩa là, trách nhiệm dân
sựgiống như hệ quả tất yếu của sự vi phạm. Nói đến trách nhiệm dân sự là nói đến việc chủ thể phải gánh chịu một hậu quả bất lợitừsự vi phạm của mình.
TNBTTH do tàisảngây ra cũng làmộttrong các loại trách nhiệm dânsựnên cũng đi liềnvớisựvi phạmcủaCSH,củangườiđượcgiao chiếm hữu, sử dụng tài sản. Thực chấtcủasựvi phạmđólà gì? Có phảimọitrườnghợpTNBTTH do tàisảngây rađềugắnliềnvớisựvi phạm hay không? Và cuối cùng thìbảnchấtcủaTNBTTH do tài sản gây ra là gì?
Phápluật đượctạo ra là để bảo vệ con người, bảo vệ sự công bằng mà tất cả mọi ngườisống trong xãhộiđềuđángđượchưởng.Điềunàythểhiệnở chỗ, pháp luật quyđịnh cho con người ta các quyền lợi và bảo đảm cho các quyền lợiđó đượcthực thi một cáchtốtnhất.Mộttrong các quyền quan trọng mà pháp luật của tất cả các quốc gia đều hướngtớibảovệđólà quyềnsở hữutài sản. Theođó,CSH có quyền thực hiện mọi hành vi mà pháp luật cho phépđểhiện thực hóa các quyền năngcủamình, nhằmđạtđượcnhữnglợiích mong muốn. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền sở hữu cũng dựa trên những nguyên tắc nhấtđịnh nhằmbảo đảm quyềnlợicủa các chủ thể khác.
Ởnướcta, ngaytừthời kìđầuthành lập, nguyêntắcthực hiện quyềnsở hữuđãđượcthểhiệnmộtcách rõ ràng thông qua quyđịnhtạiĐiều12Sắclệnh của Chủ tịch nướcViệt Nam DânchủCộng hòasố97/SL ngày 22 tháng 5 năm 1950: “Người ta chỉđược hưởng dụng và sử dụng các vật thuộc quyền sở hữu của mình một cách hợp pháp và không thiệthạiđếnquyềnlợicủanhân dân”.Năm 1995, Bộ luật dân sự đầu tiênđượcban hành, nguyêntắcnày tiếptụcđượcthểhiệnmộtcách rõ ràng,cụthểhơn. Theo đó, Điều 178 Bộ luật dân sự năm 1995 quy định về nguyên tắc thực hiện quyền sở hữunhư sau:“CSHđượcthực hiệnmọihành vi theoýchícủamìnhđốivớitài sản, nhưng không được làm thiệt hại và ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác”. Năm 2005, Bộ luật dân sự thứ hai được ban hành trên cơ sở sựkếthừa cósửađổi,bổsung các quyđịnhtrongBộluật dân sựnăm 1995. Trong đó, nguyên tắc thực hiện quyền sở hữu tiếp tục được ghi nhận như một nguyêntắccơ bảnnhất trongchếđịnhtàisảnvà quyềnsở hữu.Điều165 BLDS 2005 quy định: “CSH được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác”. Bộ luật dân sự năm 2015 được thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2015, nguyêntắcxác lập, thực hiện quyềnsở hữutàisảnđượcquyđịnhtạiĐiều160 vàvẫnkếthừahầunhư hoàn toàn quyđịnhtrong BLDS 2005. Theođó, “CSH được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được trái với quy định của luật, gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợiích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác”. BLDS 2015 còn có sự bổ sung so với BLDS 2005 đó là nguyên tắc xác lập và thực hiện các quyền khácđốivớitàisảncủacácchủthểkhông phải là CSH. Khoản 3 Điều 160 BLDS 2015 quy định: “Chủ thể có quyền khác đối với tài sản được thực hiện mọi hành
vi trong phạm vi quyền được quy định tại Bộ luật này, luật khác có liên quan nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của CSH tài sản hoặc của người khác”.
Không chỉ quy địnhcụthể trong các vănbảnpháp luật chuyên ngành, mànguyêntắcthực hiện quyềnsở hữucũngđượcquyđịnhmộtcách gián tiếp tr ong các bảnhiến pháp nhưmộtnguyêntắchiếnđịnh.Hiến pháp năm 2013đượcban hành cũng gián tiếp quyđịnhnguyêntắcnàytạiĐiều15:“Quyền công dân không tách rời nghĩavụcông dân”(khoản 1),“Việc thực hiện quyền con người, quyền công dân khôngđượcxâm phạmlợiích quốc gia, dân tộc, quyền vàlợiíchhợppháp của người khác”(khoản 4).
Việc quyđịnhcác nguyêntắcthực hiện quyềnsở hữulà cần thiết. Bởi vì sự bất cẩndù lànhỏnhấtcủaCSH,ngườiđượcgiao chiếm hữu,sửdụng tàisảncũng cóthểxâm phạm quyền vàlợiíchhợpphápcủacácchủthểkhác. Tàisảnmàhọquản lý cóthểgây thiệthạichochủthểkhácnếucósựvi phạm các quy định về quản lý, sử dụng,địnhđoạt tài sản. Thông qua các quyđịnhvềnguyêntắcthực hiện quyềnsở hữu, chúng ta nhận thấy rằng, khi CSH thực hiện quyềnsở hữuthì phảiđảmbảo không xâm phạmtớiquyền vàlợiíchhợpphápcủacácchủthểkhác.Điềuđócó nghĩa là song songvớicác quyềnlợiđượchưởng, CSH cũng phải tuânthủcác nghĩavụtương ứng mà pháp luật quyđịnh.NếuCSH vi phạm các quyđịnhpháp luậtvềchiếm hữu,sửdụng,địnhđoạttàisảnmàdẫnđếnthiệthạixảyravớicácchủthểkhác thì phải bồi thường.Mặcdùsựvi phạmđượcnóiđếnở đâykhông phải là nguyên nhândẫnđến thiệt hại, nhưng nó lại là cơ sở có tính thực tế nhất để quy trách nhiệm cho CSH, ngườiđượcgiao chiếm hữu,sử dụngtài sản hoặc những chủ thể khác có liên quan.
Thựctếcũng chứng minh, trong nhiều trường hợp,sựhoạtđộngcủatài sản đôi khinằmngoàisựkiểm soát của con người. Điều đó có nghĩa là, mặc dù CSH, NCH, sửdụng tàisảnđãthực hiệnđầyđủcác quyđịnhcủapháp luậtvềquản lý tàisảnnhưng vẫn không thể ngăn chặn hết các nguy cơ tài sản gây ra thiệt hại cho con người cũng nhưmôi trường xung quanh. Trong những trườnghợpnày, CSH, NCH, NSD tàisảnđược coi là không cólỗiđốivớithiệthạixảyra.Tứclà khôngtồntạisựvi phạm của CSH, NCH, NSD tàisảntrong việc quản lý tài sản.VậycóđặtravấnđềBTTH trong trường hợpnày không?Nếuchỉdựavào nguyêntắcxáclậpvà thực hiện quyềnsở hữucũng như các quyền khác đối với tài sản như đã nói ở trên thì CSH, NCH, NSD tài sản không phải BTTH cho người bị thiệt hại. Bởi vì thiệt hại xảy ra mà không có bất kỳ sự vi phạm nào của CSH, NCH, NSD tài sản. Tuy nhiên, có thể coi thiệt hại xảy ra trong trường hợp này chính làrủiro mà tàisảnmang lại.Nếuđemvấn đề lợiích ra so sánh thì chúng ta thấy CSH, NCH, NSD tàisảnđãđượcquyền khai thác công dụng và hưởng các lợi ích mà tài sản mang lại. Trong khi đó, người bị thiệt hại không đượchưởng bất kỳ lợiích gì
từtàisảnđó. Nếungườibịthiệthạikhôngđượchưởngbấtkỳlợiích gìtừtàisảnlại phải gánh chịu những rủi ro do tài sản mang lại trong khi CSH, NCH, NSD tài sản được
hưởnglợiích do tàisảnmanglạikhông phải gánh chịurủiro làđiềuhếtsứcvô lý vàkhông phùhợpvớilẽcông bằng mà cáchệthống pháp luậtđềuhướngtới. Dođó,đểđảmbảoquyềnlợicủangườibịthiệthạicũng như bảo đảm sự công bằng giữa các chủthểtrong việchưởnglợiíchtừtài sản và gánh chịu những thiệt hại mà tài sản mang lại, CSH, NCH, NSD tài sản phải BTTH ngay cả khi không có lỗi.
Qua những phân tíchở trên cho thấy, TNBTTH do tàisảngây ra có thể gắn liền hoặc khônggắnliềnvớisựvi phạm nghĩavụquản lý tàisảncủaCSH,củaNCH,sửdụng tài sản. Dođó,theo quanđiểmcủaNCS,bảnchấtcủaTNBTTH do tài sản gây ra làhậuquảbấtlợimàmộtchủthểphải gánh chịu dosựvi phạm các quy định pháp luật vềquản lý tàisảnhoặc dohọlàngườiđượchưởngcáclợiích mà tàisảnmang lại nhằmđảmbảosựcân bằng giữa những giátrịmà hoạtđộngcủatàisảnmanglạivới thiệt hại mà nó gây ra.
1.2. Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
TNBTTH do tài sảngây ra cũng làmột trong các loại TNBTTH ngoàihợpđồng.Vềcơ bản, nó cũng mangđầyđủcácđặcđiểmcủaTNBTTH ngoàihợpđồng nói chung như:
Thứ nhất, là một loại trách nhiệm dânsự
TNBTTH ngoàihợpđồngnói chung là trách nhiệmcủangườiphảibồithườngđối với người được bồi thường (nhữngchủthểcủaquanhệpháp luật dânsự)màkhông phải là trách nhiệmcủangườigây thiệthạivớinhànước.Việc xácđịnhthiệt
hại,chủthểphảibồithường, nguyên tắc, nănglựcbồithường,… đượcđiềuchỉnh bởi các quy phạm pháp luật dânsựmà không phải quy phạm pháp luật hìnhsựhay quy phạm pháp luật hành chính.
Thứ hai, là trách nhiệm mang tính tài sản (trách nhiệm vật chất)
Thiệthạixảyra trên thựctếcóthểlà thiệthạivềtài sản,sứckhỏe, tính mạng, danhdự, nhân phẩm, uy tín. Nhưngngườichịu TNBT không phải chịumộtsựtổn thất tươngtựvềsứckhỏe, tính mạng, … mà thiệthạiphảibồithường luônđượcxácđịnhbằngmộtlượngtàisảnnhấtđịnh,ngườiphảibồithườngchỉphải chịutổnthất vềtài sản.
Thứ ba, là hậuquảbất lợimàmột chủthể phải gánh chịu
Vềnguyên tắc, các bên cóthểthỏa thuậnvềphương thứcbồithường bằng tiền,
bằng hiện vật, phải thực hiệnmộtcông việc,… Tuy nhiên, việc bồi thường dù có được thực hiện bằng phương thức nào đi chăngnữathì cũnghướngtớiviệc bùđắpnhững thiệthạimàngườibịthiệt hạiphải gánh chịu.Tứclàngườicó TNBT phải bùđắp những thiệthạiđượctính toán bằngmộtlượngtàisảnnhấtđịnh(phải chấp nhậnmấtđi một lợi ích nhất định).
Thứ tư, chỉ phát sinh khi có thiệt hại xảy ra
Thựctế,nhiều loại trách khác phát sinh ngay khi có hành vi vi phạm xảy ra, cho dù hành viđóchưa gây rahậuquả(vídụtrách nhiệm hình sự). Tuy nhiên, TNBTTH
ngoàihợpđồngchỉphát sinhnếuđãcó thiệthạiđốivớimột chủ thể nhất định. Tức làsựvi phạm phải gây ra thiệthạichongườibịvi phạm. Điềuđócho thấy vai trò quan trọngcủathiệthạitrong việc xácđịnhcácđiềukiện làm phát sinh TNBTTH ngoài hợpđồng.Nếuhành vi trái pháp luật (không thực hiện đúng quyđịnhvềquản lý tài sản)đãđượcthực hiện mà không có thiệthạithựctếxảyra thìmụcđích bùđắptổnthấtsẽkhôngđượcđặt ra.
Thứ năm, đượcbảo đảm thực hiệnbằng các biện phápcưỡngchế.
Việc BTTH ngoàihợpđồngluônđượccụthểhóa bằng các nghĩavụtheo quyđịnhcủapháp luật hoặc theo thỏa thuận (chuyển giao tài sản, thực hiệnmộtcông việc
đểbùđắptổnthất,…).Tứclà trong quanhệđó,bên phải thực hiện nghĩa vụ (bên phải bồi thường) là bên phải gánh chịu nhữngbấtlợi, còn bên có quyền (bênđượcbồi thường)sẽđượchưởngnhữnglợiích mà bên kia mang lại.Sựđốilậpnhauvềlợiích cóthểkhiến cho bên có TNBT không thực hiệnđầyđủtrách nhiệmcủamình.Để bảo vệquyền vàlợiíchhợpphápcủabênbịthiệt hại, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế sẽ đượcđặt ra để ngăn chặn tình trạng này.
Thứsáu, phát sinh giữa cácchủthểchưa từng có quanhệhợpđồng hoặc đã cóquanhệhợpđồngnhưng thiệthạixảyra không có liên quanđếnnhững thỏa thuận trong hợpđồng.
Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt TNBTTH ngoài hợp đồng với TNBTTH tronghợpđồng. Trong khi TNBTTH tronghợpđồngluôn phát sinh giữa cácchủthểđãcó quanhệhợpđồngvớinhau, và thiệthạixảyra luôn làhậuquảcủa sựvi phạm các thỏa thuận tronghợpđồng,thì TNBTTH ngoàihợpđồnglạihoàn toàn ngượclại. Thiệthạixảyra làhậuquảtấtyếucủahành vi vi phạm pháp luật hoặcsựkiện tàisảngây thiệthạitrái pháp luật,chứkhông cóbấtkìsựliên quan nàođếncác thỏa thuận tronghợpđồng,kểcảtrong trườnghợpcác bênđãhoặc đang có quanhệhợpđồng vớinhau.
Ngoài nhữngđặcđiểmchungcủaTNBTTH ngoàihợpđồng,TNBTTH do tài sản gây ra cũng có những đặc điểm riêng biệt sau:
Thứ nhất, hoạt động của tài sản là nguyên nhândẫnđến thiệt hại
Hiện nayvẫntồntạihai luồngýkiến xung quanhvấnđềtàisảngây thiệt hại cóhành vi trái pháp luậtcủaCSH, NCH,sửdụng tàisảnhay không?Ýkiếnthứnhất cho rằng khi tàisảngây thiệt hại vẫn tồn tại hành vi trái pháp luật của CSH hoặc các chủ thểkhác, và hành vi trái pháp luật này cóthểtồntạidướidạng hành động hoặc không hànhđộngvàđólà nguyên nhândẫnđếnthiệt hại.Ýkiếnthứhai (cũng là quanđiểmcủa NCS) cho rằng khi tàisảngây thiệthạicóthểtồntạihành vi trái pháp luậtcủaCSH hoặc cácchủthểkhác, nhưng hành vi này không phải là nguyên nhândẫnđến thiệt hại. Hành viđólà hành vi liên quanđếnhoạtđộngquản lý tài sản, và thiệt hại xảy ra không phải là kết quả tất yếu của hành vi quản lý tài sản. Có trường hợp tài sản gây ra thiệt hại, có trườnghợptàisảnkhông gây ra thiệt hại. Vì vậy, cóthểthấy thiệthạixảy ra là hậu
quảcủasựhoạtđộngcủatài sản,tứclà khôngtồntạihành vi gây thiệthạicủaCSH, ngườiđượcgiao chiếm hữu,sử dụngtài sản.
Thứ hai, lỗi không phải là điều kiện bắt buộc phải chứng minh
Đối với trườnghợptài sảngây thiệt hại,ngườibịthiệthạikhông cầnphải chứng minhlỗicủaCSH hoặcngườiđượcgiao chiếm hữu,sửdụng tài sản. Thựctếcho thấy,lỗilàyếutốgắnliềnvớihành vi trái pháp luật và cóýthứccủacon người. Dođó,khi tàisảngây thiệthạithìbảnthân tàisảnkhôngthểbịcoi là có lỗi,bởivìhoạtđộnggây thiệthạicủatàisảnkhôngthểcoi làmộthành vi cóýthức . Tuy nhiên,điềunày cũng khôngthểkhẳngđịnhkhi tàisảngây thiệthạithì không cólỗicủabất kỳmộtchủthểnào.Bởivì,sựtồntạivà hoạtđộngcủa tài sản luôn nằm trong sự quản lýcủaCSH hoặcmộtchủthểnhấtđịnh.Mặcdù,ngườiquản lý tàisảnkhông có hành vi gây ra thiệt hại, nhưng việc tàisảnthuộcsựquản lýcủahọgây ra thiệthạithì mặc nhiên xác định là họ có lỗi trong quản lý tài sản.
Thứ ba, về cơ sở xác định chủ thể chịu TNBTTH
Khi tàisảngây thiệt hại, việc xác định chủ thể bồi thường không chỉ dựa trên cơ sởhành vi trái pháp luật mà còn dựa vào nguyên tắc hưởng lợi và gánh chịu rủi ro do tài
sảnmang lại. Dođó,khi xácđịnhchủthểchịu TNBTTH do tàisảngây ra, chúng ta khôngchỉcăncứvàođộtuổi,khảnăng nhận thức và nănglựcvềtàisảncủaCSH, NCH, NSD tàisảntạithờiđiểmtàisảngây thiệt hại, mà còn phải căn cứ vào việc chủthể có đượchưởng lợiích và các quyền năngđối vớitài sản hay không.
Thứ tư, chủ thể chịu TNBT có thể xác định theo thỏa thuận
Đốivớitrườnghợptàisảngây thiệt hại, việc xácđịnhchủthểchịu TNBTTH về cở bảnvẫndo pháp luật quyđịnh.Theođó,ngườiphải chịu TNBTTH là CSH, ngườiđượcCSH chuyển giao quyền chiếm hữu,sửdụng tài sản, haycủachủthểkhác
(NCH,sửdụng trái pháp luật,ngườithứba,…)đềuđượcquyđịnhmộtcáchcụthểtrong từng trường hợp. Tuy nhiên, trongmộtsốtrườnghợpnhấtđịnh,việc xácđịnh chủthểchịu TNBTTH do tàisảngây ralạiphụthuộc vàosựthoả thuậncủacác bên.
Vídụkhoản 2Điều601 BLDS 2015 quyđịnh:“… nếuCSH đã giao cho người khác chiếm hữu,sửdụng thì nhữngngườinày phảibồithường,trừtrườnghợpcó thoảthuận khác”.
1.3. Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
* Về điều kiện “có thiệt hại xảy ra”
Trong TNBTTH ngoàihợpđồngnói chung, thiệthạithườngđượcxácđịnhlànhữngtổnthấtvềvậtchất và nhữngtổnthấtvềtinh thần. Thiệthạido hành vi gây ra hay do tàisảngây ra cũngđềucóthểbàogồmhaiyếutốcấuthành này. Thiệthạivềvậtchất thường cóthểđượctính toánmộtcách cụ thể bằng những đơn vị đo lường, dođónhững thiệthạivềvậtchất do hành vi hay do tàisảngây ra đều đượcxác định bằng nhữngđơnvịđolườngcụthể, biểu hiện thông qua những consốcụthểmàngườibịthiệthạichứng minh.Tổnthấtvềtinh thần thường không xácđịnhđượcmộtcáchcụ
thểbằng cácđơnvịđo lường. Trong trườnghợpcác bên không có thỏa thuận thìmứcđộtổnthấtvềtinh thầnsẽdoHộiđồngxétxửxácđịnhphùhợpvớitừng nhómđối tượngbị xâm phạm (tính mạng,sứckhỏe, danhdự,nhân phẩm, uy tín). Theo quanđiểmcủaNCS, việc xácđịnhnguyên nhân gây ratổnthất tinh thần là hành vi hay tài sảnkhôngảnhhưởngđếnviệc xácđịnhmứcđộ BTTH dotổnthấtvềtinh thần màngườibồithường phải gánh chịu.Bởivì, theo quyđịnhtạitiểumục1.1 phần I NQ 03/2006, việc xácđịnhthiệthạivềtinh thầnđềudựatrên những yếu tố ảnh hưởng nhưđau thương, buồn phiền,mấtmátvềtình cảm,bịgiảm sút hoặcmấtuy tín,bịbạnbèxa lánh do bị hiểu nhầm.
* Về nguyên nhân dẫn đến thiệt hại
Trong TNBTTH do tàisảngây ra, nguyên nhândẫnđếnthiệthạichính là hoạtđộngcủatài sản. Hoạt động gây thiệt hại của tài sản có thể có liên quan hay không liên quanđếnhành vi củacon người, nhưng hành vicủaconngườikhông có tácđộng trong việc gây thiệthạicủatài sản.Tứclà hoạtđộnggây thiệthạicủatàisảnphải là“hoạtđộng tự thân”.
Vềmặtkhái niệm, hoạtđộngđượchiểu là“vậnđộng,cửđộng”[112; tr.1390]. Vớitính cách là“thuộctínhcốhữucủavậtchất”theo quanđiểmcủatriếthọcMác – Lênin,vậnđộnglàsựtựthânvậnđộngcủavậtchất,đượctạonêntừsựtácđộnglẫn nhaucủachính các thànhtốnộitạitrongcấutrúcvậtchất [22;tr.179].Dựatrên những thànhtựukhoahọccủathờiđạimình, Ph.Ăng-ghenđãphân chiavậnđộngthành năm hình thức cơ bản:vậnđộngcơ học (sự di chuyển của các vật thể trong không gian); vậnđộng vật lý (sự vận động của các phân tử, các hạt cơ bản, vận động điện tử, các quá trình
nhiệt điện, …); vận động hóa học (vận động của các nguyên tử, các quá trình hóa hợp vàphân giải các chất);vậnđộngsinhhọc(traođổichất giữa cơ thểsống và môi trường); vậnđộngxã hội (sự thay đổi, thay thế các quá trình xã hội của các hình thái kinh tế – xãhội) [22;tr.181]. Như vậy, trên cơ sở những lý luậncủachủnghĩa Mác – Lêninvềvậnđộng,chúng ta cóthểnhận thấy rằngvậnđộngbaogồmvậnđộngbên trong(vận động
vậtlý,vậnđộnghóa học) vàvậnđộngbên ngoài (vậnđộngcơ học,…).Theo đó, hoạtđộngcủatàisảncũng cóthểlà hoạt động diễn ra bên trong cấu tạo vật chất của tài sản hoặc hoạt động diễn ra bên ngoài thế giới tự nhiên của tài sản.
Hoạtđộngbên ngoàicủatài sản trong nhiều trường hợp là hoạt động tự t hân (sựdi chuyểncủađộngvật), trong nhiều trườnghợplạichịusựtácđộngcủahành vi con người(xe máy di chuyểntừvịtrí nàyđếnvịtrí khác),nếuthiếu tácđộngcủacon ngườithì rất nhiều loại tài sản không có hoạt động bên ngoài.
Hoạtđộngbên trong của tài sản không chịu sự tác động từ hành vi con người màphụthuộc vàocấutạovậtchất (bấtđộngvật),bảntính loài (động vật), không có sự tácđộng của con người thì hoạt động này vẫn diễn ra một cách liên tục, và đó chính là sự vậtđộng của một dạng vật chất cụ thể, là phương thức tồn tại của vật chất [8;tr.89].
Quá trình hoạtđộngcủatàisảndù làtựthân hay chịusựtácđộngcủacon ngườithìđềucósựtácđộngqualạivớimôi trường xung quanh.Sựtácđộngnày cóthểlàsựtácđộngvềmặtcơhọc(sựva chạmcủatàisảnvớitàisảnkhác,vớicon
người, …), sự tác độngvề mặt vậtlý hoặc hóahọc(chất cháy phảnứngvớimôi trườngdẫnđếntựcháy, chất nổ trong điều kiện môi trường thuận lợi có thể tự phát nổ,
…).Sựtácđộngcủatàisảncóthểgây ra những thiệt hại cho con người cũng như môi trường xung quanh.
Qua phân tíchở trên chúng ta nhận thấy,sựhoạtđộngcủa tài sản có thể là hoạtđộngtựthân, cũng cóthểlà hoạtđộngchịusựtácđộngcủacon người.Tấtcảnhững hoạtđộngnàyđềucóthểgây ra thiệt hại mà bản thân con người có thể nhận thức hoặc khôngthểnhận thứcđược.Nếuhoạtđộngtựthân tàisảnmà gây ra thiệthạithì thiệt hạiđólà do tàisảngây ra. Trong nhiều trường hợp, hoạt động tự thân gây thiệt hại của tàisảncũng chịusựảnhhưởngtừhành vicủacon người. Tuy nhiên,sựtácđộngcủa hành vi conngườivào tàisảnchỉcó vai trò trong việc quyếtđịnhkhông gian mà tài sảngây ra thiệthạilàở đâu(việc di chuyển tàisản từ địa điểm này đến địa điểm khác làm thayđổivịtrí tàisảngây thiệt hại) mà không phải là nguyên nhândẫnđếnthiệt hại.Nếusựtácđộngcủahành vicủaconngườivào tàisảnmà dẫn đến thiệt hại (ví dụnhưđiềukhiển xegắnmáytừvịtrí nàyđếnvịtrí khác màvượtquátốcđộcho phép gây ra thiệt hại) thìđólà hành vi gây thiệthạimà không phải tàisảngây thiệt hại, tài sản chỉ là vật trung gianđể chủthể thực hiện hành vi gây thiệt hại.
Theo quyđịnhtrong BLDS 2005 và vănbảnhướngdẫnthi hành, cơ sở pháp lýchungđể xácđịnhcácđiềukiện phát sinh TNBTTH ngoàihợpđồng(trongđócóTNBTTH do tài sản gây ra) là Điều 604 BLDS 2005 và mục 1 phần I NQ 03/2006. Hầu như, những quyđịnhnàyđềuđượckếthừa những quyđịnhtrongBộluật dânsựnăm 1995 cũng như Nghị quyết số 01/2004/NQ-HĐTP ngày 28/4/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dântốicao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật dân sự vềBTTH ngoàihợpđồng.Tuy nhiên, khi tàisảngây thiệthạithì cótồntạihành vi trái pháp luật không? Đây là vấnđề đã tồn tại nhữngquan điểm khác nhau.
Quanđiểmthứnhất cho rằng hành vi trái pháp luật làmộttrong cácđiềukiện làm phát sinh TNBTTH do tàisảngây ra.Điểnhình cho quanđiểmnày là tácgiảNguyễn Thanh Hồng. Trong luận áncủamình, tácgiảkhẳngđịnhrằng:“nóimộtcách chính xác thì bản thân nguồn nguy hiểm cao độ không bao giờ gây ra thiệt hại, nếu
thiếu hành vicủaconngườitác động vào chúng (sử dụng, vận hành, bảo quản …)” [43;tr.35]. Đặc biệt, tại trang 63 trong mục 2.1 chương 2 của luận án, tác giả khẳng định cơ sở pháp lýcủaTNBTTH trong cácvụtainạngiao thôngđườngbộbaogồm4điều kiện, mà một trong 4 điều kiện đó là hành vi gây thiệt hại (bất kể đó là nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại hay hành vi điều khiển phương tiện giao thông gây thiệt hại).
Quan điểm thứ hai cho rằng “TNBTTH do tài sản gây ra chỉ được áp dụng khi tự
thân tài sản đó gây thiệt hại … Sự kiện gây thiệt hại của tài sản trong những trường hợp
này theo cơchế‘tựgây thiệthại’,hoàn toàn không cósựtác động của con người” [54;tr.57&58].Tứclà theo quanđiểmnày, nguyên nhândẫnđến thiệt hại không phải làhành vi gây thiệthạimà là hoạtđộngtựthâncủatàisảngây ra thiệt hại.Đâylà quanđiểmcủahầuhếtcác tácgiảkhi nghiêncứuvềTNBTTH do tàisảngây ra nói chung cũng như TNBTTH do tàisảngây ra trong từng trườnghợpcụthể.Dướigócđộcánhân, NCS cũngđồngývớiquanđiểmnày. Tuy nhiên,điềuđócũng khôngthểkhẳngđịnhrằng trongmọitrườnghợptàisảngây thiệthạithìđềukhôngtồntạihành vi trái pháp luậtcủaCSH, NCH,sửdụng tài sản. Khi tàisảngây thiệthạimà CSH, NCH,sửdụng tàisảnvi phạm quyđịnhvềquản lý tàisảnthìhọbịxácđịnhlà có hành vi trái pháp luật. Trong trườnghợphọchứng minhđượcmìnhđãtuânthủcác quyđịnhpháp luậtvềquản lý tài sản thì không tồn tại hành vi trái pháp luật. Vấn đề đặt ra là có tồn tại hành vi trái pháp luật thì hành vi đó có phải là nguyên nhândẫnđến thiệt hại hay không? Vềnguyên tắc, CSH, NCH,sửdụng tàisảnphải tuânthủtuyệt đối các quy định
pháp luật liên quanđếnviệc quản lý tài sản.NếuCSH, NCH,sửdụng tàisảnkhông tuânthủcác quyđịnhvềquản lý tàisảnthìđãtồntạihành vi trái pháp luật.Ngườicóhành vi vi phạm pháp luậtđươngnhiên phải chịu trách nhiệm pháp lý ngaycảkhi thiệt hại chưaxảyra, nhưng trách nhiệm này là trách nhiệm hành chính mà không phải TNBTTH.Điềunày cho thấy, hành vi vi phạm pháp luật trong trườnghợpnày không phải là nguyên nhândẫnđếnthiệt hại. Dođó,nếuthiếu hoạtđộngcủatàisảnthì chắc chắn thiệthạikhôngxảyra. Vídụ,ông A buộc trâuở cổng làng khiến chomọingười
đilạikhó khăn vàảnhhưởngmỹquan (hành vicủaông A là trái pháp luật–hành vi buộc trâuở nơi không đúng quy định).Nếucon trâu nhà ông Achỉnằmmộtchỗmàkhông gây thiệthạicho ai thì TNBT không phát sinh,nếucon trâucủaông Ađứng dậyhúcngườiđiđườngbịthương thì TNBTTH phát sinh. Như vậy, dù con trâu nằm im hayđứngdậyhúcngườithì hành vicủaông Avẫnkhông thayđổi(vẫn là hành vi buộc trâuở nơi không đúng quy định). TNBTTH có phát sinh hay không hoàn toàn phụthuộc vào việc con trâunằmim hay đilạihúcngườichứkhông phục thuộc vào hành vi buộc trâu sai quyđịnh.
Vớinhững phân tích trênđâycho thấy, khi tàisảngây thiệthạicóthểvẫntồn tạihành vi trái pháp luậtcủaCSH, NCH,sửdụng tài sản.Vấnđềđặtra là cósựtách bạch giữa hành vi trái pháp luật gây thiệthạihoạtđộngtựthâncủatàisảngây ra thiệt hạihay không?Đâylà vấn đề còn tồn tại hai cách hiểu khác nhau:
Cách hiểuthứnhất cho rằng không nên tách biệt hoạtđộngtự thân gây thiệt hại củatàisảnvớihành vi trái pháp luật gây thiệt hại,bởivì khi tàisảngây ra thiệt hại thìCSH hoặcngườiquản lý, sử dụng luôn bị coi là vi phạm pháp luật (tức là tồn tại hành vi trái pháp luật). Nhữngngườitheo cách hiểu này thường quan niệm hành vi gây thiệt hại theo nghĩa rộng bao gồm hành động trái pháp luật gây thiệt hại và không hành động trái pháp luật gây ra thiệt hại. Theo đó, nếu một người thực hiện hành vi quản lý, sử dụng tài sảnnhưng không tuânthủquyđịnhpháp luậtdẫnđếnthiệthạichongườikhác(điều
khiển phương tiệnvượtđènđỏgây thiệt hại) thì người đó đã thực hiện một hành vi trái pháp luậtdướidạngmộthànhđộng.Ngượclại,nếumộtngườicó trách nhiệm trông nom, giám sát,bảoquản tàisảnnhưnglạilơ là,mấtcảnh giác hoặc không cósựquan tâm đúngmứcđếntài sản, dẫn đến tài sản gây thiệt hại cho người khác (không kiểm tra kỹ xe ô tô trước khi lưu thông nên trong quá trình vận hành, xe ô tô nổ lốp gây thiệt hại) thìngườiquản lý,sửdụng tàisảntrong trườnghợpnày cũngbịcoi là có hành vi trái pháp luậtdướidạng không hànhđộnggây ra thiệt hại. Cách hiểu này chịuảnhhưởng bởiquanđiểmlậppháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới, hiện tại các quốc gia này chưa cósựtách biệt rạch ròi giữa hành vi trái pháp luật với hoạt động gây thiệt hại của tàisản[28;Điều1384,1385,1386],đồngthời cũng phùhợpvớiquanđiểmlậppháp trong BLDS 2005 và NQ 03/2006. Cách hiểu này cũng có những ưuđiểmvàhạnchếnhất định như:
(i)Vềưuđiểm, cách hiểu nàyđảmbảorằngchỉcầncó sự kiện tài sản gây thiệt hạithìngườibịthiệthạisẽđượcbồithường mà khôngcầnphải chứng minh thiệt hại dotựthân tàisảngây ra hay chịusựtácđộngtừhành vibấtcẩntrong quản lý vàsửdụng của con người;
(ii) Về nhượcđiểm, cách hiểu nàychỉhướngtớiviệcbảovệquyềnlợicủa ngườibịthiệthạimà khôngđứngtrên phương diệnbảovệquyền vàlợiíchhợppháp củatấtcảcácchủthểcó liên quan.Nếukhông tách biệt rạch ròi giữa hành vi trái pháp luật ra khỏi hoạtđộngtựthân của tài sản sẽ khó có thể xác định chính xác chủ thể phải chịu trách nhiệm cuối cùng (Vídụ,Pháp nhân A giao xe cho nhân viên B đi chở hàng, khi xe gây thiệthạimà không xácđịnhcụthểlái xe cólỗitrongđiềukhiển xe hay tựthân xe hỏng gây thiệthạithì khó xác định pháp nhân A có được yêu cầu B hoàn trả sốtiềnđãbồithường hay không). Ngoài ra, trong nhiều trườnghợpviệc buộcmộtchủthể không có lỗi cũng không được hưởng lợi từ việc quản lý tài sảnphải chịu TNBTTH do tàisảnmà mình quản lý gây rasẽkhông phùhợpvớilẽcông bằng màpháp luậtcủahầuhếtcác quốc giađềuhướngtới(Vídụ,vợ chồng A nhờ B trông nhàhộđểđi xem phim,nếunhàcủavợ chồng Asụpđổgây thiệthạicho nhà C mà không xácđịnhcụthểnhàđổdolỗicủaB hay do tự đổ thì sẽ khó có thể xác định B có phải chịu TNBTvớitư cách là người quản lý tài sản hay không).
Cách hiểuthứhai cho rằng nên tách biệt hoạtđộngtựthâncủatài sản gây thiệt hạivớihành vi trái pháp luật gây thiệt hại. Theo cách hiểu này, hành vi gây thiệt hại phảiđượchiểu theo nghĩa hẹp,tứclàđólà hànhđộnggây thiệthạicủamộtchủthểnhấtđịnh,nếuhành vi gây thiệthạigắnvớihoạtđộngcủatàisảnthì hành vi đó chỉ cóthểlà hành visửdụng tàisảnkhông đúng quyđịnhcủapháp luật (vídụvậnhành,điều khiển phương tiện cơ giới vậntảivượtquátốcđộcho phép, đi vàođườngngược chiều,vượtđènđỏ)gây ra thiệthạichứkhông baogồmviệc không tuânthủquyđịnh vềquản lý tàisản(không quản lý súcvậtdẫnđếnsúcvậtphá hoại mùa màng).Dưới góc độ cá nhân, NCS cho rằng cách hiểu thứ haihợplý bởi những lý do sau:
(i) Việc tách biệt nàyđảmbảo xác định cơ sở xác định chủ thể chịu TNBTTH làai, qua đó xác định chính xác chủ thể phải bồi thường khi tài sản gây ra thiệt hại. Nếu tài sảngây thiệthạimà cólỗicủaCSH, NCH,sửdụng tàisảnthìngườicólỗiphải bồi thường.Nếukhông aibịcoi là cólỗithìngườinàođượchưởnglợicũng nhưđược quyền khai thác lợi ích từ tài sản sẽ chịu TNBT. Ví dụ, A nhờ B trông cửa hàng hộ để đi công việc, sau đó hệ thống điện trong cửa hàng của A bị chập gây ra cháy, dẫn đến thiệt hạicho các nhà xung quanh. Trong trườnghợpnày,nếuxácđịnhnguyên nhân là do B tựýsửdụngđiệntrongcửahàng quátảigây ra chậpđiện(hành vicủaB gây ra thiệt hại) thì B phải BTTH,nếuxácđịnhnguyên nhân là do dây điện hở cọ xát vào nhau dẫnđến chập gây thiệt hại thì A phải bồi thường;
(ii) Việc tách biệt giữa hành vi gây thiệthạicó liên quanđếnhoạtđộngcủa tài sảnvớitựthân hoạtđộngcủatàisảngây thiệthạisẽđảmbảoviệc xác định chính xác chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng là ai. Ví dụ công ty X giao cho Y điều khiển xe chởcán bộ công nhân viên đi làm, khi xe đang vận hành thì gây ra thiệt hại cho người điđường.Trướchếtcông ty X phải BTTH với tư cách là CSH phương tiện đồng thời làngười giao nhiệm vụ cho Y. Tuy nhiên, nếu xác định nguyên nhân dẫn đến thiệt hại làdo lái xe Y phóng nhanh, vượt ẩu, uống rượu say khi lái xe thì công ty X có quyền yêu cầu lái xe Y hoàn lại số tiền đã bồi thường; nếu xác định được nguyên nhân dẫn đến thiệt hại là do xe đang đi bị nổ lốp gây ra thì công ty X không có quyền yêu cầu Y hoàn lạisốtiềnđãbồithường. Qua vídụnày cho thấy, việc tách biệt giữa hành vi gây thiệt hạivớihoạtđộngtựthâncủatàisảngây ra thiệthạisẽ bảo đảm đượcquyền và lợi ích hợppháp của tất cả các chủ thể mà không chỉ là người bị thiệt hại;
(ii) Cách hiểu này phùhợpvớiquanđiểmlậppháp hiện tại của Việt Nam được thểhiện trong BLDS 2015. Trong BLDS 2015, TNBTTH do tàisảngây ra nói chung (khoản 3Điều584)đãđượctách biệtvớiTNBTTH do hành vi gây ra (khoản 1Điều 584). Theo quyđịnhtrong BLDS 2015, dù thiệthạido hành vi gây ra hay thiệthạido tàisảngây ra thìngườibịthiệthạicũng không phải chứng minhlỗicủangườigây thiệthạicũng nhưcủangườiquản lý,sửdụng tài sản. Dođó,chỉcầncó hành vi gây thiệthạihoặc có hoạtđộnggây thiệthạicủatàisảnthìngườibịthiệthạicóthểyêu cầuBTTH. Việc chứng minh các căncứloạitrừTNBTTH thuộcvềngườigây thiệt hạicũng như CSH, NCH,sử dụngtài sản.
* Về mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động của tài sản và thiệt hại
Phạm trù nguyên nhân vàkếtquảphản ánhmốiquanhệsảnsinh ra nhau giữa cácsựvật, hiệntượngtrong hiện thực khách quan [22; tr.233]. Trong mối quan hệ này, hoạtđộngcủatàisảnlà nguyên nhândẫnđếnthiệt hại, thiệthạilàhậuquảtấtyếu của hoạtđộngcủatài sản. Tuy nhiên,sựhoạtđộngcủatàisảnđượccoi là nguyên nhân dẫnđếnthiệthạiphải là hoạtđộngtựthâncủatài sản,tứclà không chịusựtácđộng của con người.
Thông thường, hoạtđộngcủatàisảnthườnggắnliềnvớihành vi của con người. Nhưđãphân tíchở phần trên, hoạtđộngcủatàisảnbaogồmhoạtđộngbên trong vàhoạtđộngbên ngoài. Conngườichỉcóthểcảmnhận và quát sátđượchoạtđộngbên ngoàicủatài sản, vàđươngnhiên, hoạtđộngbên ngoài của tài sản thường gắn với hành visửdụngcủaconngười(xe máy chuyểnđộngthông qua hoạtđộngsửdụngcủachủthểnhấtđịnh)hoặc chịusựkiểm soátcủaconngười(sựdi chuyểncủasúcvậtđược CSH, NCH giám sát). Vàđươngnhiên, tàisảnchỉgây thiệthạikhi chúng đang hoạtđộng.Tứclà thường thì khi tàisảngây thiệt hại, CSH hoặcchủthểkhác đang sử dụng hoặc kiểm soátsựhoạtđộngcủatài sản. Hơn nữa, khi tài sản gây thiệt hại, người đang quản lý, đangsửdụng cóthểbịcoi là cólỗitrong việc quản lý,sửdụng tài sản. Tuy nhiên, nguyên nhândẫnđếnthiệthạikhông xuất pháttừsựvi phạmcủangườiđang chiếm hữu, sử dụng tài sản, mà bắt nguồn từ hoạt động của tài sản. Nếu không có sự tácđộngcủatàisảnthì không có thiệthạixảyra. Trong trường hợp, nguyên nhândẫn đến thiệthạikhôngbắtnguồntừhoạtđộngcủatài sản mà từ sự vi phạm của người đang sửdụng tài sản (ví dụ lái xe vượt quá tốc độ gây thiệt hại) thì đây là trường hợp hành vi gây thiệthạimà không phải tài sản gây thiệt hại. Hoạt động của tài sản (nếu có) cũng khôngđượccoi là nguyên nhândẫnđến thiệt hại.
Như vậy,chỉkhi hoạtđộngtựthân của tài sản là nguyên nhân gây ra thiệt hại thìđómớilàmốiquanhệnhânquảmà chúng ta xem xét trong cácđiềukiện phát sinh TNBTTH do tàisảngây ra.Nếuhành vicủaconngườitácđộnglàm cho tài sản gây ra thiệthạithì mối quan hệ này là mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hạixảyra, vàđóchính làmộttrong cácđiềukiện làm phát sinh TNBTTH do hành vi của con người gây ra.
Qua những phân tíchở trên cho thấy, trong trườnghợptàisảngây thiệthạivẫn cóthểtồntạihành vi trái pháp luậtcủaCSH, NCH,sửdụng tài sản. Tuy nhiên, hành viđóchỉlà hành vi có liên quan mà không phải là nguyên nhâncủathiệt hại.Nếuxét vềmứcđộảnhhưởngcủahành vi trái pháp luật trong trườnghợptàisảngây thiệt hại thì hành viđólàđiềukiện, còn hoạtđộngtựthâncủatàisảnlà nguyên nhândẫnđến thiệt hại. Hành vi vi phạm quyđịnhvềquản lýchỉtạoramộtcơ hộiđểtàisảncóthểgây thiệthạichứkhông có tính quyếtđịnhthiệthạicóxảyra hay không. Ví dụ: ông A và ông Bđềubuộc trâuở cộtđiệnđầulàng, nhưng con trâu nhà ông A thìnằmmột chỗcòn con trâu nhà ông Blạiđilạixung quanhcộtđiện.Khi C đi qua, con trâu nhàông B húc C ngãgẫytay. Trong trườnghợpnày, hành vicủaông A và ông B cùng vi phạm quyđịnhvềquản lý tài sản, nhưngchỉcó ông B phảibồithường vì con trâucủaông gây thiệt hại cho C.
* Về yếu tối lỗi trong TNBTTH do tài sản gây ra:
Thông thường, TNBTTH do hành vicủaconngườigây ra phát sinh khi cóđủ4điềukiệnđólà: (i) có thiệthạixảyra; (ii) hành vi gây thiệthạilà hành vi trái pháp luật; (iii) cómốiquanhệnhânquảgiữa hành vi trái pháp luậtvớithiệthạixảyra;
(iv) cólỗicủangườigây thiệt hại. Tuy nhiên,đốivớitrườnghợptàisảngây thiệt hại, việc xácđịnhcácđiềukiện phát sinh TNBTTHvẫncòntồntạicác quanđiểm khác nhau. Trongđó,các quanđiểmđưarahầuhếtchỉtồntạimâu thuẫn xoay quanh việc xácđịnhlỗicó phải làmộttrong cácđiềukiện làm phát sinh TNBTTH do tài sảngây ra hay không.
Quanđiểmthứnhất cho rằng,đểxácđịnhTNBTTH do tàisảngây rachỉcần3điềukiện sau đây: (i) Có thiệthạithực tế xảy ra; (ii) Có sự kiện gây thiệt hại trái pháp luật; (iii) Cómốiquanhệnhânquảgiữasựkiện gây thiệthạitrái pháp luật và thiệt hại thựctếđãxảyra [54;tr.20]. Cùng quanđiểmnày, tácgiảBùiThịThanh Hằng vàĐỗGiang Nam cũng cho rằng“Phápluật Việt NamvềTNBTTH do tácđộngcủatài sản gây ra tuy còn nhiều thiếu sót nhưngvềcơ bản, các quy định này đã khá hoàn chỉnh vềnộidung và cũngchỉrađượchầuhếtcác trườnghợpBTTH do tácđộngcủatài sản gây ra – các trườnghợpmà TNBTTHđượcxácđịnhkhôngdựatrênyếutố lỗi …” [41; tr.69]. Đâylà quanđiểmcủanhữngngườiđi theo quanđiểmhọcthuyết trách nhiệm khách quan (trách nhiệm nghiêm ngặt). Theođó,khi tàisảngây thiệt hại,ngườibịthiệthạikhôngcầnchứng minhlỗicủaCSH, NCH,sửdụng tàisảnmàchỉcầnchứng minh có sự kiện tài sản gây ra thiệt hại cho mình là có quyền yêu cầu BTTH.
Quanđiểmthứhai cho rằnglỗilà cơ sở của TNBTTH nói chung và TNBTTH do tàisảngây ra nói riêng. Trongđó,tácgiảNguyễn Mạnh Bách cho rằng: “trách nhiệm củaCSH câycốilệthuộc vào hai điều kiện: (i) sự thiệt hại phải do cây cối đổ, gãy gây ra; (ii)ngườibịthiệthạiphải chứng minh rằng việcđổ,gãyxảyra là do CSH thiếu chăm sóc tubổcây cối,tứclà domộtlỗicủaCSH” [20;tr.261]. Theo tácgiảTrịnh Khánh Phong,“cơ sở trách nhiệm dân sự của CSH hoặc người trực tiếp sử dụng quản lýsúc vật, đồ vật làlỗi củahọ trong việc trông coi quản lý súc vậtvàđồvậtđó” [64;tr.136]. Quan điểm này phù hợpvớihọc thuyết cổ điển như đã đề cập trong tiểu mục 1.1.1, theo đó lỗi là một điều kiện bắt buộc phải chứng minh khi tài sản gây ra thiệt hại.Điềuđócũngđồngnghĩa với việc nếu không có lỗi của CSH, của NCH, sử dụng tài sản thì người bị thiệt hại sẽ không được bồi thường.
Thông qua những nghiên cứu của mình, NCS đồng ý với quan điểm thứ nhất. Tức là TNBTTH do tàisảngây ra phát sinh khi có ba điều kiện đó là: có thiệt hại xảy ra; cóhoạt động gây thiệt hại trái pháp luật của tài sản; có mối quan hệ nhân quả giữa hoạt động củatàisảnvà thiệthạixảyra. Theođó,khi tàisảngây thiệt hại,lỗikhông phải là một trong các điều kiện phát sinh TNBTTH.Điều này đượclý giải bởi những lý do sau:
Thứnhất,“xétvềhình thức,lỗilà tháiđộtâm lýcủangườicó hành vi gây ra thiệt hại,lỗiđượcthểhiệndướidạng cố ý hay vô ý” [91;tr.286]. Như vậy, lỗi là yếu tốgắnliềnvớihành vi gây thiệthạitrái pháp luậtcủacon người.Mộthành vi bị coi là làcólỗinếungườithực hiện hành viđócókhảnăng nhận thức và làmchủhành vi. Tức làlỗikhôngthểtồntạingoài hành vi cóýthứccủacon người. Dođó,khi tàisảngây thiệthạithìbảnthân tàisảnkhôngthểbịcoi là có lỗi.Bởivì hoạtđộngcủatàisản
khôngthểcoi làmộthành vi cóýthức.Đồngthời,“sẽlà không hợp lý khi một tài sản
gây thiệthạilạixétđếnyếutốhành vi…,… gắnlỗicho tàisảnkhi chúng gây thiệt hạilà khôngthể xảyra” [54;tr.20&21].
Thứhai, trongrấtnhiều trường hợp, tàisảncóthểgây thiệthạimà ngay bản thân CSH, NCH,sửdụng tàisảncũng khôngthểkiểm soátđược.Đâylà những trường hợpmà CSH, NCH,sửdụng tàisảnđãtuânthủmọiquyđịnhliên quanđếnviệc quản lý tài sản, nhưng thiệthạivẫnxảyra.Điềuđócũng có nghĩa là CSH, NCH, NSD tài sảnkhông cólỗitrong việc quản lý tàisản(không cóyếutốlỗi).Nếunhư coilỗilàmộtđiềukiện phát sinh TNBTTH thì trong những trườnghợpnày, CSH, NCH, NSD tàisảnsẽkhông phải chịu TNBTTH.Điềunày làrấtvô lý và không công bằngđốivới ngườibịthiệt hại.Bởivì, thiệthạixảyra trong những trườnghợpnày có thể coi là rủi ro mà tàisảnmang lại. Việc xácđịnhngườigánh chịurủiro phải căn cứ vào việc ai làngườiđượchưởnglợiích do tàisảnmang lại. Vàđươngnhiên, CSH, NCH,sửdụng tàisảnmớilàngườiđượchưởnglợiích mà tàisảnmang lại. Hơn nữa,vềnguyên tắc, CSHđượcthực hiệnmọihành vi theoýchícủamìnhđốivớitài sản, nên CSH phải gánh chịu những nghĩavụtương ứng. Dođó,đểđảmbảonguyêntắccông bằng vànguyêntắcquyền không táchrờinghĩavụmà Hiến pháp năm 2013đãquyđịnhthìCSH, NCH,sửdụng tàisảnphải gánh chịurủiro mà tàisảnmang lại,tứclà phải BTTH cho người bị thiệt hại ngay cả khi không có lỗi.
Vớinhững phân tích trên cóthểthấy,yếutốlỗikhônggắnvớihoạtđộngcủa tàisảnmàchỉgắnvớihoạtđộngquản lý tàisảncủacon người. Khi tàisảngây thiệt hại, CSH, NCH,sửdụng tàisảnbịsuy đoán là cólỗitrong việc quản lý tài sản. Tức làhọbịsuy đoán rằngđãkhông thực hiện, thực hiện không đúng, thực hiện khôngđầyđủcác quyđịnhcủapháp luậtvềquản lý tài sản. Tuy nhiên,lỗitrong việc quản lý tài sảnkhông phải làmột trong các yếutố cấuthành các điềukiện phát sinh TNBTTH do tàisảngây ra mà nóchỉlàyếutốxácđịnhngườiquản lý tàisảncóđượcloạitrừTNBT hay không, cóđượcgiảmmứcbồithường theo các nguyên tắc chung hay không.Đểchứng minh mình không cólỗikhi tàisảngây thiệt hại, CSH, ngườiđượcgiao chiếm hữu,sửdụng tàisảnphảiđưara bằng chứngđểchứng minhđãthực hiện đúng vàđầyđủcác quyđịnhvềquản lý tài sản. Việcđưara bằng chứngđểchứng minh cóthểbằng cách trực tiếp (quy trình quản lý tàisảnđãthực hiện, quy
trìnhbảoquản tài sản, hoạtđộngkiểm tra tàisảnđãthực hiệntrướckhisửdụng,…)
hoặc gián tiếp thông quangười làm chứng, … Tuy nhiên, hoạt độngchứng minh thuộc lĩnhvựcpháp luậttốtụng dânsựvà do Tòa án có thẩm quyền quyếtđịnh.Dođó, NCS không đi sâu vào nội dung này.
Như vậy,mặcdùlỗikhông phải làđiềukiện làm phát sinh TNBTTH do tài sản gây ra, nhưng việc xácđịnhlỗicủacác bên cũng có những vai trò nhất định trong việc giải quyếtvấnđềBTTH do tàisảngây ra trên thựctế.Việc chứng minh cólỗihay không cólỗikhông phải là trách nhiệmcủaTòa án, mà là trách nhiệmcủangườiphải
bồithường hoặcngườibịthiệt hại. BLDS 2015 cómộtđiểmkhác biệt sovớiBLDS 2005 đó là ngoài việc xác định lỗi là một căn cứ loại trừ trách nhiệm thì còn xác định lỗi là căncứđểxácđịnhmứcđộbồithường mà CSH hoặcngườiđượcgiao quản lý,sửdụng tài sản phải gánh chịu trong trường hợpngườibị thiệt hại cũng có một phần lỗi.
1.4. Cơ sở xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
Cóthểnhận thấy rằng, thực chấtcủaquyđịnhvềnănglựcchịu TNBTTH của cá nhântạiĐiều606 BLDS 2005 cũng nhưĐiều586 BLDS 2015 chính là nguyên tắc chung trong việc xácđịnhchủthểphải chịu TNBTTH. Đâylà quyđịnhđượcáp dụngđểxácđịnhchủthểchịu TNBTvớicảtrườnghợphành vi gây thiệthạivà tàisảngây thiệt hại.Theo những quyđịnhnày cóthểthấy, việc xácđịnh chủthểchịu TNBTTH dườngnhư luôngắnvớitrườnghợphành vi gây thiệt hại.Tứclà thiệthạixảyra luôn gắnvớiyếutốlỗicủangườichịu TNBT (trách nhiệm xuất pháttựsựvi phạm). Tuy nhiên, TNBTTH do tàisảngây ra không phải lúc nào cũng xuất pháttừsựvi phạm quyđịnhvềquản lý tàisảnmà nó còn xuất pháttừnguyêntắcchịurủiro do tài sản mang lại. Dođó,trong trườnghợptàisảngây thiệthạithì việc xácđịnhchủthểchịu TNBTTHcủacá nhânsẽkhôngchỉdựavàoyếutỗlỗicủangườiphảibồithường màcònsựvào nguyêntắc“ngườiđượchưởnglợiíchtừ tài sản hoặc đượcquyền khai thác lợiích từ tài sản phải gánh chịu rủi ro do tài sản manglại”.Cụ thể như sau:
* TNBTTH của CSH:
Quyềnsở hữutàisảnlàmộttrong những quyền dânsựcủacá nhân, đó chính lànănglựcpháp luật dânsựmà pháp luật quyđịnhcho cá nhânđượchưởng.Mặtkhác, nănglựcpháp luật dânsựcủacá nhân cótừkhingườiđósinh ra. Dođó,CSH của tài sảncóthểlàngườicóđầyđủnănglựchành vi dânsự,cũng cóthểlàngườicó một phần hoặc không có nănglựchành vi dân sự. Nên tàisảncóthểdo CSHtựquản lýhoặc dongườikhác quản lý theo quy định. Tạithờiđiểmtài sản gây thiệt hại, bản thân chủthểquản lý tàisảncó thể bị coi là vi phạm quy định về quản lý tài sản. Dựa trên cơ sở những phân tíchvềbảnchấtcủaTNBTTH do tàisảngây ra, TNBTcủaCSHđượcđượcxác định theo hai trường hợp cụ thể như sau:
Thứ nhất, trong trường hợp có sự vi phạm quy định về quản lý tài sản, TNBTTH cũngđượcxácđịnhdựatrên nguyêntắc chungtạiĐiều606 BLDS 2005 cũng nhưĐiều586 BLDS 2015. Theo đó,nếuCSH có nănglựcquản lý tàisảnvàngườitrực tiếp quản lý tàisảnthì CSH phải BTTH chongườibịthiệt hại.NếuCSH không có nănglựcquản lý tài sản,tứclà tàisảndo chamẹ,hoặcngườigiámhộquản lý theo quyđịnhcủapháp luật, thì TNBTTHđượcxácđịnhcụthểnhư sau: (Mộtlà), nếuchamẹlàngườiquản lý tàisảncủacon theo quyđịnhtạiĐiều76 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì việc quản lý tàisảncủacon khôngchỉlà quyề n mà còn lànghĩavụcủachamẹ,nênnếuchamẹkhông tuânthủquyđịnhvềquản lý tàisảnthìđượcxácđịnhlà cólỗitrong trường hợp tài sản gây thiệt hại. Do đó, cha mẹ phải chịu TNBTTH; (Hai là),nếutàisảndongườigiámhộquản lý theo quyđịnhtạikhoản 3
Điều65, khoản 2 Điều 66, khoản 3 Điều 67 và khoản 1 Điều 69 BLDS 2005; cũng nhưkhoản 3Điều55, khoản 2Điều56,điểmc khoản 1Điều57 vàĐiều59 BLDS 2015, thì khi tàisảngây thiệt hại,ngườigiámhộbịsuy đoán là cólỗitrong việc quản lý tài sản nên phải chịu TNBTTH.
Thứhai, trong trườnghợpkhông cósựvi phạmvềquản lý tài sản (thiệt hại xảy ra làrủiro mà tàisảnmang lại) thì việc xácđịnhnhiệm BTTH phảidựatrên nguyên tắc“quyềncông dân không táchrờinghĩavụcôngdân”[1;Điều15] và phải căncứtrênlẽcông bằng,tứclàngườicó quyềnhưởnglợiích do tàisảnmanglạiphải cónghĩavụgánh chịurủiro do chính tàisảnđógây ra. Trong trườnghợpnày, tàisảnđang do CSH trực tiếp quản lý hay do chamẹ,ngườigiámhộquản lý thì CSHvẫnlàngườiđượchưởngcáclợiíchtừtài sản. Dođó,CSH phải chịu TNBTTH.Nếutàisảnđang do chamẹhoặcngườigiámhộquản lý thì chamẹhoặcngườigiámhộcó quyền
lấytàisảncủaCSHđểbồithường.Đâycóthểcoi là trườnghợpCSH cóđủnăng lực vềtàisảnđểbồithường, nhưng không cóđủnănglựchành viđểthực hiện việc bồi thường (khôngtựthực hiện nghĩavụ)nên việcbồithườngđượcthực hiện thông quan người đạidiệncủahọ.NếutàisảncủaCSH khôngđủthì chamẹ,ngườigiámhộkhông phảibồithường,bởivìhọkhông cólỗitrong việc quản lý tài sản,đồng thờihọkhông phải làngườiđượchưởnglợi íchtừsản. Như vậy,đốivớiphần thiệthạimàCSH chưa có tàisảnđểbồithườngsẽgiải quyết nhưthếnào?Vớicâu hỏi này, có thể
sẽ xuấthiện hai cách giải quyết như sau:
Mộtlà, phần thiệthạimà CSH không cóđủtài sản để bồi thường sẽ là phần rủi ro mà người bị thiệt hại phải gánh chịu. Điều này được lý giải bởi vì: (i) Thiệt hại xảy ra trong trườnghợpnày hoàn toàn làmộtrủiro do tài sản gây ra,bởikhông có lỗi trong việc quản lý tàisảncủabấtkìchủthểnào. ToànbộtàisảncủaCSH khôngđủđểbồi thường nênngườibịthiệthạigánh chịumộtphầnrủiro cũng làlẽthông thường liên quanđếnviệc chiasẻrủiro; (ii)VềnguyêntắcBTTH,ngườichịu TNBT cóthểđược giảmmứcbồithườngnếucó lỗi vô ý và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tếtrướcmắt và lâu dài của mình. Như vậy, ngay cả khi chủ thể có lỗi vẫn có thể được giảm mứcbồithường, nên việc giảmmộtphầnbồithường cho CSH trong trườnghợpnày cũng làhợplý.Bởivìbảnthânhọkhông có lỗi và toàn bộ tài sản của họ đã được dùngđể BTTH màvẫnkhôngđủ.Tứclà lúc này, CSHđãchịu TNBTTHvớitoànbộkhảnăngvềmặt tài sản mà mình có.
Hai là, phần thiệthạichưabồithường này nên coi làmộtkhoản nghĩavụchưa thực hiện xongcủaCSH. Phần nghĩavụnàysẽtiếptụcđượcthực hiện cho đến khi cókhảnăngvềmặtkinhtế.Điềunàyđượclý giảibởivì việc CSH không có đủ tài sản đểBTTH không phải làmộttrong những căncứloạitrừTNBT.Đồngthời,đâycũng không phải làmộttrong những căncứlàm chấmdứtnghĩavụdânsự(trongđócónghĩavụbồithường). Hơn nữa, cách giải quyết này cũngthểhiệnsựphùhợpđốivới quyđịnhtrongĐiều606 BLDS 2005 cũng nhưĐiều586 BLDS 2015. Theo tinh thần
của2Điềuluật này, việc xácđịnhnănglựcchịu TNBTTH là xácđịnhkhảnăng của ngườiBTTH. Còn việc BTTHđượcthực hiệnở thờiđiểmnào không phảivấnđềnăng lực chịu TNBT.
Theo quanđiểmcủaNCS,nếucóđủđiềukiệnđểgiảmmứcbồithường theo quyđịnh, thì CSHsẽđượcgiảmmức BTTH theo nguyêntắcchung. Nhưng không phảibấtcứphần thiệthạinào chưađượcbồithường vì lý do khôngđủtàisảncũngđềuđượcxácđịnhlà phầnđượcgiảm. Dođó,khôngthểlấynguyên tắc giảm mức bồi thườngđểlàm căncứgiải quyếtđốivớiphần thiệthạimà CSH chưa bồi thường xong. Tứclà phần thiệthạimà CSH chưa có tàisảnđểbồithườngsẽcoi như phần nghĩavụdân sự chưa thực hiện xong, vàsẽ phảitiếp tục bồi thường khi có tài sản.
* TNBTTH của người được giao chiếm hữu, sử dụng tài sản:
Đâylà trườnghợpCSH thông quamộtgiao dịchhợppháp mà chuyển giao tài sảnchongườikhác chiếm hữu,sửdụng. Trong những trườnghợpnày,bảnthân người nhận chuyển giao quyền chiếm hữu,sửdụng tàisảnthường làngườicóđủnăng lực xáclậpvà thực hiện giao dịch nênbảnthânhọsẽđủkhảnăng chịu TNBT. Tuy nhiên, ngườiđượcgiao chiếm hữu,sửdụng tàisảncó phải chịu TNBTTH do tàisảngây ra hay khôngphụthuộc vào thỏa thuận giữahọvớiCSH tài sản.Nếukhi chuyển giao tài sản, giữa CSH vàngườiđượcchuyển giaođãcó thỏa thuận thì việc xácđịnhchủthểchịu TNBTTH do tàisảngây rasẽcăncứvào thỏa thuậnđó.Nếugiữa CSH vàngườiđượcchuyển giao quyền chiếm hữu,sửdụng tàisảnkhông có thỏa thuậnvềviệc xácđịnhchủthểchịu TNBTTH thì khi tàisảngây thiệt hại,ngườiđượcgiao chiếm hữu, sửdụng tàisảnsẽphải BTTH.Vậytrong trườnghợpngườiđượcgiao chiếm hữu,sửdụng tàisảnkhông cólỗitrong việc quản lý tài sản mà phải BTTH do tài sản gây ra thìcó phùhợpvớilẽcông bằng? Theo quanđiểmcủaNCS,bảnthânngườiđượcgiao chiếm hữu,sửdụng tàisảncó quyềnđưara yêucầuxácđịnhchủthểphảibồithường khi tàisảngây ra thiệt hại. Khi giaokếtgiao dịch chuyển giao,nếuhọkhôngđưara yêucầunày thì coi nhưhọtừchối quyềnđượcđưara yêu cầu, và nếu tài sản gây thiệt hại, chủ thể phải bồi thườngsẽ đượcxác định theo quyđịnhcủa pháp luật.
Như vậy, khi xáclậpgiao dịch dânsự,bảnthânngườiđượcchuyển giao quyền chiếm hữu,sửdụng tàisảnmà cóđủnănglựcthì khi tàisảngây thiệt hại, họ cũng cóđủnănglựcchịu TNBTTH. Theođó,việchọcólỗihay không có lỗi, việc họ có được hưởnglợihay khôngđượchưởnglợitừviệc chiếm hữu,sửdụng tàisảncũng khôngảnhhưởngđếnviệchọphải chịu TNBTTH.Điềuđócho thấy, nănglựcchịu TNBTTH củangườiđượcchuyển giao quyền chiếm hữu,sửdụng tàisảnphụthuộc vào năng lực xác lập giao dịch củahọ vàsự thỏa thuận giữahọ vàCSH.
Thông qua những phân tích trên cho thấy, việc xácđịnhtínhhợpphápcủaviệc chuyển giao quyền chiếm hữu, sử dụng tài sản cũng là yếu tố ảnh hưởng đến việc xác định chủthểchịu TNBTTH và nănglựcchịu TNBTTHcủachủthể. BLDS 2005 và BLDS 2015 không quyđịnhcụthểvềtínhhợpphápcủaviệc chuyển giao. Tuy nhiên, theo
hướngdẫnvềBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra tại phần III NQ 03/2006 có thểthấy rằngnếuviệc chuyển giaohợppháp thìngườiđượcchuyển giao phải BTTH do nguồn nguy hiểm caođộgây ranếukhông có thỏa thuận khác,nếuviệc chuyển giao không hợp pháp thì CSH phải bồi thường nếu không có thỏa thuận.
* TNBTTH của NCH, sử dụng trái pháp luật tài sản:
NCH, NSD trái pháp luật tàisảncủangườikhác là những NCH,sửdụng tài sản mà khôngđượcsựđồngýcủaCSH và cũng không thuộc các trường hợp pháp luật quyđịnhđượcchiếm hữu,sửdụng tài sản. Khi tàisảngây thiệt hại, nhómchủthểnày cóthểvi phạm quyđịnhvềquản lý tàisảnhoặc không có vi phạmvềquản lý tàisảnthìbảnthânhọcũng luônđượcxácđịnhlạicólỗi(bởi hành vi chiếm hữu,sửdụng trái pháp luật tàisảncủangườikhác luônbịcoi là có lỗi). Dođó,kểcảtrong trường hợp thiệthạixảyra hoàn toàn làrủiro mà tàisảnmanglại(không cólỗitrong quản lý tài sảntại thời điểm xảyra thiệt hại) thì NCH,sửdụng trái pháp luật cũng phải bồi thường.Bởivì lúc này, việc chiếm hữu,sửdụng tàisảncủahọđãlàm giánđoạnviệc hưởnglợiích mà tàisảnmanglạicủaCSH (tức làtạithờiđiểmtàisảngây thiệt hại, CSH không chiếmhữuđượctàisảnvà không khai thácđượccáclợiích từ tài sản). Vìvậy, việc xácđịnhchủthểchịu TNBT khôngthểdựatrên nguyêntắc“CSHhưởnglợiíchtừtàisảnphải gánh chịurủiro do tàisảnmanglại”,màvẫnphải xuất phát từ sự vi phạmcủaNCH,sửdụng trái pháp luật. Tuy nhiên, trong trườnghợpnày, chúng ta vẫn phải căncứvào nănglựchành vi dânsựcủaNCH, NSD trái pháp luật,tứclà việc xácđịnhnănglựcchịu TNBTTHdựatheo nguyêntắcchungtạiĐiều606 BLDS 2005 cũng nhưĐiều586 BLDS 2015. Theo đó, TNBTTH cóthểthuộc về bản thân NCH, sửdụng trái pháp luật hoặc thuộcvềcha,mẹ,ngườigiámhộhoặc cácchủthểkhác cótrách nhiệm quản lý họ.
* TNBTTH của người thứ ba làm cho tài sản gây thiệt hại cho người khác:
Trong BLDS 2005 và BLDS 2015, trách nhiệm của người thứ ba có lỗichỉ đượcđềcậptrong trườnghợpsúcvậtgây thiệt hại. Theo đó, khoản 2 Điều 603 BLDS 2015 kếthừa khoản 2Điều625 BLDS 2005 có quyđịnh:“Trườnghợpngườithứba hoàn toàn cólỗilàm cho súcvậtgây thiệthạichongườikhác thìngườithứ ba phải BTTH”. Theo quanđiểmcủaNCS, đây là trường hợp BTTH do hành vi trái pháp luật gây ra. Bởi vì theo quyđịnhnày,cụmtừ“làmcho súcvậtgây thiệthại”đượchiểu làsựtácđộng củangườithứba là nguyên nhân dẫn đến tài sản gây thiệt hại, tài sản chỉ là phương tiện, làvậttrung gianđểngườithứba thực hiện hành vi tácđộnggây ra thiệt hại. Do đó, nănglựcchịu TNBTTHcủangườithứbađượcnhắcđếntrong quyđịnhnàyđượcáp dụng hoàn toàn theo quy định tại Điều 606 BLDS 2005 cũng như Điều 586 BLDS 2015. Theođó,TNBTTH cóthểthuộcvềngườithứba hoặc chamẹ,ngườigiámhộ,chủthểkhác chịu trách nhiệm quản lý họ.
* TNBTTH của NCH có căn cứ pháp luật khác:
BLDS 2005chỉđềcậptớiTNBTTHcủaCSH, của ngườiđượcCSH giao chiếm hữu,sửdụng tài sản,củaNCH,sửdụng trái pháp luật vàcủangườithứba cólỗimàkhông có quyđịnhnàođềcậptớiTNBTTHcủanhữngngườichiếm tàisảncó căncứpháp luật khác mà không phải là CSH hayngườiđượcchuyển giao (Vídụ:ngườiquản lý tàisảnkhông xácđịnhđượcai là CSH, tàisảnbịđánh rơi,bịbỏquên, gia súc, gia
cầm,vậtnuôidướinướcbịthất lạc, …). ĐâylàhạnchếcủaBLDS 2005 vàđãđược khắc phụcbởicác quyđịnhtrong BLDS 2015. Trên thựctế,tàisảndo nhữngchủthểnày quản lý cũng cóthểgây ra thiệt hại, nên cũngcầnđặtra vấn đề xác định TNBTTH củahọ.Theo quanđiểmcủaNCS, việc xác TNBTTHcủaNCH có căncứpháp luật khác sẽ đặt ra trong hai trường hợp như sau:
Thứnhất,nếuNCH có căn cứ pháp luật có lỗi trong việc quản lý tài sản thì phải chịu TNBTTH do tài sảnmà mình quản lý gây ra (trách nhiệm xuất pháttừsựvi phạm). Tuy nhiên,nếuNCH có căncứpháp luật làngườichưađủ18 tuổi,ngườibịmấtnănglựchành vi dânsự(khôngđủnănglựcchịu TNBTTH), thì TNBTTH thuộc vềai? Theo quanđiểmcủaNCS, TNBTTH trong trườnghợpnàysẽthuộcvềcha me, ngườigiámhộ,hoặcngườicó trách nhiệm quản lýhọ.Bởivì, trong trường hợp này đãxuất hiệnsựvi phạm trong việc quản lý tài sản,đươngnhiênbảnthân NCH có căncứpháp luật khôngbịcoi là có lỗi.Ngườibịxácđịnhlà cólỗiở đâylà chamẹ,người giámhộhoặcchủthểcó trách nhiệm quản lýhọ. Lỗi ở đây đượcsuy đoán là do họ đãkhông kiểm soát chặt chẽ hành vi củangườithuộc nghĩavụquản lý của mình.
Thứ hai, nếu NCH có căn cứ pháp luật không có lỗi trong việc quản lý tài sản thìviệc xácđịnhTNBTTHdựatrên nguyêntắchưởngquyền phải gánh chịurủiro dotừsảnmang lại. Theođó,CSH phải BTTH do tàisảngây ra,bởivì lúc này CSHvẫnlàngườicó quyềnđượchưởnglợiíchtừtài sản. Hơnnữabảnthân NCHhợppháp trong những trườnghợpnàyđãvà đang thực hiệnmộthành viđểmanglạilợiích cho CSH (bảo quản,giữgìn tàisảnhộCSH). Tuy nhiên,nếutàisảnlà gia súc và giacầmtrước khi gây thiệt hại mà sinh ra hoa lợi, và CSH đã hưởng một nửa số gia súc con hoặc toàn bộsốtrứng thì có phải chịumộtphần thiệthạido tài sản gây ra hay không? Theo quanđiểmcủaNCS,ngườiquản lý gia súc, gia cầm bị thất lạc được hưởng gia súc con hoặc trứng cũng coi nhưhọđượchưởngmộtkhoản tiền công trônggiữgia súc, gia cầm hộCSH mà không phảihọđươngnhiên cóđượckhoảnlợiđó.Do vậy,ngườiquản lý gia súc, gia cầm bị thất lạc sẽ không chịu TNBT.
Thựctếcóthểtồntạiluồngýkiến cho rằng,bảnthân NCHhợppháp tài sản cũng phảibồithường khi tàisảngây thiệthạingaycảkhihọkhông cólỗitrong việc quản lý tài sản.Bởivìbảnthânhọcó quyền quản lý và chi phối hoạtđộngcủa tài sản. Hơn nữa, khi phát hiện ra các loại tàisảnnày,họhoàn toàn cóthểtừchối việc chiếm hữutàisảnđó,nhưnghọkhôngtừchối thì phải chấp nhận nhữngrủiroxảyra khiđãthực hiện quyền chiếm hữu tài sản.
Như vậy,nếudựatheo các quyđịnhtrong BLDS 2005, cóthểtồntạinhững luồngýkiến khác nhauvề việc xác địnhnănglực chịu TNBTTH vàchủthểchịu TNBTTH.Đâycóthểcoi làbấtcậpcủaBLDS 2005. Tuy nhiên, BLDS 2015lạicónhững quyđịnhkhắc phục nhữnghạnchếnày. Theođó,trong BLDS 2015,chủthểchịu TNBTTHđượcquyđịnhchungtạikhoản 3Điều584 baogồmCSH, NCH,sửdụng tài sản, trongđósẽbaogồmcả NCH có căn cứ pháp luật khác. Do đó, khi BLDS 2015 có hiệu lực, việc xác định nănglực chịu TNBTTH cũng như chủthể chịu TNBTTH là NCH,sửdụnghợpphápsẽcó cơ sở pháp lý rõ ràng,bảođảmviệc áp dụng thống nhất trên thực tế.
* TNBTTH trong trường hợp tài sản vô chủ gây thiệt hại:
Việc CSHtừbỏquyềnsở hữutàisảnchính là quyềncủahọtrong việcđịnhđoạttài sản.Hậuquảcủaviệc thực hiện quyềntừbỏquyềnsở hữutàisảnsẽdẫnđến tàisảnđótrở thành tàisảnvô chủ, tức là tài sản không thuộc sở hữu của ai. Do đó, khi tàisảnvôchủgây thiệt hại, việc xácđịnhchủthểchịu TNBTTH cũng làmộtvấnđềpháp lý quan trọngcầnđặtra. Tuy nhiên, trong BLDS 2005 và các vănbảnhướngdẫn thi hành cũng như BLDS 2015 không quyđịnhvềtrườnghợpnày. Thông qua việc nghiêncứucác quyđịnhpháp luật có liên quan, NCS cho rằng, trong trườnghợptài sảnvôchủmà gây thiệthạithì việc xácđịnhchủthểchịu TNBTđượcđặt ra trong hai trườnghợpsau đây:
Trường hợp thứ nhất, nếu xác định đượcngườitừ bỏ quyền sở hữu thì ngườiđóphải chịu TNBTTHnếuviệctừbỏquyềnsở hữuvi phạm quyđịnhpháp luật có liên quan.Điềunày xuất pháttừnguyêntắcthực hiện quyềnsở hữutạiĐiều165 BLDS 2005 và khoản 2Điều160 BLDS 2015: “CSHđượcthực hiệnmọihành vi theoýchícủamìnhđốivớitài sản (kểcảquyền từ bỏ quyền sở hữu) nhưng không được gây thiệt hạihoặc làmảnhhưởngđếnlợiíchcủaNhànước,lợiích công cộng, quyền,lợiích hợpphápcủangườikhác”. Tuy nhiên,nếuCSHđãbiết việctừbỏ quyền sở hữu có thểgây thiệt hai chochủthểkhác màvẫnthực hiện hành vitừbỏđó(Vídụ:Ađổthuốc trừsâu còn thừa trong bình xuống ao cá nhà B) thì TNBTTH trong trườnghợpnày làdo hành vi trái pháp luật gây ra. Nếu CSH
Trườnghợpthứhai,nếukhông xácđịnhđượcai làngườiđãtừbỏquyềnsở hữuhoặc phát hiệnđượcngườiđãtừbỏquyềnsở hữunhưng việctừbỏkhông vi phạm nguyêntắcchungvềthực hiện quyềnsở hữuthìngườiđãtừbỏ quyền sở hữu tài sản(Vídụ:Sau khisửdụng thuốc diệt chuột, Ađãvứttoànbộcácvỏhộpvào thùng rác công cộng theo quyđịnh,sauđócon mèo nhà B đi kiếm ănđãăn phảisốnguyên liệu dính thuốc chuột còn thừa nênđãbịchết) thì không phải chịu TNBTTH.Bởivì, bảnthânngườitừbỏquyềnsở hữukhông còn là CSHcủatài sản, nênhọkhông phải chịu trách nhiệm liên quanđếntài sản. Khiđó,ngườibịthiệthạiphải chịurủirođối vớithiệt hạixảyra.
1.5. Phân loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
1.5.1. Căncứloại tàisảngây thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra bao gồm:
* Thứ nhất, TNBTTH do động vật gây ra
Hiện nay, khiđộngvậtgây thiệt hại, tùy từng trườnghợpmà việc giải quyết vấnđề BTTHsẽđượcáp dụng theo các quyđịnhkhác nhau. Theođó,nếuđộngvật gây thiệthạiđượcxácđịnhlà thúdữ,thì việc BTTHđượcgiải quyết theo quy định vềBTTH do nguồn nguy hiểm caođộgây ra.Nếuđộngvậtgây thiệthạilà súcvậtthì áp dụng quyđịnhvềBTTH do súcvậtgây ra.Nếuđộngvậtgây thiệthạilà các loại khác
như bò sát, côn trùng, gia cầm,… thì việc giải quyếtvấnđề BTTHsẽtheomộttrong hai hướng: (i) áp dụng tươngtựpháp luật; (ii) áp dụng các nguyêntắcchungvềthực hiện quyềnsở hữu. Tuy nhiên, khi BLDS 2015 có hiệulựcpháp luật,vấnđềBTTH dođộngvậtkhác gây rasẽđượcgiải quyết trên cơ sở chung thống nhấttạikhoản 3Điều 584. Chương 2củaluận ánsẽđi vào phân tíchcụthểcác quyđịnhcó liên quanđếnđộng vậtgây thiệt hại.
* Thứ hai,TNBTTH do cây cối gây ra
Câycốithông thường là những tàisảngắnliềnvớiđấtvà là những loại tài sản bấtđộng,tứclà khôngthểtựdi chuyểnvềmặtcơ họcnếukhông cósựtácđộngcủa con người.Điềuđócho thấy, câycốigây thiệthạikhi đangở trạng tháiđứngyên nên phạm vi tácđộngvềmặtkhông giancủacâycốihẹphơn sovớicác loại tàisảnkhác. Việc quan lý câycốikhông có nhiều tácđộngđếnhoạtđộnggây thiệthạicủachúng. Bởivì, hoạtđộngquản lý câycốichỉlà trông coi, trông giữ, kiểm tra tình trạngcủa
câycối… (chủyếulà quan sát) mà không phải lànắmgiữ,cấtgiữ, dịch chuyểnvịtrínàyđếnvịtrí khác (tức là không tác động vào cây cối). Nếu chủ thể có lỗi không quản lýtốtcây cối,dẫnđếntình trạng câycốigây thiệthạithì hành vi quản lýbịcoi là cólỗiở đâychỉtồntạidướidạng “không thựchiện”(không khôngcắtrễ, tỉa cành, không
chặthạcây nguyhiểm…).Nếuviệc quản lý câycốitồntạidướidạngmộthànhđộng
(phátrễ,tỉacành, chặthạcây nguyhiểm…)mà gây thiệt hại thì đó là hành vi gây thiệt hạimà không phải là tài sản gây thiệt hại.
* Thứ ba, TNBTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
Nhà cửa, công trình xây dựng là những loạibấtđộngsảntheo quyđịnhtrong Bộluật dânsự.Đólà loại“tàisảnở mộtchỗ, khôngdờiđược” [96; tr.66]. Do đó, nhàcửa, công trình xây dựng cũngchỉgây thiệthạitạivịtrí mà nóđượctạora,tứclàphạm vi gây thiệthạivềmặtkhông gian cũnghẹphơn các loại tàisảnkhác. Việc quản lý nhà cửa, công trình xây dựng khác cũngchỉtồntạidướidạng hành vi quan sát, theo dõi làchủyếuvà cũng không tácđộngtớihoạtđộnggây thiệthạicủanhà cửa, công trình xây dựng.Nếuchủthểbịcoi là vi phạm nghĩavụquản lý nhà cửa, công trình xây dựng khi thiệthạixảyra thìsựviphạm đó chỉ tồn tại dướidạng không theo dõi, không
phábỏ,không tháodỡ,… Khi hoạtđộngphá hủy, tháodỡ nhà cửa, công trình xây
dựng mà gây thiệthạithìđólà thiệthạido hành vi gây ra mà không phải do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra.Mộtvấnđềkhác liên quan cũngcầnphảiđềcậpđólàtrườnghợpcông trình xây dựngđượccoi là nguồn nguy hiểm caođộ(nhà máy công nghiệp đang hoạtđộng)gây thiệthạithì cơ chếgiải quyếtvấnđềBTTHsẽáp dụng theo quyđịnhvề TNBTTH do nguồn nguy hiểm caođộgây ra,chứkhông áp dụng quyđịnhvề BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra.
* Thứ tư, TNBTTH do các tài sản khác gây ra
BLDS 2005chỉquyđịnhbốntrườnghợpcụthểvềBTTH do tàisảngây ra bao gồm: BTTH do nguồn nguy hiểm caođộgây ra; do súc vật gây ra; do cây cối gây ra vàdo nhà cửa; công trình xây dựng khác gây ra.Điềunàydẫnđếnnhữngbấtcậptrong việc áp dụng pháp luậtđểgiải quyết tranh chấpvềBTTH do những loại tàisảnkhác (không thuộcbốntrườnghợpcụthể) gây ra, gâyảnhhưởngđếnquyền vàlợiích hợp phápcủacácchủthể.Điềunàyđượckhắc phục khi BLDS 2015đượcban hành. Trong BLDS 2015, ngoài quyđịnhbốntrườnghợpcụthểvềBTTH do tài sản gây ra, Bộ luật này cònđưara quyđịnhchungvềviệc xácđịnhTNBTTH do tài sản gây ra tại khoản 3
Điều584.Mặcdù cóthểkhắc phụcđượcphần nào nhữnghạnchếcủaBLDS 2005, song những quyđịnhnàyvẫncòntồntạinhữngvấnđềcầnphảiđượctiếptụchoàn thiện. Những phân tíchcụthểvà quanđiểmhoàn thiệnsẽđượcNCS trình bàycụthểtrong các chương sau của luận án.
Thông qua cách phân loại này, NCS muốnchỉrasựkhác biệt liên quan đến đặcđiểmpháp lý, cơ chếhoạtđộnggây thiệt hại, những trườnghợploạitrừtrách nhiệm,
… khi các loại tàisảnkhác nhau gây thiệt hại. Tuy nhiên, trong phần phân loại, NCS chỉđiểmquanmộtvài nét cơ bảnliên quanđếnhoạtđộnggây thiệthạicũng nhưvấnđềbồithường. Nhữngnộidung nàysẽ đượcphân tích, đánh giá một cách chỉ tiết trong nội dung chương 2 luận án.
1.5.2. Căn cứ mức độ nguy hiểm của tài sản, TNBTTH do tài sản gây ra bao gồm:
TNBTTH do nguồn nguy hiểm caođộgây ra và TNBTTH do các nguồn nguy hiểm khác gây ra.
Thựctế,mỗiloại tàisảnđềutiềmẩnnguy cơ gây thiệthạicho con người cũng như môi trường xung quanh. Tuy nhiên, có những loại tàisảntiềmẩnnguy cơ ở mứcđộcao, nhưng cũng có những loại tàisảntiềmẩnnguy cơ ở mứcđộthấp hơn. Việc phân loạimứcđộnguy hiểm cao hay thấpcủamộtloại tàisảndựavàođặctính của từng loại tàisảnđó.Theođó,“nguồnnguy hiểm caođộlà nhữngvậtmà dođặctính củanó nên trong quá trình chiếm hữu, khai thác, quản lý,vậnchuyển chúng luôn chứađựng tiềmẩnnhững nguy hiểm khách quan,dễxảyra những thiệthạiở mứcđộlớn cho nhữngngườixung quanh” [42; tr.419].
Khoản 1Điều623 BLDS 2005 cũng như khoản 1 Điều 601 BLDS 2015 chỉ liệt kê những loại tàisảnlà nguồn nguy hiểm caođộ,mà không đưa ra khái mang tính khái quátvềnguồn nguy hiểm cao độ. Dựa vào những liệt kê này có thể thấy tài sản là nguồn
nguy hiểm caođộcóthểlàđộngvật(thú dữ), cóthểlà công trình xây dựng (nhà máy công nghiệp đang hoạt động), hoặc các loại tàisảnkhác (phương tiện cơ giớivậntải,
…).Dođó,khiđộngvật, công trình xây dựng hoặc các loại tài sản khác thỏa mãn điều kiệncủanguồn nguy hiểm caođộ,thìsẽáp dụng quyđịnhvềBTTH do nguồn nguy hiểm caođộgây rađểgiải quyết khi các loại tàisảnđógây thiệt hại. Các loại tài sản khác cũng tiềmẩnnguy cơ gây ra thiệthạinhưng khôngở mứcđộcao thìsẽkhông xếpvào nguồn nguy hiểm caođộ,và khi các loại tàisảnnày gây thiệthạisẽáp dụng các quyđịnhcụthểvềBTTH do tàisảngây ra (dođộngvậtgây ra, do câycốigây ra,
…) chứ không áp dụng quyđịnh vềBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
1.5.3. Căncứnguồngốcphát sinh, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra bao gồm: (i) trách nhiệm bồi thường thiệt hại xuất phát từ sự vi phạm quy định về quản lý tài sản; (ii) trách nhiệm bồi thường thiệt hại xuất phát từ nguyên tắc chịu rủi ro do tài sản mang lại.
Về cơ bản, TNBTTH do tàisảngây ra xuất pháttừsựvi phạm quyđịnhvềquản lý tàisảnhaytừnguyêntắcchịurủiro do tàisảnmanglạiđãđượcNCS phân tích trong nội dung mục 1.2 ở trên.
Việc phân biệt này giúp chúng ta cóthểxâydựng đượcnguyên tắc xác định chủthểphải chịu TNBTTH do tàisảngây ra. Theođó,nếucơ sở củaTNBTTH do tài sản gây ra là sự vi phạm quy định về quản lý tài sản, thì việc xác địnhngười chịu TNBTTH căncứvào việc ai làngườichịu trách nhiệm quản lý tàisảntại thời điểm tài sảngây thiệt hại.Nếucơ sở củaTNBTTH do tàisảngây ra xuất pháttừnguyên tắc chịurủiro do tàisảnmang lại, thì việc xácđịnhchủthểchịu TNBTTHđượccăncứvào việc xácđịnhai làngườiđượchưởngcáclợiích trực tiếptừtài sản. Tuy nhiên, việc xácđịnhchủthểchịu TNBT này cũngchỉđượcáp dụngnếukhông có thoả thuận giữa CSH tài sản với các chủ thể khác.
T LUẬN CHƯƠNG 1
Nội dung chương 1tậptrung nghiêncứucácvấnđềlý luận cơ bảnnhất vềTNBTTH do tàisảngây ra. Nội dung đầu tiên được triển khai trong chương 1 là một sốvấnđềlý luận cơ bảnnhấtvềTNBTTH ngoàihợpđồngnói chung. Trongđó,NCSchỉra cơ sở hình thànhchếđịnhTNBTTH ngoàihợpđồngvà cáchọcthuyếtvềTNBTTH ngoàihợpđồng.Quađó,NCS phân tích cơ sở củaTNBTTH do tàisảngây ra, tạo tiềnđềxây dựng khái niệm TNBTTH do tàisảngây ra. Trên cơ sở nhữngvấnđềlý luận vàcáchọcthuyếtvềTNBTTH ngoàihợpđồng,NCS đi vào phân tíchđểchỉrabảnchất củaTNBTTH do tàisảngây ra. Thông quan những phân tíchvềcơ sở hình thành, các họcthuyếtvềTNBTTH do tàisảngây ra cũng như khái niệm,bảnchấtcủaTNBTTH do tài sản gây ra, NCS phân tích những đặc điểm của TNBTTH do tài sản gây ra.
Trongnộidung chương 1, NCS cũngđưara những quanđiểmbình luậnvềcácđiềukiện phát sinh TNBTTH do tàisảngây ra.Đồngthời, trên cơ sở quy định về năng lựcchịu TNBTTHcủacá nhân cũng như các quyđịnhkhác có liên quan, cùng với những phân tíchvềbảnchấtcủaTNBTTH do tàisảngây ra, NCSđãphân tích và đưa ra cơ sở pháp lýđểxácđịnhchủthểchịu TNBTTH do tài sản gây ra. Một trong những nộidung quan trọng cũngđượctriển khai trong chương 1đólà NCS đã đưa ra một sốcách phân loại TNBTTH do tài sản gây ra.
Trên cơ sở nhữngvấnđềlý luận cơ bảnvềTNBTTH do tàisảngây ra, cóthểrút ra nhữngđiểmkhác biệt cơ bảngiữa TNBTTH do hành vi gây ravớiTNBTTH do tài sản gây ra như sau:
Thứnhất,vềbảnchất: TNBTTH do hành vi gây ra là trách nhiệmcủachủthểđốivớihành vi gây thiệthạicủamình hoặccủangườikhác mà mình chịu trách nhiệm quản lý, giám sát. TNBTTH do tàisảngây ra là trách nhiệmcủaCSH hoặcchủthểkhác do cólỗitrong quản lý tàisảnhoặc dođượchưởngcáclợiích và các quyền đối vớitài sản.
Thứ hai, về điềukiện phát sinh TNBTTH: TNBTTH do hành vi gây ra phát sinh khi có 4điềukiện (có thiệt hại, hành vi gây thiệthạitrái pháp luật, cómốiquan hệnhânquảgiữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại, cólỗicủangườigây thiệt hại). TNBTTH do tàisảngây ra phát sinh khi có 3điềukiện (có thiệthạixảyra, có hoạtđộnggây thiệthạicủatài sản, cómốiquanhệnhânquảgiữa hoạtđộngcủatàisảnvàthiệt hạixảyra).
Thứba,vềnhận thứccủachủthểđốivớithiệt hại: Trong TNBTTH do hành vi gây ra, người gây thiệt hại nếu bị coi là có lỗi thì thường nhận thức được thiệt hại xảy ra, thậm chí trong nhiều trường hợp, thiệthạilàmụcđích thực hiện hành vi gây thiệthại
củahọ(Vídụcốýgiết người,cố ý đốt nhà ngườikhác, …). Trong TNBTTH do tài sản
gây ra, CSH và cácchủthểkhác thường không nhận thứcđượcthiệthạixảyra,bởivìthiệt hại xảy ra là hậuquảcủa hoạt động gây thiệt hại của tài sản.
Thứtư,vềchủthểchịu TNBT: Trong TNBTTH do hành vi gây ra,chủthểchịu TNBTTH là do pháp luật quyđịnh(cóthểlàngườigây thiệthạihoặcchủthểkhác). Trong TNBTTH do tàisảngây ra,chủthểchịu TNBTTH cóthểdo pháp luật quyđịnh hoặc cóthểdo các bên thỏa thuận (vídụthỏa thuận giữa CSHvớingườiđượcgiao chiếm hữu,sử dụngnguồn nguy hiểm cao độ).
Thứnăm,vềcăncứloạitrừTNBT: TNBTTH do hành vi gây ra có thể được loại trừ một cách tuyệt đối khi người bị thiệt hại hại hoàn toàn có lỗi, bất kể là lỗi cố ý hoặc vôý. Đối vớiTNBTTH do tài sản gây ra, “người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi” không phải làcăn cứ loại trừ trách nhiệm một cách tuyệt đối. Bởi vì, trong một số trường hợp, TNBTTH chỉđượcloạitrừkhingườibịthiệt hại hoàn toàn có lỗi cố ý (ví dụ TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra).
Chương 2
CÁC TRƯỜNG HỢP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠIDO TÀISẢNGÂY RA
2.1. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
2.1.1. Khái niệm và những đặc trưng của nguồn nguy hiểm cao độ
Khoản 1 Điều 623 BLDS 2005 cũng như khoản 1 Điều 601 BLDS 2015 chỉ liệt kênhững loại tài sản là nguồn nguy hiểm cao độ, mà không đưa ra khái niệm mang tính khái quátvềnguồn nguy hiểm caođộ.Trongmộtsốcông trình khoahọccó liên quanđến TNBTTH do nguồn nguy hiểm caođộgây ra,mộtsốtácgiảcũngđưara kháiniệm vềnguồn nguy hiểm cao độ, có thể trích dẫn một số khái niệm như sau:
Theo tácgiảLê Mai Anh,“Nguồn nguy hiểm cao độ là vật chất trong thế giới
tựnhiên hay hoạtđộngmáy móc, các phương tiện khoahọckỹthuật…trong quátrình hoạt động của chúng dễ gây thiệt hại về tài sản, tính mạng, sức khoẻ cho người khác mà con người không thể kiểm soát được một cách tuyệt đối ” [16; tr.90]
Trong khái niệm này, NCS nhận thấyvấnđềcầnnghiêncứuthêmđólà tácgiảxây dựng khái niệmvẫntheohướngliệt kêmộtsốnguồn nguy hiểm caođộ,nhưng sựliệt kêlạikhông thống nhấtvềnộihàmcủacác thuật ngữ. Tácgiảsửdụng các cụm từ
như:“hoạtđộngmáy móc”, “các phương tiện khoa học kỹ thuật”, … mà các cụm từ này lại có các ý nghĩa khác nhau. Trong đó, cụm từ “hoạt động máy móc” nói đến hoạt động củamột loại tài sản, “các phương tiện khoa học kỹ thuật” nói đến một loại tài sản. Theo quanđiểmcủaNCS, nóiđếnnguồn nguy hiểm caođộlà nóiđếnmộtloại tàisảnmàkhông phải nói đến hoạt động của một loại tài sản, mặc dù tại thời điểm gây thiệt hại, tài sản đó phải đang hoạt động (trạng thái của tài sản).
Còn theo tácgiảNguyễn Thanh Hồng,“Nguồn nguy hiểm caođộbao gồm những động vật hoặc bất động vật mà khi trông giữ, vận hành chúng hoặc cho chúng hoạt động thì có thể gây nguy hiểm cao độ đối với tính mạng, sức khoẻ của con người,
cũng như cóthểgây thiệthạilớnđến tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân …” [43; tr.29].
Trong khái niệm này, tácgiảvẫnđi theohướngliệt kê bằng cáccụmtừkhác nhau(độngvật,bấtđộngvật). Tuy nhiên, việcsửdụngmộtsốcụmtừnhư“vậnhành chúng”, “cho chúng hoạtđộng”đểnóiđếnhoạtđộngcủanguồn nguy hiểm caođộlàchưađầyđủ.Việcsửdụng cáccụmtừnày cho thấy rằng, theo quanđiểmcủatác giả, hoạtđộngcủacác loại nguồn nguy hiểm caođộphụ thuộc vào ý chí của con người màkhông baogồm“hoạtđộngtựthân”. Theo phân tíchcủaNCS trong tiểumụcd mục 1.4 trong chương 1, hoạtđộngcủatàisảnnói chung, hoạtđộngcủanguồn nguy hiểm caođộnói riêng cóthểchịusựtácđộnghoặc không chịusựtácđộngcủa con người. Tứclà ngaycảkhi conngười“khôngvậnhành”hoặc “không cho chúng hoạtđộng” thìbảnthân nguồn nguy hiểm caođộvẫncó những hoạtđộng“tựthân”ở bên trong, cùngvớitácđộngcủamôi trườngtựnhiênvẫncóthểgây ra thiệt hại. Vídụ,các chất
cháy, chấtnổgặpđiềukiệntựnhiên thuậnlợicóthểtựbốccháy, phátnổmà không cần con NSD bất cứ loại chất xúc tác nào tác động vào chúng.
Ngoài ra,mộtsốtácgiảcũng xây dựng khái niệm nguồn nguy hiểm caođộdướicác góc nhìn khác nhau, nhưngchủyếuvẫnđi theohướngliệt kê các loại nguồn nguy hiểm caođộ.Nếuxây dựng khái niệm theohướngliệt kê nhưvậythì hoặcsẽkhôngthểliệt kêđầyđủvềcác loại nguồn nguy hiểm caođộ,hoặc làsẽthểhiệnsựcứng nhắc trong cách xây dựng khái niệm.Vềnguồn nguy hiểm caođộ,cóthểthấy rằng dù nguồn nguy hiểm caođộđógắnvớisựhoạtđộngcủabấtcứloại tàisảnnào thì cũng đều có những đặc điểm chung đó là:
Thứnhất, nguồn nguy hiểm caođộluôn“tiềmẩnnguy cơ gây ra thiệthạibất ngờ cho conngườihoặc gây thiệthạivềtài sản mà không phải bao giờ con người cũng cóthểlườngđượctrướcvà có thể ngăn chặn” [76; tr.254]. Đặc điểm này cho thấy, con người“khôngthểkiểm soátđượcmộtcách tuyệt đối nguy cơ gây thiệt hại” [54; tr.76]. Hoạtđộngcủanguồn nguy hiểm caođộthường gây ra thiệthạimộtcáchbấtngờ, nhanh chóng.Mặcdù conngườicóthểnắmbắtđượcquy trình hoạtđộngcủanguồn nguy hiểm caođộ(vídụsựvậnhànhcủaphương tiện giao thông cơ giới), nhưng hoạtđộngđókhi nào gây ra thiệthạithìdườngnhư conngườikhó cóthểnhận biết,tứclà
việc gây thiệthạithườngxảyramộtcáchđộtngột,bấtngờ (ví dụ thuốc súng, bom, … phátnổsẽgây thiệthạingaychứkhông kéo dàimộtquá trình). Trong khiđó,hoạtđộngcủacác loại tàisảnkhác thường có quá trình gây thiệt hại kéo dài chứ không đột ngột như nguồn nguy hiểm caođộ(vídụ,con trâu phá lúa phải trongmộtkhoảng thời gian dài chứ khôngthể bướcxuống ruộng là cả ruộng lúasẽ bị hưhại)
Thứhai,tầnsuất gây thiệthạicủanguồn nguy hiểm cao độ cao hơn các loại tài sảnkhác. Các loại tàisảnkhác thườngchỉgây thiệthạivớitầnsuất thấp (nhà sập xong là chấmdứthoạtđộnggây thiệt hại, nhà bên cạnh thường khó cóthểsậptheo). Tuy nhiên, hoạt động của nguồn nguy hiểm cao độ thường xảy ra liên tục (ví dụ các vụ cháy,
nổxăng dầu, ga, thuốc súng,… thường kéo dài liêntụcchođếnkhi các loại chất nàyđượcđặt cạnh nhau cháy hoặc nổ hết).
Thứ ba, Hoạt độngcủanguồn nguy hiểm caođộthường khóhạnchế, khắc phục. Thường thì các loại tàisảnkhác gây thiệthạixong thìdẫnđếnhậuquảngay nên cóthểdễdàng khắc phụchậuquả, và thường thì việc gây thiệthạisẽkhông tiếp tục (vídụ,nhàđổgây thiệthạixong thì không còn gây thiệthạinữa). Song, nguồn nguy hiểm caođộgây thiệthạithì không nhữngchỉxảyra nhữnghậuquảtrướcmắt(hậu quảngay), mà còn cóthểgây ra nhữnghậuquảtiếp theo mà conngườikhó cóthểngăn chặn (chất phóngxạđãnhiễm khókhửsạch, thuốcnổđãnổmộtphần thì khó có
thể hạnchế phần còn lại khôngnổ, …)
Thứtư, Cóthểgây thiệthạingaycảkhi đang cósửquản lý chặtchẽcủacon người. Dođó,đòihỏiCSH, NCH,sửdụng không những phải quản lý chặt chẽ mà còn phải ngăncảnnhữngngườikhác tiếp xúcvớinguồn nguy hiểm caođộ.TrongBộluật
dânsựquyđịnhTNBTcủaCSH,ngườiđượcgiao chiếm hữu,sửdụng nguồn nguy hiểm caođộtrong trườnghợpđểnguồn nguy hiểm caođộbịchiếm hữu,sửdụng trái pháp luật.Tứclà việc quản lý khôngcẩnthận màngườikhác cóthểchiếm hữu,sửdụng trái pháp luật thì CSH,ngườiquản lý,sửdụng cũng phải chịu TNBT. Ngoài ra, TNBTTH còn phát sinh ngay cả khi hoàn toàn do lỗi vô ý của người bị thiệt hại.
Hoạtđộngcủanguồn nguy hiểm cao độ thường khó kiểm soát, có thể vượt khỏi sựquản lýcủacon người, nên pháp luật quyđịnhtrách nhiệmcủaCSH,củaNCH,sửdụng tài sảnrất nghiêm ngặt. Theođó,cácchủthểcó trách nhiệm quản lý không những phải quản lý chặtchẽnguồn nguy hiểm caođộ,mà còn phải ngăncảnnhững ngườixung quanh tiếp xúcvớinguồn nguy hiểm caođộ.Điềunàythểhiệnở quyđịnh loạitrừTNBTTH.Tạikhoản 3Điều601 BLDS 2015,nếuthiệthạixảyra hoàn toàn dolỗicốýcủangườibịthiệthạithì CSH, NCH,sửdụng nguồn nguy hiểm caođộđược loại trừ TNBT. Như vậy, nếungười bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi vô ýthìTNBTTH khôngđượcloại trừ.Dựatrên những phân tích trên thấy rằng, CSH, NCH, sửdụng nguồn nguy hiểm caođộcao phải chịu trách nhiệm quản lý ở mức độ cao hơn sovớitrách nhiệmcủaCSH, NCH,sửdụng các loại tàisảnkhác. Điều này không phải vì nguồn nguy hiểm caođộmanglạinhiềulợiích hơn, mà dokhảnăng gây thiệt hại của nó cao hơn các loại tài sản khác.
Từnhững phân tích trên, NCS đưa ra khái niệm nguồn nguy hiểm cao độ như sau:
Nguồn nguy hiểm cao độ là những loại tài sản mà hoạt động của nó luôn tiềmẩn nguy cơ gây thiệt hại lớn cho con người và môi trường xung quanh với mức độ cao hơn bình thường, mà CSH, NCH, NSD và những người xung quanh khó có thể phòng tránh và phản ứng kịp thời.
2.1.2. Thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra 2.1.2.1. Về cơ sở pháp lý
BLDS 2005 và BLDS 2015đềuquyđịnhcácđiềuluật riêng biệt để điều chỉnh vấnđềBTTH do tàisảngây ra trong từng trườnghợpcụthể. Trongđó,cơ sở pháp lýcủaTNBTTH do nguồn nguy hiểm caođộgây rađượcquyđịnhtạiĐiều623 BLDS 2005 và phần III Nghị quyếtcủaHộiđồngthẩm phán Tòa án nhân dântốicaosố03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 7 năm 2006hướngdẫnáp dụngmộtsốquyđịnh củaBLDS 2005vềBTTH ngoàihợpđồng(sauđâygọilà NQ 03/2006). Trong BLDS 2015, BTTH do nguồn nguy hiểm caođộgây rađượcquy định tại Điều 601. Như vậy,ở thờiđiểmhiện nay, khi BLDS 2015 chưa có hiệu lực, việc giải quyết tranh chấp liên quanđếnBTTH do nguồn nguy hiểm caođộgây ra không chỉ căn cứ vào Điều 623 Bộluật dânsự,mà còn căncứvàohướngdẫntrong NQ 03/2006. Song, nhữnghướngdẫn trong Nghị quyết này còn nhiềuvấnđềcầnphải bàn luậnđểhoàn thiện hơn, vàsẽđượctrình bày trong các phần sau.
TrongBộluật dânsựPháp,vấnđềBTTHđượcquyđịnhrấtkhái quát.Hầuhết các quyđịnhchỉmang tính nguyêntắcchungvềBTTH. Trongđó,TNBTTH do nguồn
nguy hiểm caođộgây ra hoàn toàn không được đề cập. Nhưng điều đó không có nghĩa rằng khi nguồn nguy hiểm caođộgây thiệt hại thì TNBTTH không phát sinh, hoặc pháp luật Pháp khôngđiềuchỉnh vấn đề BTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Tất cả các trườnghợptàisảngây thiệthại(baogồmcảnhững loại nguồn nguy hiểm caođộnhưliệt kêtạikhoản 1Điều601 BLDS 2015củaViệt Nam),vấnđềBTTHsẽđượcđiều chỉnhbởicác quyđịnhchungtừĐiều1384đếnĐiều1386, trong đó cơ sở pháp lý áp dụngđốivớitrườnghợpnguồn nguy hiểm caođộgây thiệthạilà Điều 1384. Theo đó“Mỗingườiphải chịu trách nhiệm không nhữngvềthiệthạido mình gây ra mà cả thiệt hạido nhữngngườimà mình phải chịu trách nhiệm hoặc những vật mà mình coi giữ gây ra”[13;Điều1384].Nếunguồn nguy hiểm caođộlà thúdữthì cơ sở pháp lý còn bao gồmcảquyđịnhtạiĐiều1385. Theođó,“CSH một con vật hoặc NSD con vật ấy phải chịu trách nhiệmvềthiệthạido convậtgây ra, dù nó đangđượccoi giữ hoặc bị xổng ra” [13; Điều 1385].
Bộluật dânsựĐứccũng không có quyđịnhriêngvềTNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, đồngthời cũng khôngđưara nguyêntắcchungđểxácđịnh TNBTTH do tàisảngây ra. Theođó,TNBTTH do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra (nếu có)chỉđượclồng ghép trong các quyđịnhliên quanđếnBTTH dođộngvậtgây ra (Điều833 vàĐiều834), BTTH do nhà cửa, công trình xây dựng khác(Điều836 vàĐiều 837).
Cũng giống như trongBộluật dân sự Pháp, Bộ luật dân sự Nhật Bản cũng khôngđềcậpđếnthuậtngữ‘nguồn nguy hiểm cao độ”, theo đó cũng không có quy định riêngđiềuchỉnhvấnđềBTTH do nguồn nguy hiểm caođộgây ra. Thậm chí,Bộluật dân sựNhậtBảnkhông có quyđịnhmang tính nguyêntắcchungvềBTTH do tàisảngây ra. Khi tàisảngây thiệt hại, TNBTTHchỉđượcgiải quyếtvớihaiđiềuluậtcụthểđólàĐiều717vềBTTH do cáccấutrúc trênđấtgây ra vàĐiều718vềBTTH dođộngvật gây ra. Vậy,nếucác tàisảnđượccoi là nguồn nguy hiểm caođộ(theo quan điểm của Việt Nam) mà gây thiệt hại thì TNBT sẽ được giải quyết theo quy định nào? Nếu ở Việt Nam,đâyđượccoi làmộtbấtcậplớn. Tuy nhiên, trongBộluật dânsựNhật Bản, quyđịnhmang tính nguyêntắcchungvềBTTH cóthểsẽáp dụngđốivớitrườnghợpnày. Tứclà“Nếumộtngườidocốýhoặc docẩuthảmà vi phạm quyền của người khác, thìphải BTTH phát sinh từ việc vi phạmấy”[12; tr.709].
Cũng giống nhưBộluật dânsựNhật Bản,Bộluật dânsựvà thươngmạiThái Lan không có quyđịnhcụthểvềBTTH do nguồn nguy hiểm caođộgây ra gây ra, thậm chí thuậtngữ“nguồnnguy hiểm caođộ”cũng khôngđượcđềcậptrongBộluật này. Tuy nhiên,Điều437Bộluật nàylạicóthểđượcáp dụngđốivớitrườnghợpcác các loại tàisảntươngtựnhư nguồn nguy hiểm caođộtrongBộluật dân sự Việt Nam, trongđóĐiềuluật này cóđềcậptớithuậtngữ“vậtcóthểgây nguyhiểm”.Ngoài ra, những quyđịnhvềBTTH dođộngvậtgây ra(Điều718), BTTH docấutrúc trênđất gây ra(Điều717) cũng cóthểđượcáp dụngđểgiải quyết tranh chấp liên quanđến
BTTH do nguồn nguy hiểm caođộgây ranếuđộngvậthoặc cáccấutrúc trênđấtđóđượcxác định là nguồn nguy hiểm cao độ.
Như vậy, sovớipháp luật các quốc giađượcđềcập, TNBTTH do nguồn nguy hiểm caođộgây ra trong pháp luật Việt Nam cũng có cơ sở pháp lý rõ ràng,cụthểhơn.Sựcụthểhóa quyđịnhvềBTTH do nguồn nguy hiểm caođộgây ra hoàn toàn phùhợpvớithực trạng áp dụng pháp luậtở Việt Nam, giúp cho việc giải quyết triệt đểcác tranh chấpvềBTTH do nguồn nguy hiểm caođộgây ra,đảmbảoquyền vàlợiích hợpphápcủacácchủthể. Theo đánh giáchủquancủaNCS, việc quyđịnhtách biệt như pháp luật Việt Nam là phùhợpbởinguồn nguy hiểm caođộbaogồmnhững tài sảnvớinhữngđặctrưng nhưđãphân tíchở tiểumục2.1.1 nói trên.Sựkhác biệt giữa pháp luật Việt Nam sovớipháp luậtmộtsốquốc gia trênthếgiới không phảiyếutốthểhiện trìnhđộlậppháp cao hay thấp, việc tuânthủpháp luậttốthay không tốt, mànóchỉlàyếutốthểhiệnsựphùhợpcủapháp luậtvớiđiềukiện kinhtế- xã hội, với yếutốvăn hóacủamỗiquốc gia.Sựkhác biệt cũngthểhiệnsựkhác biệtvềcơ sở lýluận và thực tiễn mà mỗi quốc giavậndụng khi ban hành pháp luật.
2.1.2.2. Xác định nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO TÀI SẢN GÂY RA THEO PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM

