Quốc triều hình luật – các giá trị nhân văn tiến bộ và sự kế thừa trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

Quốc triều hình luật – các giá trị nhân văn tiến bộ và sự kế thừa trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 25 nămthực hiện đường lối đổi mới của Đảng đất nước đã trải qua những chuyển biến toàn diện, sâu sắc và đang bước vào thời kỳ phát triển mới – thờikỳđẩymạnh công nghiệp hoá, hiệnđạihoá và hộinhập quốc tế. Kinhtếtăng trưởng nhanhđã đưa nước ta thoát khỏi danh sách nhữngnước đói nghèo và ngày càng có vị thế cao hơn trên trường quốc tế, nhưng về văn hóa lạichưa cóbướcphát triển tương xứng. Môi trường văn hoá nước ta bịxâm hại nặng nề, lai căng, thiếu lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục, các tệ nạn xã hội, tội phạm và sự xâm nhập của các sản phẩm và dịchvụ độc hại làm suyđồiđạođức, nhất là trong thanh, thiếu niên, rấtđáng lo ngại. Tình trạng chênh lệch giàu – nghèo giữa các vùng, miền, các tầng lớp dân cư ngày càng tăng. Việc thực hiện chính sách đối với những người và gia đình có công với nước chưa được thoả đáng. Điều kiện sống, lao động và học tập của thanh thiếu niên, giáo dục và bảovệtrẻem chưa được quan tâm đúng mức.Đời sống của những người cao tuổi, neo đơn, khuyết tật, mất sức laođộng và trẻmồcôi cũng chưa có chính sáchhợplý. Công tác kiểm soát, ngăn ngừa vàtrừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân chưa đạt kết quả tốt. Tội phạm và tệ nạn xãhộingàymộtgia tăng. Trước thực trạng đó, Cương lĩnh xây dựngđấtnước (bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ:

Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnhnộisinh quan trọng của phát triển.Kếthừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng

1

các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, vì lợi ích chân

chính và phẩm giá con người… [12, tr.75-76]

Vớinhận thức conngườilà trung tâmcủachiếnlược phát triển, đồng thời làchủthểphát triển trong đó luôn chú trọng hình thành nhân cách con ngườivànềnvăn hoá Việt Nam và toàn Đảng, toàn dân ta phấnđấutừnayđến giữa thế kỷ XXI, xây dựng nước ta trở thành một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh có nền công nghiệp hiện đại, theođịnh hướngxãhộichủnghĩa. Sựnghiệp cách mạng tolớnnày yêucầuphải tiếp tục đổi mới toàn diện và triệt để trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất làđổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật và bộ máy nhà nước nhằm thực hiện thành công việc xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam, khai thác, bảo tồn và phát triển các giá trị lịch sử, văn hóa truyền thống của dân tộc, tiếp thu những kinh nghiệm quý báucủacha ông ta trong xây dựng và phát triểnđấtnước vào công cuộc đổi mới, cải cách hành chính, xây dựng Đảng và chính quyền trong sạch vững mạnh, thểchếhóa nềnkinhtếthịtrường và chủđộnghộinhập quốc tế hiện nay.

Trong bối cảnh đó, để góp phần giải quyết những nhiệm vụ trên, nghiên cứutruyền thống pháp lý của dân tộc, đặc biệt là những quanđiểmvà kinh nghiệm thực tiễn trong lập pháp của cha ông ta để bảo tồn và phát huy những bài học bổ ích đó cho đất nước ngày hôm nay là việc làm cần thiết vì “những trang Cổ luật Việt Nam chính là những trang sử vinh quang ghi chép sức sống dũng mãnh của các chếđộgia đình và xã hội, cũng như các phong tục lành mạnh của dân tộc mà chúng ta cầnphải tìm hiểu.” [45, tr.49] Trongsốcác truyền thống pháp lý của dân tộc cần tìm hiểu thì việc nghiên cứu Quốc triều hình luật (QTHL) là mộttrọng tâm vì nó chứa đựngnhững giá trịvăn hóa, văn minh của đất nước và con người Việt Nam. Nó “không chỉ là đỉnh cao so với những thành tựu pháp luật của các triều đại trước đó, mà còn đối với cả bộ

2

luật được biên soạn vào đầu thế kỷ XIX: Hoàng Việt luật lệ” [64, tr.17]. Kết quả nghiên cứu các giá trị nhân văn, tiến bộ của QTHL sẽ đóng góp vào việc bảotồn, kếthừa và phát huy các disảnvăn hoá dân tộc, các truyền thống pháp luật ởnước ta hiện nay. Quan trọng hơn, qua đóchúng ta rút ra được những kinh nghiệm và bài học bổíchđốivớiquá trình xây dựng pháp luật, cảicách hành chính,cảicách tư pháp và công cuộc đấutranh phòng, chống tham nhũng đảm bảo cao nhất quyền lợi chính đáng của mọi người dân. Đây còn là việc làm thiết thực thể hiện quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng Sản Việt Nam đó là: “Tiếp tục xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc” [12, tr.321]. Vì những lído này, tôi lựa chọn vấn đề “Quốc triều hình luật – các giá trị nhân văn, tiến bộvàsựkếthừa trongđiều kiện xây dựng Nhànước pháp quyền ởViệt Nam hiện nay” làmđề tàiluận án Tiến sĩ luật học của mình.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án

2.1. Mục đích: Luận án nhằm mục tiêu nhận thức các giá trịnhân văn, tiến bộ của QHTL để kế thừa và phát triển các giá trị đó trong hoạt động xây dựng pháp luật, xây dựng conngườiViệt Nam và nềnvăn hoá dân tộc hiện nay, góp phần bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoátrong tiến trình đổi mới đất nước hiện nay.

2.2. Nhiệm vụ

+ Làm rõbốicảnh xã hội(kinh tế, chính trị, xã hộivà văn hoá tư

tưởng…) có ảnh hưởng trực tiếp tới tư duy làm luật của các nhà lập pháp thời Lê sơ dẫn đến sự ra đời của bộ QTHL.

+ Phân tích một số chế định cơ bản thể hiện các giá trị nhân văn, tiến bộcủa bộ luật.

+ Phân tích nhucầuvà khảnăng tiếptụckếthừa các giá trịnhân văn, tiếnbộcủa QTHL trongđiềukiện xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam hiện nay, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân

3

chủ, công bằng, văn minh.

3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của Luận án

– Đối tượng nghiêncứucủa luận án là QTHL, trong đó đặc biệt nghiên cứu các quy phạm pháp luật có giá trị nhân văn, tiến bộ.

– Phạm vi nghiêncứucủa luận án là những quy phạm pháp luật của QTHL, những nhântốtác độngđếnquan điểm, tưtưởngcủa nhà lậppháp thời Lê sơ cũng như những yêucầucủacông cuộc đổimớivà xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam hiện nay.

4. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu đề tài

– Cơ sởlý luậnđểgiải quyết những nhiệmvụcủa Luận án làhệthống quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước vàpháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng NNPQ XHCN. Đây là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình thực hiện Luận án.

– Phương pháp nghiên cứu đề tài là các phương pháp nghiên cứu cơ bản của khoa học pháp lý và lịch sử, tiến hành nghiên cứu sử liệu, các thư tịch, kết hợp nghiên cứu thông sử với lịch sử nhà nước và pháp luật. Ngoài ra còn cócác phương pháp so sánh, phân tích và tổng hợp, lôgíc, liên ngành khoa học xã hội.v.v.

+ Hệthống phương pháp nghiêncứucủa khoa học lịch sử, nhất làphương pháp phân tích, so sánh được sử dụng chủ yếu tại Chương 2 vì đây là phần nghiêncứuvềlịchsửtưtưởngnhân văn, tiếnbộtrong tiến trình phát triển chung của nhân loại. Các phương pháp lịchsửkhác như tiến hành nghiêncứusửliệu, các thư tịchcủalịchsửnhà nước và pháp luậtđược áp dụng để phân tích các nguyên nhân xã hội chủ yếu đã làm nảy sinh tư tưởng nhân văn, tiếnbộtrong lịchsửnhân loại,đồngthời so sánhvớicác giá trịnhân văn, tiến bộ của Việt Nam được phản ánh thông qua QTHL.

+ Phương pháp nghiên cứu, phê phánsửliệu, các thư tịch,kếthợp nghiên cứu thông sử được sử dụng nhiều nhất trong Chương 3 để nêu bật các

4

giá trị nhân văn, tiến bộ của QTHL thông qua các điều luật cụ thể. Điều này giúp tác giả phân tích, lập luận, đánh giá các vấn đề được nhận định là nhân văn, tiến bộ mà luận án nghiên cứu.

+ Các phương pháp so sánh, phân tích và tổng hợp, lôgíc, liên ngành khoa

họcxã hội.v.v….đượcsửdụng xuyên suốt trong Luận án. Tuy nhiên, các

phương pháp này được sử dụng chủ yếu trong Chương 1 và chương 4 để có thểkhái quát được các vấn đề cần nghiên cứu, kết luận các vấn đề đã nghiên cứu và làm cơ sở cho việc nghiệm thu, đánh giá các kết quả đã nghiên cứu.

5. Những điểm mới của Luận án

Từgóc độlí luận và lịchsửnhà nước và pháp luật, Luận án góp phần nghiêncứumộtcách có hệ thống các giá trị nhân văn, tiến bộ của QTHL, ýnghĩa lịch sử và đương đại, nhu cầu và phương hướng kế thừa phát triển các giá trị đó.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận nhận thức về các giá trị truyền thống cũng như vai trò của truyền thốngđối với hiện tại.

Luận án góp phần vào việc khai thác, bảotồnvà phát huy các giá trịtrong kho tàng di sản văn hoá dân tộc trong đó có truyền thống pháp luật Việt Nam. Qua đó, góp phần giải bài toán quan hệ giữa truyền thống và hiện đại,

tạo động lực cho công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng xã hội dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng XHCN.

Luận án có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu vàhoạch định chính sách, các chuyên gia trong lĩnh vực lập pháp và có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong chương trình đào tạo thạc sĩ và cử nhân luật học.

7. Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, Luận ánđược chia thành bốn chương:

5

Chƣơng 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Quốc triều hình luật

Chƣơng 2. Cơ sởlí luận và lịch sửvềgiátrịnhân văn, tiến bộcủa Quốc triều hình luật

Chƣơng 3. Nộidung cơ bản củacác giátrịnhân văn, tiếnbộtrong Quốc triều hình luật

Chƣơng 4. Kế thừa các giá trị nhân văn, tiến bộ của Quốc triều hình luật trong điều kiện xây dựng nhà nƣớc pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

CHƢƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

1.1. Những công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan đến đề tài 1.1.1. Công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam

QTHL là bộ luật tiêu biểu cho các giá trị văn minh và văn hóa Việt Nam trong lịch sử tồn tại và phát triển hàng ngàn năm của dân tộc. Trong bối cảnh xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân và vì dân, bộ luật đã được Đảng, nhànước, những nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhauởtrong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Ởtầmquốc gia, đãcó nhiều cuộc hộithảovềQTHL nói chung, về Lê Thánh Tông và thời đại của ông nói riêng. Ngoài ra còn có rất nhiều các sách chuyên khảo, sách tham khảo, những bài viết riêng, các buổi tọa đàm về QTHL được tổ chức ở nhiều nơi, với nhiều cấp độ khác nhau. Cóthểchỉra mộtsốcông trình nghiêncứutiêu biểu sauđâycó liên quanđến đề tài:

1.1.1.1. Nhóm công trình chuyên khảo

1.1.1.2. Kỷ yếu hội thảo cấp quốc gia

1.1.1.3. Nhóm công trình đăng tạp chí khoa học

1.1.2. Công trình nghiên cứu của các nhà khoa học nước ngoài

1.2. Thành tựu củacác công trình khoa học đãcôngbốvà những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

QTHL khiến cho nhiều nhà nghiêncứu “đi từngạc nhiên nàyđếnngạc nhiên khác” [18, tr.27]vềkhảnăng tư duy cũng như trìnhđộlậppháp cáchđâyhơn 5 thế kỷ của dân tộc Việt. Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực đã chứng minh ở nước ta thế kỷ XV đã có một nền pháp quyền sơ khai mang tính nhân văn và tiến bộ vào loại sớm trên thế giới. Kết quả đó được thể hiện:

– Về thành tựu: Các công trình trên đây đã chỉ ra những điểm tiến bộ màcác nhà lập pháp thời Lê sơ đã thực hiện thành công hơn so với triều đại trước như quanđiểmlậppháp trong quản lýđấtnước trên các lĩnh vực ruộngđất, thừa kế, thuỷ lợi, mùa màng, chủ quyền và an ninh quốc gia và đặc biệt là sựchăm sóc nhữngđốitượngdễbịtổnthương trong xã hội, trách nhiệm của

quanlại… đểđưa đếnmột xã hộithịnhtrịmà trongđómọingườidânđều được nhà nước quan tâmbảovệ. Trong đó, các tác giảcũngđã tìm hiểuvềnhững đặc điểm căn bản của nhà nước Lê sơ qua nền tảng chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và khẳng định những thành tựu về lập pháp thời kỳ đó là cơ sở khẳng định sự tiến bộ vượt bậc về mặt văn minh của nhà nước Việt Nam trong quản lý đất nước đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho con người.

– Những vấn đềcần tiếp tục nghiên cứu: Do giớihạnvà mục tiêu nghiên cứu, các công trình của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực trênđâyđã tập trung nghiêncứu những vấn đề cótính chất lịch sử và trực tiếp đi

17

vào nghiên cứu QTHL qua những quy phạm pháp luật cụ thể và chỉ ra những yếutốcó tính nhân văn, tiếnbộ vượt trước thờiđạimà hiện nayvẫncòn cótính thời sự. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đưa ra một cái nhìn khái quát, toàn diệnvềtính nhân văn, tính tiếnbộcủa QTHL và chưa có công trình Luận án Tiến sĩ Luật học nào nghiên cứu về những vấn đề nhân văn – tiến bộcủa bộ luật này.

Tình hình nghiêncứunày cho thấybộQTHLđã được nghiêncứutừnhiều góc độ và với nhiều mức độ khác nhau. Kết quả nghiên cứu về QTHLđã làm sáng tỏ hàng loạt vấn đề liên quan đến nội dung và kỹ thuật lập pháp của bộluật. Đâylà mộtthuậnlợilớncho việc tiếpcậnnghiêncứuvà thực hiện đề tài Luận án nhằm khai thác các giá trị của bộ luật để kế thừa và phát huy hơn nữa các giátrịđótrong công tác xây dựng nhànước và pháp luật hiện nay. Trên thực tế đời sống chính trị – pháp lý xã hội nước ta, việc kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống pháp luật từ bộ QTHL đã được thực hiện nhưng vẫn còn chậm và rất hạn chế. Điều nàydẫn đến một hệ quả tất yếu là việc kế thừa các giá trị của bộ luật này vào thực tiễn của công cuộc đổi mới hiện nay của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta vẫnchưa như mong muốn.Đúng như Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã đánh giá: “Công tác nghiên cứu lýluận, tổngkếtthực tiễn nhìn chungvẫnchưa đápứngđược yêu cầu. Nhận thức trênmộtsốvấnđềcụthểcủa công cuộc đổimớicònhạnchế, thiếu thống nhất”[12, tr.18]. Chính vì vậy mà cần tiếp tục nghiên cứu chuyên sâu về QTHL từ khía cạnh pháp lý với khả năng, nhu cầu tiếp tục kế thừa các giátrịđócủa bộluật, đápứngcác yêucầuxây dựng pháp luật, cảicách hành chính, cảicách tư pháp, phòng chống tham nhũng, phát triểnnềnkinhtếthịtrường và hội nhập quốc tế trên nền tảng văn hóa truyền thống ở nước ta hiện nay. Thực tế đó đã mở ra hướng nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án nàyđó là khảo cứu chuyên sâu những giá trị nhân văn, tiến bộ của QHTL trênmột số

18

lĩnhvựcquan trọng mà bộluậtđiềuchỉnh là: hìnhsự;dânsự;tổchức, hoạt động của bộ máy nhà nước; quan chế; tố tụng; bảo vệ nhóm đối tượng dễ bị

tổnthương trong xã hội; và trênmộtsốlĩnh vực khác của đờisống xã hội triều Lê. Đồng thời phân tích những nhu cầu tiếp tục kế thừa và phát huy các giá trị nhân văn, tiếnbộcủa QTHL trên cơ sởnhững phân tích về thành tựu đã đạt được và chưa đạt được trong pháp luật hiện hành, đặc biệt là trong tổchức và hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu từ các công trình của những nhà khoa học đi trước làrấtlớn, trởthànhcứliệu khoa học đểtác giảcóthểkếthừa trong quá trình nghiên cứu đề tài và hoàn thành Luận án này nhưng không có sự trùng lặp với bất kỳ công trình nào.

19

CHƢƠNG 2

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ LỊCH SỬ VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN,

TIẾN BỘ CỦA QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

2.1. Bối cảnh lịch sử của Việt Nam thời Lê sơ

Sự hình thành và phát triển các giá trị nhân văn, tiến bộ của QTHL là sựnỗ lực vượt bậc của những nhà lập pháp triều Lê sơ trên cơ sở có sự tiếp thu, vậndụng sángtạonềnnhân văn truyền thốngmấyngàn năm dựngnước vàgiữ nước của dân tộc. Trong quá trình đó, nội dung của các giá trị nhân văn, tiến bộ của QTHL, một mặt bị chi phối bởi những điều kiện chính trị, kinh tếvăn hoá, xã hộicụthể, mặtkhác nó còn là kết quảcủa sựkế thừa, phát huy những giá trịnhân văn truyền thống dântộcvà nhân loại trongsựgiao thoa văn hoá tư tưởng.

2.1.1. Những tiền đề về chính trị

VềChính trị- xãhội: Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn hoàn toàn thắng lợi, non sông thu về một mối. Đất nước trở lại thanh bình. Ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân (tức ngày 29 tháng 4 năm 1428), Lê Lợi chính thức lên ngôi hoàngđế ở Đông Đô (Thăng Long), khôi phục quốc hiệu Đại Việt, mở đầu triều đại Lê sơ (giaiđoạnđầucủa nhà HậuLê). Thành công của cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược đã trở thành tiền đề cho những bước chuyển mình của đất nước dưới các triều vua kế tiếp thời Lê sơ.

Triều Lê sơ trải qua 10 đời vua, khởi đầu là đời vua Lê Thái Tổ (1428- 1433) và kếtthúc là đờivua Lê Cung Hoàng (1522 – 1527). Giaiđoạnphát triển cực thịnh của thời Lê sơ đồng thời cũng là đỉnh cao của thể chế chính trị

quân chủ độc tôn Nho giáo là triều vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497).

TriềuđạiHậuLê nói chung, giaiđoạnLê sơ nói riêngđược thành lập dướitác độngcủa nhữngyếutốchủquan và khách quancủalịch sử. Quá

20

trình tồn tại của triều Lê sơ xét từ phương diện chính trị – xã hội, nổi bật lên một số vấn đề cơ bản như sau:

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi vua đánh dấu việc chấm dứt giai đoạn chiến tranh và chuyển sang thời kì hoà bình lâu dài của dân tộc. Kinh nghiệm, tri thức thời kì chiến tranh rất lớn nhưng cũng chưa thực sự đủ để đưa đất nước vào conđườngthái bình, thịnh trị. Thực tếcho thấy các tướnglĩnh của thời khởi nghĩa Lam Sơn là những võ tướng anh dũng trên chiến trường và sau khi chiến tranh kết thúc, hầu hết những tướng lĩnh này đều tham gia vào bộ máy chính quyền các cấp của nhà Lê. Bộ chỉ huy nghĩa quân Lam Sơn được hình thành từ trong quá trình tổ chức và lãnh đạo cuộc khởi nghĩa, vừa kháng chiến vừa xây dựng chính quyền, quản lí các vùng giải phóng, đã từng bước vươn lên đảm nhiệm chức năng của nhà nước độc lập, tự chủ. Đó là đội ngũ công thầndạndày kinh nghiệm chiến tranh, quenvớinhữngthửthách ác liệt của trận mạc, đã hiến dâng tuổi xuân, sức lực, tiền của và xương máu của bản thân họ cho kháng chiến cứu nước. So với các nhà nước tự chủ trước đó, khócó triều đình nào lại có đội ngũ công thần khai quốc nhiều chiến công, chiến tích và đôngđảonhư triều Lê sơ. Đâythực chất là chính sáchđãingộcác công thần và cũng làsựkhởiđầucho những khó khăn trong công cuộc tái thiết đất nước vàquản lý xã hội của triều Lê sơ.

Phần lớn những vị khai quốc công thần ngay sau khi kháng chiến thành công đã trở nên ỷ lại, thích cuộc sống hưởng thụ, đặc biệt là không có đủ kinh nghiệm quản lý cần thiết. Trong bối cảnh đó thì ngoài vua Lê Thái Tổ ra, các vua cầmquyền trong suốtmộtphần tưthếkỷsauđó(1433 – 1459) khi lên ngôi đều còn rất nhỏ tuổi (vua Lê Thái Tông – 10 tuổi; vua Lê Nhân Tông – 2 tuổi). Điềuhành chínhsựtrong thời gian nàyđềudo các đạithầnphụchính và thái hậu buông rèm nhiếp chính. Đây là điều kiện khách quan tạo thêm cơhội cho các quan đại thần vốn là các công thần lộng hành, lạm quyền và kéo

21

bè kết đảng hòng lũng đoạn triều đình. Triều đình nhà Lê tồn tại trong những mối xung đột cung đình gay gắt và hết sức phức tạp. Hàng loạt các vụ giết hại lẫn nhau giữa các công thần và mưu đồ tranh giành ngôi báu đã đẩy triều đình nhà Lê đến sự khủng hoảng nghiêm trọng.

Ngay từ thời vua Lê Thái Tổ, tình trạng quan lại cậy thế công thần kết bè kéođảngđểtrục lợiriêng và lấnát nhà vua đã xuất hiện. Tuy nhiên, ởgiaiđoạn đầu vua Lê Thái Tổ với tài năng, uy tín của vị lãnh tụ kháng chiến vẫn khốngchếđược độingũ công thần và điềuhànhtốtcông việc triều chính. Nhưng ngay sauđóchính nhà vua cũng mắc phảimộtsốsailầmkhiến các mâu thuẫn cung đình ngày càng căng thẳng, đồng thời gây ra sự bất bình lớn từphía dân chúng như việc giếthạicác công thần Trần Nguyên Hãn, Phạm VănXảovà hạ ngụcNguyễn Trãi. Những nhântốtiêu cực trênđâycứâmỉcháy trong cung đình nhà Lê và đếnkhi TháiTổtừtrần nó códịpbộc phát gây nên nhiều sóng gió cho các triều vuakếtiếp khiến cho triều đình Lê sơnhiều phen chaođảo.

Triều vua Lê Thái Tông (1433 – 1442) bắt đầu khi ông mới lên 10 tuổi. Các quan đại thần là Tư đồ Lê Sát, Tư khấu Lê Ngân, Đô đốc Phạm Văn Vấn làm phụ chính. Đây là những tướng soái tài ba của quân đội Lam Sơn, đã từng có công lớn trong sự nghiệp bình Ngô nhưng họ chỉ là những võ quan có tài trận mạc mà không phải là nhữngngườicó tài văntrịnêntỏra lúng túng trong cách điều hành đất nước thời hòa bình. Hơn nữa, xuất phát từ quyền lợi vị kỷ của cá nhân, họ thường tỏ ra đa nghi, ghen ghét, kết vây cánh, thao túng triều chính và cô lập những người có tài năng. Họ đã giết Nguyễn Trãi, Lưu Nhân Chú, truất quyền Trịnh Khả, ép vua Thái Tông bãi chức Bùi Ư Đài… lànhữngngườikhông thuộc phe cánh và có quanđiểmcanh tânđấtnước gây nguyhạiđếnđặc quyền, đặc lợicủa họ. Khoảng 15 tuổi, Thái Tôngbắtđầu nắm giữ triều chính, trực tiếp điều hành công việc của đất nước. Nhà vua đã

22

khôn khéo bố trí lại các chức quan cao cấp, cô lập dần và loại bỏ các quyền thần lộng hành như Lê Sát, Lê Ngân và trừ khử bè đảng của họ… Thế nhưng vua lại bị chi phối bởi hậu cung, lúc đầu lập hoàng tử Nghi Dân làm thái tử, nhưng saulạiphếbỏ(1441) đểlậpHoàngtửBang Cơ mớisinh là con của Thần phi Nguyễn Thị Anh. Việc phế lập này đã tạo cơ hội cho bọn quyền thần có mưuđồriêng ngấm ngầm gây dựngthếlực bấtchính nhằm gâyhoạcho triều đình nhà Lê sơ về sau.

Xung đột cung đình vẫn tiếp tục tồn tại, điều này cóảnh hưởng nặng nềđến sự ổn định và bền vững của triều Lê sơ. Vua Lê Nhân Tông (1443 – 1459) nắm quyền điều hành chính sự khi lên 12 tuổi, đang cùng với các triều thần ra sức chấn chỉnh kỷ cương và chăm lo phát triển kinh tế, văn hoá thì cuối năm 1459lạixảyra vụchính biến do Lạng Sơn Vương Lê Nghi Dân tiến hành. Cuộc chính biến cung đình nàyđã gây ra tâm lý hoang mang cho toànthểquần thần cũng như dân chúng. Tuy nhiên, triều đại của Nghi Dân chỉ tồn tại 8 tháng. Đếntháng 6 năm Canh Thân 1460, nhómđạithần khai quốc do Nguyễn Xí, Đinh Liệtđứngđầuđã xướngnghĩa trừkhửnghịch đảng, phếNghi Dân làm Lệ Đức Hầu rồi đưa hoàng tử Tư Thành lên ngôi Hoàng đế. Đóchính là Lê Thánh Tông, vị vua anh minh nổi tiếng trong lịch sử dân tộc.

Lê Thánh Tông (1460 – 1497) lên ngôi vua giữa lúc triều chính hỗn loạn. Sự phế lập hoàng đế là một biểu hiện rõ nét cho những xung đột quyền lực gay gắt chốn cung đình. Điều này đã gây cản trở lớn cho công cuộc tái thiết và xây dựng đất nước trên nhiều phương diện, đe doạ đến cả sự tồn tại của triều Lê.

Tuy nhiên, ngay sau khi lên ngôi, Lê Thánh Tôngđã mau chóng chấm dứttình trạng xungđột,thiếtlậplạikỷcương quốc gia, tạolậpsựổnđịnh chính trị để đẩy mạnh sự nghiệp phục hưng dân tộc. Đây là bước thành côngđầutiên của Lê Thánh Tông, mởra mộtthờikỳphát triểnmớicủa vương triều và đất nước. Trong suốt thời gian tại vị, Lê Thánh Tông đã đề ra và thực

23

hiện thành công nhiều biện pháp, chính sách quan trọng nhằm mục tiêu củng cố chế độ quânchủ tập quyền quan liêu, giữ vững độc lập dân tộc, tăng cường nền quốc phòng và thúc đẩy sự phát triển mọi mặt của đất nước.

Vềtư tưởng: Nhìn chung, đánh giá giaiđoạntồntạicủa thời Lê sơ thìnhững chính sách caitrịthành công nhấtđược tậptrung vào thời Lê Thánh Tông. Đây là kết quả của việc cố gắng pháp luật hóa tối đa các quan hệ xã hội trên cơ sở tiếp thu và thể chế hóa tư tưởng Nho giáo vào thực tiễn đất nước. Chính quyền Lê sơ mà tiêu biểu là triều Lê Thánh Tông rất chú trọng đến việc chuyển tải giáo lí Nho giáo xuống cơ sở xã, thôn, gia đình và các giai tầng xãhội. Năm 1461, chỉ hơn một năm sau khi lên ngôi vua, vị vua trẻ này đã ban bốHuấn dân đại cáo gồm 24 điều để dạy về những cách cư xử giữa người với ngườitheo quan niệm Nho gia. Thời Hiến Tônglặplạinhững giáo lý Nho giáo với ý thức trách nhiệm của một người nắm quyền tối cao của đất nước:

“Ngườiquântửtìmlấyngườihiền tài cho làm quanđểgiáo hoá phong tục cho dânđược tốt”[15, tr.460]. Mô hình Nho giáo với những quy tắc cơ bản nhất của tam cương ngũ thường đã được các nhà lãnh đạo tối cao của triều Lêsơ không ngừng vận dụng thành những điều huấn để áp dụng vào đời sống xã hội Đại Việt, họ coi đó là việc quan trọng nhằm thiết lập, duy trì kỉ cương xãhội không bị rối loạn. Áp dụng triệt để hệ tư tưởng Nho giáo vào Việt Namđã dẫnđếnviệc nhà nước Lê sơ từngbước được xây dựng theo mô hình quân chủ tập quyền quan liêu. Bối cảnh lịch sử trên chính là những tiền đề xã hội, tư tưởng tác động mạnh đến khuynh hướng quân chủ tập quyền quan liêu của thời Lê sơ nhưng chỉ đến Lê Thánh Tông những điều kiện đó mới hội tụ đủ. Thông qua hàng loạt các biện phápcảicách liên tục và lâu dài, bộmáy nhà nước triều Lê Thánh Tôngđã đạtđếntổchức nhà nước quânchủtậpquyền cao độ. Đó là nhà nước quân chủ tập quyền quan liêu, can thiệp vào mọi mặt đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị đến văn hoá, tư tưởng. Để xây dựng nhà

24

nước vững mạnh, ông đặt ra tiêu chí xây dựng bộ máy nhà nước theo yêu cầu của công việc và lấy hiệu quả làm trọng. Quá trình xây dựng và hoàn thiện bộmáy nhà nước đã tấtyếudẫnđếnnhucầuthểchếhoámọiquanhệkinh tế, chính trị, xã hội theo tư tưởng Nho giáo. Câu nói: “Người ta sở dĩ khác giống cầm thú là vì có lễ để phòng giữ” [15, tr.311] đã minh chứng cho việc đề cao tư tưởng Nho giáo của Lê Thánh Tông. Trong cuộc đời làm vua 38 năm, ôngđã trực tiếp ra rất nhiều lệnh chỉ, sắc dụ để xây dựng pháp luật của triều đình, hương ước của làng xã, quy định cách thức hôn thú, tang ma, mũ áo, đi đứng, tâu xưng, quỳ lạy… Quá trình thể chế hoá quan điểm, tư tưởng Nho giáo ngày một sâu rộng vào mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hộiđã dẫn đến một thực tế là nhà nước Lê sơ ngày càng trở nên quan liêu.

2.1.2. Những tiền đề về kinh tế – xã hội

Vềkinh tế:Trước vương triều Lê sơ chếđộphong kiến quânchủtập quyền đã được xác lập và phát triển dựa trên nền tảng của loại hình kinh tế đại điềntrang tháiấp mang nặngđặc trưng của “phươngthức sảnxuất châuÁ” và một quá trình phong kiến hoá xã hội còn thấp. Nền kinh tế điền trang tháiấp cơ bản đã bị thủ tiêu từ triều đại nhà Hồ sau một loạt chính sách cải cách của Hồ Quý Ly. Hoà bình lập lại, nhà nước Lê sơ có điều kiện nắm trong tay sốruộngđấtkhá lớncủa các quan chức, các nhà quyềnthếtiền triều, của

nguỵ quan, của những người tuyệt tự, hay của dân li tán… Và yêu cầu lúc nàyđược đặtra là nhà nước phải có các biện pháp nhằm khôi phục nềnkinhtếnông nghiệpbịtàn phá trong chiến tranh.Đâylà điềukiện thuậnlợiđểnhànước tiến hànhmộtcuộc cảicách ruộngđấttheo tinh thầngắnquyềnlợivềruộng đất với nghĩa vụ của người dân đối với dân tộc và triều đại. Năm 1429, Thái Tổ nói với các quan văn võ đại thần:

Nhưngườiđi đánh giặc thì nghèo,kẻrong chơi thì giàu,ngườiđi chiến đấuthì không cómộtthướcmộttấcđấtđểở,mà nhữngkẻduthủdu thực

25

không có ích gì cho nước lại có ruộng đất quá nhiều, hoặc có kẻ làm nghề trộm cướp, thành ra không có ai chịu hết lòng với nước, chỉ ham nghĩ phú quý mà thôi. Nay sắc chỉ cho các đại thần bàn định số ruộng cấp cho quan quân và dân, trong từ đại thần trở xuống, cho đến các người già yếu, bồ côi, goá chồng, đànông, đàn bà trở lên, loại nào được cấp bao nhiêu thì tâu lên [15, tr.99].

Tinh thần nàyđược thểchếhoá bằng việc ban hành các chính sách lộc điền và quân điền nhằm “củng cố địa bàn nông thôn, điều hoà bất bình xã hội, ổn định trật tự trị an xã hội thời hậu chiến” [81, tr.38], là cơ sở đảm bảo quyền lợi cho tầng lớp quan liêu và các công thần có công với triều đại, và nó cũng góp phần “duy trì cơ sởkinhtếđểđảmbảochongườinông dân làng xã cómột phần ruộng đất để gánh vác các nghĩa vụ tô thuế, sưu dịch và đi lính cho nhà nước” [94, tr.216-217].

Ở giai đoạn Trần – Hồ chế độ điền trang thái ấp cơ bản đã tan rã nên chếđộtưhữuruộngđấtđếnthời Lê sơ cóđiềukiện phát triển và tầnglớp“địa chủ bình dân” đã nhanh chóng được hình thành và lớn mạnh. Triều Lê sơ bên cạnh việc tạo điều kiện cho chế độ tư hữu ruộng đất phát triển như cho phép mua bán ruộngđất, trừngtrịnhữngkẻcó hành vi xâmhạiquyềnsởhữutư

nhânvề ruộng đất… cũng đã cónhững biện pháp nhằm ngăn cấm các hành vi xâm lấn bờ mốc ruộng đất, lấn chiếm ruộng đất công để biến thành ruộng tưhữucủa địa chủ, cường hào địa phương. Một trong nhiều biện pháphạnchếsự “chiếm công vi tư” là pháttriển đồn điền nhà nước nhằm: “để hết sức làm ruộng, rộng nguồn tích trữ cho nhà nước” [15, tr.380].

Vớitưtưởng“trọngnông”, triều Lê sơ luôn quan tâm ban hành các chính sách nhằm củngcốvà đẩymạnh phát triển kinhtếnông nghiệp, khôi phục những đồng ruộng bị bỏ hoang sau chiến tranh, thực hiện việc duy trìlễcày tịch điền hàng năm, xây dựng hệ thống đê ngăn lũ lụt và đắp đê ngăn mặn (đê Hồng Đức). Để nông nghiệp ngày càng phát triển, xã hội ngày càng hưng

26

thịnh, nhà Lê chú trọng việc quy trách nhiệm cho các quan lại địa phương nếu

không giải quyếttốtcác công việc đồngáng, trịthuỷ… gây ra sựmấtmùa trong khu vực mình quản lí. Trong quanđiểmtrọng nông và khuyến nông này, thực chất nhà Lê sơ đã khẳng định việc hạn chế công thương nghiệp vàgiữđộc quyềnvềngoại thương. Nhà nước nghiêmtrịtừquanđếndân nếu phạm các tội tự tiện buôn bán với người nước ngoài. Nhà nước không khuyến khích phát triển thương nghiệp giữa các vùng miền trong cả nước mà chỉ cho phépmởchợởcác thôn quê nhằm phục vụnhucầutựsảntựtiêu các sản phẩm nông nghiệp và mộtsốsảnphẩmthủcông trong từng vùng miền, hạn chế sự phát triển của các thành thị và trung tâm trao đổi hàng hoá. Dưới sức nặng của hệ tư tưởng Nho giáo và quyết tâm vận dụng Nho giáo vàođời sống xã hội, thời Lê sơ đã hình thành quan niệm về vị trí, thứ hạng của các nhóm cư dân cơ bản theo thứ tự cao thấp là sĩ, nông, công, thương.

Tình hình kinh tế – xã hội nói trên là bối cảnh cơ bản cho sự gia tăng vai trò của pháp luật. Các vua nhà Lê sơ đã xác định cần phải sử dụng pháp luật như là công cụ hữu hiệu nhất trong quản lí kinh tế – xã hội nhằm duy trì trật tự, kỉcương và củngcốchếđộphong kiếntậpquyền quan liêu, bảođảm quyền lợi của giai cấp thống trị. Do đặc điểm của nền kinh tế thời Lê là độc canh cây lúa nên nhiều chính sách pháp luật được ban hành đã chú trọng việc khuyến nông và ưu tiên bảo vệ người nông dân khỏi nạn tham nhũng, cường hào hay người quyền thế ức hiếp nhằm bảo vệ nền sản xuất của triều đại.

Về kết cấu xã hội: Thời Lê sơ, xã hội có hai giaicấp cơ bản là địa chủvà nông dân, ngoài ra còn có các tầng lớp thợ thủ công, thương nhân và nô tì.

Giai cấp địa chủ phong kiến bao gồm những địa chủ – quan lại giữ những trọng trách trong bộ máy thống trị, đứng đầulà vua và các địachủbình dân vừa và nhỏ. Giai cấp địa chủ phong kiến thời Lê làm giàu nhờ một phần dựa vào việc bóc lộtđịa tô nhưng phầnlớndựa vào bóc lộtthuế thông qua nhà

27

nước. Chính vì vậy, quyền lợi của giai cấp địa chủ gắn liền với quyền lợi của nhà nước phong kiến. Cốgắngcảicách kinhtếcủaHồQuý Ly bằng chính sách hạn điền (1397) đã đẩy mạnh quá trình tan rã của kinh tế thái ấp và sangđến đầu thế kỷ XV chế độ kinh tế thái ấp căn bản đã tan rã, thay vàođó là chếđộchiếmhữuruộngđấttưhữucủa địa chủphát triển thêmmộtbước mới khiến cho địa vị của giai cấp địa chủ ngày càng được củng cố.

Giai cấp nông dân thời Lê sơ là nông dân làng xã, cósố lượng đông đảo nhất trong xã hội Lê sơ. Họ là lực lượng sản xuất chính để tạo ra của cải vật chất nuôi sống xã hội, làđiềukiệnđảmbảochosựphát triển và phồn vinh của đất nước. Chính vì vậy họ được nhà nước phong kiến hết sức quan tâmvà có nhiều biện pháp bảo vệ và khuyến khích sản xuất nông nghiệp. Chính sách trọng nông của nhà Lê đã khẳngđịnhvai trò và vịtrí của ngườinông dân trong xã hội là hết sức lớn lao. Lê Thánh Tông coi nghề nông là nghề gốc.

Tầnglớpthợthủcông trong xã hộiLê sơ cònnhỏbé và đạibộphận chưa hoàn toàn tách khỏi sản xuất nông nghiệp. Nghề thủ công thời Lê sơ đã phát triển hơn sovớithờiđạiTrần, Hồnênthợthủcôngđã tăng lên nhiều. Thời kỳ này, thợ thủ công giỏi bị trưng tập, tổ chức lại thành các bộ phận nhưbinh lính,đượccấp lương, làmviệc dưới sựquản lý của nhà nước và không có quyền bỏ việc. Vị trí, địa vị và vai trò của tầng lớp này trong xã hội chưa thực sự được chú trọng.

Tầng lớp thương nhân cũngcó sựphát triển hơn các triều đại trước, do thời kỳ này nhà Lê chú trọng vào việc thành lập cácchợ để nhândân cóđiều kiện trao đổi hàng hoá nhưng chỉ trong phạm vi địa phương. Tuy nhiên, nhàLê vẫn thực thi chính sách ức thương đối với trong nước và cả với nước ngoài nên nền kinh tế hàng hoá của thời này vẫn chưa có bước phát triển lớn.

Chế độ nô tì thịnh hành dưới thời Lý, Trần, đến thời Hồ đã tan rã về căn bảnsau chính sáchhạnnô (1401) của HồQuý Ly. Sang triềuđạinhà Lê đã

28

cho phép nô tì được chuộc thânđểtự giảiphóng. Mặc dầucó giảmđi về sốlượng, song nô tì vẫn còn là một tầng lớp đáng kể trong xã hội, và dưới triều đại Lê sơ thì chiến tranh vẫn là nguồn bổ sung nô tì cho xã hội. Việc mua bán nô tì vẫn được duy trì. Địa vị và thân phận nô tì thấp kém nhất trong xã hội. Nô tì có thể bị chủ giết chết khi có lỗi nhưng phải được quan cho phép: “nô tìthời Lê sơ chủ yếu được sử dụng vào công việc phục dịch trong gia đình, vàchỉ một phần nhỏ các nô tì được dùng vào công việc sản xuất (trong các quan xưởng thủ công, một ít trong các đồn điền nhà nước)” [93, tr.139].

Do chính sáchđộc tôn Nho giáo của triều Lê sơ đã dẫnđếnmộtthực trạng là tầnglớpNho sĩ ngày càng phát triển đôngđảovà chiếmvịtrí quan trọng góp phần tạo ra một diện mạo mới cho xã hội Lê sơ. Nho học và thi cửđể tuyển chọn nhân tài bổ sung cho bộ máy nhà nước ngay từ thời Lê TháiTổđã được coi trọng. Tuy nhiên, thời Lê TháiTổ vị trícủa Nho quan nói chung còn thấp kém hơn so với đội ngũ công thần rất nhiều. Theo thời gian, tầng lớp Nho quan trong bộ máy nhà nước ngày càng đông đảo. Đến hai thập kỉ cuối của thếkỉXV, nhữngngườinắmgiữchức vụquan trọng trong triều đình phần lớn đều xuất thân khoa bảng. Đặc biệt, Lê Thánh Tông đã bãibỏ chế độsử dụng các vương hầu quý tộc vào các trọng chức triều đình và ông lấy trìnhđộhọc vấnNho giáo làm tiêu chuẩn cho quan lại. Các hoàng thân được ban cấp hơn hẳn các quan chức, song nếu không đỗ đạt thì không được làm quan. Đội ngũ Nho sĩ nếu đỗ đạt trở thành quan lại trong bộ máy nhà nước sẽ góp phần luật hóa các quanhệ xã hộicơ bản thời Lê sơ theo tư tưởng Nho giáo, nếukhông đỗ đạtthì lại trở thành những thầyđồđể truyềnbá tưtưởngNho giáo ở khắp các thôn xóm trong cả nước.

2.1.3. Những tiền đề văn hoá, tư tưởng

Sự hình thành phát triển các giá trị nhân văn, tiến bộ của QTHL dựa trên cơ sởchọn lọc, kếthừa những giá trịvăn hóa tưtưởngthời Lý – Trần. Tuy

29

nhiên, sau 20 năm thuộc Minh và do chính sách độc tôn Nho giáo của nhà Lêsơ khi Lê Thánh Tông lên nắm quyền nên khi xem xét những tiền đề văn hóa tư tưởng thời kỳ này chúng ta dễ dàng nhận thấy sự ảnh hưởng cóhướng chủđạo, chi phốiđếnmọimặtđờisống chínhtrị- xã hộilà Nho giáo. Mặc dùvậy, việc vận dụng các quan điểm Nho giáo đã có sự điều chỉnh qua lăng kính nền văn hóa cổ truyền của dân tộc đã được định hình và phát triển rực rỡ thời Lý – Trần nên nhiềuyếutốtiêu cực, phản nhân văn, phản tiếnbộcủa học thuyết nàyđã được hạnchếrấtnhiều khiến cho nógầngũi và phùhợpvới thực tế đời sống đất nước vì vậy nó nhanh chóng đem lại một diện mạo mới cho xã hộiĐạiViệt thời đó. Đểhình thành nên các giá trị nhân văn, tiến bộcủa QTHL trong giai đoạn này, các nhà lập pháp thời Lê luôn chịu sự chi phối bởi một số yếu tố sau đây :

Một là, những giá trị truyền thống như lòng yêu nước, thương nòi, ý thức độc lập dân tộc, tinh thần đoàn kết đồng cam cộng khổ, yêu chuộng hòa bình, sống có tình có nghĩa theo tiêu chuẩn tình làng nghĩa nước… đã được hình thành trong suốt chiều dài dựng nước và giữ nước của dân tộc. Hơnnữa, đất nước vừa trải quamộtcuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trường kỳ, gian khổ, dân tộc ta đã thoát khỏi ách đô hộ của giặc Minh nên bài học xương máu vềtình đoànkếtdân tộc chốngkẻthù chung;nỗikhổnhục của ngườimất nước, mất nhà… vẫn luôn nhắc nhở những nhà lãnh đạo triều Lê sơ về vị trí, vai trò của ngườidân trongbảovệdân tộc và phát triểnđấtnước thời bình. Có thể nói bài học nhân văn lớn nhất của dân tộc Việt Nam là khát vọng độc lập dân tộc, tự do văn hóa. Đây là vấn đề được đúc rút từ thực tiễn hàng ngàn năm sinh tồn của dân tộc nên là giá trị thuần Việt. Trong các luồng tư tưởng văn hóa thuộc tam giáo, cửu lưu du nhập từ nước ngoài vào nước ta trước đóchưa từng bàn đến vấn đề dân tộc.

Hai là, hoàn cảnh lịch sử thế kỷ XV đã đặt nhà Lê sơ đối diện với nhiều

30

khó khăn có tính chất sống còn của dân tộc nhưng người Việt lúc đó lại mang trong mình một niềm tự hào của đất nước độc lập hoàn toàn và đang hăng say tái thiếtđấtnước. Trong hoàn cảnh đó, bấtkỳmộthệtưtưởngvăn hóa nào muốntồntạitrênđấtĐạiViệt này thì buộc nó phải đi vàoquỹđạocủa chủnghĩa yêunước chân chính nhằm ổnđịnhđấtnước, củngcốkhát vọng hòa bình, tăng cường khả năng độc lập của dân tộc và vươn tới một xã hội thịnh trị sánh ngang với các quốc gia hùng mạnh khác trong khu vực. Trước đòi hỏi đó, tưtưởngNho giáovớihệthống những quanđiểmthểhiện tính yêu chuộng hòa bình mangđậmchất nhân văn sâu sắc và hướngtưtưởngcon người vào hành động thiết thực để phấn đấu xây dựng xã hội thịnh trị đã vượt trội lên sovớiPhật giáo và Đạogiáođểtrởthànhhệtưtưởngphùhợpvới thực tiễnđấtnước và mong muốn của vịquốc chủsáng suốt là Lê Thánh Tông nên ông đã nhanh chóng đưa hệ tư tưởng này lên vị trí độc tôn.

Như trên đã đề cập thì tư tưởng nhân văn là một bộ phận cấu thành của văn hóa nên khi xem xét các giá trị nhân văn, tiến bộ của QTHL chúng tôi đặt nó trong mối quan hệ tác động qua lại với văn hóa, tư tưởng thời Lê sơ với tưcách là tiền đề, điều kiện cho sự hình thành các giá trị chân chính đó.

2.1.3.1. Các giátrịnhân văn, tiếnbộtrong truyền thống dân tộc trước thời Lê sơ

Chủ nghĩa duy vật lịch sử chỉ ra rằng muốn xem xét các giá trị nhân vănđã tồn tại trong lịch sử thì trước tiên cần phải tiếp cận giá trị văn hóa tinh thần và phải bắt đầu từ tồn tại xã hội trong mối quan hệ biện chứng với ý thức xãhội. Trongtồntạixãhộithìsựbiểu hiệnđặc trưng nhất của ýthức xã hội được thểhiện qua năng lực phản ánh và năng lực sáng tạo. Đólà cơ sởđểchúng ta xét giá trị văn hóa tinh thần nói chung và giá trị nhân văn nói riêng vì ý thức vừa phản ánh tồn tại xã hội đồng thời nó góp phần cải tạo tồn tại ấy một cách tích cực.

31

Trên cơ sở phương pháp tiếp cận đó, chúng ta có thể tìm thấy những giátrị nhân văn, tiến bộ truyền thống dân tộc trước khi triều đại Lê sơ được thành

lập. Dân tộc ta trước thế kỷ XV đã trải qua biết bao những biến cố, thăng trầm của lịch sử. Hơn ngàn năm Bắc thuộc, sau đó mở ra thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài 470 nămrồilạinộithuộc nhà Minh 20 năm (1407-1427). Toànbộthời gian này cho thấy cho dù là thời kỳ nội thuộc hay giai đoạn Lý – Trần thì giá trị nhân văn lớn nhất bao trùm toàn bộ đời sống tinh thần của nước Việt ta làkhát vọng độc lập, tự chủ và ý thức tự cường dân tộc. Biểu hiện của tư tưởng nhân văn đó là:

– Ý thức về dân tộc, độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; – Bảo tồn nền văn hóa dân tộc ;

– Ước mơ sống hòa bình và khát vọng xây dựng xã hội thịnh trị; – Yêu nước, thương nòi và nặng tình đồng loại.

Trong suốt những thời gianbịnộithuộc phương Bắc, vấnđềdân tộc được đặt lên hàng đầu trong sinh hoạt tinh thần của người dân đất Việt. Các thếhệngườiViệt dùđànông hayđànbàđềucó chíhướngđánhđuổigiặc ngoại xâm giành lại chủ quyền đất nước, bảo vệ nhân dân, xâydựng đất nước hòa bình. Có vôsốcác cuộc khởi nghĩa của nhân dân tađã bịdìm trongbểmáu nhưng các thếhệngườiViệthếtlớpnàyđếnlớpkhác tiếpbước nhauđứnglên giànhlạiđộc lậpcho dân tộc. Thông qua các cuộc chiếnđấunày, người dân nước Việt đã chứng tỏ tinh thần đoàn kết gắn bó vì mục tiêu chung. Chính sự gắn bó này đã trở thành cơ sở cho những lí giải có tính chất huyền thoại về nguồn gốc giống nòi mà trong đó mọi thành viên cộng đồng đều thân thiết, gắn bó máu thịt với nhau. Do ý thức độc lập tự cường, người dân Việt đã thấy rõvịtrí, vai trò cũng như trách nhiệm của mìnhtrướcnon sôngđất nước nên những câu chuyệnvềLạc Long Quân – Âu Cơ cai quảnđấtnước, Thánh Gióng, Thánh Trần đánh giặc luôn khắc sâu trong tâm trícủa mọi thế

32

hệ người dân đất Việt và luôn chứa đựng những giá trị nhân văn đặc trưng của dân tộc truyền đến muôn đời. Những đặc trưng đó thể hiện :

– Tính cộngđồngdân tộc (thông qua cách giải thíchvềnguồn gốc dân tộc từ bọc trăm trứng, hay đoàn kết đánh giặc cứu nước, cứu dân của Thánh Gióng, đoàn kết chinh phục tự nhiên của Thánh Tản) ;

– Tinh thần xả thân hi sinh vì cộng đồng (đền nợ nước rồi trả thù nhà của Hai Bà Trưng…) ;

Đến thời kỳ độc lập tự chủ, tinh thần nhân văn của dân tộc Việt được thểhiện qua tư tưởng độc lập tự cường của các ông vua triều đại Lý – Trần. Trongđó, việc đem đến cho nhân dân cuộc sống ấm no, hạnh phúc, xã hội ổn định, thịnh trị không có họa ngoại xâm là khát vọng không chỉ của người đứng đầu đất nước mà nó cũng phản ánh tinh thần chung của nhân dân. Hầu hết các vịvua thời nàyđềucó quanđiểmlấydân làm gốc, sốnggầndân, thân dân vàluôn ban hành những chính sách thiết thực cóthểđemđếnchongườidân cuộc sống bình an.

Cóthểthấy, truyền thống nhân văn Việt Namđược hình thành qua sựhòa quyện giữa lòng yêunước thương nòi, tình dân tộc, nghĩa đồngbào, ýthức độc lập, chủ quyền… Đâychính là nhữngđặc trưng cơ bảnnhấtđểcấu thành tinh thần nhân văn của dân tộc Việt Nam. Nét nổi bật nhất, cao quý nhất trong truyền thống nhân vănđólà lòng nhân áivớinhững biểu hiệncụthểtrong sinh hoạt cộng đồng: thương người như thể thương thân; một con ngựa đau cả tàu bỏ cỏ; lá lành đùm lá rách; người trong một nước thì thương nhau

cùng… Lòng nhân ái đó không phải tự nhiên được hình thành và không phải một sớm một chiều nó có được, mà đó là một quá trình lâu dài, bền bỉ thông qua sinh hoạt gắn kết cộng đồng, đồng cam cộng khổ trong lao động sản xuất, trong quá trình chinh phục tựnhiên và đặc biệt là trongđấutranh chốngkẻthù xâm lược bảo vệ nền độc lập, tự chủ và hòa bình dân tộc.

33

Trong lịch sử, địa bàn sinh sống chủ yếu của dân tộc ta tập trung ở các lưu vực sông thuộc đồng bằng Bắc Bộ. Đây là những vùng đất đai phì nhiêu, màu mỡ, nhưng cũng là vùng thường xuyênxảyra nhiều bãolụtdữdội. Trong tiềm thức củadân tộc, những cơnđạihồng thủy luôn tàn phá mùa màng, xóm làng, đấtnước và gây biết bao đau thương cho cuộc sống con

người… Vì vậy, nhu cầu chung lưng đấu cật, gắn kết cộng đồng, tương thân tương ái giúpđỡlẫnnhau trong cuộc sốngđểchốngđỡlạinhững hiểm họa thường xuyên, liên tục và lâu dài từ thiên nhiên luôn đặt ra đối với nhân dân ta (truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh) đã chứng minh cho sự đoàn kết cộng đồng trong công cuộc chinh phục thủy tai, quai đê lấn biển, lập làng, tạo ấp, phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống.

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta cũng luôn gắn liền với công cuộcbảovệan ninhtổquốc, gìngiữbờcõi biên cương.Sựnghiệp này xuất phát từ rất nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng trong đó có nguyên nhân:

Do ở vào vị trí tiếp xúc giữa đất liền và hải đảo, lại nằm giữa ngã tư của những con đường thủy bộ quan trọng, Đông – Tây – Nam – Bắc đều qua lại dễdàng, nên từ thời Văn Lang – Âu Lạc, bọn giặc phương Bắc đã thường xuyên nhòm ngó và xâm lược. Vừa dựng nước, người Việt cổ đã phải giữ nước bảo vệ chủ quyền quốc gia mới hình thành [40, tr.12].

Ở vào hoàn cảnh đó, trong mỗi người dân Việt Nam đã hình thành tinh thần đoàn kết “ba cây chụm lại nên hòn núi cao” để cùng thực hiện nhu cầu chung lưngđấucật,đồngcam cộngkhổchiếnđấuchốnglạikẻthù chung nhằm phát huy các phẩm giá cao quýcủadântộcvớitinh thần“người trongmộtnướcthì thương nhaucùng”đểduy trìsựtồntại, phát triểnđất nước,bảovệxóm làng quê hương. Tình đoànkếtvà thương yêuđóngày càng phát triểnđểtrởthànhmộtlốisốngvịtha, nhân áicủadântộctatừhàng ngàn năm nay.

34

Nét tiêu biểu trong lòng nhân ái Việt Nam luôn thể hiện sự bao dung độlượng, tính nhân văn sâu sắc. Trong đối nhân xử thế, người Việt Nam luôn sửdụng phương châm: lấy thiện chế ác; đem đại nghĩa thắng hung tàn ; lấy chínhân thay cường bạo. Tinh thần khoan dung, yêu chuộng hòa bình, sẵn sàng tha thứ, khép lại ân oán quốc gia, cứu vớt sinh linh của Nguyễn Trãiđã được Lê Lợi tiếp nhận và mở lượng hiếu sinh không giết hại tù nhân, chẳng những để cho địch rút tàn quân an toàn về nước mà còn cấp cho chúng lương thực, thuyền bè và ngựa xe đivềcho thuận tiện -mộttấmlòng khoan dung cao thượng tuyệt vời chưa từng có trong lịch sử chiến tranh thế giới cổ, cận đại.

2.1.3.2. Vai trò của Nho giáo, Phật giáo và cá nhân Lê Thánh Tông đối với quá trình hình thành giá trị nhân văn, tiến bộ của Quốc triều hình luật

Truyền thống nhân văn Việt Nam không chỉ được hình thành bởi những yếu tố nội sinh diễn ra trong quá trình chinh phục tự nhiên và chiến đấu chống kẻthù xâmlược mà cònđược hình thànhtừchính nhữngyếutốngoại sinh. Nho giáo -mộthọc thuyết chínhtrịcóbềdày lịchsửlâuđờitrongnềnvăn minh phương Đông, được bắtnguồntừTrung Quốc, do KhổngTửhệthống lại những quan điểm chính trị đã tồn tại trước đó hàng ngàn năm đã xâm nhập vào Việt Nam từ những buổi đầu công nguyên. Tuy nhiên, Nho giáo khi vào Việt Nam đã được người Việt cổ tiếp thu một cách thận trọng và đã được xửlý qua lăng kính văn hoá bản địa, nó không chỉ là công cụ để nhà nước đô hộcai trị nhân dân ta mà nó còn giúp cho nhân dân ta có cơ sở để lên tiếng đấu tranhbảovệnhững quyền cơ bảncủa con người, duy trì nòi giống và khôi phục đấtnước. Điều này khiến cho nền văn hoá Việt Nam ngày càng phong phú thêm, và Nho giáoởViệt Nam không còn là học thuyết khô cứng với những giáo lý nặng nề về trật tự đẳng cấp như nơi nó phát sinh. Gạt bỏ những yếu tố giáo huấn về luân thường, đạo lý, thứ bậc trong xã hội có lợi cho giai cấp thống trị, thì tình thương yêu con người, mong muốn con người được ấm

35

no, hạnh phúc, được sống trong một xã hội hoà bình là điểm mấu chốt khiến cho Nho giáo cósứcsống lâubềnvà dễđược nhữngnềnvăn hoá khác tiếp nhận – trong đó có Việt Nam.

QTHL khi ban hành đã tiếp thu những giá trị truyền thống nhân văn vốn có của người Việt cổ, đồng thời tiếp nhận những giá trị cốt lõi của Nho giáo làlòng yêu thương con người, mong muốn xây dựngmộtxã hộiđạiđồngai cũng được ấm no, hạnh phúc. Đây chính là yếu tố làm cho tư tưởng nhân văn của QTHL luôn có tính thời đại và có tầm ảnh hưởng quốc tế sâusắc. Ở đây chúng ta cũngcầnthấy rõảnhhưởngcủaNho giáođốivớigiá trịnhân văn của QHTL. Nho giáo là một trong những nguồn tri thức lớn nuôi dưỡng nhiều thế hệngườidânởViệt Nam và nhiều quốc gia phương Đông khác từhàng ngàn năm nay. Nho giáo giúp chosựhình thành nhân cách conngườiđược phát triển hài hòa với những mục tiêu chung của xã hội. Con người theo Nho giáo phải tu dưỡng bản thân để phục vụ xã hội. Nhưng khác với các quốc gia khác, ở Việt Nam mỗi thế hệ người khi tiếp thu Nho giáođều cósự chắt lọc những tinh túy và chuyển hóa những yếu tố đó sao cho phù hợp với nền văn hóa bản địa. Vì vậy mà Nho giáo ở Việt Nam có những nét rất riêng biệt và cóthể dễ dàng nhận ra những nét khác biệt đó với những quốc gia cùng áp dụng hệ tư tưởng Nho giáo. Điều này chứng tỏ hệ tư tưởng Nho giáo được tiếp thu và sử dụng ở nước ta đã được Việt hóa đúng mức cần thiết. Có thể thấy rằng đạođức Nho giáotừkhi truyền vào Việt Namđếnnay, nóđã thấm vào tưtưởng, tìnhcảmcủa mỗingườidân Việt Nam. Ởtừng thờiđiểmkhác nhau, mức ảnh hưởng của Nho giáo cũng khác nhau tùy thuộc mức chấp nhận của nhà cầm quyền.

Ở thế kỷ XV, do có sự công nhận địa vị độc tôn của nhà nước, Nho giáođã trở thành hệ tư tưởng chính thống và được thể chế hóa tối đa vào mọi quan hệxã hội, từđóvà trong nhiềuthếkỷtiếp theo, Nho giáovẫntiếp tục ảnh

36

hưởng và chi phối mạnh mẽ đến toàn bộ các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội của Việt Nam ta. Nho giáo thời Lê sơ là sự tiếp thu có chọn lọc và kếthợpuyển chuyểnvớinhững giá trịvăn hóa bảnđịa lâuđời. Vớimục tiêu canh tân đất nước, xây dựng một xã hội thịnh trị, đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho mọi người dân trong xã hội, Lê Thánh Tông đã tìm thấy ởNho giáo những nội dung cơ bản của một học thuyết chính trị chân chính phùhợp với điều kiện thực tại của nước Đại Việt để có thể biến thế giới đại đồng thành hiện thực.

Những tiêu chuẩn cănbảncủa Nho giáođã được Lê Thánh Tôngđặc biệt trân trọng, tuy nhiên ông cũng biết gạn bỏ những yếu tố không phù hợp với thực tiễn quá trình cai trị và mâu thuẫn với phong tục tập quán tốt đẹp vốn có của đất nước và ông đã thành công khi vận dụng sáng tạo Nho giáo ở Việt Nam, khiến cho Nho giáoởViệt Nam khác xa sovớiNho giáo của Trung Quốc. Và mộtđiềuminh chứngrấtthuyết phục, đólà Nho giáo thờikỳnày không chỉ còn là một học thuyết khô khan về trật tự đẳng cấp mà nó còn có ýnghĩa bảo vệ quyền lợi của mọi người dân ở mức cao nhất so với đương thời.Điềunày có tác dụng củngcốthêm sức mạnh cho dân tộc Việt Nam, cổvũ tinh thần nhân đạo, tình cảm yêu nước thương nòi vốn có của mọi người dân Việt Nam và thúc đẩy chủ nghĩa nhân văn Việt Nam phát triển lên thêm một bước mới – và kỷ nguyênđộc lậpcủa một đấtnước tự chủ vì thếcũng được lâu dài thêm.

Các thuậtngữtiêu biểucủaNho giáo nhưđức“Nhân”rấtđượccác chínhtrịgia nhiều thờiđạikhác nhauởViệt Nam coi trọng vì nhân vừa có nghĩa là“áinhân”tứcyêu thương con người, yêu thương nhân dân. Trongđức“Nhân”luônlấydân làmgốckếthợpvớiđức“Hòa”thành “Nhân hòa” trong đạo “Hiếu hòa”. Theo đó, mở rộng ra thì nó chính là sựyêu chuộng hòa bình,sựhòa thuận trong cuộc sống gia đình,sựhòa hảo

37

giữa các dân tộc. Đó là nền tảng đạo đức của khối đại đoàn kết toàn dân,đoànkếtquốctếmàĐảngvà Nhànướcta hiện nay đang theođuổitrong chiến lược cách mạng của mình.

Thuật ngữ “Nhân” trong Nho giáo có nội hàm rất rộng lớn, tùy từng điều kiện, từng hoàn cảnh nó được giải thích khác nhau. Tuy nhiên, đỉnhcao của chữ “Nhân” trong Nho giáo chính là sự quy tập nó thành tư tưởng nhân chính, tức là tư tưởng chính trị nhân nghĩa. Tư tưởng này nhấn mạnh việc cai trị làphải dạy dân biết làm ăn để dân no ấm và không làm loạn và người làm vua thì không cần gì nói đến lợi, có nhân nghĩa là đủ rồi. Như vậy, tư tưởng nhân chính và nhân nghĩa đã có mặt tích cực và phát triển. Theo tư tưởng đó là phải quan tâm đến người dân, tạo điều kiện cho người dân cósự ổn định về kinh tếvà chính trị; trong quản lý xã hộicoi trọng dân. Nộidung nhân chính là đặt chínhtrịtrênmộtnềntảng triết học nhân nghĩa. Cho nên, “Nhânchính” làlàm sao để nhân dân được an cư lạc nghiệp, không có chiến tranh loạn lạc. Vìvậy, Nho giáo đưa ra mệnhđề民為貴社稷次之君為輕(Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh) nghĩa là: dân đáng quý, rồi đến xã tắc, vua không đáng trọng. Đây chính là quan điểm dĩ dân vibản, coi lợi ích của nhân dân là trên hết, thứđếnlà lợiích quốc gia, cònlợiích của vua là không đáng kể. Tổng kết cuộc kháng chiến chống Minh, Nguyễn Trãi đã viết: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân chính là nêu cao tư tưởng Nhân chính này.

Ngoài ảnh hưởng của Nho giáo, tư tưởng nhân văn Phật giáo cũng có tácđộng nhất định đối với QHTL. Sự thật hiển nhiên là nhân dân ta từ hàng ngànđời nay đã chịu ảnh hưởng rất lớn bởi tư tưởng của Phật giáo. Phật giáo được truyền bá vàonước ta rấtsớm, từtrước công nguyên. Giáo lý của đạoPhật nêu caođức đạitừ, đạibi, cứukhổ, cứunạncủa đức Phật A Di Đà, BồTát QuánThếÂm và các vịBồTát khác củađạoPhật. Các vịđóbiểuthịlòng cảmthông sâu sắc đốivớisốphận của chúng sinh và có thiệnýmuốn làm

38

giảm nhẹ hoặc xóa bỏ những nỗi đau khổ của con người trên trái đất này. Phật giáo khuyên conngườisốngđạođức, khổhạnh tu hành (giữ gìn các giới) ởkiếp sống nàyđể cầu đạo giải thoát(Phật đạo) để sau khi chết được siêu sinhđến cõi Tịnh độ (Niết Bàn) không còn khổ đau trần tục.

Giống với Nho giáo, người Việt cổ đã tiếp thu những giá trị cốt lõi của đạoPhật là lòngtừbi, tínhhỉxả, làmđiềuthiện tránhđiềuác. Tuy nhiên, không tiếp thu một cách máy móc, người Việt đã chắt lọc những tinh tuý của đạo Phật qua lăng kính văn hoá người Việt và vận dụng sáng tạo vào đời sống dân tộc. Đạo Phật khi vào Việt Nam không còn chỉ biết tới những phép tu trìgiới, nhẫn nhục mộtcáchthụđộngđểthành Phật mà đã biết đoànkếtđấu tranh trực diện nhằm hưng lợi, trừhại, lo cholợiích thiết thực của dân, của nước. Đạo Phật ở Việt Nam không phải hoàn toàn chỉ biết cầu mong vào sựtrợgiúpcủangoại lực (cầu các BồTát) mà đã biết trực tiếp đoànkếtra tay cứu nhân, độ thế. Chính vì vậy các khái niệm đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn của Phật giáo khi vàonước ta được làm phong phú thêm cho lòng thương người vốn có của dân tộc, đồng thời phát huy được tinh thần đấu tranh chống

lại những cái ác, cái xấu trong xã hội với phương châm sống là muốn cóđiều lành, điều thiện không chỉ tránh cái dữ, cái ác mà quan trọng hơn là phải tìm cách làm mất chỗ dựa của cái ác, tiêu diệt nguồn gốc sản sinh ra cái ác.

Nhân dân ta hếtsức trân trọng những giátrịnhân văn trongđạoPhật. Hàng ngàn năm nay, nhân dân ta đã tôn vinh Phật giáoở địa vị caonhất trongđời sống tinh thần của dân tộc. “Các vua đời Lý, đời Trần phần lớn đều sùng kínhđạoPhật” [40, tr.16 – 17]. Có thăng, có trầm, nhưng chưa baogiờđạo Phật mất vị trí trong tâm linh người Việt, ngay cả khi Lê Thánh Tông bãi truất bách gia chư tử, độc tôn Nho giáo ở thế kỷ XV. Với tinh thần hòa bình, đức từbi hỉ xả, đạo Phật đã hoà quyện với đạo giáo và trở về với dân gian và tiếp tục trường tồn cùng dân tộc.

39

Như vậy, những giá trị nhân văn trong nền văn hóa Việt Nam là sự kết hợphài hòa, gắnbóhữucơ giữa nềnvăn hóa ÁĐôngvớinềnvăn hoá bản

địa. Những quan điểm nhân nghĩa, hiếu hoà, thiện ác, từ bi, hỉ xả… cũng nhưquanđiểmvềtình yêunước thương nòi, thươngngườinhưthểthương thân,

tình đồng bào… là sự dung hợp cả nền văn hóa Việt Nam với Phật giáo, Nho

giáo… đã trở thành nét nhân văn cao đẹp trong văn hóa truyền thống của dân tộc. “Tư tưởng nhân nghĩa của đạo Nho, lý thuyết từ bi bác áicủa đạo Phật đã

được nâng cao thành tưtưởngnhân vănĐạiViệt trong tìnhcảmyêunước thương dân” [40, tr.16].

Quá trình hình thành của QTHL còn có sự đóng góp rất to lớn của vua Lê Thánh Tông – vị vua thứ 4 của triều đại Lê sơ. Ông là hoàng tử thứ 4 của vua Thái Tông với bà Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao. Sinh thời, mẹ ông đã từng bị dèm pha có nguy cơ bị phế bỏ và nhờ có sự che chở, đùm bọc của gia đình Nguyễn Trãi nên bà được đưa ra sống ở chùa Huy Văn (Hà Nội) khi đang cómang ông. Là hoàng tử nhưng được sinh ra và lớn lên trong dân gian, tuổi thơcủa ông đã trải qua những tháng ngày vất vả ngoài cung cấm. Cũng vì thế nênông có cơ hội được gần gũi với cuộc sống thường nhật của người dân và rất thấu hiểusựvấtvả, nhọc nhằn của nhân dân. Đếnnăm 1445, ôngđược vua Nhân Tông phong làm Bình Nguyên Vương và đón về cung cấm. Biết rõ thân phận và hoàn cảnh éo le của mình, mặc dùđược sinh sống, học tậpvớicác thân vương trong nhung lụa phú quý nhưng ông ngày đêm lo học tập, trau dồi kiến thức và sống kín đáo “không lộ anh khí ra ngoài, chỉ vui với sách vở đời xưa nay, nghĩa lý thánh hiền. Tính trời sinh tri, mà sớmkhuya không rời quyển sách; tài năng lỗi lạc, mà chế tác lại càng lưu tâm. Ưa điều thiện, thích người hiền, chăm chăm không mỏi. Tuyên Từ thái hậu yêu như con mình đẻra: Nhân Tôn cho là người em hiếm có” [15, tr.239]. Lên ngôi khi đất nước đãhoà bình nhưng triều đình lại ở vào tình thế bất ổn của các mâu thuẫn và tranh giành quyền lực khốc liệt. Những mâu thuẫn và tranh giành nàyđã cản trở và

40

hạnchếcông cuộc xây dựngđấtnước trên nhiều phương diện, thậm chí đe doạcảsựtồntạibềnvững của triều Lê. Tuy nhiên, “ngay sau khi lên ngôi HoàngĐế, Lê Thánh Tôngđã nhanh chóng chấmdứttình trạng xungđột cung đình, lập lại kỷ cương quốc gia, tạo lập sự ổn định chính trị để đẩy mạnh sựnghiệp phục hưng dân tộc” [7, tr.25]. Ông xây dựngchếđộquânchủtập quyền theo mô hình Nho giáo, lấy Nho giáo làm hệ tư tưởng chủ đạo nhưng kết hợp nhuần nhuyễn với nền văn hoá dân tộc và vận dụng phù hợp với điều kiện lịch sử Đại Việt thời bấy giờ. Ông đề cao tư tưởng pháp trị và vai trò của phápluật để xâydựng một quốc gia văn minh, cường thịnh nên đã dành nhiều công sức cho hoạt động lập pháp. Bộ luật Hồng Đức – QTHL nổi tiếng ra đời trong bối cảnh đó.

2.2. Khái niệm “chủ nghĩa nhân văn”, “tiến bộ”

Đểhiểu rõ giá trịnhân văn, tiếnbộcủa QTHL, trước tiêncầntìm hiểu các khái niệmvề”giá trị”, “nhân văn”, “chủ nghĩa nhân văn” và “tiến bộ”. Xuất phát điểm này nhằm đạt nhiệm vụ trọng tâm của luận án là tìm hiểu các giá trịnhân văn, tiếnbộcủa QTHL. Nó không những là vấnđềxuyên suốt của luận án mà còn góp phần làm rõ phạm vi nghiên cứu của luận án.

Trên khía cạnh chung nhất, giá trị nhân văn, tiến bộ được hình thành, phát triển gắn với những điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia, dân

tộc ở từng thời đại nhất định. Xã hội luôn vận động và thay đổi không ngừng nên khái niệm về các giá trị nhân văn, tiến bộ cũng luôn vận động, thay đổi.

– Theo tiếng Anh, nhân vănđược viết là Humanism [92, tr.790], và tiếng Pháp là Humanisme, đềucó nguồn gốc từtiếng La tinh là Humanismo cónghĩa là chủ nghĩa nhân văn và được bắt nguồn từ khái niệm “Humanus” với nghĩa là coi trọng con người.

– Theo tiếng Hán, nhân văn được viết là 人文[91, tr.800] và đọc là rén wén. Trong đó, chữ Nhân人là Người [91, tr.799] dùng để chỉ con người, loài người 人类; và ngược lại làtừ Vật 物, tức con vật, động vật动物; chữ Văn文

41

[91, tr.996] tức là chữ, là văn chương – tất cả những gì đẹp đẽ của con người, là sựsángtạocủa tinh thầnđểthực hiện cái hay, cáiđẹpcho xã hội. Với nghĩa này, văn bao quát văn chương, đạo đức, tôn giáo, triết học, nghệ thuật,

pháp luật… tức mọi thứ trên bình diện tâm thần, và nó ngược lại với chữ Vũ (Võ) là quân sự, là dũng mãnh – tượng trưng cho bộ máy nhà nước và mang tính bạo lực.

– Trong tiếng Việt, nhân vănđược ghi nhận là những gì“thuộc vềvăn hóacủaloàingười”[97, tr.711]. Quan niệm này tươngđồngvớimộtýtại thiên Bôn quái của Tượngtruyện trong Kinh Dịch:“Vănminh dĩ chỉ, nhân văn dã, quánhồthiên văn, dĩ sát thời biến; quánhồnhân văn, dĩ hóa thành thiênhạ” (Văn minhđếnđúng mức của nó, là nhân văn, xem xét thiên văn, quan sát sự biến đổi của thời tiết tự nhiên, xem xét nhân văn, lấy sự biến hóa mà thành thiên hạ) [78].

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT – CÁC GIÁ TRỊ NHÂN VĂN, TIẾN BỘ VÀ SỰ KẾ THỪA TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Quốc triều hình luật - các giá trị nhân văn tiến bộ và sự kế thừa  trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay
Quốc triều hình luật – các giá trị nhân văn tiến bộ và sự kế thừa trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *