QUYỀN ĐƯỢC THÔNG TIN CỦA CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

QUYỀN ĐƯỢC THÔNG TIN CỦA CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Thông tin có tầmquan trọng và dần được khẳngđịnh qua lịch sử và quá trình phát triển của xã hội. Trong thời đại ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, loài người bước sang một xã hội văn minh mới được gọi là xã hội thông tin. Thông tin đã ảnh hưởng sâu sắc trong mọi mặt của đời sống, từ kinh tế, văn

hóa, xã hội, chính trị,đến việc đảmbảo các quyền cơ bản của con người… với nhiều hình thức hiện đại, đa chiều vì thông tin cung cấp cho người khác thì nó không mất đi mà lại tăng lên giá trị. Trong lĩnh vực chính trị – xã hội, thông tin cũng đóng vai tròthen chốt trong việc đánh giá mức độ dân chủ, công bằng của một quốc gia. Quốc gia nào có sự trao đổi thông tin hai chiều giữa nhà nước và người dân càng nhiều, càng thực chất thì dân chủ đượcthực hiện càng hiệu quả và mangđến công bằng trong xã hội nhiều hơn.

QĐTT của công dân là một trong các quyền cơ bản của con người, thuộc nhóm quyền dân sự – chính trị, được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế như Tuyên ngôn thế giới về quyền con người1 năm 1948, Côngước quốc tế về các quyền dân sự vàchính trị năm 1966, Công ước của Liên hiệp quốc về chống tham những mà nhà nước Việt Nam đã trân trọng ghi nhận và tham gia là thành viên.

Thực tế cho thấy, QĐTT là một trong những công cụ pháp lý quan trọngđể làm sạch và năng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, phòng chống tham nhũng và dân chủ hóa xã hội. Chính vì vậy, chỉ trong khoảng ba thập niên vừa qua, nhiều quốc gia đã ban hành các văn bản pháp luật riêngvề quyền được thông tin, điều này cho thấy sự quan tâm và ủng hộ đặc biệt rộng rãi của cộng đồng quốc tế về vấn đề này. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền này tại các quốc gia trên thế giới có sự khác nhau.Đã có những quốc gia có sự phát triển QĐTT mạnh mẽ,cũng có những quốc gia còn trìtrệ,thụ động. Đối với nhữngquốc gia mà ở đó tiếp tục duy trì sự “bí mật” thông tin, tất yếu sẽ dẫn đến tham nhũng, bất bình đẳngxã hội. Nếu công dân trong một đất nước không biết những gì đang diễn ra trong xã hội thì họ không thể giám sát hay tham giaý kiến, và đây sẽ không thể là tiền đề của một nền dân chủ. Với nhữngđất nước mànạn tham nhũng tràn lan, thì hạn chế QĐTT hay duy trì bí mật là một cứu cánh của những người có chức có quyền. Theo nhận định của Amartya Sen2, người đã đoạt giải Nobel về kinh tế năm 1998, thì hầu như không có tình trạng đói kém ở những quốc gia dân chủ và tự do thông tin.

1 Khoản 2 Điều 19 của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người quyđịnh:“Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận. Quyền này baogồm tựdo tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bấtkỳphương tiện thông tin đại chúng nàotuỳtheo sự lựa chọn của họ”.

2 The public’s right to know (1999), ARTICLE 19, London, tr.1.

2

Vì vậy, QĐTT đã trở thành một nhu cầu bứcthiết trong xã hội hiện đại ngày nay. Một trong những cách thức hữu hiệu nhất mà lãnh đạo của nhiều quốc gia đang tìm mọi cách để phát triển đất nước,cải thiện tình hình dân chủ trong xã hội là quyđịnh về QĐTT trong các văn bản pháp luật, vì quy định này sẽ tạo hành lang pháp lý để bảo vệ các quyền khác trong tiến trình xây dựng xã hội dân chủ.

Bên cạnh những tác động tích cực trên, trong một chừng mực nào đó,QĐTT cũng tạo ra những ảnh hưởng bất lợi nhất định đối với sự ổn định và phát triển kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước khi một số người lợi dụng quyền này để đưa ra các thông tin thiếu tính chính xác, không trung thực, vi phạm các quy địnhvề bảo vệ bí mậtnhànước và quyền riêng tư, và người tiếp nhận thông tin bị ảnh hưởng theo những thông tin đã tiếp nhận.

Ở Việt Nam, QĐTT củacông dân đã đượcthể hiện trong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độlên chủ nghĩa xã hội năm 1991 đã khẳng định bảo đảm QĐTT của công dân.Thể chếhóa đườnglối củaĐảng,Hiến pháp năm 1992 quy định: “Công dân có quyền được thông tin … theo quy định của pháp luật” (Điều 69)3. Gần đây, Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ươngĐảng(Khóa X) về tăngcườngsự lãnh đạo củaÐảngđối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đề ra nhiệmvụ nghiên cứu ban hành Luật bảo đảm QĐTT của công dân và coi đây là một trong các biện pháp phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước. Trong thực tiễn, việc thực hiện QĐTT của côngdân đã đạt được những kết quả bướcđầu,tuy nhiên xuất phát từ nhiều lý do khác nhau như thể chế chưa hoàn thiện, nhận thức của xã hội về QĐTT chưa được nâng cao, việc tổ chức thực hiện còn nhiều bất cập… do vậy việc thực hiện QĐTT ởnước ta chưa đạt được những kết quả như mong muốn.

Việc nghiên cứu các vấn đề liên quanđến QĐTT của công dân và chỉ thực sựphát triển mạnh từ năm 2008 đến nay khi Luật Tiếp cận thông tin được đưa vào chương trình xây dựng luật của Quốc hội. Những công trình này đã đề cập đến một sốkhía cạnh vềQĐTT trên những phương diện và phạm vi khác nhau như thực trạng pháp luật vềtiếp cậnthông tin ở Việt Nam, nhữngnộidung cơ bản QĐTTở nước ngoài, những giới hạn của QĐTT, những kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện luật tiếp cận thông tin ở các quốc gia, tính cấp thiết của việc ban hành Luật tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay… Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện và đầy đủ về cơ sở lý luận QĐTT, về pháp luật và thực tiễn thực hiện QĐTT, nhất là thực tiễn trong một số lĩnh vực củahoạtđộng quản lý nhà nước.Những vấn đềvề QĐTT của công dân chưa được làm rõ như:

thông tin, đặc điểm của thông tin do nhà nước quản lý; đặc điểm của QĐTT; nội hàm của QĐTT và mối quan hệ giữa các quyền cấu thành nội hàm; các biện pháp pháp lý

3 Trong Hiến pháp 1992 sửa đổi 2013 quy định tại Điều 25: “Công dân có quyền tiếp cận thông tin…”

3

đảmbảo QĐTT, vai trò của QĐTT trong việc bảo vệ các quyền khác, trong nhà nước pháp quyền và nền dân chủ của các quốc gia; đánh giá thực tiễn thực hiện QĐTT; các yếu tố tác độngđến sự cần thiết, định hướng hoàn thiện pháp luật và việc thực hiện QĐTT của công dân ở Việt Nam.

Như vậy, cho đến nay, vẫn chưa có một công trình khoa học nào ở cấp độ tiếnsỹ nghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống và toàn diện về QĐTT của công dân ở Việt Nam hiện nay.

Vì những lý do trên, việc nghiên cứu một cách có hệ thống và cơ bản về QĐTT của công dân là hoàn toàn cấp thiết, và đó là lý do tác giả quyết định lựa chọn đề tài:

“QUYỀN ĐƯỢC THÔNG TIN CỦACÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY” làm luận án tiến sĩ.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiêncứu củaluận án là làm rõ cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và thực trạng việc thực hiện QĐTT của công dân ở Việt Nam,từ đó đưa ra các đề xuất, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và các biện pháp bảo đảmQĐTT trongđiều kiện nước ta hiện nay.

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục đích nghiên cứu trên, luận án có các nhiệm vụ cụ thể sau:

– Đưa ra hệ thống cơ sở lý luận cơ bản về QĐTT của công dân, trên cơ sở phân tích khái niệm, đặc điểm và các biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện quyền này.

– Khảo sát thực tiễn trong nước và một sốnước khác, sau đó đánh giá, kết luận thực trạng pháp luật và việc thực hiện pháp luật về QĐTTcủacông dânở nướcta với những ưu điểm và những tồn tại cần khắc phục.

– Đề xuất các phương hướng, kiến nghị cụ thể hoàn thiện pháp luật về QĐTT của công dân trên cơ sở phân tích thực trạng, nhu cầu khách quan và quan điểm hoàn thiện.

3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 3.1 Phạm vi nghiên cứu

QĐTT là đề tài liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau như công dân Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch,tổ chức, tuy nhiên, trong phạm vi luận án này chỉ tập trung nghiên cứu QĐTT của công dân mà không đề cập đến QĐTT của các chủ thể khác.

QĐTT là đề tài nghiên cứu rộng, phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, tuy nhiên tác giả chỉ tập trung phân tích những nội dung cơ bản nhất về QĐTT của công dân trong một số lĩnh vực mà QĐTT thể hiện rõ nét nhất,đó là lĩnh vực thông tin

4

truyền thông; tài chính, ngân hàng; thương mại; tài nguyên, môi trường; thủ tục hành chính; và hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam

QĐTT được quy định bởi các tuyên ngôn,điều ước quốctế và khu vực, các văn kiện của Đảng,quy định pháp luật, tuy nhiên, Luận án chỉ tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn thực hiện quyền này ở Việt Nam từ 1992 đến nay vì đây là giai đoạn mà QĐTT của công dân được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp 1992.

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các nguồn tài liệu của một sốnước để so sánh, đối chiếu như Thụy Điển, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ,Trung Quốc… Vìđây là những quốc gia mà QĐTT tương đối phát triển và ở nhiều thể chế chính trị khác nhau.

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiêncứucủa Luận án là lý thuyết và thực tiễn thực hiện QĐTT của công dân ở Việt Nam, gồm những vấn đề sau:

– Phân tích các quan điểm hiện nay về thông tin và QĐTT, đưa ra khái niệm, đặcđiểm, nộidung và ý nghĩa của QĐTT của công dân; các thành tố tạo nên bảo các biện pháp pháp lýđảmbảo việc thực hiện các QĐTT của công dân; làm rõ mối quanhệgiữa QĐTT với các quyền tự do công dân khác.

– Làm sáng tỏ luận điểm: QĐTT của công dân là quyền cơ bản của công dân, có vị trí quan trọng trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như hiện nay; là một trong những lĩnh vực quyền thể hiện giá trị xã hội cao vì là cơ sở để bảo vệ các quyền công dân khác; là “công cụ” phòng chống tham nhũng hiệu quả.

– Phân tích thực trạng pháp luật về QĐTT của công dân trong một sốlĩnh vực, đánh giá các thành tựu cũng như những hạn chế trong việc thực hiện quyền này.

– Xây dựng, củng cố quan điểm về bảo đảm QĐTT trong điều kiện phát huy dân chủ và xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam; đề xuất những giải pháp cụ thểtronghệ thống tăngcườnghiệu quả bảo đảmQĐTT của công dân phù hợp với công cuộc đổi mới kinhtế,chính trị của đất nước và hội nhập quốc tế. Những kết luận trong luận án là những kiến nghị góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận và pháp lý về QĐTT.

4. Dự kiến kết quả nghiên cứu

Là mộtcông trình nghiên cứu chuyên sâu, kết quả nghiên cứu sẽ là sự bổsung quan trọng về lý luận cũng như thực tiễn vào việc đáp ứng QĐTT của công dân ở Việt Nam hiện nay. Do đó, công trình có giá trị tham khảo đối với sinh viên đại học và cao học luật, phục vụ cho công tác nghiên cứu và giảng dạy pháp luật cũng như một sốchuyên ngành liên quan ở các trườngđại học. Trong một chừng mực nhất định, luậnán được dùng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy các môn học liên quan đến hoạt động của nhà nước, công dân và quyền tự do của công dân.

 

QUYỀN ĐƯỢC THÔNG TIN CỦA CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
QUYỀN ĐƯỢC THÔNG TIN CỦA CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

CHƯƠNG 1:

TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦALUẬN ÁN

1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu

1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

12

1.2.3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 1.2.1 Cơ sở lý thuyết

1.2.1.1 Câu hỏi nghiên cứu

Thứ nhất, thông tin là gì? QĐTT của công dân là gì? Đặc điểm của QĐTT và ýnghĩa của QĐTT của công dân? QĐTT của công dân có nội hàm như thế nào; quyền phổ biến thông tin có thuộc nội hàm QĐTT hay không; QĐTT, quyền tự do thông tin, quyền được thông tin giống nhau hay khác nhau?

Thứ hai, QĐTT của công dân được quy định như thế nào trong quốc tế và pháp luật Việt Nam; các biện pháp pháp lý bảo đảm thực hiện quyền như thế nào?

Thứ ba, vị trí và vai trò của QĐTT trong thời đại ngày nay như thế nào?

Thứ tư, việc triển khai thực hiện QĐTT của công dân trong thực tiễn như thế nào; các biện pháp pháp lý bảo đảm được triển khai thực hiện như thế nào?

Thứ năm, ý thức pháp luật và năng lực thực hiện QĐTT của công dân, cán bộ nhà nước như thế nào trong thực tiễn?

Thứ sáu, các yếu tố nào tác động đến việc hoàn thiện QĐTT của công dân?

Thứ bảy, việc hoàn thiện pháp luật và cơ chếđảmbảo QĐTT ở Việt Nam theo hướngnào; các biện pháp hoàn thiện là gì?

1.2.1.2 Lý thuyết nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận là chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng các quan điểm chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trong xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

1.2.1.3 Các giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở nền tảng các nghiên cứu về QĐTT của công dân được quy định trong

14

pháp luật Việt Nam và cácđiều ước quốctế,tác giả xác định luận án cần phải hướng vào trình bày một số giả thuyết khoa học sau:

Thứ nhất, quyền được thông tin của công dân là khái niệm được sử dụng để nói đến quyền của công dân được tìm kiếm thông tin, tiếp nhận thông tin do nhà nước đang quản lý, theo các cách thức trực tiếp lẫn gián tiếp nhằm thỏa mãn các nhu cầu cuộc sống của mình cũng như để bảo vệ và thực hiện các quyền năng khác đã được pháp luật ghi nhận; đồng thời quy định nghĩa vụ của nhà nước phải bảo đảm cho tất cảmọi người được tiếp cận các nguồn thông tin mà trước tiên là thông tin do chính bản thân các cơ quan nhà nước đangnắmgiữ hoặc quản lý.

Thứ hai, QĐTTđã được ghi nhận trong pháp luật quốc tếvà nhiều quốc gia. Nhà nước có vai trò quyếtđịnh và tác động mạnhmẽ đến việc thực hiện QĐTT của công dân, vì QĐTT của công dân chỉ được thực hiện khi nhà nước chủ động cung cấp thông tin và đưa ra các biện pháp pháp lý đảm bảo thực hiện quyền này theo đúng quyđịnh pháp luật, vì nếu không có các biện pháp bảo đảmthì các cơ quan nhà nước sẽkhông thực hiện hoặc thực hiện khôngđầy đủ quyền này,đồngthời cũng khó ngăn chặn tình trạng một số chủ thể lạm quyền hoặc lợi dụng QĐTT của công dân để xâm phạm lợi ích củacác chủthể khác. Không có đảmbảovật chất của nhànước,các quyền con người nói chung, QĐTT nói riêng chỉ là những lời tuyên bố mà không được thực hiện trong thực tiễn.

Thứ ba, quyền được thông tin của công dân có vai trò rất quan trọng trong thờiđại ngày nay, là quyền để bảo vệ các quyền công dân khác,đảmbảo cho nhà nước công khai, minh bạch, góp phần đấu tranh phòng chống tham nhũng, góp phần phát triển nền dân chủ của các quốc gia, xây dựng nhà nước pháp quyền.

Thứ tư, quyền được thông tin của công dân và cơ chế bảo đảm quyền nàyđược thể hiện ngày càng cao trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Có nhiều văn bản quyđịnh về QĐTT và các nộidung liên quan nhưng chưa có cơ chếđảmbảothực hiện trong thực tiễn; nhiều văn bảncòn mâu thuẫn, chồng chéo, chưa thựcsựtheo kịp sựphát triển xã hội.

Thứ năm, ý thức pháp luật và năng lực thực hiện QĐTT của công dân, cán bộnhà nước còn hạn chế, chưa theo kịp sự phát triển của cuộc cách mạng thông tin.

Thứ sáu, cùng với sự phát triển củakhoa học và công nghệ, Nhànước Việt Nam trong những năm qua đã nhanh chóng xây dựng được cơ sở vật chất hạ tầngkỹthuật công nghệ thông tin hiện đại, góp phần đảm bảo việc thực hiện QĐTT của công dân, tạo điều kiện cho công dân tiếp cận thông tin nhanh chóng, thuận lợi và kịp thời hơn. Tuy nhiên, năng lực bảo đảm và điều kiện vật chất bảo đảm QĐTT vẫn còn nhiều hạn chế nên nhiều quy định chưa thể triển khai trong thực tế.

Thứ bảy, hoàn thiện pháp luật và những bảo đảmpháp lý cho việc thực hiện QĐTT của công dân phải được tiến hành trong tổng thể của cơ chế bảo đảm quyền con

15

người và các quyền cơ bản khác của công dân, với nhận thức củacả xãhội vềvị trí, vai trò của QĐTT trong mối tương quan chặt chẽ với các quyền công dân khác.

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu

Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, luận án vận dụng phương pháp luận của chủ

nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác–Lênin. Đây là phương pháp luận khoa học được vậndụng nghiên cứu trong toànbộ luận án để đánh giákhách quan QĐTT của công dân ở nước ta hiện nay. Luận án cũngđược nghiên cứu dựa trên đường lối, chính sách phát triển kinh tế – xã hội củaĐảngvà nhà nước ta.

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận án là phân tích, tổng hợp, luật học so sánh, xã hội học cụ thể, thống kê; kết hợp lý luận và thực tiễn để đưa ra các kết luận, đánh giá nhằm giải quyết các nội dung liên quan đến pháp luật và việc thực hiện pháp luật về QĐTT của công dân ở Việt Nam.

Để hoàn thành mục đích nghiên cứu tác giả kết hợp nhiều phương pháp trong từng phần của luận án, phương pháp phân tích, so sánh và tổng hợp được sử dụng nhiều nhất trong luận án.Đối với mỗimục thì có một số phương pháp nghiên cứu chủđạo để làm rõ mục đích nghiên cứu. Cụ thể là:

Ở chương 2, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp thống kê để đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về QĐTT của công dân, nội hàm, đặc điểm, ý nghĩa của QĐTT của công dân.

Ở chương 3, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp luật học so sánh và phương pháp thống kê để làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành về QĐTT, các biện pháp pháp lý đảmbảo và thực tiễn thực hiện QĐTT ởnước ta.

Ở chương 4, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp đối chiếu để đề ra phươnghướngvà giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật và các biện pháp đảm bảo QĐTT ở Việt Nam.

16

CHƯƠNG 2:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN ĐƯỢC THÔNG TIN

CỦA CÔNG DÂN

2.1 Những vấn đề chung về quyền được thông tin của công dân 2.1.1 Khái niệm, đặc điểm và các hình thức thể hiện thông tin

2.1.1.1 Khái niệm thông tin

Trong lịch sử tồn tại và phát triển của mình, con người thường xuyên cần đến thông tin. Ngày nay, với sự bùngnổ củacuộc cách mạng thông tin thì thông tin trởthành một trong những nhu cầu sống còn của con người, là nền tảng cho tất cả các hoạt động của xã hội. Vì vậy, mọi người phải có cơ hội được tham gia và không ai bị loại ra khỏi lợi ích của xã hội thông tin6 và khái niệm “thông tin” đang trở thành khái niệm cơbản, chung cho nhiều ngành khoa học.

Trong TừđiểnTiếng Việt có hai cách địnhnghĩavề thông tin: (1)“thông tin làđiều hoặc tin được truyền đi cho biết, sự truyền đạt, sự phản ánh tri thức dưới các hình thức khác nhau, cho biết về thế giới xung quanh và những quá trình xảy ra trong nó”7 và (2) “thông tin là tin tức được truyền đi cho biết hoặc tin tức về cácsựkiện diễn ra trong thế giới xung quanh”8.

Những nhà triết học định nghĩa: “Thông tin là cái đa dạng được phản ánh”9, hoặc “Thông tin là nội dung thế giới bên ngoài được thể hiện trongsự nhận thức của con người” (N.Viner)10.Dưới góc độ khoa học tin học thì: “Thông tin là tậphợp các dữliệu sau khi được xử lí cho ta những hiểu biết về một vấn đề nào đó.Thông tin lànhữngdữ liệu có thể làm thay đổi tình trạng kiến thức của một người (những gì màngười đó biết) và đại diện vật chất cho những gì trừu tượng có thể tạo ra được sự thayđổi này”11.

Đối với các quốc gia có luật về QĐTT, thì định nghĩa thông tin theo nhiều cách khác nhau. Như Luật về công khai thông tin của các cơ quan chính quyền Hàn Quốcđược thông qua năm 1996 quy định: “thông tin có nghĩa là các tin tức được soạn thảo, sở hữu và quản lý bởi các cơ quan chính quyền trong khi họ thi hành nhiệmvụ của mình”12. Luật Tự do thông tin của Vương quốc Anh ban hành năm 2000, quy định

6 Hội nghị thượng đỉnh thế giới về xã hội thông tin thông qua tại Geneva tháng 12.2003. Xem http://www.worldsummit2003.org , (Truy cập ngày 10.7.2012)

7 Trung tâm Từ điển học (2011), Từ điển TiếngViệt Đà Nẵng, Hà Nội, tr. 1226.

8 Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1998),Đại từđiển Tiếng Việt,BộGiáodụcvà Đào tạo, Trung tâm Ngôn ngữ vàVăn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hoá-Thông tin, Hà Nội.

9 A.Đ. Urơxum (1975), Vấn đề thông tin trong khoahọc hiện đại,NXB. Khoa học Mátxcơva , tr. 25 (tiếng Nga). 10 Tập bài giảng tin học (1996), t.1, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, bộ môn Tin học, tr. 8.

11 Như trên.

12 http://www.freedominfo.org/regions/east-asia/south-korea/ (Truycập ngày 22.5.2012)

17

thông tin một cách đơn giản là: “những tin tức, dữ liệu, tài liệu được ghi lại dưới bất kỳ hình thức nào. Và thông tin này do cơ quan công quyền nắm giữ tại thời điểm nhậnđược yêu cầu”13 (Điều 1).

Luật về QĐTT của Ấn Độ năm 2005 quy định14 “thông tin có nghĩa là bất kỳhình thức nào, baogồmcác hồ sơ, tài liệu, bản ghi nhớ, thư điện tử, các quan điểm, các lời tư vấn, các thông cáo báo chí, thông tư, sắc lệnh,sổ hồ sơ,hợp đồng, báo cáo, bài thuyết trình, vật mẫu, mô hình, tư liệu lưugiữ dưới dạng điện tử và bất kỳ thông tin nào liên quan đến bất kỳ chủ thể tư nhân nào mà có liên quan đến hành chính, các hoạt độnghoặc các quyết định của một cơ quan hành chính nào đó, có thể phải tiếp cận bởi một nhà chức trách công cộng theo như quy định trong bất kỳ luật nào khácđang có hiệu lực” (Điều 2).

Pháp lệnh của Trung Quốc về công khai thông tin của chính quyền quy định:

“thông tin của chính quyền được nêu trong Pháp lệnh này được hiểu là bất cứ thông tin nào được tạo ra hoặc thu được trong quá trình thực thi chức năng nhiệm vụ chính thức của các cơ quan công quyền, mà được ghi chép hoặc lưu giữdưới bấtkỳ hình thức nào” (Điều 2)15. Hiến pháp và Luật thông tin chính thức Thái Lan quy định: “Người dân có QĐTT công của các cơ quan, công ty nhà nước hoặc tổ chức chính quyền địa phương trừ khi việc tiếtlộ đóảnhhưởng tới bí mật và an ninh quốc gia cũng như lợiích hợp pháp của cá nhân khác”.

Ở Việt Nam, pháp luật có quy định về QĐTT nhưng chưa xác định cụ thể thông tin là nhữngnộidung nào. Chỉ có văn bản có liên quanđến việc xácđịnh hình thức chứa thông tin là tài liệu được quy định tại Khoản 2 Điều 2 Luật Lưu trữ 2011. Nhưvậy, mỗi một lĩnh vực khác nhau thì có định nghĩa khác nhau về thông tin. Các khái niệm, quan điểm về thông tin nêu trên rất đa dạng và đều phù hợp theo từng lĩnh vực nghiên cứu. Trong phạm vi đề tài chỉ đề cập đến thông tin mà công dân có thể tiếp cận do nhà nước đangnắmgiữ.

Khái niệm thông tin trong QĐTT của công dân

QĐTT của công dân được áp dụng đối với thông tin do nhà nước đang nắm giữ, vì đây là loại thông tin được đánh giá là quan trọng nhất và đại diện cho loại thông tin mà các công dân bình thường đều cần đến khi thực hiện các quyết định có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ.Hơn nữa, các cơ quan nhà nước nắmgiữ các thông tin không phải cho chính bản thân họ mà là cho lợi ích công cộng đã in sâu vào suy nghĩ của mọi người trên khắp thế giới16. Nói cách khác, cơ quan nhà nước không phải lưu giữ thông

13 http://www.legislation.gov.uk/ukpga/2000/36/section/1 (Truy cập ngày 20.5.2012) 14 http://www.freedominfo.org/regions/east-asia/india/ (Truy cập ngày 04.5.2012)

15 Regulations of the People’s Republic of China on Open Government Information, 2007, effective May 1, 2008 http://www.law.yale.edu/intellectuallife/openinformation.htm (Pháp lệnh Công khai thông tin chính phủ của Nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa) (Truy cập ngày 20.5.2012)

16 Tony Mendel, “Báo cáo đánh giá so sánh pháp luật về tiếpcậnthông tin”,“Hội thảoquốc tế xây dựng Luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam”, Hà Nội ngày 6-7/5/2009, tr. 4.

18

tin thay mặt chính họ, mà là thay mặt của tấtcả các thành viên trong xã hội để bảođảmlợi ích cho cả cộng đồng. Vì thế,về mặt nguyên tắc, tất cả những thông tin liên quan đến lợi ích công cộng là có thể tiếpcận được,đócó thể là những thông tin về các vấn đề khác nhau của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội… về các vấn đề liên quan đến quốc kế dân sinh, về các quyền và sự tự do của công dân. Như thế, lợi ích công cộng dườngnhư là lý do để giải thích cho sự tồn tại của quyền được thông tin và những thông tin có thể tiếp cận được.

Xuất phát từ đặc điểmvà trình độ phát triển của mình, các nước có cách nhìn nhận và quy định khác nhau về thông tin do nhà nước quản lý. Phạm vi các vấn đề, lĩnh vực cần phải được công khai theo luật của mỗinước phảnánh đặc điểm lịch sử cụ

thể, sự phát triển kinh tế – xã hội, sự đa dạng về văn hóa cũng như mối quan tâm khác nhau của công chúngđối với hoạt độngcủacơ quan nhà nước.Tuy nhiên, dù là các nước quy định trong luật theo cách thức nào thì cũng vẫn tuân thủ nghĩavụ phải chủđộng công bố của các cơ quan nhànước.Những thông tin chính cần cung cấp gồm:

– Thông tin về hoạt động, chức năng, cơ cấu tổ chức, mục tiêu, ngân sách, thông

tin kiểm toán,kết quả đạt được,…

– Thông tin hướng dẫn thủ tục, quy trình. Người dân có thể áp dụng để sử dụng dịch vụ công do cơ quan cung cấp hay để tham gia vào quá trình xây dựng chính sách, hoặc đề xuất xây dựng luật pháp;

– Các thông tin khác do cơ quan nhà nước nắm giữ;

– Chủ thể yêu cầu thông tin có thể yêu cầu thông tin về bản thân họ từcác cơquan nhà nước đangnắmgiữ thông tin cá nhân17.

Ngoài ra, một số nước như Thụy Điển, Anbani,…sử dụng thuật ngữ tiếp cận “tài liệu chính thức” không bao gồmcác tài liệu đang trong quá trình chuẩn bịhoặc dựthảo khôngđược sử dụngđể ban hành quyết định cuối cùng. Riêng thông tin qua truyền miệng (như thông tinđược thảo luận,kết luận trong các cuộc họp) thì hầu nhưchưa pháp luật nước nào quy định.

Thông tin có thể được chia thành nhiều loại như: (1) Căn cứ vào nội dung, thông tin gồm: thông tin về kinh tế,văn hóa, xã hội, pháp luật…; (2) Căncứ vào người sở hữu, tạo ra, thông tin gồm: thông tin của nhà nước, thông tin của cá nhân, thông tin của

tổ chức…

Như vậy, khái niệm “thông tin” trong QĐTT của công dân được định nghĩa nhưsau: “Thông tin là hệ thống những tin tức, dữ liệu, tài liệu được hình thành trong quátrình hoạt độngcủa cơ quan,tổ chức, cá nhân đangđược các cơ quan nhà nước nắm giữ, được thể hiện qua các văn bản của cơ quan nhà nước, dự án, bản vẽ thiết kế,bảnđồ,công trình nghiên cứu, sổ sách, biểu thống kê; âm bản, dương bản phim, ảnh, vi phim; băng, đĩa ghi âm, ghi hình; tài liệu điện tử”.

17 Chu Thị Thái Hà (2009), Thông tin được tiếp cận và nội hàm của quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 154, tháng 9.2009.

19

2.1.1.2Đặc điểm và cáchình thức thể hiện thông tin

Thông tin do các cơ quan nhà nước nắm giữ có những đặc điểm sau:

– Thông tin của các cơ quan nhà nước đang nắm giữ thuộc quyền quản lý của các cơ quan nhà nước, nhưng không phải chỉ do các cơ quan nhà nước tạo ra, mà còn do tất cả các cá nhân,tổchức chịu sự quản lý của nhà nước tạo ra, bao gồm: (1) thông tin do cơ quan nhànước tạo ra là thông tin do chính cơ quan nhà nướcđó xác lập trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình; và (2) thông tin nhận được là thông tin mà cơ quan nhà nước có được từ các nguồn khác trong quá trình phối hợp với cơquan, tổ chức, cá nhân để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.

– Nội dung thông tin bao trùm toàn bộ hoạt độngcủanhà nước, là cơ sở pháp lýđể các đối tượngchịusự quản lý thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật quyđịnh. So với các loại thông tin khác chỉ đề cập đến mộthoặc mộtsố nộidung, thông tin do nhà nước quản lý luôn có nội dung đa dạng, liên quan đến tất cả hoạt động của nhà nước, từ lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường đến chính sách đối ngoại, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước,chế độ công vụ,cán bộ,công chức, quyền và nghĩa vụ của công dân, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách nhà nước…

– Thông tin trong hoạt độngcủa các cơ quan nhà nước là thông tin mang tính chính thức, được sử dụng làm cơ sở pháp lý trong hoạt độngquản lý nhà nước,luônđược ghi trong hồ sơ lưu của các cơ quan. Vì thông tin do cơ quan nhà nước quản lýđược giới hạn trong mối quan hệ hai chiều giữa nhà nước và người dân nên các thông tin này có giá trị pháp lý nhằm để các cơ quan nhà nước quản lý xã hội và người dân thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Còn các loại thông tin khác không mang tính chính thức, thông tin không được sử dụng như là cơ sở pháp lý.

– Thông tin trong hoạt độngnhà nước gắn liền với quyền lực nhà nước,nhiều thông tin ảnh hưởng rất lớn đến quyền tự do cơ bản của công dân hoặc thông tin có giátrị kinh tế, nên nhiều chủ thể luôn mong muốn có cơ hội để tiếp cận các thông tin này.

– Thông tin donhà nước quản lý đượcxem như công cụ để thực hiện các quyền của cá nhân và việc có thông tin là biện pháp thúc đẩy, hỗ trợ cho việc thực hiện các quyền khác của chính chủ thể đó vì lợi ích vàđời sống của đại bộ phận nhân dân và nhằm tác động tích cực đếntình hình kinh tế,xã hội18. Ví dụ các thông tin về chính sách đất đai, về thuế thu nhập, về bảo hiểm y tế… do cơ quan nhà nước ban hành tácđộngmạnh mẽ đến đời sốngngười dân.

– Việc tạo ra, tìm kiếm,xử lý, sắp xếp, lưu trữ, và phổ biến thông tin phải tuân theo quy trình được pháp luật quy định. Đây là điểmkhác biệt với các loại thông tin

18 Xem thêm Điều 1 Pháp lệnh về công khai thông tin của chính quyền Trung Quốc quy định: “…mục đích của Pháp lệnh là thúc đẩy thực thi triệt để chức năng dịch vụ thông tin của chính quyền vì lợi ích và đời sống của đại bộphận nhân dân và nhằm tác động tích cực đến tình hình kinh tế, xã hội”.

20

khác về tính chính thức, vì những thông tin do các cá nhân,tổchức khác, thậm chí làmột số thông tin từ báo chí, truyền thông khôngđược mang tính chính thức nên thường ít chính xác hơn và việc xử lý thông tin cũng không theo quy trình phức tạp như thông tin do nhà nước nắm giữ.

– Các loại thông tin do nhà nước quản lý rất đa dạng, nhiều trường hợp xung đột nhau nhau khi xác định quyền được biết thông tin đó do liên quan đến lợi ích “công” và “tư” tức là bảo vệ bí mật nhà nước và bảo vệ quyền riêng tư, đây cũng đang là vấnđề phổ biến ở nhiều quốc gia. Ví dụ, một số loại thông tin do cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp nắmgiữ như chiến lược kinh doanh, bí mật kinh doanh, thông tin cá nhân thì nhà nước không có quyền quản lý; tuy nhiên, trong một số trường hợp, nhà nước vẫn có quyền quản lý vànắmgiữ các thông tin này như thông tinvề lý lịch tư pháp của công dân, thông tin về hoạt động kinh doanh, thuế của doanh nghiệp.

Hiện nay, việc tái cấu trúc khu vực công và quá trình tư nhân hóa, xã hội hóa các dịch vụ công dẫn đến nguy cơ QĐTT của công dân bị xâm phạm do có mộtlượng thông tin liên quan đến công dân được quản lý bởi các công ty có cổ phần nhà nước, các tổ chức thực hiện dịch vụ công như Văn phòng Công chứng, Văn phòng Thừa phát

lại, Công ty về bưu chính, viễn thông. Có rất ít sự thống nhất trong việc giải quyết vấnđề này cho dù một số tổ chức và các cơ sở chính sách công đã triển khai một số hoạtđộng liên quan đến quyền về thông tin.

– Thông tin do các cơ quan nhà nước nắmgiữ có vai trò quan trọng đối vớisựphát triển của nhân loại. Vì con người luôn có nhu cầu cho và nhận kiến thức để làm giàu đời sống vật chất và tinh thần nên khi bị tước QĐTT sẽ dẫn đến cuộc sống nghèo khó. Hơn nữa, thông tin, nhất là thông tinvề tri thức nhân loại, có ý nghĩa thiết thực giúp người có quyền truy cậpthông tin thực hiện các kế hoạch hoặc mụctiêu trong cuộc sống và bảo vệ quyền lợi khác của họ.

Hình thức thể hiện của thông tin

Hình thức thể hiện của thông tin là các dạng vật chất cụ thể mà thông tin được lưu kể từ ngày hình thành thông tin, bao gồm tất cả các nguồn thông tin, các bản lưu do cơ quan nhànước nắmgiữ dưới bất kể hình thức nào.

Các hình thức thể hiện của thông tin do nhà nước nắmbao gồm: biên bản, tài liệu, hồ sơ, dự thảo văn kiện được truyền đạt bằng miệng trong các cuộc họp hoặc từnhững người lãnh đạo của cơ quan nhà nước,thông tin lưu trong đĩa mềm, thẻ nhớ, băng ghi âm, băng hình hoặc bất kỳ dạng thiếtbị điện tửnào khác hoặc thông qua các việc in ra các tài liệu ở những nơi lưu trữ tư liệu bằng máy vi tính hoặc bằng các thiết bị khác. Hình thức nào được thừa nhận tùy thuộc vào pháp luật ở mỗi quốc gia. Hiện nay, nhiều quốc gia ghi nhận QĐTT chỉ có giá trị đối với các thông tin nhànước dưới dạng hồ sơ không phân biệt hình thức lưu giữ (tài liệu, băng, lưu trữ điện tử và cả các hình thức khác nữa) và thời điểm mà chúng được tạo ra.

21

Hiện nay, pháp luật chưa quyđịnhhình thức thể hiện của thông tin nhưng dưới góc độ khoa học pháp lý ở Việt Nam đã xác định thông tin được biết là tin tức, dữ liệu có tronghồ sơ, tài liệu do cơ quan nhànướctạo ra hoặc nhận đượctrong quá trình thực hiện chức năng, nhiệmvụ của mình và đang được các cơ quan này nắmgiữ. Hồsơ, tài liệu gồm bản viết, bản in trên giấy, bản chiếu, tranh,bản vẽ,hình ảnh, ảnh chụp, băng hình, băng ghi âm, đĩa mềm, thẻ nhớ hoặc bất kỳ một dạng vật chất nào có chứa tin tức, dữ liệu19

Tóm lại, thông tin có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội. Con người luôn cần có thông tin, nhất là những thông tin tác động trực tiếpđến đời sống của họ; từ sựra đời của bản tin thời tiết, đến sự rađời và lớn mạnh của ngành tình báo đã minh chứng mạnh mẽ cho vai trò của thông tin đối với đời sống không chỉ mỗi cá nhân màcòn với cả cộng đồng, dân tộc20. Vấn đề cơ bản khi nghiên cứu về thông tin trong QĐTT là nộidung thông tin quan trọng hơn hình thức chứa đựngthông tin, vì vậy người dân có thể đưa ra yêu cầu cần biết một thông tin nào đó và cơ quan nhà nước cótrách nhiệm cung cấp các nguồn thông tin mà mình đang nắm giữ chứa đựng thông tinđó cho người có yêu cầu.

2.1.2 Khái niệm, đặc điểm quyền được thông tin của công dân

2.1.2.1 Khái niệm quyền được thông tin của công dân

Khi tiếp cậnvới các khái niệm trên thế giới về “quyền được thông tin”, hầu hết các khái niệmđều đềcập một cách trực tiếp và ghi nhận đó là một quyền pháp lý, là một trong những quyền hợp pháp và quan trọng của con người. Nội dung các khái niệm cũngđồngthời đề cập đến sự tiếp cận một loại thông tin – thông tin nhà nướcđang nắm giữ, mà ít đềcập đếnviệc tiếp cận các loại thông tin khác. Trong khoa học pháp lý quốc tế hiện nay cũng như trong thực tiễn ban hành và thực hiện pháp luật vềQĐTT, dường như không có nhiều sự tranh luận về khái niệm QĐTT mặcdù, về tên gọi, quyền này có thể được thể hiện trong các văn kiện pháp lý quốc tế cũng như quốc gia không hoàn toàn giống nhau. QĐTT của công dân được xem xét theo những khía cạnh sau:

QĐTT của công dân là khả năngxử sự và lựa chọn xử sự của công dân trong nhữngđiều kiện cụ thể được pháp luật quy định nhằm có được thông tin mà các cơquan nhà nước đang nắm giữ. QĐTT của công dân có những biểu hiện sau: (1) công dân có quyền được tiếp nhận thông tin từ các cơ quan nhànước hoặc có quyền tìm kiếm thông tin để thực hiện quyền chủ thể của mình; (2) công dân có khả năng yêu cầu

19 Xem Điều 3 dự thảo Luật Tiếp cận thông tin do Bộ Tư pháp soạn thảo.

http://moj.gov.vn/dtvbpl/Lists/Danh%20sch%20d%20tho/View_Detail.aspx?ItemID=34 (Tra cứu ngày 09.2.2012).

20 Lê Thị Hồng Nhung (2011), Quyền tiếp cận thông tin từ góc độ xã hội học quyền con người, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 24.

22

các chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin thực hiện nghĩa vụ phải cung cấp thông tin khi có yêu cầu hoặc yêu cầu họ chấm dứt các hành vi cản trở như từ chối cung cấp thông tin nhằm đáp ứng quyềnđược có cácthông tin nhà nước của mình; (3) công dân có khả năng yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp hoặc áp dụng các biện pháp cưỡngchế cần thiếtđể bảo vệ quyền của mình khi bị vi phạm như trường hợp quyền khiếu nại, khởi kiện khi việc cảntrở cung cấp thông tin gây thiệt hại cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Trong khi đó, một số nhà khoa học đưa ra định nghĩa QĐTT là quyền của công dân được tiếp cận với các thông tin được nhà nước nắm giữ thông qua việc đưa ra yêu cầu và nhà nước có nghĩa vụ thực hiện việc cung cấp thông tin này21, (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác về việc miễn trừ nghĩa vụ cung cấp thông tin). Hoặc trong báo cáo năm 1998 và 2000, Đặc phái viên của Liên hợp quốc về Tự do ý kiến và ngôn luận cũngđã khẳngđịnhrằng: “QĐTTlà một quyền con người độc lậpnằmtrong ngoại diên của tự do ngôn luận được các văn kiện quốc tế về quyền con người bảo hộ. QĐTT quy định nghĩa vụ của nhà nước phải bảo đảmcho tất cả mọi người được tiếp cận các nguồn thông tin mà trước tiên là thông tin do chính bản thân các cơ quan nhànước đang nắm giữ hoặc quản lý dưới hình thức này hay hình thức khác”22.

QĐTT của công dânchỉ được thựchiện trong mối tương tác của việc thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa một bên là nhà nước, một bên là người dân và gắn liền với trách nhiệm bảo đảm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Người dân có quyền yêu cầu được tiếp cận thông tin nào đó do các cơ quan nhà nước đang nắm giữ và các cơ quan nhà nước có nghĩa vụ phải đáp ứng các yêu cầu đó. Vì vậy, quyền này được hiểu và được thực hiện như thế nào phụ thuộc rất nhiều vào trách nhiệm của các cơquan nhà nước trong việc chủ động cung cấp thông tin.

QĐTT của công dân bao gồm quyền chủ động và quyền thụ động thực hiện. Quyền chủ độngthể hiện công dân chủ động tiếp nhận thông tin từ việc yêu cầu cơquan nhà nước cung cấp thông tin, điều này dẫn đến trách nhiệm tôn trọng và thực hiện của cơ quan nhà nước. Quyền thụ động được thể hiện qua việc công dân không bịngăn cản, không bị xâm hại củabất kỳ chủ thểnào thể hiện tương ứng với trách nhiệm đảmbảo của nhà nước.

Ở Việt Nam, QĐTT của công dân được quy định trong Hiến pháp 1992, nhưng đến nay chưa có một định nghĩa chính thức nào về quyền này trong các văn bản pháp luật. Tuy nhiên, nhiều văn bản cũng đã đề cập đến quyền này một cách trực tiếp nhưLuật Phòng chống tham nhũng, hoặc gián tiếp như Luật Báo chí, Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường.

21 Toby Mendel (2003), Tựdo thông tin: Một khảo sát so sánh pháp lý (Freedom of Information: A Comparative Legal Survey), UNESCO, tr.v.

22 Văn kiện Liên hợp quốc mã số E/CN.4/1998/40, đoạn 14-16; Văn kiện Liên hợp quốc mã số E/CN.4/2000/63,đoạn 41-43.

23

Quyền được thông tinvà quyền tiếp cận thông tin

Thực tiễn những thuật ngữ này sử dụng tươngđươngvới nhau. Trong nhiều tài liệu về quyền con người, quyền công dân thì hai thuật ngữ này được sử dụng thay thếcho nhau và không có sự phân biệt đángkể nào. Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữQĐTT vẫn còn một số ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng QĐTT thể hiện sự thụđộngđược cung cấp thông tin mà không thể hiện được sự chủ động yêu cầu cung cấp thông tin hay tìm kiếm thông tin23. Cách đề cập này cũng có điểmhợp lý, tuy nhiên, quan điểm này mới chỉ xem xét cụmtừ “QĐTT” ở góc độ hẹp của khái niệm. “Được thôngtin” phải hiểu ở góc độ kết quả thụ hưởngcuối cùng. Sự thụ hưởng ở đây có thểlà hiển nhiên (do người khác chủ động cung cấp) cũng có thể là không hiển nhiên.Đểđược thông tin, các chủ thể thụhưởngcầnphải có những hànhđộngtác động nhấtđịnh (yêu cầu cung cấp thông tin) đến chủthể nắm giữ thông tin. Được thông tin cóthể hiểu là kết quả của hành vi chủ động thông tin từ phía chủ thể nắm giữ thông tin tới chủ thể tiếp nhận,tứclà chủ thểnắmgiữ thông tin chủđộng công khai thông tin vàchủ thể tiếp cận thu nhận thông tin một cách bị động. Được thông tin ở đây cũng cóthể hiểu là việc chủ thể nắmgiữ thông tin đáp ứngcác yêu cầu (yêu sách) đòi được cung cấp thông tin của chủthể tiếp nhận thông tin, tứclà chủthể nắm giữthông tin cung cấp thông tin một cách bị độngtheo các yêu cầu cụ thể củachủ thể tiếp nhận thông tin24.

QĐTT chính là quyền có được thông tin theo cách trực tiếp lẫn gián tiếp và mục tiêu cuối cùng là có thông tin. QĐTT được sử dụng phù hợp với quy định tại Điều 69 của Hiến pháp 1992: “Côngdân… có quyền được thông tin”. Mặt khác, Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khóa X) về tăng cường sự lãnhđạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đãchỉ rõ việc nghiên cứu và ban hành Luật Bảo đảm QĐTT của công dân. Đến Hiến pháp 1992sửađổi 2013 quy định tại Điều 25 là “côngdân có quyền tiếp cận thông tin” càng khẳngđịnh thêm hai quyền này là tương đương về mặt nội hàm.

Quyền tiếp cận thông tin cũng bao gồm quyền tìm kiếm thông tin và quyền tiếp nhận thông tin, nên cả hai thuật ngữ “quyền tiếp cận thông tin” và “quyền được thông tin” đều đềcập đếnquyền của chủ thể được tự do tìm kiếm và tiếp nhận thông tin. Từđây cho thấy, nội hàm của QĐTT và quyền tiếp cận thông tin là đồng nhất.

Quyền được thông tinvà quyền tự dothông tin

23 Ngô Đức Mạnh (2008), Quyền tiếp cận thông tin (Sách tham khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy), Viện Nghiên cứu Quyền con người, Hà Nội, tr. 56.

24 Lê Thị Hồng Nhung (2011),“Tiếp cận quyền tiếp cận thông tin dưới góc độ quyền con người”,Tạp chíNghiên cứu lập pháp (5), tr. 22-27. 10

24

Hiện nay thuật ngữ “quyền được thông tin” (Right to information) được sử dụng phổ biến, tuy nhiên trong các văn kiện của Liên hợp quốc từ sau năm 1945 sử dụng thuật ngữ “Tự do thông tin” (Freedom of information). Khi đó, thuật ngữ “tự do thông tin” hàm chứa một nội hàm rộng với nghĩa là công nhận và bảo hộ quyền của con người được tựdo tiếp nhận, trao đổi thông tin dưới tất cả các hình thức khác nhau với bất kỳ người nào khác. Mục đích của việc bảo hộ tự do thông tin này là tạo ra sự lưu thông thông tin trong xã hội một cách tự do mà không phải chịu một rào cản bất hợp lýnào. Vì các quy định pháp luật quốc tế hiện nay cũng như thực tiễn ở Việt Nam vẫn cósự đồng nhất hai quyền này, nên việc xem xét mối quan hệ sẽ làm sáng tỏ nội dung của hai quyền này, nên khi nghiên cứu về khái niệm QĐTT thì không thể khôngđề cậpđến quyềntự do thông tin. QĐTT chính và quyền tự do thông tin có mối quanhệ với nhau, điều này thể hiện:

+ Quyền tự do thông tin rộng hơn QĐTT vì chú trọng tới việc tạo ra sự lưu thông thông tin một cáchtự do giữa tất cả các đối tượngtrong xã hội. Nhà nước không cóquyền ngăn cản và có nghĩa vụ phải tạo điều kiện cho sự lưu thông thông tin tự do này. Trong khi đó,QĐTT chỉ tập trung vào việc làm thế nào để người dân tiếp cận được, tức là bao gồmviệc biết được,có được và được sử dụng, các thông tin về hoạt động của các nhà nước hoặc các thông tin đang do các cơ quan nhànước nắmgiữ.

+ Mục đích trực tiếp củaquyền tự do thông tin là tạo ra một xã hội thông tin trongđó thông tin được lưu thôngtự do, còn QĐTT lại có mục đích trực tiếp là làm cho hoạt độngmọi mặt của nhà nước và các cơ quan nhà nước minh bạch đối với người dân. Với những mục đích khác nhau như vậy, khách thể của quyền tự do thông tin là bản thân thông tin dưới tất cả các hình thức và sự phân loại khác nhau trong xãhội. Các thông tin đó có thể do các cá nhân hay các tổ chức, đoàn thể hoặc bản thân cơquan nhà nước nắm giữ. Trong khi đó QĐTT nhắm tới khách thể trực tiếp là thông tin về hoạt động của các cơ quan nhà nước hay đang do các cơ quan nhà nướcnắmgiữ.

Như vậy, xét một cách tổng quát, QĐTT của công dân là khái niệm được sử dụng để nói đến khả năng của công dân được tìm kiếm thông tin, tiếp nhận thông tin do nhànước đang quản lý, theo các cách thức trực tiếp lẫn gián tiếp nhằm thỏa mãn các nhu cầu cuộc sống của mình cũng như để bảo vệvà thực hiện các quyền năng khác đãđược pháp luật ghi nhận25; đồngthời quy định nghĩavụ của nhànước phải bảođảm cho tất cả mọi người được tiếp cận các nguồn thông tin mà trước tiên là thông tin do chính bản thân các cơ quan nhà nước đang nắm giữ hoặc quản lý.

2.1.2.2 Đặc điểm của quyền được thông tin của công dân

Một là, QĐTT của công dân là một trong những quyền cơ bản của công dân.

25Kỷ yếu đề tài“Cơsởlý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin phục vụ xây dựng luật tiếp cận thông tin”(2010), đề tài khoa học cấp Bộ do trường ĐH Luật Hà Nội, tr. 34.

25

Quyền cơ bản của công dân là một phạm trù mang tính luật học, nội hàm bao gồm quyền công dân và quyền con người. Quyền cơ bản là quyền Hiến định, xác lập mối quan hệ cơ bản giữa nhà nước và công dân, vì vậy, đồng nghĩa với việc Hiến pháp phải quy định trách nhiệm pháp lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền cơ bản của con người. Quyền cơ bản có hiệu lực trực tiếp, ràng buộc lập pháp, hành pháp và tư pháp phải bảo đảm.

Quyền con người là những quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ nhà nước nào. Quyền con người đã được mô tả như là quyền cóđược những nguồn lực và hoàn cảnh cần thiết để sống mộtcuộc sống tốttối thiểu26. Quyền con người phải được bảo đảm pháp lý toàn cầu nhằm bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành độnghoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, nhữngsự được phép và tự do cơ bản của con người27. Tuy có nhiều khái niệm, cách hiểu khác nhau nhưng, nhìn chung, quyền con người là giá trị chung của nhân loại,được cộng đồng quốc tế công nhận và bảo vệ. So với khái niệm quyền con người, khái niệm quyền công dân có phạm vi hẹp hơn và xác định hơn, thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước và công dân. Quyền công dân là khả năng công dân được thực hiện những hành vi nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu, lợi ích của bản thân theo quyđịnhcủa pháp luật.

Quyền liên quan đến thông tin bao gồmnhiều quyền tạo ra và truyền đạt thông tin (ví dụ,quyền tự do ngôn luận,tự do lập hội), quyền kiểm soát truy cập thông tin của người khác (ví dụ, quyền riêng tư và sở hữu trí tuệ), và QĐTT.Một sốQĐTTđãđược công nhận là quyền con người trong văn kiện quốc tế (ví dụ như Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền, Tuyên bố về quyền trẻ em, Tuyênbố vềquyền củangười bảnđịa).Tuyên ngôn quốc tếnhân quyền liệt kê mộtsố quyền liên quan đếnquyền truy cập và kiểm soát thông tin (xem Điều 18, 19, 25, và 26)28.

QĐTT của công dân là quyền cơ bản của con người, của công dân vì những lý do sau:

– QĐTT là quyền cơ bản của conngườivì nó thực sự cần thiết cho con người nhằm có thể sống một “cuộc sống tốt tốithiểu” trong ba phương diện sau: (1) con người là chủ thể có năng lực và luôn mong muốn nhận được thông tin và kiến thức; (2) kiến thức luôn thực sự cần thiết cho những người muốn truy cập thông tinnhằm hỗtrợhọ có khả năng thực hiện các quyền con người khác củahọ.Trong ý nghĩa này, kiến thức là những gì gọi là “tốt nhất”, luôn hữu ích cho bất cứ ai, bất cứ điều gì hoặc kếhoạch của mình trong cuộc sống; (3) để cho mọi người thực hiện và bảo vệ quyền và

26 Nickel, J. 2007. Human rights. The Stanford Encyclopedia of Philosophy. E. N. Zalta, (ed.), http://plato.stanford.edu/archives/sum2007/entries/rights-human/ (Truy cập ngày10.6.2012).

27 http://nhanquyen.vn/modules.php?name=News&op=detailsnews&mid=61&mcid=6 (Truy cập ngày 20.6.2012).

28 United Nations 1948. Universal Declaration of Human Rights. http://www.un.org/Overview/rights.html (Truy cập ngày 10.6.2012)

26

lợi ích của mình một cách hiệu quả, họ cần phải được tiếp cận thông tin.

– QĐTT là quyền cơ bản của công dân vì được pháp luật các nước ghi nhận trong hiến pháp,được cácvăn bản pháp luật kháccụthể hóa. Chủ thểcủaQĐTT luôn là các cá nhân đặt trong mối quan hệ với nhà nước, và nhà nước là một bên bảo đảmthực hiện quyền này bằng pháp luật dựa trên mối liên hệ pháp lý cơ bản giữa mỗi cá nhân công dân với một nhà nước cụ thể29. QĐTT tồn tại đối với công dân, ngay cảtrong trường hợp họ sốngở nước ngoài, còn những người không phải là công dân (người không có quốc tịch, người nước ngoài) có thể sẽ không có được hoặc chỉ có các QĐTTở mức độ hạn chế của nước sở tại.

– QĐTT được ghi nhận là quyền cơ bản của con người và công dân trong điềuước quốc tế.QĐTT là một phần trong quyền tự do thông tin (thuộc nhóm quyền chính trị), được ghi nhận là quyền tự do cơ bản của con người trong Tuyên ngôn thế giới vềquyền con người và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị 1966. Liên hợp quốc xem việc bảo đảm QĐTT như là tiêu chuẩn của sự tự do của con người.

Hai là, QĐTT là biểu hiện của sự tự do. Tự do là được làm mọi cái mà pháp luật không cấm30. Trong trạng thái tự nhiên, tự do của người này có thể làm hạn chế tự do của người khác, sự cho phép hay cấm đoán của pháp luật là thước đo của tự do về mặt pháp lý. Sự biểu hiện tự docủaQĐTT là công dân có quyền chủ động tìm kiếm, tiếp nhận thông tin hoặc nếu không muốn thì không tiếp nhận, đồng thời cũng không được làm gì ảnhhưởngđếnquyềntự do tiếp cận, tìm kiếmcủangười khác vì xã hội, nhànước và cá nhân khác cũng có tự do của mình. Nhà nước có nghĩa vụ xác định phạm vi cụ thể của các quyền tự do đó cũng như ngăn cản ý định của cá nhân sử dụngtự do đểgây thiệt hại cho xã hội và các cá nhân khác. QĐTT còn biểu hiện của sự “tự do” qua việc ngăn cấm sự vi phạm từ bất kỳ chủ thể nào bằng cách yêu cầu nhànước bảo vệ tựdo của mình trước sự xâm phạm từ bất kỳ ai.

Ba là, QĐTT của công dân thể hiện mối quan hệ cơ bản và thường xuyên giữa nhà nước và công dân của nhà nước đó, vì nhà nước luôn là một bên chủ thể trong việc thực hiện quyền này, công dân có QĐTT dưới các hình thức khác nhau mà nhà nướcđang nắm giữ và nhà nước có nghĩa vụ phải bảo đảm chosựtiếp cận này. Trong khi mộtsố quyền tự do của công dân khác như quyền tự do thân thể, quyền bí mật đời tư, quyền về chỗ ở,tự do tín ngưỡng, tôn giáo… thể hiện mối quan hệ thường xuyên chủyếu là giữa các công dân với nhau, sau đó là công dân với nhà nước.

Bốn là, QĐTT của công dân có mức độphụthuộc rất lớnvào trách nhiệm bảođảm, tôn trọng, bảo vệ từ phía nhà nước. Điều này xuất phát từ tính chất của QĐTT so với các quyền con người, quyền công dân khác,đó là tựmỗi công dân không thể thực hiện mà phụ thuộc vào trách nhiệm của các cơ quan nhà nước. Nếu như những quyền

29 Trần Văn Bách (2002), Luận án tiến sĩ “Sự phát triển chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân qua lịch sửlập hiến Việt Nam”, Viện Nhà nước và pháp luật, tr.20.

30 Nguyễn Thanh Bình (2004), Tự do và Pháp luật, Nghiên cứu lập pháp, số 9.

27

tự do cá nhân như quyền nhân thân, quyền tự do đi lại… phản ánh nhu cầu tự nhiên của cá nhân con người, gắn bó với từng cá nhân ngay từ khi sinh ra thì QĐTT gắn với một cấp độ phát triển xã hội cao hơn,gắnvới sựđấu tranh giai cấp và ý thứchệ.QĐTT mang tính chính trị kể từ khi xã hội xuất hiện sự cai trị của nhà nước, liên quan đến sự tham gia của công dân vào việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước.

Trong khoa học và thực tiễn pháp lý, khía cạnh trách nhiệm của nhà nước trong nội hàm của QĐTT thườngđược nhấn mạnh, đôi khi gây ra cho người ta cảmgiác

rằng chính bản thân khía cạnh nghĩavụ của nhà nước làm nên toànbộ nội hàm của QĐTT của công dân. Điều này không phải là vô căn cứ bởi vì trong một mối quan hệbất cân bằngvề thế và lực như mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân, nếu nghĩavụcủa nhà nước khôngđược nhấn mạnh và bảođảmthực thi thì tất yếu quyền của cánhân sẽ không được bảo đảm31.

Hơn nữa, các cơ quan nhà nước nắm giữ các thông tin không phải cho chính bản thân họ mà là cho lợi ích của cộng đồng. Hiểu theo cách thông thường thì các thông tin này phải được các thành viên của cộng đồng tiếp cận và nắm rõ nếu họ có mong muốn, trừ khi có một lợiích công cộng khác quan trọng hơn buộc chúng phảiđược giữ bímật. Mặc dù một số lãnh đạo của các quốc gia vẫn đang tìm cách không công khai các thông tin liên quan đến hoạt động nhànước,hoặc duy trì “bí mật nhànước” để bảo vệsự cai trị của mình, thậm chí ngăn cản sự thừa nhận của pháp luật nhưng giá trị của QĐTT đã lan tỏa và ngày càng được các quốc gia bảo đảm thực hiện. Do đó,để đảm bảo thực hiện QĐTT của công dân, nhà nước phải thực hiện trách nhiệm xây dựng các biện pháp bảo đảm quyền này. Đây là trách nhiệm hay nghĩa vụ gián tiếp của nhà nước vì nó không trực tiếp mang lại thông tin cho công dân nhưng tạo ra các điều kiện thuận

lợi để côngdân được tìm kiếm, tiếp nhận các thông tin mình quan tâm.

Năm là, QĐTT của công dân phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế – xã hội, vào điều kiệnlịch sử, địalý, tôn giáo của mỗi quốc gia nên QĐTT có nội dung khác nhau tùy thuộc vào ý chí của mỗi nhà nước. Mặc dù QĐTT hiện nay đang là giá trị xãhội bắt đầu phổ biến, phản ánh sự phát triển và mang đặc điểm xã hội, song QĐTT của mỗicông dân thể hiện như thếnào tùy thuộc vào khảnăng và ý chí của công dân. QĐTT phát triển theo sự phát triển của nền kinh tế, theo tiến trình lịch . Yếu tố lịch sử,địa lý, tôn giáo làm cho nhu cầuQĐTTở những cá nhân, côngđồng khác nhau sẽkhác nhau vì trong cùng một môi trường tự nhiên và xã hội, ở cùng một quốc gia tồn tại các cá nhân cũng nhận thức và tư duy32 khác nhau nên tồn tại những quan điểm, những quy định khác nhau về QĐTT.

31 Tô Văn Hòa (2010), Những nguyên tắc cơ bản của dự luật tiếp cận thông tin. Chuyên đề trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp BộCơ sởlý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tiếp cận thông tin phục vụ xây dựng luật tiếp cận thông tin.

32 Hồ Văn Thôn (1990), Triết học với sự nghiệp đổimới, trang 70, NXB Sự thật, Hà Nội.

28

Sáu là, QĐTT của công dân đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền công dân khác. Mối quan hệ giữa QĐTT với các quyền con người, quyền công dân khác là mối quan hệ tươnghỗ,việc thực hiện quyền này sẽ thúcđẩyviệc thực hiện các quyền còn lại. Việc bảo đảm QĐTT giúp con người biết được các quyền, nghĩa vụ cơ bảncủa mình,đồng thời, có những thông tin quan trọng, cần thiếtđể thực hiệncác quyền con người, quyền công dân khác. Các thông tin dù rất nhỏ nhưng đều có thể là tiền đề để thực hiện quyền con người, quyền công dân vì thông tin là một phần quan trọng, không thể thiếu trong cuộc sống. Ví dụ, thực hiện quyền kinh doanh thì phải có thông tin về điều kiện kinh doanh, thủ tục đăng ký kinh

doanh; chính sách thuế… Ngoài ra, thông tin còn mang lại kiến thức, sự hiểu biết cho con người, giúp họ có cách xử sự, hành vi thích hợp như việc tiếp cận thông tin đối với hồ sơ bệnh án có thể giúp các cá nhân quyết định về phương pháp điều trị, kế hoạch tài chính; đặc biệt, có những thông tin còn mang lại lợi ích cho người sở hữu nó,nếu họbiết cách tận dụng thông tin đó.

Ngược lại, việc thực hiện các quyền con người, quyền công dân khác cũng góp phần bảo đảmviệc thực hiện QĐTT. Ví dụ như quyền được học tập của công dân cótác dụng tích cực đến QĐTT vì khi trình độ dân trí của người dân được nâng cao thì cũng là lúc thực hiện QĐTT hiệu quả nhất. Ngoài ra, họ phải được tự do đi lại, tự do cư trú, tự do ngôn luận, tự do báo chí… để có điều kiện nói lên, phản ánh yêu cầu của mình cũng như tiếp xúc với các thông tin do cơ quan nhà nước công bố công khai. Dođó, việc công nhận, thực hiện, bảo vệ QĐTT của công dân phải gắn liền với các quyền dân sự, chính trị khác.

Bảy là, QĐTT của công dân luôn có sự liênhệ chặt chẽvới cáccác vấn đềbảo vệ bí mật nhà nước và quyền riêng tư.

Sự liên hệ chặt chẽ thể hiện ở chỗ sự miễn trừ của QĐTT chính là bảo vệ bí mật nhà nước và bảo vệ quyền riêng tư. Ở trongsự liên hệ này luôn có sự giằng co giữa các quan điểm cần có một chính quyền công khai và giữa các quanđiểm bảovệ bímật nhà nước và quyền riêng tư rất gay gắt.

Bất kỳ quốc gia nào cũng có những bí mật nhà nước, tuy nhiên, thông tin được tiếp cận càng nhiều thì bí mật nhà nước bị hạn chế, và ngược lại. Trong thời đại ngày nay, từ khi có cơ sở dữ liệu điện tử thì hầu như không một nhà nước nào có thể giữ kín toàn bộ thông tin bí mật nhà nước,cũng như không có một ai trong xã hội lại có thể hoàn toàn giữ kín nhiều sự kiện riêng về mình. Vì vậy, giải quyết hài hòa các mối quan hệ này là một vấn đề hết sức khó khăn đối với các cơ quan ban hành pháp luật và luôn tìm ẩn các nguy cơ xung đột trong việc thực hiện các quyền này.

2.1.3 Nội dung quyền được thông tin của công dân

Hiện nay có hai quan điểm khác nhau về nội dung của QĐTT của công dân, cụ thể:

29

Quan điểm thứ nhất, QĐTT của công dân bao gồm ba quyền: quyền tiếp nhận thông tin, quyền tìm kiếm thông tin và quyền phổ biến thông tin33. Theo đó, truyền báhay phổ biến thông tin có nghĩa là cá nhân, công dân có thông tin được quyền truyềnđạt,chia sẻ quan điểm, thông tin mà mình đangnắm giữcho mọi người mà không cóbất kỳ sự phân biệt nào về ranh giới hay các hình thức đưa tin34. Tuy nhiên, việc truyền bá hayphổbiến thông tin là một nộidung gắn với quyền tựdo thông tin, một khái nhiệm có phạm vi khác so với khái niệm QĐTT.(Ở nước tađến thờiđiểmhiện nay chưa quy định về quyền tự do thông tin).

Quan điểmthứ hai, nội hàm QĐTT chỉ bao gồmquyền tiếp nhận thông tin vàquyền tìm kiếm thông tin35, còn hoạt động phổ biến thông tin nằm trong một khái niệm rộng hơn, đó là quyền tự do thông tin. Quyền tìm kiếm thông tin, tiếp nhận thông tin và phổ biến thông tin có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có thể hỗ trợ nhau. Trong xãhội công nghệ thông tin phát triển mạnhmẽ hiện nay, hoạt động phổ biến thông tin

rộng rãi cũng góp phần bảo đảmquyền tiếp nhận thông tin của công dân. Ngược lại, nhờ bảo đảm quyềntìm kiếm thông tin và tiếp nhận thông tin mà cá nhân, công dân cóđược thông tin và truyềnđạt,phổ biến lại cho những người khác. Tuy nhiên, quyền phổ biến thông tin lại liên quan chặt chẽ và là một phần của quyền tự do ngôn luận,tựdo báo chí.

Từ những phân tích trên, tác giả nghiên cứu QĐTT với nội hàm gồm: quyền tìm kiếm thông tin và tiếp nhận thông tin. Có thểkhái quát các quyền trên theo mô hình sau:

Quyền tiếp nhận

thông tin kiếm thông tin

Quyền tìm

Quyền tự do thông tin

được thông tin

Quyền

Vòng tròn ngoài là quyềntựdo thông tin, vòng tròn trong là QĐTT, trong QĐTT được chia thành hai quyền cấu thành là quyền tìm kiếm thông tin và quyền tiếp nhận thông tin.

33 Chu Thị Thái Hà (2009),“Thông tin được tiếp cận và nội hàm của quyền tiếp cận thông tin”, Tạpchí Nghiên cứu lập pháp (17), tr. 31- 37.

34 TS.Ttường Duy Kiên, (2008), Quyền tiếp cận thông tin: qui định quốc tếvà đặc điểm chung của luật một số nước, Hiến kế lập pháp, số 01 (112+114) .

35 Lê Thị Hồng Nhung (2011),“Tiếp cận quyền tiếp cận thông tin dưới góc độ quyền con người”,Tạp chíNghiên cứu lập pháp (5), tr. 22-27.

30

2.1.3.1 Quyền tìm kiếm thông tin của côngdân

Quyền tìm kiếm thông tin của công dân chính là khả năng của công dân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền cung cấp thông tin, tiếp xúc các thông tin, tài liệu do cơ quan nhà nước đang nắmgiữmà mình cần hoặc quan tâm trong phạm vi pháp luật cho phép.Về phía chủ thểquyền, việc thực hiện quyền này mang tính chủ động, về phía chủ thể có nghĩa vụ, việc bảo đảm quyền này cơ bản mang tính bị động.

Một trong những nội dung cơ bản của quyềnđược thông tin là quyền đượccó các thông tin đang được quản lý hoặc kiểm soát bởi các cơ quan nhà nước. Để có được các thông tin này, chủ thể của quyền được thông tin có quyền thực hiện việc chủ động tìm kiếm, thu thập thông tin theo đúng trình tự, thủ tụcnhững thông tin cần thiết màngười đó quan tâm.

Quyền tìm kiếm thông tin được xem là một trong những điều kiện để bảo đảm cho việc tiếp nhận thông tin. Sở dĩ như vậy vì, ngoài những thông tin được công khai theo thủ tụcpháp luật quyđịnh,nhiều thông tin sẽchỉ đượccung cấp khi có yêu cầu của cá nhân và tổ chức vì thông tin đó có thểchỉ liên quan đến quyền và lợi ích của một hoặc một nhóm người như thông tin về tình trạng bệnh tật của người bệnh, thông tin về doanh nghiệp đang làm thủ tục phá sản, thông tin về đánh giá tác độngmôi trường của một khu vực nào đó… Trong những trườnghợpnhư vậy,chủthểcủaquyền được thông tin chỉ có thể tìm kiếm, thu thập thông tin khi yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền lưu giữ thông tin đó cung cấp.

Quyền tìm kiếm thông tin của người dân đòihỏi một nghĩa vụ tươngứngtừphía các cơ quan nhà nước nắm giữ các thông tin. Đó là nghĩa vụ cung cấp thông tin. Như đã nói ở trên, QĐTT của người dân có thể bị hạn chế bằng các hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin hoặc sử dụng các rào cản kỹ thuật vàpháp lý đểhạnchế khả năng có đượcthông tin của người dân. Vì thế,đểbảo đảm quyền tìm kiếm thông tin, nhànước cần có cơ chếtạođiềukiện cho các cơ quan, tổchức, và cá nhân có thể thực hiện được quyền này.

Chủ thể có quyền yêu cầu cơ quan nhànướccung cấp thông tin: Hầu hết các quốc gia đều công nhận chủ thể có quyền yêu cầu cung cấp thông tin trước hết là công dân, tuy nhiên, một số nước cho phép ngườinước ngoài, người không có quốc tịch cũngđược quyền yêu cầu cung cấp thông tin nhưng với phạm vi hạn chế hơn. Pháp luật một số nước cũng quy định điều kiện đối với chủ thể yêu cầu cungcấp thông tin làphải nêu rõ lý do hoặc chứng minh mối quan hệ với thông tin yêu cầu cung cấp; nộpđơn yêu cầu đến đúng cơ quan nhà nước có thẩm quyền,trảphí cung cấp thông tin vàtuân thủ những trình tự, thủ tục luật định.

Chủ thể có nghĩa vụ cung cấp thông tin bao gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp, các cơ quan,tổ chức khác có sử dụng ngân sách nhà nước,

31

thậm chí Nam Phi còn quy định nghĩa vụ cung cấp thông tin của chủ thể tư nhân trong một số trường hợp.

Hình thức tìm kiếm thông tin của công dân: công dân có quyền xem, đọc, nghe các tác phẩm, hồ sơ, tài liệu chứa đựng các thông tin được các cơ quan nhà nước quản lý hoặc kiểm soát; ghi chép, trích dẫn, sao chụp các thông tin đódưới các hình thức khác nhau và bằng những phương tiện khác nhau; có quyền có cácbảnsao có chứng thực các tài liệu chứa đựngcác thông tin; thu thập thông tin bằng việc sao chép các thông tin đó vào các thiết bị điện tử hoặc bằng việc in các tài liệu đó trực tiếp từ những nơi lưu giữ chúng bằng máy vi tính hoặc bằng các thiết bị khác; trả lời trực tiếp bằng

lời nói qua điện thoại hoặc trả lời trực tiếp tại trụ sở cơ quan” và cung cấp thông tin qua mạng điện tử. Tại một số quốc gia, hình thức yêu cầu cung cấp thông tin chủ yếu bằng văn bản và gửi trực tiếp đến cơ quan có thẩm quyền hoặc gửi qua đườngbưuđiện,fax, thư điện tử. Một số nước quy định yêu cầu cung cấp thông tin phải thể hiện

dưới dạngvăn bản (Úc, Canada…) thậm chí một số nước cho phép người dân yêu cầu cungcấpthông tin bằng miệng,điện thoại như Luật Thúc đẩy tiếp cận thông tin của Nam Phi quy địnhyêu cầu cung cấp thông tin bằng miệngđượcthực hiện như sau:

“cán bộ,quan chức thông tin của một chủ thể công cộng phải biên soạn lại lời yêu cầu bằng miệng theo hình thức văn bản và phải cung cấp cho người yêu cầu một bản sao của văn bản đó”36.

Thông tin được yêu cầu cung cấp là những thông tin đáp ứng các điều kiện sauđây: (1) do cơ quan nhà nước ban hành hoặc tiếp nhận; (2) không phải là những thông tin có sẵn (thông tin đã được cơ quan hành chính nhà nước công bố công khai, có thể

tìm thấy dễ dàng thông qua mạng internet, sách, báo…); và (3) không thuộc trường hợp miễn trừ cung cấp thông tin.

2.1.3.2 Quyền tiếp nhận thông tin của công dân

Quyền tiếp nhận thông tin của công dân là khả năng công dân nhậnđược những thông tin, tài liệu do cơ quan nhà nước tạo ra,nắmgiữ trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước thông qua các kênh truyền thông công khai, sẵn có mà không cần phải yêu cầu. Về phía chủ thể quyền, việc thực hiện quyền này vừa mang tính chủđộng, vừa mang tính bị động. Về phía chủ thể của nghĩa vụ, việc đảm bảo quyền này cơ bản mang tính chủ động.

Quyền tiếp nhận thông tin của công dân thể hiện công dân có quyền tiếp nhận những thông tin đúng, đủ, kịp thời và dễ tiếp cận. Thông tin đúng đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải công khai thông tin chính xác, không được đưa tin định hướng dư luận khác với sự thật; thông tin đủ đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải công khai đầy đủ nội

36 Viện nghiên cứu quyền con người (2007), Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông tin, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 218.

32

dung, hiệu lực của thông tin, không được công khai một phần thông tin; thông tin kịp thời đòi hỏi các thông tin phải công khai ngay khi có thể để phù hợp với nhữngvấn đềquản lý nhà nước đang diễn ra, khôngđược chậm trễ; thông tin dễ tiếp nhận đòi hỏi việc công khai thông tin phải có nhiều cách thức khác nhau phù hợp với từng nhóm chủ thể khác nhau như ở nông thôn việc công khai thông tin nếu chỉ thông qua trang thông tin điện tử thì sẽ không phù hợp với điều kiện của người dân chưa có Internet.

Quyền tiếp nhận thông tin đòi hỏi các cơ quan nhà nước phải có trách nhiệm công bố thông tin cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận thông tin. Thiếu các cơ chế để bảo đảmquyền tiếp nhận thông tin đồng nghĩa với việc không bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân.Hậuquả của việc thiếu cơchế bảođảmquyền tiếp nhận thông tin của người dân là tình trạng đặc quyền, đặc lợi của những người có điều kiện, vị trí công tác dễ dàng tiếp cận thông tin, gây nên sự bất bình đẳng, bất công bằng trong xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai và kinh doanh. Vì vậy, quyền tiếp nhận thông tin cũng gắn liền với quyền yêu cầu nhà nước có trách nhiệmbảo đảm rằng các loại thông tin cần thiết liên quan đến lợi ích của cộng đồng phải luôn sẵn sàng cho việc tiếp cận.

Chủ thể có quyền tiếp nhận thông tin rất rộng, bao gồm: cá nhân (công dân, người nước ngoài, người không quốc tịch), cơ quan,tổ chức… Thông thường, pháp luật không quy định giới hạn cũng như điều kiện đối với chủ thể tiếp nhận thông tin. Ngược lại, trong quyền tìm kiếm thông tin, nhà nước có thể đặt ra giới hạn,điều kiệnđối với chủ thểyêu cầu cung cấp thông tin như: người yêu cầu cung cấp thông tin phải là công dân; có liên quan đến thông tin yêu cầu cung cấp; trình bày mục đích yêu cầu

cungcấp…

Trong quyền tiếp nhận thông tin, chủ thể tiếp nhận thông tin tương đối bị động và không đóng vai trò quan trọng vì dù họ có nhu cầu hay không thì cơ quan nhà nước vẫn phải công khai thông tin rộng rãi đến mọi chủ thể bằng những hình thức phù hợp.

Chủ thể có trách nhiệm công khai thông tin là cơ quan nhà nước đã tạo ra thông tin hoặc có được thông tin trong quá trình hoạt động của mình. Về nguyên tắc,tất cảcác cơ quan nhà nước đều phải công khai thông tin, trừ một số trường hợp ngoại lệ liên quan đến thông tin mật, thông tin thuộc trường hợp miễn trừ.

Hình thức và thủ tục công khai thông tin khá đa dạng, bao gồm: thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, đưa lên trang thông tin điện tử, báo, tạp chí, ấn phẩm, niêm yết tại trụ sở của cơ quan, đơn vị, thông báo trong các cuộc họp.

Thông tin được nhà nước công khai thường là những thông tin có sẵn, do cơquan nắm giữ hoặc tạo ra, có liên quan mật thiết đến quyền, lợi ích của công dân màpháp luật quyđịnh nhànước phải côngbố công khai. Thông tin không thuộc trường hợp nhà nước công khai là những thông tin này công dân không thể tiếp nhận, bao gồm ba nhóm: thông tin không được cung cấp, thông tin chỉ được cung cấp theo yêu cầu, và thông tin được cung cấp hạn chế.

33

Thông tin công khai đầu tiên là các văn bản quy phạm pháp luật vì các văn bản này thường tácđộng đến các lợiích đa dạng, mộtcách thuận lợi hay bất lợi tùy theo mục tiêu của từng người như việc thông qua một dự án quy hoạch đối với một vùng đất mang lại cơ hội làm ăn cho nhà đầu tư nhưng cũng đồng thời đặt người dân ở vùng giải tỏa trước bài toán thay đổi chỗ ở và sinh kế,việc điều chỉnh giá xăng dầu có thểcó lợi hoặc bất lợi cho người tiêu dùng. Vì vậy, thông tin về các văn bản pháp luật, chính sách và hoạt động của các cơ quan nhà nước phải được coi là yếu tố cốt lõi trong mọi hoạt động của một xã hội được quản lý, vận hành theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền. Công khai minh bạch trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật cũng là việc thực hiện các cam kết khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới.

Sau đó là các thông tin có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người dân; thông tin về việc thành lập, hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước; các TTHC; chương trình, chính sách,kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, giáo dục, y tế, sức khỏe, môi trường, việc làm; quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất và những thông tin khác cần có sự tham gia, đóng góp ý kiến của công dân.

2.1.3.3 Mối quan hệ giữa quyền tìm kiếm thông tin và quyền tiếp nhận thông tin

Quyền tìm kiếm thông tin và quyền tiếp nhận thông tin có mối quan hệ chặt chẽvới nhau và hỗ trợ cho nhau thể hiện:

Việc đảmbảo thực hiện tốt quyền tiếp nhận thông tin là đảm bảothực hiện quyền tìm kiếm thông tin vì khi thông tin được côngbố công khai rộng rãiđể mọi người được biết thì không cần thiết phải yêu cầu cung cấp thông tin nữa. Lúcđó người dân chủ độngtiếp nhận thông tin mà không cần phải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền yêu cầu tìm kiếm thông tin.

Ngược lại, việc thực hiện quyền tìm kiếm thông tin trong một số trường hợp giúp việc hoàn thiện quyền tiếp nhận thông tin, vì trong quá trình tìm kiếm thông tin nếu người dân phát hiện những thông tin này phải được các cơ quan nhà nước công khai nhưng lại không công khai, nên có quyền yêu cầu các cơ quan này phải thực hiện việc công khai, góp phần đảm bảo thực hiện quyền tiếp nhận thông tin của mình.

Tuy nhiên, giữa quyền tìm kiếm thông tin và quyền tiếp nhận thông tin cónhững điểm khác biệt, cụ thể:

Một là,về tính chủ động,bị độngcủa các chủ thể trong việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Trong quyền tìm kiếm, thu thập thông tin, người tìm kiếm thông tin phải chủ động yêu cầu cơ quan nhà nước nắm giữ thông tin cung cấp thông tin còn cơ quan nhà nước ở vị trí bịđộng,có nghĩavụ cung cấp thông tin khi có yêu cầu. Ngược lại, trong quyền tiếp nhận thông tin, cơ quan nhà nước phải chủ động công bố

34

công khai thông tin ra công chúng còn người tiếp nhận thông tin chỉ tiếp nhận thông tin một cách bị động dù có nhu cầu hay không.

Hai là,sự khác biệt về nghĩa vụ của cơ quan nhà nước trong quyền tìm kiếm thông tin và quyền tiếp nhận thông tin. Trong quyền yêu cầu cung cấp, cơ quan nhà nước có trách nhiệm thực hiện các biện pháp khác nhau nhằm công khai thông tin đến công chúng (xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư công nghệ thông tin, xây dựng danh mục thông tin phải công khai,..). Các biện pháp này rất chung chung, không tác động trực tiếp lên chủ thể tiếp nhận thông tin. Ngược lại, quyền tìm kiếm thông tin thể hiện nghĩa vụ trực tiếp của cơ quan nhà nước, nghĩa là khi công dân yêu cầu cung cấp thông tin thì cơ quan nhà nước có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin cho công dân đó,nếu không cung cấp thì phải đưa ra lý do.

Ba là, thông tin trong quyền tiếp nhận thông tin chủ yếu phát sinh trong quátrình quản lý nhà nước nói chung, có thể liên quan đến nhiều cá nhân, tổ chức trong xãhội. Ngược lại, thông tin trong quyền tìm kiếm thông tin thông thường liên quan đến hoạt độngcủa cá nhân đó, do vậy, trongmột số trườnghợp chủ thể phải chứng minh mối quan hệ với thông tin yêu cầu cung cấp.

2.1.4 Giới hạn của quyền được thông tin của công dân

QĐTT là một quyền có giới hạn, giới hạn này chính là phạm vi những thông tin mà công dân không thể tiếp nhận hoặc không thể yêu cầu cung cấp thông tin. QĐTT của công dân cho phép công dânđược tiếp cận các hồ sơ, tài liệu của cơ quan nhànước nhưng không phải bất kỳ loại hồ sơ, tài liệu nào cũng được phép tiếp cận. Hiểu theo cách thông thường thì các thông tin này phải có khả năng tiếp cận đối với các thành viên của cộng đồng trừ khi có một lợi ích công cộng, lợi ích cá nhân khác quan trọng hơn đòi hỏi những thông tin đó phải được giữ bí mật37. Vấn đề được đặt ra là cần phải có đầy đủ các cơ sở pháp lý đểgiải quyết được mối quan hệ giữa thông tin có thểtiếp cận và thông tin không thểtiếp cận được.

Mỗi quốc gia đều đặt ra các trường hợp ngoại lệ hay trường hợp miễn trừ màkhi rơi vào trường hợp này thì cơ quan nhà nước có quyền không công khai hoặc từchối cung cấp thông tin. Việc quy định các ngoại lệ cho thấy QĐTT chỉ bị giới hạn trong những trường hợp do pháp luật quy định, cơ quan nhà nước không được quyền không công bố hoặc từ chối cung cấp thông tin mà không có lý do chính đáng. Trong các loại thông tin thuộc phạm vi miễn trừ cung cấp, các nước đều xếp an ninh quốc gia

(quốc phòng, an ninh), hay bí mật đời tư, các thông tin về hoạch định chính sách phát triển khoa học, các lợi ích kinh tế của quốc gia thuộc mức độ bảo vệ cao nhất,cụ thểcác loại thông tin sau:

37 Tony Mendel (2009), Báo cáo đánh giá so sánh pháp luật về tiếp cận thông tin, Hội thảo quốc tế xây dựng Luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam”, Hà Nội , tr. 4.

35

+ thông tin về an ninh quốc gia, quốc phòng và các quan hệ quốc tế; + thông tin liên quan đến bí mật cá nhân, an toàn cá nhân;

+ tài liệu về phòng ngừa, điều tra hoặc khởi tố vụ án hình sự; + thông tin liên quan đến bí mật thương mại và lợi ích kinh tế;

+ thông tin nội bộ đang trong quá trình chuẩn bị chưa được chính thức phêchuẩn hoặc thông qua 38.

Ngoài ra, các quốc gia còn đặtra một sốtrường hợp miễn trừ khác như: (1) thông tin mà việc cung cấp sẽ gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, tính mạng,

sức khỏe, môi trường… Ví dụ việc cungcấpđịa điểmsinh sống của các loài động, thực vật quý hiếm có thể làm ảnh hưởngđến môi trường sống của chúng vì dựa trên thông tin đó người ta có thể tìmđến thăm quan, đánh bắt, chặt phá, hủy hoại môi trường; (2) thông tin mà việc cung cấp sẽ gây ảnh hưởngxấu đến nền kinh tế,chính sách tài chính, tiềntệ của quốc gia.Điểnhình của trường hợp này là việc rò rỉ thông tin xăng lên giá,kết quảlà người dân đổ xô đi mua xăng về dự trữ, gây tâm lý không hay trong xã hội và ảnh hưởng đến nềnkinh tế do các cá nhân, tổ chức đầu cơ xăng,đợi lên giá bán ra kiếm lợi nhuận; (3) thông tin có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ ngoại giao giữa các quốc gia với nhau và với các tổ chức quốc tế; (4) thôngtin

nếu tiết lộ sẽ ảnh hưởngđến công tác điều tra, truy tố, xét xử, thực thi pháp luật… Quy định này nhằm bảo đảm không cản trở hoạt động của cơ quan làm nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử và quá trình đấu tranh ngăn ngừa, phòng chống tội phạm, bảo đảm tội phạm phải được phát hiện, ngăn ngừa và xử lý theo quy định của pháp luật.

Việc xác định giới hạn QĐTT liên quan chặt chẽ đến bí mật nhà nước. Hiện nay, có nhiều quốc gia thường ban hành một luật riêngvề bí mật nhà nước để Luật vềQĐTT viện dẫn đến. Tuy nhiên, rất nhiều quốc gia đã thực hiện hoạt động quản lý của mình trong vòng bí mật, và ngay cả các nước được đánh giá là dân chủ vẫn thường thực hiệnhoạt động củamình ngoài tầm quan sát của nhân dân khi tìm mọi lýdo đểđưa các loại thông tin này thuộc bí mật quốc gia hay vì trật tự công cộng. Điều nàyđã tạo nên tình trạnglạmquyền, vì các cơ quan nhà nước có thể ấn định theo ý chí của mình các loại thông tin nào mà công chúng không thể tiếp cận mà không cần xem xét bản chất của thông tin.

Dĩ nhiên,nước nào cũng có những bí mật“thiêng liêng” liên quan đến an ninh, quốc phòng… nhưng việc “bí mật” những thông tin quản lý nhà nước đơn thuần sẽ là“cánh cổng rộng mở” cho tham ô, bất công và bất bình. Cần thấy rằng, tham nhũng gia tăng ở những nơi bí mật, tránh nơi công cộng, vì vậy có thể dễ dàng nhận thấy những gì không công khai sẽlà mầm mốngcủatham nhũng. “Bản năng” giữrịt thông tin thường mọc rễ trong những môi trường bí mật, cho phép các quan chức trở nên “bất khả xâm phạm”, chẳng phải giải trình gì với ai, chính là một khó khăn cần vượt qua.

38 Luật mẫu về tự do thông tin (Article 19, A Model Freedom of Information Law) (2001), trang 14-17, London, tại http://www.article19.org/data/files/pdfs/standards/modelfoilaw.pdf (Truycập ngày 20.7.2012).

36

Chính văn hóa bảo mật đó làm chậmbước mở cửa của xã hội39, làm ngăn cản sự phát triển của xã hội.

Việc xác định giới hạn của QĐTT cũng có liênhệmật thiết với quyền riêng tư. Hai vấnđề này có những vùng chồng lấn nên có thể dẫn đến các xung đột. Cơ quan nhà nước có quyền và trách nhiệm thu thập mộtlượnglớn các thông tin cá nhân và thỉnh thoảng cho phép tiếp cận các thông tin dựa trên các lý do rất đa dạng. Người yêucầutiếp cận có thể bao gồm các phóng viên đấu tranh cho sự minh bạch, các cá nhân yêu cầu việc giải trình quá trình đưa ra các quyết định, các nhà lịch sử và các trung tâmhọcthuật nghiên cứu các sự kiện hiện tại và các sự kiện không thuộc về hiện tại…

Xung đột giữa hai luậtđiềuchỉnh các quyền này thường phát sinh do thiếu thống nhất trongviệc xác định đối tượngđược bảovệ, như trường hợp thông tin cá nhân, thông tin tài sản của các cán bộ, côngchức có đượccoi là riêng tư hay không. Ngày nay, các thông tin liên quan đến cá nhân đang ngày càng trở nên quan trọng hơn khi mà các thông tin được lưu trữ trong cácdữ liệu điệntử nên việc bị công khai ngày càng tăng lên khi được truyền tải trên các trang thông tin điện tử. Tuy nhiên, nhiều luật về QĐTT và luật bảo vệ dữ liệu vẫn còn mơ hồ, thiếu chính xác và không đưa ra được một ranh giới thích hợp về việc những thông tin nào nên được coi là thông tin cá nhân. Điều này thườngđược áp dụngmộtcách thái quá khi sử dụng quyền riêng tư làm cơ sở để không cho phép tiếpcậnthông tin.ỞHoaKỳ,Chínhphủthườnglấyquyền riêng tư là cơsởđểtừchối côngbốtên của các cá nhân vừa bị bắt giữ trong các cuộc điều tra về khủngbố(thường gây rất nhiều tranh cãi). Ở Nhật Bản, một đạo luật về bảo vệ thông tin cá nhân được trích dẫn làmcơ sở để giữ bí mậtthông tin có liên quan đến các quan chức. Vương quốc Anh giữ bí mật về các chi phí và các thông tin về các chuyến công du của các thành viên Quốc hội. Trên thực tế, trong nhiều trường hợp, ngay cả khi nhận thấy việc côngbốthông tin có thểtổnhại đếnquyền riêng tưcủacông dân, tòa án nhiều nước vẫnnghiêngvềQĐTT bằng cách buộc cơ quan nhànướccôngbốthông tin, nhưng không côngbốtên tuổi cá nhân liên quan. Do đó, nếu cơ quan nhà nước từ chối cung cấp thông tin với lý do bảovệ quyền riêng tư, đây vẫn có thể là cơ sở để khiếu nại40.

Như vậy, việc xácđịnh giới hạn các loại thông tin phải công khai, phải cung cấp và không công khai luôn là vấn đề khó khăn của bất kỳ quốc gia nào. Nếu công khai hóa nhiều thông tin thì chính quyền minh bạch hơn tuy nhiên thường đòi hỏi một sự cân bằng khéo léo giữa các nhóm quyền lợi vì ngay cảchính quyền công khai vàminh bạch nhất cũng cần phải có một phần nào bí mật và kín đáo thì mới hoạt động hiệu quả được.Chính quyền công khai có ưu điểmlà làm cho việc phân định trách nhiệm rõ hơn và sự tham gia dân chủ dễ dàng hơn, tuy nhiên, điều này đôi khi cũng cóthể làm phương hại tới các trị giá xã hội được mọi người trân trọng như quyền riêng tưcủa cá nhân.

39 Danh Đức (2006),Ngày quốc tế “quyền được biết”, Báo Tuổi Trẻ cuối tuần.

40 Nguyên Lâm, Hai mặt của một đồng xu. http://daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=82827

37

2.1.5 Các biện pháp pháp lý bảo đảm quyền được thông tin của công dân

2.1.5.1 Khái niệm các biện pháp pháp lý đảm bảo quyền được thông tin của công dân

QĐTT của công dân được hiến pháp của nhiều quốc gia ghi nhận, có nghĩa làthừa nhận giá trị xã hội của các quyền này và tạo tiền đề quan trọngđể thực hiện chúng, song những quyền này nếu thiếu các biện pháp bảo đảmthì mới chỉ tồn tại ở dạng tiềm năng. Trong điều kiện kinh tếđóinghèo và lạchậu hay trong cuộc sống chính trị thiếu dân chủ, QĐTT của công dân khó thành hiện thực. Ngoài ra, công dân thường gặp những cản trở, nguy cơ cản trở QĐTT của mình từ các cá nhân khác, cán bộ,công chức nhà nước khiến cho quyền khó thực hiện hoặc khôngđược thực hiện.Để chuyển hóa QĐTT thành hiện thực trong cuộc sống, tránh tính hình thức của quyền, cần có những biện pháp pháp lý bảo đảm về QĐTT. Vì vậy, một nhà nước tiến bộ không chỉ chú ý đến việc ghi nhận quyền trong đạo luật cơ bản mà còn tích cực tạo ra hệ thống phương tiện, điều kiện để chuyển hóa, biến QĐTT của côngdân đã được thừa nhận thành hiện thực trong cuộc sống. Cho dù ý tưởngvề quyền được đánh giácao thì chỉ khi nhà nước và xã hội có tiềm lực và khảnăng thực tế thì quyền đó mới thực hiện được.

Quan hệ giữa các quyền cơ bản nói chung và QĐTT của công dân nói riêng lànhững mối quan hệ mà trong đó các chủ thể ở thế bất cân bằng về thế và lực. Dù phạm vi QĐTT được quy định ưu việt thế nào đi chăng nữa và thủ tục để thực hiện quyền này có thuận lợi thế nào đi chăng nữa thì khi bên chủ thể là cơ quan nhà nước không đáp ứng QĐTT của người dân thì ngay lậptứcngười dân bịđẩy vàotình thế khó thực hiện quyền của mình và sẽ không thể tự mình đấu tranh với cơ quan nhànước để đòi cơ quan nhà nước phải thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin cho mình được. Chính vìvậy,cầnphải có những quy định hình thành nên biện pháphữuhiệu bảo đảm QĐTTđược thực thi, ngăn cản không cho các chủ thể khác xâm phạm quyền này như việc

từngbước ngăn chặn tình trạng các cá nhân, hoặc nhóm lợi ích can thiệp vào các phương tiện truyền thôngđể hướngdân chúng tiếp cận những thông tin có lợi cho họ41.

Các biện pháp pháplý đảm bảoQĐTT của công dân là các cách thức, thủ tục màcác chủ thể có liên quan phải thực hiện nhằmbảo đảmthực hiện quyền này của công dân trong thực tiễn. Các biện pháp này bảo đảmpháp lý ở tầmcao nhất là ghi nhận QĐTT vào trong Hiến pháp và luật và các biện pháp pháp lý yêu cầu các cơ quan nhànước tôn trọng, bảo vệ và đảmbảo thực hiệnđầy đủ42 QĐTT. Nếu như không thực

41 A Eide (1989), Realization of social and economic rights and the minimum threshold approach, Human Rights Law Journal, tr.35, 37.

42 Masstricht Guidelines on Violations of Economic, Social and Cultural Rights, Maastricht, January 22-26, 1997. http://www1.umn.edu/humanrts/instree/Maastrichtguidelines_.html (Truy cập ngày20.01.2013)

38

hiện bất kỳ một trong các nghĩa vụ sẽ dẫn đến QĐTT bị vi phạm. Các yêu cầu này thểhiện:

Trách nhiệm tôn trọng: yêu cầunhà nước tránh can thiệp vào việc thụ hưởng QĐTT,cụ thể khi công dân thực hiện quyền tìm kiếm thông tin mà các cơ quan nhànước đang có thông tin đó nhưng từ chối cung cấp mà không có căn cứ là không tôn trọng.

Trách nhiệm bảo vệ: yêu cầu các cơ quan nhà nước ngăn chặn hành vi vi phạm quyền của các bên thứ ba, như trường hợp các cơ quan nhà nước tiết lộ thông tin mìnhđang quản lý cho bên thứ ba gây thiệt hại cho các chủ thể liên quan.

Trách nhiệm thực hiện đầy đủ: yêu cầu các cơ quan nhà nước phải đảm bảo các thiết chế về lập pháp, hành chính, ngân sách, tư pháp và các biện pháp thích hợp nhằm thực hiện đầy đủ quyền như vậy,cụ thể: nhà nước phải đảmbảo cơ chếkhiếu nại, khiếu kiện khi người dân cho rằng QĐTT của mình bị vi phạm.

2.1.5.2 Các biện pháp cụ thể

(1)Ban hành các quy định pháp luật thốngnhất đểđiềuchỉnh về QĐTT của công dân

Biện pháp này có ý nghĩa là tạo một cơ sở pháp lý thống nhất để tránh tình trạng xung đột các quy phạm pháp luật về QĐTT trong nhiều văn bản. Tính thống nhất của các quy định pháp luật yêu cầu các văn bảnđiều chỉnh QĐTT có thứ bậc rõ ràng, nghiêm ngặt của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật. Trong xu hướnghoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền thì ngoài Hiến pháp, văn bản Luật luôn luôn giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm QĐTT vì, về nguyên tắc, khi luật được ban hành cũng là lúc công dân thực hiện được quyền, không có sự cản trởhay hạn chế quyền bởi các văn bản dưới luật.

Yêu cầu chung của hệ thống pháp luật quy định về QĐTT của công dân như sau:

– Về phía nhà nước phải quy định QĐTT trong Hiến pháp, ban hành hệ thống văn bản hướng dẫn thống nhất, tạo thành mộthệ thống đồng bộ,đầy đủ.Chỉ khi luật nội dung đáp ứng yêu cầu “định lượng” cho QĐTT của công dân,quyền mới được bảođảmvì chỉ khi đó nhà nước – chủ thể bảo đảm quyền – mới bị ràng buộc trách nhiệm.

– Việc quy định các biện pháp thực hiện QĐTT của công dân phải có sự kết hợp với quyền, lợi ích của các chủ thể khác trong xã hội. Vì thế, trong các quy định nội dung, những quy định về hạn chế thực hiện quyền phải phù hợp, cân xứngvà rõ ràng.

– Pháp luật nội dung phải quy định cụ thể các biện pháp, hình thức xử lý những hành vi vi phạm QĐTT của công dân.

– Tuy nhà nước có trách nhiệm để QĐTT của công dân không bị xâm hại, song do nhiều lý do mà vi phạm quyền này là hiện tượng không tránh khỏi. Vì thế, quy định rõ ràng về việc bồi thường thiệt hại của nhà nước đối với công dân trong trường hợp vi

39

phạm QĐTT công dân là một trong những hướng hoàn thiện củahệ thống pháp luật nội dungđể bảo đảm quyền này.

(2) Quy định trách nhiệm công khai thông tin của cơ quan nhà nước

Đây là biện pháp bảo đảm quyền tiếp nhận thông tin của công dân. Công dân cótiếp cận được thông tin hay không phụ thuộc chủ yếu vào việc chủ động công khai của cơ quan nhà nước đang quản lý thông tin. Biện pháp này giúp cơ quan nhà nước chủđộngvà có trách nhiệm hơn trong việc công khai thông tin, về phía công dân,họ cóthể tiếp cận những thông tin có sẵn dễdàng hơn,từ đó, tạođiều kiện thuận lợi cho công dân tham gia quản lý nhà nước và giám sát hoạt động của các cơ quan nhànước.

Yêu cầu này được thể hiện:

– Cơ quan quản lý thông tin chủ động công khai thông tin ngay cả khi không cóyêu cầu tìm kiếm của người dân.Một đặcđiểm chung trong pháp luậtcủa hầu hếtcác quốc gia là đều có quy định các cơ quan chính phủ có nghĩa vụ phải cung cấpmột sốloại thông tin nhất định một cách tích cực. Các thông tin này thường bao gồm chi tiết về cơ cấu tổchức và thông tin các cán bộ lãnh đạo của chính phủ, nội dung của cácđạo luật và quy định, các đề xuất và chính sách hiện hành, các biểu mẫu và quyết định. Các đạo luật về tiếp cận thông tin mới ban hành có xu hướngquy định rõ danh mục các loại thông tin cầnphải côngbố.Việc công khai thông tin một cách chủ động vàtích cực như trên, ngoài việc bảođảmcho công dân được chủ động tiếp cậnvới các thông tin cần thiết, còn mang lại những lợi ích nhất định cho cơ quan nhà nước.Cụthể, nó có thể làm giảm gánh nặng hành chính khi phải trực tiếp trả lời những câu hỏi và yêu cầu cung cấp thông tin thông dụng và có thể trực tiếp cải thiện tính hiệuquảcủa các cơ quan nhà nước như nhận định củaHội đồngLiên minh Châu Âu “các tài liệu mà công chúng có thể tiếp cận trực tiếp càng tăng lên thì số lượng các yêu cầu tiếp cận tài liệu sẽ càng giảm đi”43. Hoặc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ trong báo cáo năm 2002 đãnêu rõ “nhiều cơ quan chính phủ đã làm giảm đáng kể các yêu cầu cung cấp thông tin thông qua việc đăng công khai các tài liệu mà công chúng quan tâm trên trang tin điện tử của mình”44.

– Cơ quan quản lý thông tin phải đăng tải thông tin mà được phép công khai trên trang thông tin điệntửcủa cơ quan. Quy định này cũng được luật tiếp cận thông tin của các quốc gia quy định, các cơ quan chính phủ có nghĩa vụ phải côngbố các loại thông tin nhất định trên trang thông tin điệntử của mình theo định kỳ.Chính phủkhông nên hạn chế công khai thông tin chỉ vì khi công khai thông tin này, cán bộ, công chức nhà nước sẽ xấu hổ vì dân chúng biết những hành vi vi phạm hay sai sót của mình, hoặc bảo vệ lợi ích cá nhân của họ,vì họ nhận lươngtừ nhà nước để phục vụ

43 Xem Báo cáo thường niên của Hội đồng về Thi hành Quy chế EC số 1049/2001 của Nghị viện và Hội đồng Châu Âu ngày 30/5/2001về Tiếp cận củacông chúng đối với các tài liệu của Nghị viện, Hội đồng và Uỷ ban Châu Âu ngày 7/3/2003.

44Bộ Tưpháp Hoa Kỳ, Tóm tắt các báo cáo thường niên vềLuật Tựdo thông tin cho năm tài chính 2002.

40

nhân dân45. Biện pháp này cho phép việc tiếp cận thông tin được thực hiện nhanh chóng và đỡ tốn kémcả về phía người dân lẫn cơ quan nắm giữ thông tin. Những thông tin này bao gồm ít nhất: thông tin hoạt động của cơ quan đó ví dụ như mục đích, chức năng, tổ chức, các tiêu chí hoạt động, nội quy, giới thiệu hoạt động, báo cáo tài chính, kiểm toán… Những thông tin này có thể được công bố dưới dạng các tờ rơi,tờgiới thiệu hoặc bản báo cáo hàng năm; hoặc thông tin liên quan đến các loại vụ việc khiếu nại tố cáo mà cơ quan nhà nước đó có thể tiếp nhận và giải quyết; hoặc thông tin hướng dẫn cách thức mà công chúng có thể tham gia vào quá trình làm chính sách hoặc pháp luật của cơ quan nhà nước đó cũng như các tài liệu chuẩn bị cho việc ban hành chính sách hoặc pháp luật đó; hoặc thông tin liên quan tới các loại thông tin màcơ quan nhà nước đó đangnắmgiữ và hình thức của các loại thông tin đang nắm giữ; hoặc thông tin về các mối đe dọa tới môi trường hay sức khỏe cộng đồng mà cơ quan nhà nước đó đangnắmgiữ.

– Cơ quan quản lý thông tin phải có hệ thống quản lý, lưu giữ hồ sơ tài liệu khoa học đểviệc thu thập, lập danh mục, lưu trữ và cungcấpthông tin mộtcách dễdàng. Quy địnhnày nhằmđảmbảo theo dõi được những thông tinđã công khai vànhững thông tin hạn chế hoặc khôngđược công khai. Pháp luật nhiều nước quy định rất cụ thể việcxây dựng, củng cố hệ thống lưu trữ hồ sơ, tài liệu, lập danh mục, thống kê, lưu trữ thông tin một cách thích hợp sao cho có thể dễ dàng trích xuất thông tin vàđảm bảo rằng, các thông tin giá trị không bị mất mát.Nếu hồsơ lưu trữ về những vấnđề cụ thể khôngđược tạo ra, hoặc không thể xác định, hoặc không thể trích xuất thông tin một cách dễ dàng, quyền tiếp nhận thông tin sẽ trở thành vô nghĩa.

(3) Quy định thủ tục thực hiện quyền yêu cầu cung cấp thông tin

QĐTT cho dù có được pháp luật cụ thể hóa một cách chi tiết và ưu việt về mặt nội dungđến mấy đi nữa thì người dân vẫn có thể không thực hiện được quyền này trên thực tế nếu như quy trình thủ tục được quy định không hợp lý. Một quy trình thủ

tục quá phức tạp sẽ làm cho người dân không thể thực hiện được tại các cơ quan nhà nước và qua đó không đủ kiên nhẫnđể chờcho quyền của mìnhđược thực hiện. Ngược lại, một quy trình thủ tục đơn giản và thuận lợi sẽ khích lệ người dân thực hiện quyền yêu cầu cung cấp thông tin của mình, qua đó vừa góp phần làm cho cơ quan nhànước gần dân hơn vừa làm cho hoạt độngcủa các cơ quan nhà nước minh bạch với công chúng hơn.

Quy định thủ tục thực hiện quyền yêu cầu cung cấp thông tin chính là việc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thực hiện việc ban hành các quy định liên quanđến trình tự yêu cầu cung cấp thông tin từ phía người dân và trình tự cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Biện pháp này yêu cầu phải đảm bảo các nội dung sau:

45 Barack Obama (2009), Freedom of information Memorandum for the Heads of executive Departments and agencies. http://www.whitehouse.gov/the_press_office/FreedomofInformationAct (Truy cập ngày17.4.2012)

41

– Tất cả các cơ quan nhà nước đều phải ban hành quy trình để công dân tiếp cận thông tin mà mình đang nắmgiữ. Quy trình, thủ tục này phải rõ ràng,dễ hiểu với những mẫu, đơn yêu cầu cung cấp thông tin làm sẵn và đầy đủ.

– Yêu cầu về thủ tục thực hiện việc tìm kiếm thông tin: về hình thức yêu cầu cung cấp thông tin bằng văn bản,kểcả dướihình thức văn bảnđiện tử với địa chỉngười nhận đơn, người có trách nhiệmxử lý đơn được xác định rõ ràng (một số đạo luật của cácnước chấpnhận cảyêu cầu cung cấp thông tin qua điện thoại hoặc bằng lời nói); quy định công dân có quyền yêu cầu cung cấp thông tin trong danh mục được tiếp cận với cam kết sử dụngthông tin hợp pháp mà không phải nêu lý do tại sao lại cần thông tin và cầnthông tinđể làm gì. Người dân chỉ cần bày tỏsựquan tâm của mình tới thông tin là cơ quan nhà nước được yêu cầu đã phải cung cấp thông tin đó.

– Yêu cầu về thủ tục cung cấp thông tin: về thời gian xử lý đơn yêu cầu, trả lời và cung cấp thông tin phải được quy định cụ thể và rõ ràng, không cần phải giải thích thêm; trong trường hợp đơn yêu cầu tiếp cận thông tin gửi tới người không có thẩm quyền phù hợp thì người đó vẫn phải nhận đơn và có trách nhiệm chuyển đơn tới người đúng thẩm quyền; cơ quan nhà nước có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin theo yêu cầu mà khôngđược quyền hỏi lý do hay mục đích sử dụng thông tin của người yêu cầu; việc cungcấpthông tin nhanh chóng, đúng thời hạn là một yêu cầuquan trọng, bởi sự trì hoãn cung cấp thông tin nhiều khi đồngnghĩa với việc từ chối cung cấp thông tin và nếu thông tin không được cung cấp nhanh chóng thì có nhiều khảnăng gây thiệthại đếnlợi ích của công dân; việc từ chối cung cấp thông tin phảiđược trả lời bằng văn bản; mức phí cho việc cung cấp thông tin là tối thiểu và thường chỉ làphí để bù đắp chi phí vật chất cho việc cung cấp thông tin; và bố trí cán bộ làmđầu mối tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin: cần có cán bộ phụ trách thông tin tại các cơquan hành chính nhà nước làmđầu mối để tiếp nhận các yêu cầu cung cấp thông tin của công dân.

Đây là biện pháp rấtquan trọng nhằm bảo đảmquyền tìm kiếm thông tin của công dân.Đối với những thông tin không được nhà nước công khai, khôngdễ dàng tìm kiếm hoặc thông tin liên quan đến cá nhân cụ thể thì công dân phải trực tiếp liên hệ cơ quan nhà nước và thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin. Việc yêu cầu cung cấp thông tin thực chất cũng là một loại TTHC nên nếu không quy định loại thủ tục này thìcả công dân và cơ quan nhà nước đều gặp lúng túng. Về phía công dân, họ không xácđịnh được cơ quan có thẩm quyền giải quyết, hình thức yêu cầu cung cấp thông tin,

thời hạn, lệ phí(nếu có)… dẫn đến tốn kémthời gian, công sức, chi phí hoặc từ bỏ ý định yêu cầu cung cấp thông tin. Về phía cơ quan nhà nước, nếu không quy định trình

tự, thủ tụcrõ ràng thì không có căncứ để thực hiện,không biết quyền hạn, nghĩa vụcủa mình ở mức độ nào, dẫn đến từ chối hoặc chậm trễ, trì hoãn cung cấp thông tin cho công dân.

42

(4) Quy định thủ tục khiếu nại, khởi kiện liên quan đến QĐTT của công dân

Việc vi phạm QĐTT là những hiện tượng tiêu cực xã hội. Chỉ nhà nước với tưcách là chủ thể của quyền lực công mới có khả năng bảo vệ công dân trước những xâm hại đó.Khoản 3, Điều 2, phần II Công ước quốc tế về các quyền dân sự – chính trị xác định tầmquan trọng và trách nhiệm của các quốc gia thành viên “tăng cườngnhững khả năng bảo hộ pháp lý và bảo đảmrằng các cơ quan tư pháp, hành chính hay cơ quan lập pháp có thẩm quyền hoặc các nhà chức trách có thẩm quyền do hệ thống pháp luật của quốc gia quy định sẽ phán quyết về quyền của bất cứ người nào yêu cầu bảo hộ về mặt pháp lý”. Luật pháp điều chỉnh hành vi của công dân, song cũng phục vụ lợiích công dân, là phương tiện, công cụ để công dân thực hiện yêu cầu bảo vệ quyền của mình khi quyền bị xâm hại vì vậy việc thiết lập một cơ chế khiếu nại, khởi kiện việc thực hiện QĐTT nhằm hướng tới các mục tiêu: (i) bảo đảm QĐTT của công dânđược thực thi trong thực tế, và (ii) tạo ra một cơ chế kiểm tra, theo dõi đối với các chủ thể cótrách nhiệm cung cấp thông tin để buộc các chủ thể đó phải thực thi trách nhiệm của mình trong việc cung cấp thông tin.

– Khiếu nại: khi công dân cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm do cơ quan nhà nước không công bố thông tin theo quy định, từ chối yêu cầu cung cấp thông tin mà không có lý do chính đáng, cung cấp thông tin trễ, cung cấp thông tin sai

lạc, không theo yêu cầu,không đầy đủhoặc người yêu cầu phải trả những khoản phí

vô lý… thì có quyền khiếu nại tại cơ quan nhà nước đó.

– Khởi kiện tại tòa án: ngoài biện pháp khiếu nại tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, pháp luật các nước còn quy định về cơ chế khởi kiện ở tòa án trong trường hợp cơ quan nhà nướckhông thực hiện nghĩa vụ của mình, vi phạm QĐTT của công dân

(quyền bị xâm hại hoặc quyền không thực hiện được) cũng phải bị xử lý bằngkhảnăng khởi kiện theo thủ tục tư pháp. Trongsố các côngcụ bảo đảmquyền công dân trước nhà nước, quan trọng nhất là tòa án hành chính và tòa án hiến pháp vì chúng cókhả năngđối đầu,kìm chế cơ quan nhà nước trong trường hợp vi phạm quyền của công dân.

Để đạt được các mục tiêu nói trên, cần phải đáp ứng được các yêu cầu sau đây:

+ Thứ nhất, cơ chế này phải giải quyết được những hạn chế của các cơ chế hiện hành, đó là, phảicó sựđộclập với các chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin đểbảo đảmrằng cơ quan giải quyết khiếu nại, khiếu kiện có thể hoạt độngmột cách khách quan, không chịu tác động của các chủ thể nói trên; và việc giải quyết khiếu nại của cơ quan này phải bảo đảm nhanh chóng và không tốn kém;

+ Thứ hai, cơ quan xử lý phải là một thiết chế đủ mạnh,được trao các quyền hạn thích hợp, tương xứng với chức năng, nhiệm vụ của mình để tiếng nói của cơ quan này trở thành những khuyến nghị có trọng lượng buộc các chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin phải thực hiện;

43

+ Thứ ba, cơ chế bảođảmthực thi QĐTT phải có thủtụcđơn giản và thuận tiện. Cơ chế này phải có khả năng đáp ứngkịp thời và giải quyết trong khoảng thời gian ngắn nhất các khiếunại củangười dân do bị từ chối QĐTT. Có như vậy thì người dân mới tin vào cam kết của nhà nước về bảo hộ QĐTT, đồng thời chính bản thân từng cơ quan nhà nướccụ thể cũngsẽ tự nâng cao ý thức của mình hơn đối với việc đáp ứng các yêu cầu cung cấp thông tin của người dân.

Trên thế giới thông thường có ba cơ chế giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về tiếp cận thông tin46: cơ chế giải quyết khiếu nại hành chính nội bộ; trao cho cơ quan độc lập giải quyết khiếu nại về QĐTT; và giải quyết khiếu kiện về QĐTT ở tòa án,kể cả

theo thủ tục tố tụng bảo hiến như ở các nước Nam Mỹ. Hiệu quả của từng cơ chế phụ thuộc vào bối cảnh mỗi nước, nhưng theo ý kiến của các chuyên gia, mô hình cơ quanđộc lập có hiệu quả nhất47.

Trừ mộtsố nước như Đan Mạch (Luật năm 1985), Hà Lan (Luật năm 1991) không quy định trực tiếp về giải quyết khiếu nại, khiếu kiện trong luật liên quan, còn lại luật của đại đa sốcác nước đều có quy định riêngvề cơ chế giải quyết khiếu nại, khiếu kiện của công dân liên quan đến QĐTT48. Dù mức độ,phạm vi quy định khác nhau, nhưng nói chung, cơ chế đó gồm các yếu tố sau: cơ sở khiếu nại, khiếu kiện; cơquan giải quyết khiếu nại, khiếu kiện; quy trình, thủ tục khiếu nại, khiếu kiện và giải quyết khiếu nại, khiếu kiện.

Như vậy, biện pháp khiếu nại và khởi kiện đều có ưu điểmvà hạn chế riêng, cần quy định cả hai biện pháp này trong luật để công dân lựa chọn hình thức phù hợpđể bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Biện pháp này có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ QĐTT của công dân khi cơ quan nhà nước có hành vi vi phạm.

(5) Quy định các biện pháp xử lý hành vi vi phạm QĐTT của công dân và vấnđề bồi thường thiệt hại

Việc quy định biện pháp xử lý vi phạm là một trong những cách thứcbảo đảm thực hiện các quyđịnh về QĐTT của công dân, mang tính răn đe, trừng phạt đối với người vi phạm. Việc áp dụng biện pháp này góp phần ngăn ngừa, hạn chế tình trạng lợi dụng QĐTT để gây cản trở hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, gây cản trở QĐTT của cá nhân khác hoặc dùng QĐTT gây tổn hại quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, gây mất trật tự an toàn xã hội…

Biện pháp xử lý vi phạm gồm: xử lý hành chính, xử lý kỷ luật và xử lý hình sự. Xử lý hành chính được áp dụngđối với hành vi vi phạmở mức độ thấp, tính nguy

46 David Banisar (2006), Freedom of Information Around the World 2006- A Global Survey of Access to Government Information Laws, Privacy International, 2006 và Tuyển tập các văn kiện quốc tế và luật một số nước về tiếp cận thông tin, NXB Công An Nhân Dân.

47 David Banisar (2006) Freedom of Information Around the World 2006 – A Global Survey of Access to Government Information Laws, Privacy International, tr.23.

48 Viện Nghiên cứu quyền con người (2007). Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông tin, NXB Công an nhân dân, David Banisar (2006) Freedom of Information Around the World 2006- A Global Survey of Access to Government Information Laws, Privacy International.

44

hiểm cho xã hội chưa cao. Biện pháp này thường được áp dụng đối với công dân nhằm hạn chế tình trạng lợi dụng QĐTT để vi phạm quyền, lợi ích của người khác hoặc cản trở hoạt động của cơ quan nhà nước.Hình thức xử lý vi phạm hành chính được áp dụng phổ biến nhất là phạt tiền. Đây là biện pháp nhằm tác động về kinh tế, nhằm mụcđích cảnh cáo, nhắc nhở để người vi phạm QĐTT không tái phạm. Hầu hết các Luật tiếp cận thông tin đều có quy định áp dụng các chế tài đối với các cơ quan nhà nước vàcác công chức trong trường hợp từ chối côngbố thông tin một cách bất hợp pháp, thường áp dụng cho các cơ quan, công chức từ chối cung cấp thông tin hoặc sửa đổi, phá hủy tài liệu một cách trái phép. Ngoài ra, chế tài cũng áp dụngđối với các cơquan,tổ chức, cá nhântừ chối cung cấp thông tin theo yêu cầu củacác cơ quan nhànước hoặc áp dụng các chế tài hình sự hoặc hành chính đối với các công chức cụ thể.

Biện pháp xử lý hình sựđược áp dụng cho những hành vi nguy hiểm cho xãhội, cấu thành tội phạm. Biện pháp xử lý hình sự có thể được áp dụng đối với các hành vi nguy hiểm, gây hậu quả nghiêm trọng như: phá hoại, làm tổn hại hoặc tiêu hủy hồsơ; ăn cắp hồ sơ; làm giả hoặc làm sai lệch nội dung hồ sơ, …

Quy định về bồi thường thiệt hại: khi QĐTT của công dân bị xâm hại,vềnguyên tắc, chủ thể xâm hại quyền phải bồi thườngcả về vật chất, sức khỏe và tinh thần cho công dân.Điềunày càng có ýnghĩa quan trọng khi chủthể xâm hại quyền công dân là nhànước.Các sai sót của nhà nước trong xử lýmốiquan hệ với công dân,đặc biệt trong lĩnh vực nhạy cảmlà QĐTT của họ,là thực tế khách quan chấp nhận được ở chừng mực nhất định. Mỗinhà nước tiến bộ đềulườngtrước điều này và cócách xử lý đúngmức cần thiết để khắc phục hậu quả, bảo vệ công dân. Mối nguy cơtiềm tàng lớn nhất mà mỗi cá nhân trong xã hội hiện nay dễ gặpphải trên mỗi bước phát triển là nguy cơ một nhà nước hùng mạnh có thể vi phạm các quyền cá nhân, hoặc tài sản của công dân nước mình vàđồngthời lại trốn tránh trách nhiệmvềhậu quả đã gây nên49. Việc nhà nước bồithường do xâm hại QĐTT cần được chú ý đểquyền này được thực thi.

Biện pháp này đưa ra nhằm đảm bảo trường hợp người yêu cầubị từ chốicung cấp thông tin, hoặc khôngđược tiếp cận theo quy định hoặc được tiếp cận thông tin quá muộn trái với quyđịnh mà gây thiệt hạithì có quyền yêu cầu cơ quan,tổchức quản lý thông tin có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người yêu cầu bấtkể thiệt hại đó là do lỗi côngvụ hay do lỗi cá nhân của cán bộ, công chức thuộc cơ quan,tổ chức đó. Tuy nhiên, việc xác định trách nhiệmbồi thường, mức độ bồi thườngthì rất khó khăn.

(6) Quy định biện pháp thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luậtvềbảo đảm QĐTT của công dân

Khi triển khai thi hành luật về QĐTT ở một số quốc gia, các cơ quan đang quản

49 Phạm Khiêm Ích – Hoàng Văn Hảo (1995), Quyền con người trong thế giới hiện đại, Viện Thông tin Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 384.

45

lý thông tin, nhất là các cơ quan hành chính nhà nước, nơi nắm giữ phần lớn các thông tin mà người dânmuốn được tiếpcận – thường có xu hướng lạm dụng quyền hạn của mình từ chối cung cấp thông tin hoặc trì hoãn việc cung cấp thông tin. Thực tế này dẫnđến tình trạng là những quy định của luật dễ trở thành những tuyên bố mang tính hình thức, từ đó làm giảm sút lòng tin của người dân đối với chính sách của nhà nước. Vìvậy, đểtránh tình trạng này ở hầu hết các quốc gia đã ban hành Luật tiếp cận thông tinđều quy định cơ chế kiểm tra, giám sát việc thi hành đạo luật này vì bảo đảm cho các quy định của Luật tiếp cận thông tin được thực thi có hiệu quả trong thực tiễn50.

Hoạt độngthanh tra, kiểm tra, giám sát làhoạt độngxem xét, đánh giá việc thực hiện pháp luật về QĐTT của công dân nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những hạn chế, thiếu sót trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị các biện pháp khắc phục.

Biện pháp này yêu cầu: thanh tra, kiểm tra, giám sát việc ban hành các văn bản chỉ đạo,triển khai,hướngdẫn thực hiện quy định pháp luật về QĐTT của công dân; việc công khai, minh bạch thông tin trong hoạt độngcủacơ quan,đơnvị; việc cung cấp thông tin cho công dân khi có yêu cầu; thường xuyên tổ chức các đoàn thanh tra việc thực hiện QĐTT củacông dân,đồngthời tuyên truyền, phổ biến cho cán bộcóthẩm quyền biết về vai trò của hoạt động kiểm tra, giám sát.

Biện pháp này góp phần ngăn ngừa, phát hiện và kịp thời xử lý những vi phạm trong việc thực hiện QĐTT củacông dân, bảo đảmcơ quan nhà nước thực hiện quyđịnh về QĐTT của công dân thường xuyên và nghiêm túc.

(7) Quy định về các biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật vềQĐTT của công dân

QĐTT của công dân là một trong những quyền công dân khá mới ở Việt Nam nên việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có ý nghĩa rất quan trọng nhằm giúp người dân biết được quyền của mình để thực hiện,tự bảo vệ quyền của mìnhđồng thời tôn trọng quyền của người khác.

Việc tuyên truyền thông tin pháp luật về QĐTT không chỉ nhằm cho nhân dân biết các quy định pháp luật mà qua đó còn cho thấy thái độ của nhà nước và xã hội, từđó mà công dân chủ động và lường trước được các quy định pháp luật và hình thành dần thói quen ứng xử theo pháp luật về quyền này. Công dân phải được tuyên truyền, giáo dục để sống theo pháp luật, không ngồi chờ sự ban ơn của nhà nước, biết yêu cầu và biết đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình, được làm tất cả những gì màpháp luật không cấm. Khi biết các quy định của pháp luật về QĐTT, công dân thấyđược trách nhiệm của mình, biết sử dụng quyền gắn với thực hiện nghĩa vụ,biết tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên khác trong xã hội, giám sát nhànước,tham gia hoạt động quản lý nhànước,thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo.

50 Báo cáo đánh giá tác động dự thảo Luật Tiếp cận thông tin

http://moj.gov.vn/dtvbpl/Lists/Danh%20sch%20d%20tho/View_Detail.aspx?ItemID=34

46

Để thực hiệntốt việc tuyên truyền phổ biến pháp luật về QĐTT, cần: quyđịnh là trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc giáo dục, phổ biến pháp luật nói chung và QĐTT nói riêng và là hoạt động thường xuyên của các cơ quan nhà nước; đa dạng hóa các hình thức và phương pháp tuyên truyền, tăngcườngcác hình thức tuyên truyền phổ biến qua sách, báo, tạp chí; qua các phương tiện thông tin đại chúng.

2.2. Các văn bản pháp luật quốc tế về quyền được thông tin của công dân

2.2.1 Các văn kiện của Liên hợp quốc

Trong Tuyên bố của Đại hội đồng Liên hợp quốc (Nghị quyết 59 ngày 4 tháng 12 năm 1946), quyền tự do thông tin được nhìn nhận như một quyền cơ bản: “Tự do thông tin là quyền cơ bản của con người và là nền tảng cho tất cả các quyền tự do được Liên hợp quốc tôn vinh”.

Tuyên bố nhân quyền thế giới (UDHR), do Đại hội đồng Liên hợp quốc ban hành năm 1948 được nhìn nhận như một tuyên bố chủ đạo về nhân quyền quốc tế. Điều 19 của Tuyên bố này có giá trị như là một tập quán quốc tế,đã đưa ra và đảmbảo vềquyền tự do thông tin như sau: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏýkiến; kể cả tự do bảo lưu quan điểm mà không bị can thiệp; cũng như tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền bá các ý tưởng và thông tin bằng bất kỳ phương tiện truyền thông nào, và không giới hạn về biên giới”.

Điều 19 Côngướcquốc tếvề các quyền dân sự và chính trị (1966) ghi nhận lạiĐiều 19 củaTuyên bố1948 nhưngcụ thểhơn51: “2. Mọi người đều có quyềntự do ngôn luận. Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và truyền đạt mọi thông tin,ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào

tùy theo sự lựa chọn của họ…”. “Việc thực hiện các quyền trong khoản 2 của Điều nàyđi kèm với trách nhiệm và nghĩa vụ đặc biệt.Quyền này, do đó, có thể bị những hạn chế nhất định, nhưng phải là những hạn chế được quy định trong luật và cần thiết: (a)Để tôn trọng quyền hoặc uy tín của người khác; (b) Để bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, hoặc y tế hoặc đạo đức công cộng”.

2.2.2 Các văn kiện của các tổchức quốc tế và khuvực

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\QUYỀN ĐƯỢC THÔNG TIN CỦA CÔNG DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *