Tác động của áp dụng Thuế điện tử đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt Nam
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thuế là một trong những nguồn thu chủ yếu của NSNN, cũng là công cụ quan trọngđểChínhphủđiềutiết vĩ mônềnkinhtế,thúcđẩyđầutư, kiềmchếlạmphát, bảo hộ sản xuất trong nước, phân phối lại của cải và thu nhập trong xã hội. Theo quyđịnhcủaNhànước,thuế là khoảnnộpcó nghĩavụbắtbuộcđốivớicácchủthểbao gồm tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh và cá nhân nhằm đảm bảo nguồn thu NSNN.
Hệthống thuếởViệt Nam cũng như cácnướctrênthếgiớiđượccoi là một thành tố quan trọng trong việc điều hành hệ thống pháp luật kinh tế – tài chính. Trong quá trình đổi mới và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai tròcủahệthống pháp luật thuế ngày càng rõ nét, tácđộngtrọngyếuđếnquá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động có hiệu quả của nhà nước và xã hội.
Vềlĩnhvựcthuế,hầuhếtcácnướctrênthếgiớiđềutheo xuhướngcảithiện mối quan hệ hai chiều giữa cơ quan thuế và người nộp thuế từ quan hệ “đối đầu” sang quanhệ“đồnghành”. Đểđạtđượcmụctiêuđó,ngành Thuế Việt Namđãtriển khaiđồng bộ nhiều giải pháp nhằm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng lấy NNT làm trung tâm. Trong thời gian qua, TổngcụcThuếđãđẩymạnhứngdụng CNTT trong công tác cải cách quản lý thuế thông qua việc triển khai đăng ký thuế điện tử, kê khai thuế điện tử, nộp thuế điện tử, hoàn thuế điện tử và triển khai áp dụng hóađơn điện tử. Đến nay, dịch vụ thuế điện tử đã được áp dụng tại 63/63 tỉnh, thành phốvà 100%Cụcthuế.Vềkhai thuếđiệntử,tínhđến10/2021,cảnướccó 843.620 DN tham gia sử dụng dịch vụ khai thuế điện tử trên tổng số 847.118 DN đang hoạt động,đạt tỷ lệ 99,59%. Số lượng hồ sơ khai thuế điện tử đã tiếp nhận đạt hơn 14 triệu hồ sơ(Tổng cục Thuế, 2021). Về nộp thuế điện tử, tất cả các Cục thuế đã triển khai dịch vụnộpthuếđiệntửthông qua việc liênkếtvới55 ngân hàng thương mại.Sốtiền nộp NSNNđạttrên 548.558tỷđồngvà 34.733.362 USD thông qua 2.664.255 giao dịch nộp thuế điện tử (Tổng cục Thuế, 2021). Về hoàn thuế điện tử, Tổng cục Thuế cũng đãtriển khai ứng dụng hoàn thuế điện tử tại 63 tỉnh, thành phố với số DN tham gia dịch vụ đạt 8.203 trên tổng số 8.402 DN hoàn thuế đạt tỷ lệ 97,6%. Tổng số hồ sơ được giải quyết hoàn thuế đạt 14.962 hồ sơ với số tiền hoàn thuế tương ứng là 103.719 tỷ đồng (Tổng cục Thuế, 2021).
Dịch vụ thuế điện tử đã và đang đem lại những lợi ích đáng kể cho các DN vàlà công cụ hiện đại cho các cơ quan quản lý thuế. Theo báo cáo “Đánh giá cải cách thủtụchành chính thuế -Mứcđộhài lòngcủaDN năm 2019” (VCCI, 2019)vềdịchvụthuếđiệntử,có 97% DN đánh giámứcđộthực hiện cácthủtụckhai thuếđiệntử,đăng ký nộp thuế điện tử và nộp thuế điện tử là “dễ” và “tương đối dễ”. Hầu hết các DN cho rằng nộp thuế điện tử giúp tiết kiệm thời gian, thủ tục nộp thuế dễ thực hiện. Bên cạnh đó, vẫn tồn tại một số khó khăn khi tiến hành, vấn đề đường truyền dữ liệu tắc nghẽn vào thời kì báo cáo là vấn đề chiếm tỉ lệ cao nhất 47%, tiếp đến là vấn đề vềchi phí sử dụng chữ kí số 15% và những quy định từ phía ngân hàng thương mại 7% (VCCI, 2019).
Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là hệ thống thuế dựa trên ứng dụng công nghệ có hiệu quả như mong đợi hay ngược lại, tạo kẽ hở cho việc tránh thuế, trốn thuế, không tuân thủ thuế làm thất thu NSNN. Giai đoạn 2016-2020 chứng kiến sự gia tăng đáng kể vềsốDN thànhlậpmới,cụthểnăm 2016 có 110.100 DN thànhlậpmới, 126.859 DN thành lập năm 2017, 131.275 DN thành lập mới năm 2018, 138.139 DN thành lập mới năm 2019 và 134.941 DN thành lập mới năm 2020 (Bộ Kế hoạch và đầu tư, 2021). Đây là tín hiệu tíchcựcđốivớinềnkinhtếvà cũng là thách thứcđốivớicơquan thuế trong việc quản lý hiệuquảcông tác thu thuếvớikhôngchỉDN nói riêng mà cả người nộp thuế nói chung, trong đó tính tuân thủ của người nộp thuế luôn được cơ quan thuế coi trọng nhất. Đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật của người nộp thuếđể đề xuất các giải pháp phù hợp, nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý thuế, đảm bảo thu NSNN là nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan thuế.
Theo VCCI (2019), tỷ lệ DN bị xử phạt vi phạm hành chính sau thanh tra, kiểm tra thuế trêncảnướclà 70%. Điều này chứngtỏmứcđộtuânthủcủacác DN chưa thực sự cao, cần khắc phục tình trạng này. Trong khi đó, báo cáo của Tổng cục Thuếgiai đoạn 2016-2020 cho thấy, về thái độ đối với hệ thống thuế điện tử, một số người nộp thuế chưa tuân thủ các quyđịnhcủa pháp luật về thuế, thậm chí tránh thuế, trốn thuế. Hệ quả này là số nợ thuế vẫn ở mức cao so với tổng NSNN và phần lớn thuộc vềcác khoản nợ thuế, tiền phạt không có khả năng thu hồi. Về việc áp dụng hệ thống thuếđiện tử, số liệu báo cáo toàn ngành Thuế giai đoạn 2016-2020 đã chỉ ra rằng việc phối hợp, kết nối, trao đổi thông tin giữa cácbộ,ngành, đặc biệt là cơ quan thuế giữa các vùng ở Việt Nam còn hạn chế do cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ (Tổng cục Thuế, 2016- 2020). Bằng chứng thực tế này cho thấy hệ thống thuế điện tử, thái độ đối với hệ thống thuế điện tử của NNT và việc áp dụng hệ thống thuế điện tử có thể ảnh hưởng đến mứcđộ tuân thủ của NNT nói chung và tuân thủ thuế của các DN nói riêng.
Từgócđộlý thuyết, khi tổnghợpcác nghiêncứuvềtuânthủthuế,mộttrong những lý thuyết được rất nhiều học giả sử dụng làm nền tảng cơ sở cho nghiên cứu của mình,đó là mô hình lý thuyết hànhđộng hợplý (TRA – Theory of Reasoned Action). Theo đó, Night & Bananuka (2018) đã thực hiện một nghiên cứu nhằm đánh
giá tác động trung gian của việc áp dụng hệ thống thuế điện tử trong mối quan hệ giữa tháiđộđốivớihệthống thuếđiệntửvà tuân thủ thuế bằng phương phápđịnhlượng với các doanh nghiệp nhỏ tại Uganda – một quốc gia đang phát triển của châu Phi.
Vì vậy, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế, tìm ra các yếu tố tác động hoặc tác động mạnh đến việc tuân thủ của NNT làm cơ sở khoa học để đềxuất các giải pháp quản lý thuế hiệu quả, đồng thời khuyến khích tính tự nguyện cao của NNT và thay đổi hành vi tuân thủ thuế theo hướng tích cực là vô cùng cần thiết cảvề mặt lý luận và thực tiễn. Tại Việt Nam, hầu hết các nhà nghiên cứu tập trung phân tích cácyếutốảnhhưởngđếnhành vi tuânthủthuế, nhưng các nghiêncứuvềtácđộng của việc áp dụng thuế điện tử đối vớiviệc tuân thủ thuế chưa nhiều, đặc biệt làmối tương quan giữa hệ thống thuế điện tử, thái độ đối với hệ thống thuế điện tử và áp dụng thuế điện tử đối với tuân thủ thuế.
Với những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Tác động của áp dụng thuế điện tửđến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt Nam” nhằm nghiên cứu tác động và mức độtác động của áp dụng thuế điện tử tới tuân thủ thuế của các DN Việt Nam và đề xuất một số giải pháp đối với thuế điện tử nhằm nâng cao tuân thủ thuế của các DN Việt Nam.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu tác động của áp dụng thuế điện tử đến tuân thủ thuế của các DN Việt Nam. Trên cơsởđó,đềxuất các giải phápđốivớithuếđiệntửnhằm nâng cao tuân thủ thuế của các DN Việt Nam.
Mục tiêu cụ thể:
– Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tác động của áp dụng thuế điện tử đến tuân thủ thuế.
– Xây dựng mô hình đánh giá tácđộngcủaáp dụng thuếđiệntửtớituânthủthuế của DN Việt Nam.
– Đánh giá thực trạng tác động của áp dụng thuế điện tử đến tuân thủ thuế của các DN Việt Nam.
-Đềxuất các giải phápđốivớithuếđiệntửnhằm nâng cao tuânthủthuế của các DN Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu:
– Lý thuyết nào phù hợp để nghiên cứu tác động của áp dụng thuế điện tử đến tuân thủ thuế của DN Việt Nam?
– Các nhântốhệthống thuếđiệntử,tháiđộđốivớihệthống thuếđiệntử,áp dụng thuếđiệntửcó tácđộngtớiTuânthủthuếcủacác DN Việt Nam?Mứcđộvàchiều tác động của các nhân tố trên tới Tuân thủ thuế của các DN Việt Nam như thếnào?
– Thực trạng áp dụng thuế điện tử và tuân thủ thuế của các DN Việt Nam hiện nay như thế nào?
– Có những giải pháp nào đối với áp dụng thuế điện tử nhằm nâng cao tuân thủthuế của các DN Việt Nam?
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu tác động của áp dụng thuế điện tử đến tuân thủ thuế của các DN Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu Phạm vi về nội dung:
– Luận án nghiên cứu dịch vụ thuế điện tử của CQT đối với các DN Việt Nam (DN được thành lập theo pháp luật Việt Nam có trụ sở chính tại Việt Nam và thuộc sởhữucủangườiViệt Nam) thuộc 2 khuvựcNhànướcvà tư nhân và các DN thuộc 3 nhóm quy mô (nhỏ, vừa và lớn).
– Khái quát về thuế điện tử, áp dụng thuế điện tử, hệ thống thuế điện tử và tuân thủ thuế;
– Khái quátmộtsốlý thuyết nghiêncứuvềtuânthủthuế,mộtsốmô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa áp dụng thuế điện tử đến tuân thủ thuế. Từ đó, đề xuất mô hình nghiên cứu về tác động của áp dụng thuế điện tử đến tuân thủ thuế của các DN Việt Nam;
– Đánh giá thực trạng áp dụng thuếđiệntửvà tuânthủthuếcủacác DN Việt Nam giai đoạn 2016-2020;
– Đánh giá tácđộngcủaáp dụng thuếđiệntửđếntuânthủthuếcủaDN Việt Nam dựa trên mô hình nghiên cứu đã lựa chọn và phương pháp phân tích định lượng.
Phạm vivềkhông gian: luận án tiến hànhđiềutra và khảo sát 800 DN và sau khi thu thập, xử lý thì thu được kết quả 605 DN trên địa bàn các tỉnh/ thành phố thuộc
lãnhthổViệt Nam. Trongđó,tậptrung vào các thànhphốlớnnhư Hà Nội,HồChíMinh, Đà Nẵng, Cần Thơ.
Phạm vi về thời gian: các dữ liệu sơ cấp (phiếu điều tra khảo sát) được thu thập vàxửlý trong thời giantừtháng 11/2020đếntháng 4/2021. Cácdữliệuthứcấpvềthực trạng áp dụng thuế điện tử và tuân thủ thuế của các DN Việt Nam được thu thập trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích tổng hợp
Luận án đã tổng hợp, khái quát các nghiên cứu, các lý thuyết về thuế điện tử, áp dụng thuếđiệntử,tuânthủthuế và tácđộngcủaáp dụng thuếđiệntửđếntuânthủthuế. Luận án cũng phân tích thực trạng áp dụng thuế điện tử tại Việt Nam và tuân thủthuế của các DN Việt Nam giai đoạn 2016-2020. Từ đó, đưa ra được mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết nghiên cứu.
Phương pháp điều tra thống kê
Luận án đã tiến hành phương pháp điều tra thống kê với mẫu nghiên cứu gồm 800 DN Việt Nam thuộc 2 khuvựcNhànướcvà tư nhân và thuộc 3 nhóm quy mô(nhỏ, vừa và lớn), đa dạng về lĩnh vực hoạt động kinh doanh.
Phương pháp nghiên cứu định tính
Luận án đã tiến hành tham vấn ý kiến của các chuyên gia, thực hiện phỏng vấn sâu với 3 nhóm đối tượng: (1) Các chuyên gia trong lĩnh vực thuế; (2) Các cán bộ của CQT; (3) Lãnh đạo/ kế toán thuế của các DN (dựa trên Lý thuyết người đại diện) nhằm mụctiêu tiêulấyýkiến đánh giávềcác nhântốtrong mô hình nghiêncứuhay nói cách khác là ý kiến về các nhân tố (hệ thống thuế điện tử; thái độ đối với hệ thống thuếđiện tử; áp dụng thuế điện tử) ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của các DN và phát triển, hiệu chỉnh thang đo các biến số.
Phương pháp nghiên cứu định lượng
Trên cơ sở mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu được thiết lập, luận án tiến hành thu thập dữ liệu thông qua điều tra khảo sát các DN. Sau đó tiến hành kiểm định các giả thuyết nghiên cứu để đánh giá tác động của các biến độc lập lên biếnphụthuộc (tuânthủthuế) trong mô hình. Các phương phápđượcsửdụng cụ thể bao gồm: (1) phân tích độ tin cậy các thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha nhằm kiểm trahệsốtương quan biến tổng, kiểm trahệsốCronbach’s Alpha; (2) phân tích nhân tố khám phá (EFA) nhằm kiểm tra trọng số EFA, nhân tố và phương
sai trích, cóthểphảiđiềuchỉnhlạimô hìnhđềxuất vàgiảthuyết nghiên cứu; (3) phân tích nhân tố khẳng định (CFA) nhằm kiểm tra độ thích hợp của mô hình, trọng số CFA, độ tin cậy tổng hợp, tính đơn hướng, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt; (4) phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) nhằm kiểm tra độ thích hợp của mô hình, kiểm định giả thuyết nghiên cứu.
Quy trình nghiên cứu
Bước1: Tổng quan các nghiêncứuvềthuếđiệntửvàhệthống thuếđiệntử, tuânthủthuế, tácđộngcủathuếđiệntửđếntuânthủthuế.Từđó,luận án rút ra kết luận về khoảng trống nghiên cứu.
Bước2:Hệthống và khái quát các lý thuyết nghiêncứuvềtuânthủthuế, các mô hình nghiêncứutácđộngcủaáp dụng thuếđiệntửđếntuânthủthuế. Tổng hợp kinh nghiệm quốc tế về áp dụng thuế điện tử nhằm nâng cao tuân thủ thuế và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
Bước3: Tổng quanvềthực trạng áp dụng thuếđiệntửtạiViệt Nam và thực trạng tuân thủ thuế của các DN Việt Nam giai đoạn 2016-2020.
Bước 4: Từ kết quả của các bước nghiên cứu trên (bước 1-3), luận án đưa ra môhình nghiêncứuđềxuất và cácgiảthuyết nghiên cứu. Sauđó,luận án tiến hành nghiêncứuđịnhtính bằng cách phỏngvấnsâuthểthu thậpýkiến chuyên gia vàtiến hành hiệu chỉnh mô hình đảm bảo căn cứ, cơ sở cho mối liên hệ giữa các nhân tố trong mô hình nghiên cứu và đảm bảo sự phù hợp của thang đo các biến số. Luậnán thực hiện bước nghiên cứu bằng phương pháp định lượng: điều tra khảo sát các DN thuộc cả khu vực nhà nước và tư nhân và tập trung chủ yếu ở các thành phố lớn gồm Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ. Các DN được điều tra khảo sát đa dạngvềquy mô (nhỏ, vừa, lớn), và đa dạngvềlĩnhvựchoạtđộngsảnxuất kinh doanh. Kết quả, luận án thu về 605 phiếu hợp lệ, sau đó tiến hành mã hóa và nhập số liệu để xử lý trên phần mềm SPSS 22 và AMOS.
Bước5: Kiểmđịnhcácgiảthuyết nghiên cứu, bàn luậnvềkếtquảkiểmđịnh cácgiảthuyết vàmộtsốkếtquảkhác.Từđó,đưara các kiến nghị và giải pháp của Nhà nước nhằm đối với thuế điện tử (về thể chế quản lý, về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực, về công tác quản lý thuế, về phát triển CNTT) nhằm nâng cao tuân thủ thuếcủa các DN Việt Nam.
5. Kết cấu của luận án
Luận án được cấu trúc gồm 5 chương với các nội dung khái quát như sau:
Chương 1: Tổng quan nghiêncứuvềthuếđiệntửvàhệthống thuếđiệntử, tuân thủ thuế, tác động của áp dụng thuế điện tử đến tuân thủ thuế.
Chương 2: Cơsởlý luậnvềtácđộngcủaáp dụng thuếđiệntửđếntuânthủthuế của DN.
Chương 3: Thực trạng áp dụng thuếđiệntửvà tuânthủthuếcủaDN Việt Nam giai đoạn 2016-2020.
Chương 4: Đánh giá tác động của áp dụng thuế điện tử đến tuân thủ thuế của DN Việt Nam.
Chương 5: Quanđiểm,địnhhướngvà giải phápđốivớithuếđiệntửnhằm nâng cao tuân thủ thuế của các DN Việt Nam.
6. Những đóng góp mới của luận án
Những đóng góp về mặt lý luận:
– Thứ nhất, nghiên cứu đã góp phần làm phong phú hơn lĩnh vực nghiên cứu vềtuân thủ thuế đặt trong bối cảnh một quốc gia đang phát triển với nền kinh tế chuyểnđổi, từ đó góp phần nhỏ vào nền tảng kiến thức chung.
-Thứhai,từviệchệthống hóa các lý thuyết nghiêncứuvềtuânthủthuế (lýthuyết thông tin bất cân xứng, lý thuyết người đại diện, lý thuyết các cấp độ tuân thủthuế, mô hình tuânthủBISEP, tiêu chuẩn ISO 14001:2015) vàhệthống hóa các môhình nghiên cứu về tác động của áp dụng thuế điện tử đến tuân thủ thuế (mô hình lýthuyết hành động hợp lý, mô hình lý thuyết hành vi dự định, mô hình lý thuyết chấp nhận công nghệ) nghiên cứu đã đề xuất được mô hình nghiên cứu về tác động của áp dụng thuếđiệntửđếntuânthủthuếcủacác DN Việt Namvớicác biếnđộclập(Hệthống thuếđiệntử,Tháiđộđốivớihệthống thuếđiệntử,Áp dụng thuếđiệntử)vàbiến phụ thuộc Tuân thủ thuế.
– Thứ ba, nghiên cứu đã điều chỉnh một số thang đo và đồng thời lược bỏ một số thang đo so với gốc cho phù hợp với bối cảnh Việt Nam
Những đóng góp về mặt thực tiễn:
– Luận án đã phân tích và đánh giá được thực trạng áp dụng thuế điện tử và tuân thủ thuế của các DN Việt Nam (giai đoạn 2016-2020) và tiến hành hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu đề xuất sao cho phù hợp với bối cảnh Việt Nam.

– Nghiên cứu này đã kiểm định và chỉ ra tác động trực tiếp và tích cực giữa Hệthống thuếđiệntử,Tháiđộđốivớihệthống thuếđiệntử,Áp dụng thuếđiệntửđến Tuân thủ thuế.
– Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra được một số tác động trung gian, làm củng cố thêm mối liên hệ, tác động giữa các cặp nhân tố, điều mà không nhiều nghiên cứu trước đây đề cập đến. Cụ thể: Thái độ đối với hệ thống thuế điện tử là biến trung gian tác động lên mối quan hệ giữa Hệ thống thuế điện tử và Áp dụng thuế điện tử. Và Áp dụng thuế điện tử là biến trung gian tác động lên mối quan hệ giữa Thái độ đối với hệthống thuế điện tử và Tuân thủ thuế.
– Căn cứ vào thực trạng áp dụng thuế điện tử và tuân thủ thuế của các DN Việt Nam, căn cứ vào kết quả nghiên cứu, luận án đã đề xuất được nhóm giải pháp đối với thuếđiệntử(vềthểchếquản lý thuế,vềtổchứcbộmáy và nguồn nhânlựcngành Thuế,vềcông tác quản lý thuế vàvềphát triển CNTT) nhằm nâng caomứcđộtuân thủ thuế của các DN Việt Nam.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Nghiên cứu về thuế điện tử và hệ thống thuế điện tử1.1.1. Nghiên cứu về thuế điện tử
1.1.2. Nghiên cứu về hệ thống thuế điện tử
1.2. Nghiên cứu về tuân thủ thuế
1.3. Nghiên cứu về tác động của thuế điện tử đến tuân thủ thuế
1.4. Khoảng trống nghiên cứu
Từ tổng quan nghiên cứu, tác giả nhận thấy các khoảng trống sau:
Thứ nhất, nghiên cứu về tác động của áp dụng thuế điện tử đến tuân thủ thuế đãđược các học giả phương tây quan tâm và thực hiện từ khá sớm và đó vẫn tiếp tục làchủđềđượcnghiêncứutrong những nămgầnđâytạikhôngchỉcác quốc gia phát triển mà còn ở nhiều quốc gia có nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, các kết luận về tác động của áp dụng thuế điện tử đến tuân thủ thuế vẫn còn tồn tại những sự khác biệt và chưa thống nhất với các nghiên cứu khác nhau ở các quốc gia khác nhau.
Thứ hai, các nghiên cứu về về tác động của áp dụng thuế điện tử đến tuân thủthuế đã được các học giả dựa trên nhiều cách tiếp cận với các lý thuyết khác nhau nhưlý thuyết thông tin bất cân xứng, lý thuyết người đại diện, lý thuyết các cấp độ tuân thủthuế, mô hình tuân thủ BISEP, tiêu chuẩn ISO 14001:2015 về đánh giá sự tuân thủ. Do vậy, nghiêncứunày góp phầnhệthống hóa cơsởlý luậnvềtácđộngcủaáp dụng thuế điện tử đến tuân thủ thuế và lựa chọn lý thuyết phù hợp làm cơ sở cho nghiên cứu về tác động của áp dụng thuế điện tử đến tuân thủ thuế của các DN Việt Nam.
Thứ ba, các nghiên cứu về tuân thủ thuế và tác động của áp dụng thuế điện tửđến tuân thủ thuế được thực hiện chủ yếu ở các nước phương tây và là những quốc gia có nền kinh tế phát triển, hạ tầng đồng bộ và hệ thống các văn bản pháp luật thuế kháổn định trong khi các nghiên cứu về tuân thủ thuế ở các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Namvẫncònhạnchế.Bởivậy, nghiêncứunày cóthểđượcxem làđãgóp phần làm phong phú thêm các nghiên cứu giữa các nền văn hóa (Richardson và Sawyer, 2001) và tăng cường sự hiểu biết về tuân thủ thuế tại các nước đang phát triển.
Thứ tư, các nghiên cứu về tuân thủ thuế và tác động của áp dụng thuế điện tửđếntuânthủthuếởtrongnướcvẫncònhạnchếvàsốlượngnghiêncứusửdụng phương phápđịnhlượngchưa có nhiều. Phạm vi nghiêncứucủacác nghiên cứu trướcđâychỉgiớihạntrênmộtquận/ huyện,mộttỉnh/ thànhphốhoặcchỉnghiên cứu một khía cạnh của việc tuân thủ thuế của DN và chưa có nghiên cứu toàn diện vềtác động của áp dụng thuế điện tử đến tuân thủ thuế của các DN Việt Nam. Do vậy, mối quan hệ, các tác động hay những kết quả của vấn đề này dường như cũng chưađược kiểm chứng, đánh giá đầy đủ.
TỔNG KẾT CHƯƠNG 1
Trong Chương 1, luận án đã trình bày được những nội dung sau:
Thứ nhất, trình bày tổng quan các nghiên cứu về thuế điện tử và hệ thống thuếđiện tử.
Thứ hai, trình bày tổng quan các nghiên cứu về tuân thủ thuế.
Thứ ba, trình bày tổng quan các nghiên cứu về tác động của áp dụng thuế điện tử đến tuân thủ thuế.
Thứ tư, tìm ra được khoảng trống nghiên cứu cho đề tài.
Ở chương tiếp theo, luận án sẽ làm rõ những nội dung xoay quanh cơ sở lý luận về tác động của áp dụng thuế điện tử đến tuân thủ thuế.
CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ÁP DỤNG THUẾ ĐIỆN TỬ
ĐẾN TUÂN THỦ THUẾ
2.1. Thuế điện tử và áp dụng thuế điện tử2.1.1. Thuế điện tử
2.1.1.1. Khái niệm và đặc điểm thuế điện tử
Mụctiêucủacác CQT làđảmbảonguồn thu cho NSNNvớichi phítốithiểu. Theo đó, CQT quản lý các hoạt động từ đăng kí thuế, kê khai thuế, thông tin và dữ liệu về NNT, tiếp nhận các khoản thanh toán thuế, xử lý các yêu cầu hoàn thuế… Xu hướng tấtyếuvàphổbiến hiện nayđượcnhiều quốc gia áp dụngđólàứngdụng CNTT vào một số hoạt động quản lý thuế nhằm nâng cao hiệu quả của cơ quan thuế. CNTT là công cụ hỗ trợ hữu hiệu giúp cho việc chấp hành nghĩa vụ về thuế của NNT như đăng kí thuế, kê khai hồ sơ thuế, nộp hồ sơ thuế, thanh toán thuế, hoàn thuế trở nên đơn giản và thuận tiện hơn. Sự ra đời của thuế điện tử đã làm giảm gánh nặng quản lý đối với cơ quan thuếvà gánh nặng về thủ tục hành chính thuế với DN.
Vậy thuế điện tử được hiểu như thế nào? Nhiều tổ chức và các nhà nghiên cứuđã đưa ra những khái niệm cụ thể về thuế điện tử. Một trong những khái niệm phổ biến, vừađảmbảotính khái quátvừađảmbảosựphùhợpvớiphầnlớncác quốc gia đang triển khai thuế điện tử phải kể đến khái niệm từ World Bank. Theo đó,thuế điện tửlàviệc áp dụng CNTT và truyền thông bao gồm Internet, mạng điện thoại di động, và các hình thức khác của CNTT như máy tính, các thiết bị lưu và sao dữ liệu bởi các cơ quan công quyền trong quá trình quản lý hành chính, truyền tải thông tin và cung cấp các dịch vụthuế cho công dân, DN và giữa các cơ quan thuộc chínhphủ(World Bank, 2014). Tuy nhiên, cách hiểu trên cóthểgây nhầmlẫngiữa thuế và CNTT khiến nhiều người hiểu thiên lệch về khía cạnh CNTT.
Ở một cách tiếp cận khác,thuế điện tửđược hiểu là các khoản thuế mà DN hay NNT nộp vào NSNN nhưng không qua phương thức truyền thống là nộp trực tiếp tại cơquan thuế mà thông qua phương thức trực tuyến. Tương ứng với đó, các CBT cũng thực hiện hầu hết công việc của mình, thậm chí bao gồm cả việc trao đổi thông tin hay giảiđáp thắc mắc cho NNT bằng phương thức trực tuyến.
Thuế điện tửtheo nghĩa hẹp được hiểu là các loại dịch vụ thuế công điện tử do ngành thuế cung cấp liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ thuế của NNT.
Tóm lại, trong phạm vi luận án này, khái niệm thuếđiệntửđượchiểu là các dịchvụdo CQT cungcấpđượcthực hiện bằng các thôngđiệpdữliệuđiệntửthông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của CQT theo quy định của pháp luật.
Từkhái niệm trên, ta cóthểhiểuvềthuếđiệntửthông qua baýsau: (1) thuếđiện tử truyền tải thông tin và cung cấp dịch vụ về thuế và một số tiện tích khác cho NNT; (2) thuế điện tử được thiết lập và vận hành dựa trên ứng dụng CNTT; (3) thuếđiện tử mang lại lợi ích cho cả NNT và CQT và còn có tiềm năng rất lớn bởi những lợi thế của nó.
2.1.1.2. Đặc điểm thuế điện tử
Thứ nhất, đặc điểm về chủ thể quản lý thuế – đó chính là CQT với quyền hạn vànhiệm vụ trong tổ chức, triển khai, đôn đốc hoạt động thu thuế và kiểm tra quá trình chấp hành pháp luật thuế của NNT. Hoạt động quản lý thuế của CQT bao gồm: quản lý NNT, quản lý căncứtính thuế, quản lý quá trình khai thuế,nộpthuế; quản lýnợthuế và cưỡng chế thu nợ thuế; quản lý việc thực hiện miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế;
tổchức thanh tra, kiểm tra thuế;tổchức công táckếtoán, thống kêthuế…Các hoạtđộng này được gọi là hoạt động quản lý thu thuế nhằm mục tiêu quản lý đầy đủ, chính xácsốlượngNNT và các hoạtđộngcủaNNT; quản lý và xácđịnhđượccác căncứtính thuế; đôn đốc việc nộp thuế kịp thời, đầy đủ; kiểm tra, thanh tra, xử lý kịp thời các vi phạm về thuế; đảm bảo chính sách thuế được thực hiện hiệu lực và hiệu quả.
Thứ hai, đặc điểm về đối tượng quản lý – đó chính là NNT, NNT cần đảm bảo tuân thủ các nghĩa vụ về thuế một cách kịp thời, chính xác và đầy đủ. Đồng thời việc chấp hành nghĩavụvềthuế cũngcầngắnliềnvớitính hiệuquảtrong hoạtđộngsản xuất kinh doanh của NNT. Theo đó, NNT cần: nắm bắt đầy đủ, kịp thời các quy định pháp luật về thuế, nghĩa vụ, quyềnhạn củaNNT; thực hiện tốt công tác kế toán, chếđộ hóa đơn,chứng từ; khai thuế, nộp hồ sơ khai thuế và nộp thuế chính xác, đầyđủ,đúng thờihạnquyđịnh;thực hiện đúng nghĩavụ,quyềnhạncủaNNT… Trong quátrình thực hiện nghĩavụvềthuế,nếucóvướngmắchayvấnđềphát sinh, NNTsẽđược hỗ trợ bởi CQTđể có thể đạtđượcmức độ tuân thủ thuế cao nhất. Sự tuân thủcủaNNTvừalàyếutốquyếtđịnhcũngvừalàthướcđo đánh giá hiệuquảcủacông tác quản lý thuế.
Thứba,đặcđiểmvềcác bên liên quantớihoạtđộngquản lý thuế. Khác với dịch vụ thuế thủ công, quá trình cung cấp dịch vụ thuế điện tử còn có sự tham gia của một số bên liên quan vô cùng quan trọng như nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan
chứng thực… Họ không chỉ là các bên liên quan mà còn là đối tác cung cấp các điều
kiện cần thiết để triển khai dịch vụ thuế điện tử. Theo đó, nhà cung cấp dịch vụ mạng và các cơ quan chứng thực có vai trò truyền và lưu trữ thông tin giữa các bên tham gia vào dịchvụthuếđiệntử,đồngthờihọcũng xác nhậnđộtincậycủacác thông tin trong quá trình thực hiện dịch vụ thuế điện tử.
Thứ tư, đặc điểm về hình thức cung cấp dịch vụ thuế điện tử. Một trong những lợi thế của thuế điện tử so với dịch vụ thuế thủ công đó là hạn chế được sự tiếp xúc/ tương tác trực tiếp giữa cán bộ thuế và NNT, sự tương tác này sẽ được thực hiện thông qua hình thức truyền dữ liệu điện tử. Nhờ đó, thuế điện tử cho phép NNT có thể tiếp cận và sử dụng dịch vụ ở bất kì nơi đâu và bất kì thời gian nào. Lợi thế này giúp cho NNT tiết kiệm được thời gian và công sức hay nói cách khác là tiết kiệm được chi phítuân thủ khi sử dụng dịch vụ thuế điện tử.
Thứ năm, đặc điểm về công cụ khi sử dụng dịch vụ thuế điện tử. Điều kiện cầnđối với NNT khi tham gia thuế điện tử là phải sử dụng chữ ký số và đồng thời, NNT có trách nhiệm bảo mật tài khoản giao dịch với CQT thông qua hệ thống dữ liệu điện tử. Khi sử dụng dịch vụ thuế điện tử, thay vì phải điền, in, sao chụp, gửi/ nộp các hồsơ, giấytờkê khaitớiCQT, NNTchỉcầnkê khai trênhệthốngđiệntửsauđócác thông tin, dữ liệu của NNT sẽ được số hóa và truyền/ gửi qua mạng tới CQT. Nhờ vậy, CQT cóthểquản lýđượccác thông tin,dữliệucủaNNTmộtcách nhanh chóng và
hiệu quả,hạnchếđượcsựquá tải, ùntắctrong quá trình kê khai,nộpthuế…Đồng
thời, NNT cũng sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí… khi thực hiện nghĩa vụ thuế của mình.
2.1.1.3. Vai trò của thuế điện tử
Ngày nay, các dịch vụ liên quan đến thuế là một trong những dịch vụ chính phủđiện tử phát triển nhất trên thế giới. Đồng thời, thuế điện tử là một trong số những dịch vụđượcngườidânsửdụng nhiều nhấttạinhiều quốc gia, thậm chíđôikhi vì người dân buộc phải sử dụng chúng (Mitja Dečman, 2015).
Đối với cơ quan thuế, việc triển khai thuế điện tử đã mang lại nhiều lợi ích đáng kể như: (1) Ứng dụng CNTT giúp cắt giảm thời gian và giảm thiểu sai sót trong việc tiếp nhận và xử lý các hồ sơ thuế; phần mềm hóa các thủ tục hành chính, áp dụng các phần mềm trong truyền tải, xử lý, lưu trữ và sử dụng dữ liệu; đồng thời với việc quản lý và khai thác tập trung nguồn thông tin trên hệ thống trực tuyến đã giúp các cơ quan thuế cáccấp(Tổngcụcthuế,Cụcthuế, Chicụcthuế) phốihợpvàxửlý công việc nhanh hơn; (2) Tạo điều kiện phát triển hệ thống quản lý tuân thủ điện tử, hệ thống này sẽ phân tích dữ liệu, phát hiện và đưa ra cảnh báo dựa trên mức độ rủi ro về thuế của
các DN và NNT,từđógiúp ngăn chặnkịpthời các hành vi không tuân thủ; (3)Hệthống TTĐT phục vụ cho quản lý tạo điều kiện cho việc thu thập và phổ biến thông tin một cách nhanh chóng, đầy đủ và chính xác cho không chỉ các cán bộ thuế mà còn cho các nhà quản lý.
Bên cạnh đó thuế điện tử là công cụ làm tăng tính hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý thuế. Ứng dụng này nâng cao cơ hội tiếp cận thông tin cho các bên tham gia nhờ vào hệ thống dữ liệu thống nhất được tích hợp trên toàn ngành thuế và được chia sẻ rộng rãi trên các cổng TTĐT. Thuế điện tử cũng giúp cắt giảm chi phí hành chính và tăng thu thuế (Calderon và cộngsự,2014, Houérou và cộngsự,2009). Thuế điện tửgiúp tăng cường sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý (thuế, hải quan, kiểm toán…) sự phối hợp được thực hiện hiệu quả hơn. Nhờ đó, chính phủ có thể quản lý tập trung thông tin trong toànbộhệthống.Mặtkhác CNTT giúp thuhẹp”khoảng cách vàranh giới” giữa các cơ quan của chính phủ và góp phần xây dựng mối liên hệ, mạng lưới kết nối đa chiều giữa các cơ quan này. Không những thế, các đại lý thuế cũng có thể được kếtnối vàohệthốngđiện tửnhằm đáp ứng và phụcvụtốt nhất những nhu cầu của các DN.
Đối với NNT, thuế điện tử giúp cắt giảm thời gian và chi phí tuân thủ thuế của NNT. DN hay những NNT cá nhân thay vì phải chuẩn bị hồ sơ bằng giấy, phải giành thời gian và di chuyển giữa các địa điểm để nộp hồ sơ thì nay những chi phí cho việcđó được cắt giảm. Đồng thời, thuế điện tử góp phần đáng kể trong việc nâng cao tính minh bạch trong hệ thống.
2.1.2. Áp dụng thuế điện tử
2.1.2.1. Thái độ đối với thuế điện tử
Thái độ ủng hộ sử dụng công nghệ là thành phần mang tính cảm tính. Thái độủng hộ sử dụng công nghệ quyết định đến hành vi sử dụng công nghệ thực tế. Burton- Jones & Hubona (2006) tranh luận về mô hình chấp nhận công nghệ TAM rằng việc sử dụng CNTT thực tế sẽ trải qua các giai đoạn: các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến nhận thứccủangườisửdụng; niềm tin, nhận thứccủangườisửdụngảnhhưởnglên tháiđộđốivớiviệcsửdụng; tháiđộđốivớiviệcsửdụng ảnhhưởnglênýđịnhsửdụng; vàýđịnhảnhhưởnglênmứcđộsửdụng CNTT (Burton-Jones & Hubona, 2006).
Trong nghiên cứu này, thái độ đối với thuế điện tử được hiểu là thái độ tích cực/ủng hộ hoặc thái tiêu cực/ không ủng hộ đối với thuế điện tử dựa trên những cảm nhận,
đánh giá thực tế về thuế điện tử như sự an toàn, bảo mật, sự tiện lợi, tiết kiệm thời gian và chi phí (Night & Bananuka, 2018).
2.1.2.1. Áp dụng thuế điện tử
Áp dụng thuếđiệntử,theo Night & Bananuka (2018) làkhảnăng NNT nói chung hay các DN nói riêngsửdụng thuếđiệntử.Nhưđãđềcậpởphần trên, thuếđiệntửlàmộthệthống tíchhợpkhai thuế,nộpthuế và hoàn thuế trênmộtnềntảng trực tuyến duy nhất nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho NNT chấp hành tốt thủ tục hành chínhvềthuế. Vì vậy, áp dụng thuếđiệntửđượchiểu làkhảnăng DNsửdụng một phần hay toàn bộ các hoạt động từ đăng kí thuế, kê khai thuế, nộp thuế và hoàn thuếthông qua phương thức điện tử. Bên cạnh đó, áp dụng thuế điện tử còn để cập đến khảnăng NNT hay DN đã chuẩn bị sẵn sàng các nguồn lực cho việc sử dụng thuế điện tửnhư máy tính kết nối internet (vật lực); nhân viên kế toán/ kế toán thuế được trang bịcác kĩ năng tin học cần thiết, được đào tạo và tập huấn về các quy định, hướng dẫn đểsử dụng thành thạo hệ thống thuế điện tử (nhân lực)…
2.1.3. Hệ thống thuế điện tử
2.1.3.1. Khái niệm, mục tiêu của hệ thống thuế điện tử
Hiện nay, trong lĩnh vực thuế, hầu hết các quốc gia trên thế giới đã chuyển từphương thức quản lý thuế truyền thống sang phương thức quản lý thuế hiện đại bằng việc áp dụng chế độ tự khai tự nộp và tự chịu trách nhiệm nhằm khuyến khích và thúcđẩy sự tuân thủ thuế tự nguyện của NNT nói chung và các DN nói riêng. Theo đó, hệthống thuế điện tử được xây dựng và vận hành như một nền tảng trực tuyến cho phép NNT truycậpcác dịchvụthuế thông qua internet (Wasao, 2014). Các dịchvụthuếđiện tử thường bao gồm: đăng ký mã số thuế, kê khai thuế, nộp thuế và hoàn thuế.
Hệ thống thuế điện tử cung cấp cho NNT đầy đủ các chức năng từ đăng kí mãsố thuế, tự đánh giá và kê khai số thuế phải nộp dựa trên kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình đồng thời đảm bảo tuân theo đúng quy định pháp luật, tự nộp sốthuếđãkê khai cho NSNN vàtựchịu trách nhiệmnếucó sai phạmxảyra trong quátrìnhđó. Như vậy,hệthống thuếđiệntửkhác biệtvớiquản lý thuế truyền thốngởphương thứctựkhaitựnộpcủaNNT, việc kê khai và tính toán các khoản thuế phíphảinộpdo NNTtựnguyện,tựgiác khai báo thông quadữliệu nhập lênhệthống TTĐT.
Đối với NNT nói chung, các DN nói riêng hệ thống thuế điện tử đặt ra yêu cầu vềtính chính xác, tincậyvềdữliệu thuếđãkê khai. Vì vậy, các DNcầnlưugiữsổ
sách, hóa đơn, chứng từ để minh chứng đi kèm khi kê khai, tính thuế và nộp thuế. Đối vớiCQT,hệthống thuếđiệntửmuốnvậnhành vàđạthiệuquảcao cũngđặtra yêu cầu với các cán bộ thuế không chỉ giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ mà còn phải am hiệu và thực hành tốt CNTT. Ngoài ra, CBT cần nắm rõ nhiệm vụ và quyền hạn của mình trong việc phối hợp cùng NNT hay các DN sao cho tăng mức độ tuân thủ tự nguyện lên cao nhất cóthểthay vì can thiệp vàomộtsốkhía cạnh/nộidung như tronghệthống thuế truyền thống.
Từ những phân tích trên,hệ thống thuế điện tửđược hiểu là hệ thống tích hợp khai thuế, nộp thuế và hoàn thuế trên một nền tảng trực tuyến duy nhất nhằm tạo điều kiện thuậnlợicho NNT chấp hànhtốtthủtụchành chínhvềthuế. Bên cạnhđó,hệthống thuếđiệntửcòn cungcấpcho NNTmộtsốchức năng khác như quản lý tài khoản DN, tra cứu thông tin về nghĩa vụ thuế, tra cứu số thuế phải nộp, giải đáp những thắc mắc trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế.
Theo đó, luận án tiếp cận hệ thống thuế điện tử từ góc độ quản lý thuế với các nộidung trọng tâm sau: (1) tuyên truyền vàhỗtrợvềthuếđiệntử;(2) đăng kí thuếđiện tử; (3) kê khai thuế điện tử; (3) nộp thuế điện tử; (5) hoàn thuế điện tử; (6) kiểm tra, thanh tra thuế điện tử.
Mục tiêu của hệ thống thuế điện tử là nhằm nâng cao mức độ tuân thủ thuế của NNT. Đối với hai nhóm đối tượng là NNT và cơ quan quản lý thuế, mục tiêu này được cụ thể hóa như sau:
ĐốivớiNNT (trọng tâm là các DN): (1) nâng cao tínhtựchủtựchịu trách nhiệm của các DN thông qua việc cho phép DN tự đánh giá, tự kê khai, tự tính thuế, tựnộp thuế; (2) đơn giản hóa thủ tục hành chính thuế khiến cho DN chấp hành nghĩa vụ thuế một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn; (3) khuyến khích các DN tuân thủthuế tự nguyện đồng thời giảm tần suất và sức ép về kiểm tra, thanh tra thuế đối với DN; (4) giảm chi phí tuânthủthuế; (5) thúcđẩyvà gia tăng hành vinộpthuếđầyđủ và đúng hạn.
Đốivớicơ quan quản lý thuế: (1) giảm gánh nặng công việc quản lý thu thuếbằng thông qua chế độ tự khai tự nộp tự chịu trách nhiệm của NNT; (2) tập trung tăng cường một số chức năng khác trong quản lý thuế, đặc biệt là hoạt động tuyên truyền hỗtrợ NNT; (3) giảm chi phí quản lý thuế; (4) giảm thiểu nguy cơ tham nhũng từ cán bộthuế thông qua tiếp túc, trao đổi, thương lượng với NNT hay DN.
Để đạt được các mục tiêu trên, cơ quan quản lý thuế đã không ngừng cải cách thủtụchành chính thuế,đổimớiphương thức quản lý thuế,tậptrung vào những hoạt
động như tuyên truyền hỗ trợ, kiểm tra thanh tra thuế, tinh gọn và hoàn thiện bộ máy quản lý thuế,đầutư nângcấpcơsởhạtầng,ứngdụng CNTT trong quản lý thuế. Thật vậy, một hệ thống thuế điện tử với các thông tin, quy định về thuế rõ ràng; các chính sách về thuế được công khai, minh bạch trên các cổng thông tin; các quy định xử phạt nghiêm minh, công bằng; các hoạt động thanh, kiểm tra được tiến hành công khai, thường xuyên… sẽ đảm bảo duy trì và ngày một cải thiện mức độ tuân thủ thuếcủa NNT nói chung và các DN nói riêng.
2.1.3.2. Nội dung hệ thống thuế điện tửa. Tuyên truyền và hỗ trợ thuế điện tử
•Tuyên truyền thuế điện tử: là các hoạt động nhằm phổ biến, truyền bá những tư tưởng, quan điểm, nội dung cơ bản của chính sách thuế, quản lý thuế đến NNT vàDN thông qua website ngành thuế trên mạng Internet hoặc thông quahệthống thưđiệntửnhằm nâng cao nhận thức chungvềpháp luật thuế, nâng caoýthứctựgiác tuân thủ pháp luật thuế và nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý thu thuế.
Mục tiêu của hoạt động tuyên truyền thuế điện tử:
– Tác động vào những hành vi tâm lý xã hội của DN, nâng cao đạo đức và sự tựnguyện tuân thủ của DN.
– Giảm chi phí quản lý hành chính thuế như các chi phí thanh tra,cưỡngchếthuế.
Nội dung tuyên truyền thuế điên tử:
– Tuyên truyền các chính sách, pháp luật thuế bao gồm: các vănbảnquyđịnh về các sắc thuế hiện hành; chế độ quy trình quản lý thuế và những sửa đổi, bổ sung cóliên quan; nội dung về quản lý thu nộp thuế; các yêu cầu về hồ sơ, thủ tục hành chính thuế.
– Tuyên truyền về quyền và nghĩa vụ của NNT.
– Tuyên truyền các nội dung khác như tuyên dương, khen thưởng NNT; các chủtrương,cảicáchhệthống thuế; các kinh nghiệm quốctếvềquản lý thuế; cácvấnđềkinh tế xã hội liên quan đến thuế.
Hình thức tuyên truyền thuế điên tử:
– Triển khai các hình thức tuyên truyền đa dạng trên các kênh thông tin nhưwebsite của ngành Thuế, hệ thống thư điện tử, mạng xã hội, tài khoản zalo… để giúp NNT hiểu các nghĩa vụ và quyền lợi của họ.
•Hỗ trợ thuế điện tử: là các dịch vụ được cung cấp bởi CQT nhằm cung cấp vàgiải đáp vướng mắc về các thủ tục/ nội dung các sắc thuế, giúp cho DN hoàn thành tốt nghĩa vụ về thuế thông qua hệ thống thư điện tử và website của ngành thuế trên mạng Internet.
Mục tiêu của dịch vụ hỗ trợ thuế điện tử:
– Tạo điều kiện cho các DN nhận thức đầy đủ về nghĩa vụ thuế, đảm bảo cho họcó những kiến thức cần thiết để tuân thủ thuế.
– Giảm thiểu các chi phí khôngcầnthiết do thiếu thông tinvềhệthống thuếđiện tử và quá trình tuân thủ.
– Đảm bảo DN sẽ được đối xử công bằng và tôn trọng trong quá trình tuân thủthuế, tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa cơ quan thuế và DN.
– Thiểu sai sót của các bản khai thuế, hạn chế những sự không tuân thủ không dự định, giúp cơ quan thuế tập trung vào các hình thức vi phạm thuế khác, và giảm nhẹcông việc của các chức năng quản lý thuế khác.
Nội dung hỗ trợ thuế điện tử:
– Cungcấpđầyđủcác thông tinvềluật thuế có liên quanđếnnghĩavụthuế, thông tin về các văn bản hướng dẫn thi hành luật thuế và những thông tin cần thiết vềquy trình tuân thủ thuế theo quy định về các giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế.
– Hỗ trợ và tư vấn hoàn thành các thủ tục đăng ký kê khai thuế điện tử. Mỗi DN phải hoàn thành nhiều thủ tục bao gồm: hoàn thành mẫu đăng ký kinh doanh, có được giấy phép kinh doanh, các hoạt động bảo hiểm và tài chính khác.v.v. Trách nhiệm vềtuân thủ thuế bao gồm đăng ký mã số thuế, nộp bản kê khai thuế, nộp thuế… trên hệthống thuế điện tử.
– Các yêucầuvềlưugiữsổsáchkếtoán vàlậpcác báo cáo tài chính.Vềkhía cạnh thuế, lưu giữ sổ sách kế toán là một trong những yêu cầu cần thiết để đáp ứng những nghĩa vụ thuế. Hệ thống sổ sách kế toán tốt sẽ kê khai chính xác hơn thu nhập và chi phí. Vì vậy, cơ quan thuế cần thực hiện các giải pháp cải thiện chất lượng kế toán DN. Các giải pháp này bắt đầu từ giáo dục để tìm kiếm việc cải thiện những hoạt động kinh doanh và sau đó phát triển sự tuân thủ bằng việc giáo dục, đào tạo thực tế, kinh nghiệm lưu giữsổ sách đầy đủ và toàn diện hơn.
– Cácthủtụcđểquyết toán thuế, hoàn thuếđiệntửvà các thắcmắckhác của DN trong quá trình tuân thủ.
Hình thức hỗ trợ thuế điện tử:
– Hỗ trợ thông qua cổng thông tin ngành Thuế. Đây là hình thức giao dịch hai chiều: NNT gửi yêu cầu, thắc mắc đến CQT và CQT tiếp nhận, sau đó phản hồi trực tiếp tới NNT bằng công cụ hỏi đáp trực tuyến.
– Hỗ trợ thông qua thư điện tử. Hình thức này có ưu điểm chi phí giao dịch thấp và có thể thoả mãn các nhu cầu tư vấn rất cụ thể của từng DN.
– Hỗ trợ thông qua dịch vụ điện thoại.
-Hỗtrợthông quahộpthư thoạitựđộngđượcthiếtlậpsẵnmộtsốthắc mắc phổ biến về chính sách thuế hoặc quy trình tuân thủ.
b. Đăng kí thuế điện tử
•Đăng kí thuế điện tử: là việc NNT lựa chọn phương thức giao dịch với CQTđể thực hiện các nghĩa vụ thuế theo luật định thông qua hệ thống dịch vụ thuế điện tử.
• Mục tiêu đăng kí thuế điện tử
– Hỗ trợ NNT và các DN trong việc thực hiện giaodịch điện tửvới CQT mọi lúc, mọi nơi;
– Tiết kiệm chi phí tuân thủ nghĩa vụ thuế cho NNT và các DN;
– Giảm áp lực thu nhận hồ sơ giấy, giảm thiểu công việc tiếp nhận và nhập thủcông các hồ sơ thuế đối với cán bộ thuế;
– Tạo điều kiện thuận lợi cho các DN trong quản trị nội bộ đạt hiệu quả hơn;
• Nội dung đăng kí thuế điện tử
– CQT thiếtlậpvà côngbốcácmẫuhồsơ đăng ký thuế và các tài liệu hướng dẫn đăng ký thuế trên website ngành Thuế;
– NNT download các mẫu hồ sơ và hoàn thiện thông tin theo đúng quy định, sauđó gửi đến địa chỉ đã được quy định trên hệ thống;
– CQT tiếp nhận và kiểm tra các thông tin trong hồ sơ đăng ký của NNT thông qua hệ thống điện tử (hệ thống này được kết nối đồng bộ, đầy đủ, kịp thời với hệ thống dữliệucủacác cơ quan có thẩm quyền có liên quan). Sauđó,CQTgửixác nhậntựđộng việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký thuế của NNT;
– NNT tracứulạicác thông tin đăng ký thuếcủamình thông qua website của ngành Thuế trong một thời hạn nhất định, in ra giấy hoặc lưu trữ bằng file mềm làm bằng chứng chứng minh cho việc thực hiện đăng ký thuế.
c. Kê khai thuế điện tử
•Kê khai thuếđiệntử:là quá trình NNTtậphợpdữliệu,kếtquảhoạtđộng liên quan đến quyền và nghĩa vụ thuế kèm những minh chứng cần thiết và gửi hồ sơ kêkhai thuếđếnCQT (thông quahệthốngđiệntử/mạng internet) khẳngđịnhsô thuếthuế phải nộp là trung thực và đúng quy định.
•Mục tiêu kê khai thuế điện tử
– Đơn giản hóa các thủ tục kê khai thuế, tiết kiệm thời gian và chi phí cho NNT; -Tạosựlinh hoạt trong kê khai thuếnếuđốitượngkhai thuế khôngthểtrực
tiếp thực hiện thì có thể được thay thế bởi người khác nếu giao cho họ chữ ký số;
– Giảm thiểu tình trạng quá tải tại CQT khi đến kỳ hạn nộp hồ sơ kê khai thuếcủa NNT;
– Hướng tới mục tiêu hệ thống kê khai thuế, nộp thuế hiện đại, tốt nhất;
– Giảm thiểu tối đa sai sót, thất lạc giấy tờ/ hồ sơ trong quá trình kê khai thuế vàtạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu trữ thông tin kê khai của NNT lâu dài.
•Nội dung kê khai thuế điện tử
– Điều kiện thực hiện kê khai thuế điện tử: NNT phải có chữ ký số, có thiết bịkết nối internet, đăng kí địa chỉ thư điện tử với CQT và có 1 tài khoản tại ngân hàng thương mại được liên kết và cung cấp dịch vụ bởi CQT.
– Quy trình kê khai thuế điện tử được thực hiện theo các bước sau: (1) đăng kýchữ ký số; (2) đăng ký nộp hồ sơ khai thuế qua mạng; (3) nhận kết quả phản hồi hồ sơkê khai thuế điện tử.
•Hình thức kê khai thuế điện tử
– Kê khai thuế qua website: NNT chỉ cần có máy tính kết nối internet là có thểthực hiện kê khai thuế nên vô cùng nhanh chóng và thuận tiện. Tuy nhiên, hình thức nàytồntạimộtsốhạnchếnhư: (1) tínhbảomậtcủathông tin khi nhập liệu trên website (có thể gặp phải rủi ro bị hack thông tin); (2) sự gián đoạn hoặc kéo dài thời gian kê khaisẽhoàn toànphụthuộc vàotốcđộvàsựổnđịnhcủađườngtruyền
internet; (3) thông tin và dữ liệu khi kê khai trực tiếp trên website sẽ không lưu trữ lạiđược và không thể sử dụng cho những lần kê khai tiếp theo.
– Kê khai thuế trên phần mềm: CQT triển khai phần mềm tiếp nhận khai thuếđiện tử, DN triển khai phần mềm khai thuế điện tử, 2 phần mềm này được thực hiện song hành với nhau và trao đổi dữ liệu với nhau theo quy định và tiêu chuẩn được CQT ban hành.ĐốivớiDN sau khi kê khai thông tin trên phần mềm,dữliệusẽđượclưu trênhệthống. Vì vậy,tạođiềukiện cho DNdễdàng tổng hợp,lậpbáo cáo, quyết toán và hoàn thuế và hình thức này cũng không bị lệ thuộc vào tốc độ vàsự ổn định của đường truyền internet. Bên cạnh ưu điểm đó, kê khai trên phần mềm yêucầuDN phải chitrảnhiều hơn cho việc càiđặt,sửdụng và nângcấpphần mềm. CQT cũngcần đảmbảosựgiám sát và côngbốcác tiêu chuẩnkỹthuật cho phép kết nối giữa hệ thống của DN và hệ thống của CQT.
d. Nộp thuế điện tử
•Nộp thuế điện tử: là phương thức nộp thuế hiện đại ứng dụng công nghệ điện tử,cho phép NNTnộpthuế vào NSNN trực tiếp trên cổng TTĐTcủaCQT vàđược ngân hàng thương mại xác nhận kết quả giao dịch nộp thuế tức thời.
• Mục tiêu nộp thuế điện tử
– Đơn giản hóa thủ tục giấy tờ và tiết kiệm chi phí cho NNT;
– Kiểm soátđượctình hìnhnộpthuếcủaNNTmộtcách thuận tiện,dễdàng, chính xác, từ đó, đảm bảo nguồn thu NSNN;
– Giảm thiểu tối đa các sai sót
• Nội dung nộp thuế điện tử
-Điềukiện thực hiệnnộpthuếđiệntử:NNT phải đăng kývớiCQT và ngân hàng nơi NNTmởtài khoản và phải tuânthủtheo đúng quy trìnhnộpthuếđiệntử. Ngoài ra, NNT muốn tham gianộpthuếđiệntửcóthểphải thỏa mãn thêm yêu cầu nhất thiết phải là NNT được CQT chấp thuận tham gia hệ thống khai thuế điện tử đểđảm bảo tính đồng bộ và an toàn cho hệ thống.
-Đốitượngtham gia vàohệthốngnộpthuếđiệntửbao gồm: CQT, NNT vàcác ngân hàng thương mại. Trongđó,ngân hàng thươngmạitham giahệthống nộp thuế điện tử phải đăng ký với CQT và được chấp thuận. Đồng thời, ngân hàng phải có
hệ thống kết nối với hệ thống của CQT để nhận các thông tin về số thuế phải nộp do CQT chuyển sang và chuyển các thông tin về số thuế đã nộp của NNT cho CQT.
• Hình thức nộp thuế điện tử
– Nộp thuế qua hình thức chuyển khoản điện tử: NNT tiến hành nộp thuế bằng cách chuyển khoảntớiCQT thông quahệthống ngân hàng. Hình thức nàybắtbuộc phảisửdụng công nghệ cao, thuận lợi,đảmbảotấtcảcác yêucầukỹthuậtđểcung cấp dịch vụ cho khách hàng.
-Nộpthuế qua ATM: NNTnộptiền thuế vào NSNN thông qua các ATM do ngân hàng cung cấp. Hình thức này có một số hạn chế nhất định: (1) chỉ cho phép giao dịch với một lượng tiền không quá lớn nhằm bảo vệ an toàn cho khách hàng, (2) gây khó khăn cho NNTnếumuốn thayđổithông tinnộpthuế do ATM có hiểnthịđơn giản với các nút lệnh được thiết lập sẵn, ít cho phép điều chỉnh nếu thao tác sai.
– Nộp thuế qua điện thoại di động (Mobile-banking): NNT muốn thực hiện dịch vụthanh toán quađiệnthoại diđộngphải đăng kývớingân hàng và CQT vàđược chấp nhận. NNT sẽ nhập mã nộp thuế do ngân hàng cung cấp, sau đó xác nhân số tiền nộp và mã số nơi nhận. Trung tâm nhắn tin sẽ gửi nội dung chuyển tiền về hệ thống cơsởdữliệucủangân hàng,hệthốngcủangân hàngsẽkiểm tra cácnộidung và thực hiện chuyển tiền vào tài khoản của CQT hoặc tài khoản NSNN tại kho bạc nhà nước.
-Nộpthuế qua quầy dịchvụ(Counter Service), qua bưuđiện(Pay at Post):
hình thức này cho phép thanh toán thuế bằng thẻ điện tử hoặc bằng tiền mặt, bằng séc, bằng chuyển khoản ngaytạingân hàng. Nhìn chung, hình thứcnộpthuế nàyđược phần lớn NNT ưa chuộng và trở nên phổ biến vì sự lựa chọn đa dạng và tạo thuận lợi cho NNT.
e. Hoàn thuế điện tử
•Hoàn thuế điện tử là dịch vụ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết hồ sơhoàn thuế cho NNT bằng phương thức điện tử.
• Mục tiêu hoàn thuế điện tử
– Đơn giản thủ tục hoàn thuế đối với NNT, tạo thuận lợi cho người nộp thuếchấp hành tốt pháp luật thuế và công khai, minh bạch việc giải quyết hoàn thuế tại CQT các cấp;
– Hoàn thiện giao dịch điện tử giữa NNT và CQT, xây dựng môi trường quản lýthuếđiệntửtronghệthống thuế và tronghệthống cơ quan quản lý nhànướctheo Chính phủ điện tử.
• Nội dung hoàn thuế điện tử
– Sau khi kê khai, nộp thuế điện tử, nếu NNT xác định số thuế đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp, NNT có thể đề nghị CQT cho phép hoàn thuế điện tử thông qua hệthống kết nối điện tử giữa CQT, kho bạc và ngân hàng. Theo đó, “NNT lập và gửi hồsơ đề nghị hoàn thuế đến CQT theo hai cách: (1) gửi hồ sơ đề nghị hoàn thuế điện tửgồm văn bản yêu cầu hoàn thuế và tài liệu kèm theo hoặc (2) gửi hồ sơ đề nghị hoàn thuế điện tử đồng thời cùng hồ sơ khai thuế điện tử nếu không bao gồm văn bản yêu cầu hoàn thuế”.
-Đểcóthểthực hiệnđượcviệc hoàn thuếđiệntửđòihỏiphải cómộtsốyêu cầu cơ bản: NNT bắt buộc phải thuộc diện kê khai thuế, nộp thuế điện tử; số thuế yêu cầu được hoàn không được lớn hơn số thuế được xác định trên hệ thống khai thuế điện tử; NNT phải mở tài khoản tại ngân hàng và thông báo với CQT.
– Sau khi tiếp nhận hồ sơ hoàn thuế điện tử từ NNT, CQT có trách nhiệm giải quyếthồsơđềnghị hoàn thuếcủaNNTđãtiếp nhận bằng phương thứcđiệntửvàthông báo cho NNT giải trình,bổsung thông tin/ tài liệu (nếucầnthiết). Khixửlýxonghồsơ hoàn thuế, NNTsẽđượcthông báokếtquảgiải quyếthồsơ hoàn thuếthông qua phương thức điện tử và nhận được khoản tiền hoàn thuế đã đề nghị.
f. Kiểm tra, thanh tra thuế điện tử
•Kiểm tra, thanh tra thuế điện tử là các hoạt động giám sát của CQT đối với các hoạt động, giao dịch liên quan đến phát sinh nghĩa vụ thuế và tình hình thực hiện thủ tục hành chính thuế, chấp hành nghĩa vụ nộp thuế dựa vào CSDL lưu trên hệ thống hoặc yêu cầu NNT cung cấp thông tin phục vụ công tác kiểm tra, thanh tra thông quađịa chỉ email, sô điện thoại di động đã đăng ký với CQT.
• Mục tiêu kiểm tra, thanh tra thuế điện tử
– Kiểm tra thuế nhằm đánh giá tính đầy đủ, chính xác của các thông tin, chứng từ trong hồ sơ thuế hoặc đánh giá việc tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế.
– Thanh tra thuế nhằm đánh giá việc chấp hành pháp luật của NNT; xác minh vàthu thập, phân tích thông tin, dữ liệu liên quan đến NNT.
-Hạnchếsựtương tác trực tiếp giữa CBT và NNT trong hoạtđộngkiểm tra, thanh tra.Từđó,làm giảm các phát sinh tiêucựchoặc gây nhũng nhiễu, khó khăn trong công tác kiểm tra, thanh tra thuế.
• Nội dung kiểm tra, thanh tra thuế điện tử
– Kiểm tra trên CSDLcủaCQT liên quanđếncácnộidung sau: (1) kiểm tra tính đầy đủ trong hồ sơ khai thuế điện tử. Trường hợp phát hiện trong hồ sơ khai thuếchưa đủ tài liệu hoặc khai chưa đầy đủ theo quy định thì cơ quan thuế thông báo cho người nộp thuế biết để hoàn chỉnh hồ sơ thông qua cổng TTĐT; (2) kiểm tra để làm rõnội dung cần bổ sung trong hồ sơ thuế. Trường hợp qua kiểm tra, đối chiếu, so sánh, phân tích xét thấy có nội dung khai chưa đúng, số liệu khai không chính xác hoặc cónhữngnộidungcầnxác minh liên quanđếnsốtiền thuế phải nộp,sốtiền thuếđược miễn, số tiền thuế được giảm, số tiền thuế được hoàn, cơ quan thuế thông báo đề nghịngườinộpthuế giải trình hoặcbổsung thông tin, tài liệu theomẫuthông qua cổng TTĐT.
– Thanh tra, kiểm tra thuế điện tử về các dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế hoặc các nội dung nhằm giải quyết khiếu nại, tố cáo theo nguyên tắc phân tích rủi ro NNT trên cơ sở phân tích dữ liệu NNT của các ứng dụng phần mềm phân tích rủi ro phục vụ lập kế hoạch thanh tra, kiểm tra thuế (TPR) và ứng dụng hỗ trợ thanh tra, kiểm tra thuế (TTR); thực hiện nhật ký điện tử trong công tác thanh tra, kiểm tra.
2.1.3.3. Điều kiện đối với hệ thống thuế điện tử
Thứ nhất, điều kiện về khung pháp lý
Điều kiện tiên quyết để có thể triển khai hệ thống thuế điện tử là phải có cơ sởpháp lý về giao dịch điện tử. Cơ sở pháp lý này bao gồm các vấn đề như: đạo luật vàchính sách về giao dịch điện tử, thương mại điện tử, hành chính điện tử, các qui định cụ thể về thuế điện tử, chữ ký số điện tử, bảo mật và an toàn thông tin, vấn đề xử lýcác hành vi phá hoại, cản trở hoặc gây thiệt hại cho hoạt động tiến hành thuế điện tử. Chỉ khi hệ thống chính sách về thuế điện tử được ban hành đầy đủ, thống nhất thì mới tạođiềukiện cănbảnchohệthống thuếđiệntửđượcrađờivà áp dụngđồngbộ,cóhiệu quả.Đặcbiệt, khung pháp lý cũng phảiđưara những quiđịnhvềviệcbảomật thông tin, khôngchỉđốivớinhà cungcấpmạng mà cònđốivớiCQT, cơ quan hải quan và NNT.
Thứ hai, điều kiện về cơ sở hạ tầng
Hạ tầng CNTT là yếu tố vô cùng quan trọng đối với hệ thống thuế điện tử. Ứng dụng CNTT cho phép việc xử lý dữ liệu (đăng kí, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế…) trởnên nhanh gọn và hiệu quả hơn, đồng thời giúp phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi gianlậnhoặc không tuânthủcủaNNT.Hạtầng CNTTcầnphảiđượctíchhợpgiữa CQT và các cơ quan liên quan như hải quan, ngân hàng để quá trình truyền nhận thông
tin dữ liệu điện tử được thống nhất và thông suốt. Hệ thống dữ liệu điện tử phải luônđược cập nhật và đảm bảo an toàn, bảo mật thông tin dữ liệu chống lại sự xâm nhập, phá hoại từ bên ngoài.
ĐốivớiNNT muốn tham gia giao dịch trênhệthống thuếđiệntửcũng phảiđảm bảo điều kiện về cơ sở hạ tầng CNTT nhất định. Ở mức tối thiểu, NNT hay DN phải có hệ thống máy tính được kết nối Internet và kết nối trực tiếp với trung tâm xử lýdữliệucủaCQT. Vì vậy, các DNcầnphải chú trọngđầutư nângcấpcơsởhạtầng CNTT đầy đủ và hiện đại đi kèm với các chương trình phần mềm khai báo điện tử theođúng yêucầuvà tương thíchvớiphầnmềmkhai báocủaCQT phụcvụcho việc áp dụng thuế điện tử.
Thứ ba, điều kiện về nhân lực
Đểcóthểtriển khai vàvậnhành hiệuquảhệthống thuếđiệntửcầnphải cónguồn nhân lực đủ cả về số lượng và trình độ. Hầu hết các nghiệp vụ về thuế sẽ được thực hiện bằng côngcụmáy móc hiệnđạivớicác phầnmềmứngdụng, dođó,các CBT đảm bảo về chuyên môn nghiệp vụ là chưa đủ, mà cần phải có trình độ và năng lựcnhấtđịnhvà không ngừng traudồivềkĩ năng CNTTđểcóthểthực hiện thành thạo trên hệ thống thuế điện tử.
Bên cạnh đó, hệ thống thuế điện tử là sự tích hợp các dịch vụ thuế trên nền tảng CNTT và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, chỉ cần sai sót nhỏ ở một khâu nào đó sẽgây ảnh hưởng đến các khâu còn lại gây tốn kém thời gian và chi phí. Vì vậy, bên cạnhđội ngủ CBT có trình độ kĩ năng tốt, thành thạo trong các nghiệp vụ thuế còn cần cóđộingũ cánbộkĩ thuật có trìnhđộcaovềCNTTđểxửlý cácvấnđềvềlỗikĩ thuật trên hệ thống.
Một điểm quan trọng chính là các DN, họ là đối tượng tham gia vào hệ thống thuế điện tử. Để hệ thống thuế điện tử phát huy được thế mạnh so với hệ thống truyền thống cũng như mang lại giá trị và lợi ích cho các DN thì bản thân các DN cũng cầnđược đào tạo, hướng dẫn để am hiểu về các nghĩa vụ về thuế trên hệ thống thuế điện tửvà thành thạo về CNTT.
Thứ tư, điều kiện về tổ chức truyền dẫn dữ liệu
Hệthống thuếđiệntửchỉcóthểđượctriển khai áp dụng khi CQT và cáctổchức cung cấp hạ tầng CNTT có thể đảm bảo cho việc truyền dẫn dữ liệu từ NNT đến CQT và các cơ quan có liên quan được đảm bảo và vận hành một cách thông suốt.
Tổ chức truyền dẫn dữ liệu đóng vai trò là một đơn vị trung gian kết nối NNT cũng như các bên liên quan với CQT thông qua mạng dữ liệu điện tử – mạng giá trị gia tăng (Value Added Network – VAN). Ưu điểm của VAN là có tính mở cao, tận dụng
được các điểm mạnh của hạ tầng truyền thông và để đáp ứng từng mục đích cụ thể của từng mạng VAN chỉ cần bổ sung thêm thiết bị kỹ thuật đặc thù. Ngoài ra, việc quản lýcác bên tham gia, thực thi các biện pháp an ninh, an toàn, bảo mật và toàn vẹn thông tin trên một mạng VAN dễ dàng hơn việc quản lý trên các mạng công cộng (Internet). Việc sử dụng VAN cho hệ thống thuế điện tử phải tuân thủ theo các tiêu chuẩn để đảm bảo tính chính xác và chuẩn hoá cao của dữ liệu nhằm tạo thuận lợi cho việc cập nhật, sử dụng, lưu trữ và khai thác thông tin phục vụ cho công tác quản lý thuế trên hệ thống thuế điện tử.
2.2. Tuân thủ thuế2.2.1. Khái niệm
2.2.1.1. Khái niệm tuân thủ thuế
Tuânthủthuế, theo cách hiểuđơngiản nhất, “làmứcđộđốitượngchấp hành nghĩa vụ thuế được quy định trong luật thuế”. Tuân thủ thuế của NNT thể hiện ở việc chấp hành đầy đủ, kịp thời và đúng đắn các quy định của pháp luật thuế, cụ thể là việc chấp hành các tiêu chí thời gian, mức độ chính xác trung thực và đầy đủ của các hoạtđộng đăng ký thuế, khai thuế, nộp thuế và các nghĩa vụ khác về thuế của NNT.
Tương tự như vậy, cơ quan thuế của Australia (ATO) định nghĩa “tuân thủ thuế làviệc DN đáp ứng các nghĩa vụ thuế theo quy định của luật thuế và theo các quyết định của toà án”.
Khái niệm về tuân thủ thuế cũng đã được rất nhiều học giả và nhà nghiên cứuđưa ra và bàn luận:
Theo Jackson & Milliron (1986b) -mộttrong những nhà nghiêncứuđầutiênđưa ra khái niệm về tuân thủ thuế, tuân thủ thuế là “hành vi khai chính xác, đúng thời hạn và toàn bộ số tiền thuế mà không cần sự ép buộc của cơ quan quản lý thuế”.
Nhóm tácgiảRoth và Scholz (1989)đãđưara khái niệm rõ hơnvềtuânthủthuế là “tuân thủ với các quy định báo cáo thuế nghĩa là người nộp thuế phải nộp tất cảcáctờkhai thuế yêucầuvào thờiđiểmthíchhợpvà cáctờkhai thuế phải báo cáo chính xác nghĩa vụ thuế theo luật thuế, các quy định, và các quyết định của tòa án áp dụng vào thời điểm kê khai thuế”.
Verboon và Van Dijke (2007) cho rằng tuân thủ thuế là “sự sẵn lòng của người dân để tuân thủ cơ quan thuế bằng việc trả tiền thuế”.
Franzoni (1998) cho rằng tuân thủ thuế nghĩa là (i) báo cáo trung thực về nghĩa vụ thuế, (ii) thực hiện tốt các nghĩa vụ pháp lý về thuế, (iii) nộp cáo báo cáo thuế đúng hạn và (iiii) thanh toán tiền thuế đúng hạn.
Braithwaite và Wirth (2001) đã đưa ra một cách hiểu đơn giản hơn về tuân thủthuế là “thanh toán các khoản nợ thuế theo luật thuế và chuẩn mực kế toán”.
Alm và cộngsự(1992a) cũnghướngtớimộtcách hiểuđơngiản, côđọngvềtuânthủthuế là “việc báo cáo chính xác các khoản thu nhập chi phí theo đúng quyđịnh của luật thuế”.
Có thể nói, tuân thủ thuế tuy là một khái niệm khá phổ cập ngay từ khi thuế rađờinhưngđểđưaramộtđịnhnghĩa chungvềtuânthủthuếlạikhônghềđơngiản. Theo (Andreoni và cộng sự, 1998), tuân thủ thuế là một khái niệm có tính lỏng vì cóthểhiểu theo nhiều nghĩa khác nhautừnhững quanđiểmkhác nhau. Hay Lamb vàcộng sự (2004) cho rằng tuân thủ thuế là một chủ đề liên ngành đòi hỏi phải có một sựhiểu biết về chung về nhiều lĩnh vực như: pháp luật, kế toán, kinh tế, chính sách công cộng và khoa học chính trị. Khái niệm này tiếp tục được các nhà nghiên cứu tranh luận theo cách tiếpcậnvềtính chấp hành nghĩavụthuếtựnguyện hay khôngtựnguyện. Theođó,Kirchler và Wahl (2010),sựtựnguyện tuânthủbắtnguồntừýđịnhcủa người nộp thuế còn tuân thủ thuế bắt buộc là kết quả của của các hoạt động ép buộc tuân thủ. Các học giả hầu hết cho rằng quyết định tuân thủ thuế dù là tự nguyện hay bắt buộc của người nộp thuế bị chi phối bởi haiyếu tố:một là sự tin tưởng lẫn nhau giữangườinộpthuế và cơ quan thuế, hai là vai tròcủacơ quan thuế trong việc phát hiện sai phạm và xử lý/ trừng phạt những đối tượng sai phạm về thuế.
Tóm lại, có thể định nghĩa sự tuân thủ thuế của DN là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng luật định một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian.
2.2.1.2. Phân loại tuân thủ thuế
Các nhà nghiêncứuvềchủđềtuânthủthuếcủangườinộpthuếđãđưara rất nhiều tiêu chí khách nhau để xem xét và đánh giá mức độ tuân thủ thuế, hay nói một cáchđơngiản là phân chia tuânthủthuế thành các nhóm khác nhaudựatrênmộtsốcăn cứ nhất định.
• Căn cứ vào tính chất tuân thủ
Theo OECD, hành vi tuân thủ thuế của người nộp thuế chia thành hai nhóm:
– Tuân thủ hành chính: là việc người nộp thuế tuân thủ các quy định hành chính về đăng ký, kê khai, nộp thuế đúng hạn. Các quy định về tuân thủ hành chính thườngđược thể hiện rõ ràng trong các văn bản luật về thuế.
– Tuânthủkỹthuật: là việcngườinộpthuế thực hiện tính toán vànộpthuếchính xác theo đúng quy định của pháp luật về thuế. Việc đánh giá tuân thủ kỹ thuật
dựa trên hai yếu tố: các quy định về luật thuế cần được rõ ràng và dễ hiểu; có được dữliệu thực tế liên quan đến hoạt động chịu thuế của người nộp thuế.
• Căn cứ vào nội dung tuân thủ
Dựatheonộidung các nghĩavụthuế mà NNT phải tuânthủthì tuânthủthuếđượcphân loại thành: tuânthủtrong việc đăng ký thuế; tuânthủtrong việc kê khai thuế; tuân thủ trong việc nộp thuế; và tuân thủ trong việc báo cáo thuế. Cách phân loại này là cơ sở để so sánh, đánh giá và kết luận trên phương diện quy định cụ thể của pháp luật rằng NNT đã vi phạm nghĩa vụ về thuế như thế nào. Nếu NNT không thực hiện bất kỳ một trong các nghĩa vụ này thì có thể coi là không tuân thủ thuế. Đây là cơ sở để áp dụng các hình thức xử phạt theo quy định của pháp luật.
– Tuân thủ trong việc kê khai thuế là loại tuân thủ liên quan đến tỷ lệ người nộp thuế kê khai thuế. Khi tính toán tỷ lệ kê khai thuế, mẫu số luôn là số NNT đã đăng kýthuế nhưng trên thực tế, mẫu số này phải lớn hơn vì có một bộ phận người kinh doanhđã không thực hiện đăng ký với CQT.
– Tuân thủ trong việc nộp thuế là loại tuân thủ liên quan đến việc thanh toán sốtiền thuế đúnghạntheo quyđịnhcủapháp luật.Đểđolườnghành vi tuânthủnày (Akhand, 2012) đã tính toán phần trăm số thuế nộp đúng hạn với số thuế trên các báo cáo kê khai thuế.
– Tuân thủ trong việc báo cáo thuế là việc báo cáo các nghĩa vụ thuế, thu nhập hoặc chi phí của người nộp thuế một cách trung thực. Tuân thủ báo cáo thuế đo lường việc liệu thu nhậpcủangườinộpthuế cóbịgiấu đi hay chi phí cóbịlàm tăng thêm hay các khoản chi không đúng với nội dung kinh tế phát sinh.
• Căn cứ vào mức độ tuân thủ
NNT được đánh giá và phân loại theo một trong các mức độ tuân thủ pháp luật thuế như sau:
Mức 1: Tuân thủ cao
NNT được đánh giá có mức độ tuân thủ cao khi đáp ứng các điều kiện:
– Đang hoạt động và thực hiện đầy đủ, đúng hạn việc kê khai và chấp hành nộp các loại thuế phát sinh theo quyđịnh;sốthuếnộpphùhợpquy mô, lĩnhvựcđầutưkinh doanh của DN. Chấp hành tốt chế độ quản lý, sử dụng ấn chỉ thuế trong thời gian 2 năm trở về trước tính đến ngày đánh giá.
– Tỷ trọng nộp các loại thuế liên quan đến sản xuất kinh doanh trên doanhsố,đạt trên mức trung bình so với mức trung bình của các DN trong cùng lĩnh vực, ngành nghề.
– Trong thời gian 2 năm liên tục trở về trước tính đến ngày đánh giá không bịmột trong các hình thức xử lý vi phạm sau: không bị xử phạt vi phạm hành chính vềthuế; không trốn thuế, gian lận thuế; không vi phạm về kế toán thống kê tài chính DN; không có vụ việc vi phạm bị khởi tố vụ án.
– Không nợ thuế, không chậm nộp các khoản phí, lệ phí. Mức 2: Tuân thủ trung bình
NNT được đánh giá có mức độ tuân thủ trung bình khi không thuộc nhóm NNT tuân thủ cao và tuân thủ thấp.
Mức 3: Tuân thủ thấp
NNT được đánh giá có mức độ tuân thủ thấp nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
– Tính đến thời điểm đánh giá: chưa kê khai, nộp hồ sơ khai thuế và nộp thuếđầy đủ, đúng hạn ít nhất 1/3 số tờ khai trong vòng 12 tháng; có số lỗ lũy kế vượt quá50% vốn chủ sở hữu DN; bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế.
– Trong thời gian 2 năm liên tục trở về trước tính đến ngày đánh giá: bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế 2 lần trở lên; bị xử phạt do trốn thuế, gian lận thuế; không chấp hành quyết định kiểm tra, thanh tra thuế; vi phạm pháp luật hình sự bị khởi tố, điều tra;
– Có hành vi sử dụng ấn chỉ thuế bất hợp pháp hoặc sử dụng bất hợp pháp ấn chỉ thuế.
Mức 4: Không tuân thủ
NNTđượcđánh giá không tuânthủlà nhữngđốitượngNNT còn lại, không thuộc 3 nhóm mức độ trên.
2.2.2. Một số lý thuyết nghiên cứu về tuân thủ thuế2.2.2.1. Lý thuyết thông tin bất cân xứng
Vấn đề thông tin bất cân xứng lần đầu tiên được đề cập trong một bài báo kinhđiểnxuấtbảnvào năm 1978củanhà kinhtếhọcngườiMỹGeorge Akerlof: “The Market of Lemons: Quality Uncertainty and the Market Mechanism”. Trong nghiên cứu của mình, ông cho rằng người bán với nhiều thông tin về sản phẩm của mình thìkhôngsẵnlòng bánsảnphẩm chongườimua thiếu thông tinvềsảnphẩmđó.Còn
người mua lại cho rằng, nếu người bán sẵn lòng bán ngay sản phẩm của họ với giá màngười mua đưa ra, điều đó nghĩa là giá mua đó đã cao hơn giá trị của sản phẩm. Vấnđề thông tin bất cân xứng đã dẫn đến giá cả của sản phẩm trên thị trường bị đánh giáthấp khi người mua và người bán không có cùng mức độ thông tin.
Thông tinbấtcân xứngđượchiểu là hiệntượngxảyra khimộttrong các bên giao dịch không biết tất cả và chính xác những thông tin cần biết về bên kia để đưa ra quyết định đúng đắn trong giao dịch. Đối với các quốc gia, tính minh bạch của thông tin trên thị trường, khả năng tiếp cận thông tin và cơ sở hạ tầng thông tin yếu kém thìthông tin bất cân xứng càng phổ biến và càng trở nên trầm trọng hơn.
Bấtcân xứngvềthông tin có bađặcđiểmcơbảnsau: (1) cósựkhác biệtvềthông tin giữa các bên giao dịch; (2) có nhiều trở ngại trong việc chuyển thông tin giữa các bên; (3) trong hai bên có một bên có thông tin chính xác hơn.
Tác động của thông tin bất cân xứng: sự xuất hiện của thông tin bất cân xứng làyếutốquan trọng kìm hãm giao dịch. Thông tinbấtcân xứngdẫntớihairủiro chính trênthịtrường là chọnlựađốinghịch vàrủirođạođức.Chọnlựađối nghịch là hậu quả của vấn đề thông tin bất cân xứng, được tạo ra khi diễn ra cuộc giao dịch và nguy cơlựachọnđốinghịchtỉlệthuậnvớimứcđộbấtcân xứng thông tin.Rủirođạođứclàhậuquảcủathông tinbấtcân xứngvớiđặcđiểm:
xuất hiện những hoạt động không tích cực (thiếu đạo đức) và các hoạt động trên làm tăng xác suất xảy ra hậu quả xấu.
Giải pháp cho vấn đề thông tin bất cân xứng:
– Tự sản xuất và bán thông tin;
– Tăng cường sự điều hành của chính phủ để tăng thông tin;
– Tăng cường vai trò của các trung gian tài chính để tăng chất lượng thông tin; – Thực hiện cơ chế tự sàng lọc thông tin.
2.2.2.2. Lý thuyết người đại diện
Lý thuyếtngười đạidiện giải thíchmốiquan hệ bản chất giữa ông chủ, ngườiđại diện và bên thứ ba. Jackson và Milliron (1986a) cho rằng có mối quan hệ đặc biệt với các nghiên cứu về tuân thủ thuế và khẳng định vai trò của người kê khai thuế chính là đại diện cho NNT. Nhiều nghiên cứu đã cố gắng đánh giá việc người kê khai thuếcó tác động thế nào đến việc tuân thủ của NNT với các luật thuế. Phần lớn các nghiên cứu về tuân thủ thuế đều cho rằng, người quản lý DN là đại diện cho các cổ đông luônđược khuyến khích các biện pháp để tối đa hóa lợi ích của DN. Friedman (1970) cho
rằng DN phải có trách nhiệm tuânthủpháp luật tuy nhiên nhiệmvụtrung tâm của nguời đại diện DN làm ra lợi nhuận càng nhiều càng tốt. Điều này thể hiện bản chất vìlợi nhuận “for profit” của DN. Bởi vậy, yếu tố kinh tế và lợi ích của DN sẽ làyếu tốthen chốtđểkhiến chongườiđạidiện tuânthủhay gianlậnthuế. Tuy nhiên,ởmột khía cạnh khác, Weber (1978) cũng cho rằng hành vicủaconngườicó những logic riêng và nhiều khi không chỉ là vì những lợi ích kinh tế.
2.2.2.3. Mô hình các cấp độ tuân thủ thuế của Grabosky và Braithwaite
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\Tác động của áp dụng Thuế điện tử đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt Nam
Tác động của áp dụng Thuế điện tử đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt Nam Tác động của áp dụng Thuế điện tử đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt Nam Tác động của áp dụng Thuế điện tử đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt Nam Tác động của áp dụng Thuế điện tử đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt Nam Tác động của áp dụng Thuế điện tử đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt Nam Tác động của áp dụng Thuế điện tử đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt Nam Tác động của áp dụng Thuế điện tử đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt Nam Tác động của áp dụng Thuế điện tử đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt Nam

