Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền  thương mại

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hợp đồng làsựthỏa thuận củacác bên vềviệc xác lậphoặc thayđổihoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụpháp lý của các bên1 nhằmđạtđếnnhững mụctiêu nhất định. Để giao kết và thực hiện hợp đồng, một trong những yếu tố mà các bên phải làm rõ đó chính là đối tượng của hợp đồng. Với bản chất là tài sản/hàng hóa phải giao hoặc công việc/dịch vụ phải làm, đối tượng hợp đồng không chỉ giúp cho các bên đạt được mục tiêu khi giao kết hợp đồng, mà còn là một trong những căn cứgiúp các bên có cách thức, biện pháp phùhợpđểkiểm soát quá trình chuyển giao/thực hiện đối tượng ấy. Thực tế cho thấy, không xác định được chính xác đối tượng hợp đồng sẽ đồng nghĩa với việc chuyển giao tài sản/hàng hóa hoặc việc thực hiện công việc/cung ứng dịch vụ không diễn ra theo đúng mong muốn của các bên khi xác lập quan hệ hợp đồng. Ở góc độ quản lý nhà nước, việc ghi nhận chính xác đối tượng hợp đồng sẽ giúp nhà nước lựa chọn cách thức tác động phù hợp đối với mỗi quan hệ hợp đồng, thông qua đó kiểm soát, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, lợi ích của xã hội một cách hiệu quả tương ứng với bản chất của mỗi loại giao dịch/hợp đồng cụ thể.

Với bảnchất như trên, có thểkhẳng định đối tượng của hợp đồng là “hạt nhân”, là “linh hồn” của mỗi bản hợp đồng và là một giá trị mà mỗi bên hướng đến khi tham gia quan hệ hợp đồng, giúp họ đạt được mục đích khi giao kết hợp đồng.

Trong hoạt động thương mại, việc xác định chính xác đối tượng hợp đồng không chỉ có ý nghĩa đối với thương nhân mà còn có ý nghĩa đối với nhà nước trong quá trình điều tiết hoạt động thương mại.Ýnghĩa này càng thểhiện rõ rệt trong những quan hệhợpđồng màđốitượnghợp đồngkhông đơn thuần chỉlà tài sản/hàng hóa hữu hình hay công việc/dịch vụcụthể, trong đó hợp đồng nhượng quyền thương mại là một điển hình. Sởdĩ nói nhưvậylà vì, với bản chất là hoạt

1 Điều 385 Bộ luật Dân sự 2015

1

động chuyển giao cách thức kinh doanh, bên nhượng quyền và nhận quyền cùng kinh doanh chung mộtsản phẩm với phương thức như nhau, cùng sửdụng chung danh tiếng mà bên nhượng quyền đã dày công vun đắp, đối tượng chuyển giao trong quan hệnhượng quyền không phải là hàng hóa/dịch vụcó thểxácđịnh đượcmột cách đơngiản.Điềuđặc biệt là đốitượngchuyển giao (phương thức kinh doanh) trong quan hệ nhượng quyền không phải là hàng hóa như trong hợp đồng mua bán hàng hóa bởi các bên không hề chuyển giao quyền sở hữu đối tượng đó cho nhau, cũng không phải là dịch vụmà bên nhượng quyền cung ứngcho bên nhận quyền, bởi bên nhượng quyềnchỉcam kết cho bên nhận quyền sửdụng danh tiếng, cách thức kinh doanh của mình để cung ứng sản phẩm ra thị trường, mà không cung ứng bất cứ dịch vụ nào cho bên nhận quyền.

Cụthể, đối tượng chuyển giao (quyền thương mại) mà bên nhượng quyền chuyển giao cho bên nhận quyền là một tậphợp các yếu tốcó sựkết hợp nhuần nhuyễn với nhau tạo nên “thương hiệu” của sản phẩm mà bên nhượng quyền cungứng, bao gồm (i) các yếu tố của quyền sở hữu trí tuệ như tên thương mại, nhãn hiệu, bản quyền, chỉdẫnđịalý, bímậtkinh doanh và nhữngyếutốmang tính chất của quyền sởhữu trítuệnhư bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, phong cách phục vụ và (ii) các yếu tố khác tạo nên bản sắc riêng của phương thức kinh doanh nhượng quyền khi được sử dụng kết hợp với các yếu tố sở hữu trí tuệ nêu trên, như:

đồngphục nhân viên, cách thiết kế, bài trí cửa hàng…

Việc xác định đúngđối tượng của hợp đồng nhượng quyền là một trong những yếu tốgiúp cho bên nhượng quyền tiến hành các biện pháp kiểm soát bên nhận quyền trong việc sửdụng mô hình kinh doanh mà bên nhượng quyền đãchuyển giao. Đồng thời, giúp nhà nước điều tiết hợp lý, hiệu quảnhững quan hệkinh tế có liên quan đến việc chuyển giao quyền thương mại trong quan hệ nhượng quyền.

Nhận thức được tầmquan trọng của việc xácđịnh đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại, Luật Thương mại 2005 với tư cách là luật điều tiết trực tiếp hoạt động nhượng quyềnđãghi nhận một cách gián tiếp đốitượng củahợp

2

đồng thông qua khái niệm hoạt động nhượng quyền thương mại tại điều 284. Theođó, Luật Thương mại đã chỉ ra đối tượng của hợp đồng nhượng quyền theo hướng liệt kê bao gồm hai bộ phận, đó là các yếu tố sở hữu trí tuệ và các yếu tố khác. Tuy nhiên, cách thức xác định đốitượng của hợpđồng nhượng quyềnđược quyđịnh trong Luật Thương mại cũng bộc lộ một số hạn chế rất lớn, đó là: (i) không mô tảđược đầyđủcác yếu tốcấu thành nên đối tượng chuyển giao giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền. Đồng thời, (ii) không thể hiện được mối quan hệ khăng khít, nhuần nhuyễn giữa các yếu tố cấu thànhnên đối tượngcủa hợp đồngnhượng quyền trong một chỉnh thể thống nhất. Với quy định này, Luật Thương mại với tưcách là Luật định danh các hoạt động thương mại nói chung cũng như hoạt động nhượng quyền nói riêng đã không phát huyđược một cách tối đa chức năng của mình trong việc xác định rõ ràng, chính xác đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại.

Ở khía cạnh Luật Sở hữu trí tuệ, với tư cách là luật bảo hộ các yếu tố được chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền, với những quy định hiện hành, Luật Sởhữu trí tuệvẫn chưathểhiện được đúng vai trò của mình trong việc bảo hộđối tượng được chuyển giao trong quan hệ nhượng quyền thượng mại, hạn chế này thểhiện ởhai khía cạnh sau: Một là, Luật Sởhữu Trí tuệmới chỉxây dựng được cơ chếbảo hộđối với một bộphận đối tượng chuyển giao trong hợpđồng nhượng quyền, đó là các yếu tố sở hữu trí tuệ như tên thương mại, nhãn hiệu, sáng chế, kiểu

dáng công nghiệp, bảnquyền…còn những yếu tốkhác như bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, cách thức bài trí cửa hàng, phong cách phục vụcủa nhân

viên…lại chưa có cơchế để bảo hộ; Hai là, ngay cả với nhữngyếu tố sở hữu trí tuệcấu tạo nên đối tượng của hợp đồng nhượng quyền đã được bảo hộ, thì Luật sở hữu trí tuệ cũng chỉ bảo hộ chúng một cách rời rạc, theo từng yếu tốmột cách độc lập mà không thểhiện được mối quan hệnhuần nhuyễn theo đúng bản chất của đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền. Hệ quả là, cả bên nhượng quyền và bên nhận quyền đều có khả năng đứng trước những rủi ro. Cụ thể:

Đối với bên nhượng quyền, có hai rủi ro cơ bản mà bên nhượng quyền phải

3

đối mặt: Thứ nhất, nguy cơ bị thương nhân nhận quyền hoặc bên thứ ba bất kỳ xâm phạm các yếu tố không được luật sở hữu trí tuệ bảo hộ cấu thành nênđối tượng của hợp đồng nhượng quyền, kể cả khi bên nhượng quyền đã nỗ lực bảo vệ mình bằng những thỏa thuận trong hợp đồng; Thứhai,khảnăng được bảo hộmột cách chặt chẽ, hiệu quả đối với đối tượngđược chuyển giao (phương thức kinh doanh) không cao, không tương xứng với hậu quả gây ra của hành vi xâm phạm các yếu tố sở hữu trí tuệ được bảo hộ. Bởi lẽ, Luật Sở hữu Trí tuệ chỉ bảo hộ các yếu tố sở hữu trí tuệcấu tạo nên đối tượng của hợp đồng nhượng quyền một cách độc lập, rời rạc từng yếu tốnên khi thương nhân nhận quyền hoặc bên thứba bất kỳthực hiện hành vi xâm phạm một trong các yếutốnêu trên thì cũngchỉbịxửlývớitính chất xâm phạm một yếu tố độc lập trongđối tượngcủa hợp đồngnhượng quyền, không phải xâm phạm cả quyền thương mại được chuyển giao trong quan hệ nhượng quyền.

Đối với bên nhận quyền, rủi ro mà bên nhận quyền phải đối mặt chính là sựkhông an toàn về hiệu quả kinh tế của phương thức kinh doanh nhượng quyền sau khi họđã bỏra một khoản chi phí không nhỏđểđược chuyển giao quyền kinh doanh theo phương thức của bên nhượng quyền, bởi đối tượng được chuyển giao luôn trong trạng thái có khả năng bị xâm phạm do việc bảo hộ “lỏng lẻo” đối tượng được chuyển giao của pháp luật sở hữu trí tuệ hiện nay.

Hệquảlà, với những rủi ro trên, các thương nhân sẽcảmthấy e ngại khiđứng trước cơ hội kinh doanh bằng phương thức nhượng quyền, từđó hoạt động nhượng quyền sẽ khó có thể tồn tại phát triển mạnh mẽ trên thực tế. Như vậy, trong mối quan hệ với Luật Thương mại, Luật sở hữu trí tuệ với chức năng là Luật bổ trợcho hoạt động định danh của Luật Thương mại đã chưa phát huy được tối đa chức năng của mình.

Bên cạnh đó, việc xác định không chính xác đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại cũng có những bất cập nhất định dưới khía cạnh thực hiện việc kiểm soát quyền thương mại. Trong quan hệ nhượng quyền thương mại, do yêu cầu đảmbảo tính đồng bộ,tính thống nhất trên toàn hệthống nhượng quyền, thương nhân nhượng quyền thường đặt ra những điều kiện, yêu cầu mang tính chất hạn chế

4

cạnh tranh đối với thương nhân nhận quyền như một điều kiện để được chuyển giao “phương thức kinh doanh”. Vềmặt bản chất, những điều kiện này là do các bên thỏa thuận và được pháp luật thừa nhận nếu không gây cản trở, hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường.

Như vậy, có thể khẳng định, việc không xác định và điều chỉnh chính xác đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại, đã làm cho Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Thương mại không phát huy được mục đích của mình trong việc điều tiết hoạt động nhượng quyền thương mại.

Qua những phân tích nêu trên, có thể khẳng định nhu cầu xácđịnhchính xácđối tượng của hợp đồng nhượng quyền là vô cùng cần thiết để điều tiết hành vi của các bên, từđócác bên có thểxácđịnh được rõ ràng quyền và nghĩa vụcủa mình cũng như của các chủthểcó liên quan. Đồng thời, việc xác địnhchính xác đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền cũng góp phần đápứng được thỏa đáng nhu cầu củacác bên trong hệthống nhượng quyền đối với việc bảohộđối tượng của hợp đồng nhượng quyền đối trước sự xâm phạm bất kỳ và nhu cầu kiểm soát hoạt động này từ phía nhà nước. Từ đó, tạo tâm lý an tâm cho các thương nhân khi tham gia vào hoạt động nhượng quyền, thúc đẩy hoạt động nhượng quyền ngày một phát triển trong nền kinh tế. Để làm được điều này, quan trọng nhất là phải đảm bảo được sựđồng bộgiữa các văn bản Luật Thương mại, LuậtSởhữu trí tuệ,Bộluật Dân sự trong việc định danh, bảo vệ và kiểm soát đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền

Xuất pháttừthực tếnói trên, trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu, đánh giá có hệ thống và toàndiện “ Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại”, đềra các giải pháp cụ thể nhằm tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật nhượng quyền thương mại, pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh là cần thiết, đáp ứng yêu cầu phát triển hoạt động thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh

tế quốc tế của Việt Nam.

5

2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của Luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận về đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại. Từ đó tiến hành nghiên cứu thực trạng và thực tiễn của pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại. Trên cơ sở đó đưa ra một số phương hướng hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam.

Để thực hiện mục đích trên, Luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Thứnhất, làm rõ những vấn đềlý luận vềhoạt động nhượng quyền thương mạivới những nội dung như: khái niệm, bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại. Từđó, chỉra tính đặc thù của đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại là một trong cácđặc điểmquan trọng của hoạt động nhượng quyền.

+ Thứhai, phân tích và làm rõ khái niệmđốitượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại dướicác khía cạnh: khái niệm, các yếu tốcấu thành và tính tất yếu của việc nghiên cứu đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại. Quađó chỉra những đặc điểm mang tính đặc thù thểhiện bản chất của đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền có tác động nhất địnhđếnpháp luật điều chỉnh vềđốitượng bên nhận và bên nhượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

+ Thứ ba, phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận về pháp luật điều chỉnhđối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mạinhư khái niệm pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, nôịdung pháp luật đốitượngchuyển giao tronghợpđồngnhượng quyền thương mại

+ Thứ tư, phân tích thực trạng pháp luật về đối tượng chuyển giao trong trong hợp đồngnhượng quyền thươngmạivớinhữngnộidung như: (1) Ghi nhận khái niệmđối tượngchuyển giao tronghợpđồngnhượng quyền thương mại; (2) Bảovệđốitượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại; (3) Kiểm soát đối tượng chuyển

6

giao tronghợpđồngnhượng quyền thương mại. Quađó,đánh giá những ưuđiểmvànhược điểm của pháp luật Việt Nam hiện hành về đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại;

+ Thứ năm, nghiên cứu đề xuất, xây dựng quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luậtđiềuchỉnhđốitượngchuyển giao tronghợpđồngnhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay, đảm bảo vừa phù hợp với đặc thù của đối tượng này trên thực tế, với điều kiện phát triển kinh tế của Việt Nam và với thông lệ quốc tế.

3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của luận án là : các quan điểm, tư tưởng luật học và pháp luật Việt Nam về đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại.

Phạm vi nghiên cứu của luận án : Luận án không nghiên cứu nhượng quyền thương mại dướigócđộlà một họat độngthươngmạinói chung, cũng không nghiên cứu tất cả các vấn đề liên quan đến pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại mà chỉ chuyên sâu nghiên cứu đối tượng chuyển giao trong hoạt động nhượng quyền thương mại dưới khía cạnh pháp luật điều chỉnh hành vi thương mại của thương nhân. Từ góc độ pháp luật thương mại, tiến hành so sánh, đối chiếu và nghiên cứu tính tương thích với pháp luật sở hữu trí tuệ liên quan đến đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại. Theo đó, nghiên cứu thực tiễn vấnđềghi nhận và địnhdanh khái niệm đối tượng củahợpđồng nhượng quyền, vấn đềbảo hộđối tượng của hợpđồng nhượng quyền và vấn đềkiểm soátđối tượng này.

Trong quá trình nghiên cứu, pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới đặc

biệt là pháp luật của Úc, In-đô-xi-a, Liên minh Châu Âu, Hoa Kỳ…cũng được Luận án xem xét nghiên cứu. Trên cơ sởđó, Luận án rút ra những kết luận, kinh nghiệm cho quá trình hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ở Việt Nam.

7

4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài

Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu nêu trên, Luận án dự kiến sẽ sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, như phương pháp mô tả, tổng hợp, phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, kết hợp nghiên cứu lý luận với thực tiễn… Các phương pháp nghiên cứu dự kiến sử dụng trong Luận ánđượcthực hiện trênnềntảngcủaphương pháp duyvậtlịchsử,duyvậtbiện chứng; trên cơ sở các quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cụ thể :

– Phương pháp mô tả, tổng hợp, thống kê được sử dụng để phác họa nội dung các quyđịnh pháp luật của Việt Nam liên quan đếnhoạt độngnhượng quyền thương mại, đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại. Từđó nhấn mạnh ý nghĩa của việc nghiên cứu pháp luật vềđối tượngcủa hợp đồng thương mại đặc thù này.

– Phương pháp so sánh đối chiếu và phân tích cùng với phương pháp phỏng vấn chuyên giađược sửdụng đểchỉra những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới về những vấn đềliên quan đến đềtài. Việc sửdụng những phương pháp trên đâyđểchỉra sựtương thích của pháp luật Việt Nam với các quốc gia khác về đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại đã góp phần làm rõ những bất cập, hạn chế trong pháp luật hiện hành Việt Nam cũng như nhận diện được những hạt nhân hợp lý trong các quy phạm thực định của các quốc gia khác. Từ đó, hình thành vàxây dựng cơ sở khoa học cho việc đưa ra một số nguyên tắc và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại.

– Trên cơ sởnhững hạn chế, bất cập đãđược phát hiện thông qua việc sửdụng phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích và phỏng vấn chuyên gia đã được trình bày ở trên. Tác giả luận án tiếp tục sử dụng phương pháp thống kê để có thểkhái quát một cách có hệ thống những thiếu sót trong pháp luật Việt Nam hiện hành về đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại. Bên cạnh đó, phương pháp phân tích được sử dụng để xây dựng những nguyên tắc mà luận án cần phải tuân thủ

8

khi xây dựng những giải phápcụthểnhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam vềđối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại. Những giải pháp nàyđược đề xuất trên cơ sở nhằm giải quyết những bất cập của pháp luật hiện hành vềvấn đề ghi nhận, bảo vệ và kiểm soát đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thươngmại

Trong những phương pháp trên, phương pháp so sánh, phân tíchsẽ được sửdụng xuyên suốt các nội dung của luận án đểlàm rõ những vấn đềluận án cần nghiên cứu.

5. Kết quả nghiên cứu và những đóng góp mới của luận án

Trên cơsởkếthừa có chọn lọc kết quảnghiên cứu của những công trình khoa học trước đâyvềpháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại nói chung cũng như đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền nói riêng, luận án đã có những phát triển và đóng góp mới về mặt khoa học như sau:

– Một là, luận án đã xây dựng được hệ thống lý luận khoa học về đối tượng chuyển giao trong hợpđồngnhượng quyền thương mại: khẳng định được sựcần thiết và ý nghĩa của việc nghiên cứu đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại ; tổng hợp được định nghĩa về đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại(khẳng định đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại là quyền thương mại mà bên nhượng và bên nhận chuyển giao cho nhau thông qua hợp đồng nhượng quyền); chỉ ra được những đặc điểm mang tính bản chất của đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại và quan trọng hơn những đặc điểm này có tácđộngkhông nhỏ đến việc hình thành pháp luật điều chỉnh về đối tượng này; làm rõ các yếu tố cầu thành đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại.

– Hai là, luận án đã xây dựng được hệthống lý luận khoa học vềpháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại : xácđịnh khái niệmvềpháp luật điều chỉnhđốitượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, làm rõ nội dung pháp luậtvềđối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mạibao gồm ba vấn đề : Ghi nhận vàđịnh

9

danh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại, bảo vệ đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại và kiểm soát đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại.

– Ba là, luận án đã xác định được mối quan hệ tác động qua lại giữa pháp luật thương mại trực tiếp điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồngnhượng quyền với pháp luật sở hữu trí tuệ. Từ đó đánh giá sự cần thiết phải có những quyđịnh bổ trợ giữa các Luật Thươngmại với Luật Sở hữu trí tuệ nhằm đạt đến một chếđịnh pháp luật minh bạch, đầy đủ nhằm điều chỉnh một cách hiệu quả, toàn diện quátrình chuyển giao quyền thương mại giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền. Góp phần thúc đẩysựphát triển của hoạtđộng nhượng quyền trong thời kỳhội nhập kinh tế quốc tế sâu và rộng hiện nay.

– Bốn là, luận án đã chỉ ra được sự logic cũng như mối quan hệ nhân quả của ba vấn đềghi nhận, bảo vệvà kiểm soát đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại. Qua đó, phân tích và làm rõ những thiếu sót, bất cập của pháp luật Việt Nam hiện hành trong quá trình điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại. Những hạn chế này được luận án trình bày trong một mối quan hệ có sự tácđộngqua lại lẫn nhau theohướng: Từ những bất cập trong việc thiếu vắng các quy định của pháp luật về việc ghi nhận khái niệm đối tượngcủa hợp đồng nhượngquyền dẫn đến những hạn chế, yếu kém trong vấn đềxây dựng cơ chếbảo vệvà kiểm soát đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại. Bên cạnh đó, luận án còn cósựso sánh đối chiếu với các quyđịnh của mộtsốquốc gia khác đểthấyđược những hạn chế, bất cậpcủa pháp luật Việt Nam trong sự đánh giá mức độ tương đồng và khác biệt với pháp luật và thông lệ quốc tế.

– Năm là, trên cơ sở phân tích và chỉ rõ những hạn chế, bất cập của pháp luật luật Việt Nam hiện hành, luận ánđãđềxuất quanđiểm và xácđịnh luậncứkhoa học cho việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền nói chung cũng nhưđối tượng của hợp đồngnhượng quyền nói riêng. Những giải pháp được đềxuất trong luận án cũng không nằmngoài nội dung nhằm hoàn thiện pháp luật

10

Việt Nam hiện hành về vấn đề ghi nhận, bảo vệ và kiểm soát đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại.

6. Kết cấu của luận án

Ngoài Lời nói đầu, Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài, Kết luận, luận ánđược cơ cấu thành 03 chương với các nội dung cụ thể như sau:

Chương 1. Những vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại và pháp luật vềđối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại.

Chương 2. Thực trạng pháp luật vềđốitượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại tại Việt Nam.

Chương 3. Quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại.

11

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Pháp luật về nhượng quyền thương mại là nội dung quan trọng của pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại trong nền kinh tế thị trường, đang được nhiều nhàkhoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu.Ở cácphạm vi và mức độ khác nhau, có một số công trình đã được công bố, đề cập đến một vài khía cạnh kinh tế và pháp lý của hoạt động nhượng quyền thương mại nói chung cũng nhưđối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại nói riêng như sau:

1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới:

1.1. Các công trình nghiên cứu về hoạt động nhượng quyền thương mại chủyếu tập trung vào các nội dung sau:

– Phân tích các đặc điểm và cách thức tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại, đặc biệt là nhượng quyền thương mại quốc tế (Editors: Yanos Gramatidis & Dennis Campbell – International Franchising: An in-depth treatment of business and legal techniques. (Based on reports made in the Spring 1990 conference sponsored by McGeorge School of Law at Waidring, Austria, and chaired by Yanos Gramatidis, Bahas, Gramatidis & Associates, Athens, Greece.) – Kluwer Law and Taxation Publishers. Deventer -Boston 1999);

Bên cạnh đó, với cuốn sách chuyên khảo International franchising,củatác giả Dennis Campbell, Antonida Netzer, Center for International Legal Studies, Kluwer Law International, xuất bản năm 2008 đã đềcập đến xu thếtoàn cầu hóa của hoạt động nhượng quyền thương mại, chỉ ra tầm quan trọng vàhiệu quả đầu tưtheo phương thức nhượng quyền. Bên cạnh sựphân tích vềnhững ưu điểm,tiềm năng mà phương thức nhượng quyền thương mại mang lại, các tác giả cũng đã phân tích những khó khăn và hạn chếmà các bên trong quan hệnhượng quyền thương mại có thểphải đối mặt. Ngoài ra, tác giảcòn cung cấp nhiều thông tin liên quanđến sự phát triển của hoạt động nhượng quyền thương mại tại một số quốc gia nhưÚc, Áo, Canada, Chile, Trung Quốc, Cộng hòa Séc, Đan Mạch, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ấn Độ, Indonesia, Israel, Malaysia, Mexico, Na uy.

Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền  thương mại
Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

– Đánh giá những tác động của hoạt động nhượng quyền thương mại tới nền kinh tế: Nội dung nàyđược thểhiện trong cuốn Economic Impact of franchised bussiness, a study for the international franchise. Association Educational Foundation, 2004, by the National Economic Consulting Practise of PricewaterhouseCoopers;

1.2. Nghiên cứuhoạtđộng nhượng quyền thương mạidưới góc độpháp luật sở hữu trí tuệ có một số công trình khoa học như:

+ Protecting and Enforcing Franchise Trade Secrets, Mark S.Vanderbroek and Christian B.Tuner, Frachise Law Journal, number 4, volume 25, spring 2006: Bài viết khẳng định bí mất kinh doanh là yếu tố cốt lõi làm nên thương hiệu của một hệthống nhượng quyền (ngoài ra có thể kể đến nhãn hiệu), nó là một trong những điều kiện then chốt tạo nên thành công của nhà nhượng quyền để có thể đem nhượng lại “đặc quyền kinh doanh’ của mình trên thịtrường. Do đó, nhu cầubảo vệbí mật kinh doanh là một nhu cầu hoàn toàn tự nhiên và chính đáng của các thương nhân nhượng quyền thương mại. Trong bài viết này, hai tác giả cũng đồng quan điểm với các nhà lậppháp Việt Nam trong việc xác định khái niệmcủabí mật kinh doanh thông qua cácyếutố:(i) có giátrịkinhtế,(ii) mang lại lợi thếcạnh tranh, (iii) không dễ dàng bị công khai, bộc lộ. Từ việc nhận dạng bí mật kinh doanh và khẳngđịnh vai tròcủabí mật kinh doanh trong hoạt độngnhượng quyền, các tácgiảđãđưa ra những khuyến nghị cho các thương nhân trong hệ thống nhượng quyền cách thức để bảo vệyếu tố tạo nên thành công của mình. Thông qua một vụ tranh chấp

điển hình giữatậpđoàn Tan–line (chuyênđiềuhành và nhượng quyền dịchvụ

thẩm mỹ nhuộm da) với ông Bdraley – nguyên là chuyên gia của Tập Đoàn) với nội dung cụ thể như sau: ông Bradley sau khi rời khỏi tập đoàn đã sử dụng bí mât kinh doanh của tập đoàn để tiến hành hoạt động kinh doanh của cá nhân, do đó tập đoàn

Tan – line đã khởi kiện ông Bradley tại toà án bang Pennsylvania. Căn cứ vào quyđịnh của Luật Liên bang vềbí mật kinh doanh, toà án đã tuyên ông Bradley xâm

phạm bí mật kinh doanh của tập đoàn Tan – line và phải bồi thường theo quy định, các tác giả đã chia sẻ kinh nghiệm hiệu quả để thương nhân nhượng quyền bảo vệ bí

13

mật kinh doanh của mình. Đây là một trong những công trình nghiên cứu về bí mật kinh doanh – một trong các yếu tố cầu thành nên đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có những đặc điểmvà cơ chếbảo hộtương đối khác biệt với các yếu tố sở hữu tri tuệ khác.

+ James Otieno-Odek (2006). The role of intellectual property in franchising

arrangements. WIPO – KEPSA Seminar on Intellectual property and franchising for small and medium sized enterprises, Nairobi, January 18 and 19, 2006, World Intellectual Property Organization (WIPO) and the Kenya Private Sector Alliance (KEPSA). Đâylà bài viết nằmtrong khuôn khổ Hội thảo về Sở hữu trí tuệ vànhượng quyền dành cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ do Tổ chức Sở hữu trí tuệthếgiới (WIPO) và Liên minh khu vực tư nhân Kenya (KEPSA) tổ chức tại Nairobi với tên gọi Vai trò củaSởhữu trí tuệ trong thoả thuận nhượng quyền. Với dung lượng gần 10 trang, bài viết đã đề cập đến những vấn đề mang tính khái quát về hoạt động nhượng quyền ở Kenya như: khái niệm hoạt động nhượng quyền, sự phù hợp của hệthống pháp luật (đặc biệt là pháp luật về Sở hữu trí tuệ) của Kenya để thực hiện hoạt

động nhượng quyền, phân loại nhượng quyền…Qua đó, bài viết khẳng định vai trò của các yếu tố Sở hữu trí tuệ đối với bên nhượng và bên nhận trong quan hệ nhượng quyền. Từ đây, tácgiảbài viết đưa ra những khuyến nghị đối với các thương nhânđứng trước cơ hộikinh doanh nhượng quyền cũng như những lưu ý về mặt pháp lýđối vớivấnđề sở hữutrí tuệtrong hoạtđộng nhượng quyền. Những khuyến nghịnày không nẳmngoài mục đích nhấn mạnh ưu điểmcủa hoạt động nhượng quyền so với các hoạt động thương mại khác mà các thương nhân có thể tận dụng được khi

lựa chọn hoạt động kinh doanh này.

+ Ratih Puspitaningtyas Faeni (2015). Franchise Business Protection in Context of Intellectual Property Law in Indonesia(Bảo hộ hoạt độngnhượng quyền thương mại trong khuôn khổ pháp luật Sở hữu trí tuệ ở Indonesia). Journal of Law, Policy and Globalization, Vol.36. Bài viết đãđề cập đến nhiều vấn đề pháp lý về hoạt độngnhượng quyền tại Indonesia. Cụ thể, bài viết đã mô tảbốicảnh và đưa rađịnh nghĩa hoạt động nhượng quyền, những yêu cầu và thoả thuận nhượng quyền.

14

Qua đó, chỉ rayếutốcấu thành nên đối tượng chuyển giao trong hợpđồngnhượng quyền là các yếu tố thuộc quyền sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, bài viết cònsơ lược sựtồn tại và phát triển của hoạt động nhượng quyền cũng như các văn bản điều chỉnh hoạtđộng thương mại đặc thù này tại Indonesia. Rất nhiều các văn bản qua từng thời kỳvới một sốthayđổinhất địnhđiềuchỉnh hoạt độngnhượng quyền tại Indonesia được đề cập ở đây. Thông qua việc phân tích, đánh giá ưu nhược điểm của những văn bản pháp luật này trong tương quan so sánh với pháp luật một số quốc gia khác, bài viết đã đưa ra những khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Indonesia hiện hành về nhượng quyền thương mại và những lưu ý cho các thương nhân khi thực hiện phương thức kinh doanh nhượng quyền.

+ European Franchise Federation (2016). European code of ethics for franchising. Đây là bộ quy tắc đạo đức của Châu Âu về nhượng quyền thương mại do Liên đoàn Nhượng quyền Châu Âu ban hành. Bộ Quy tắc này như một cuốn cẩm nang dành cho các quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu dựa vào để xây dựng quy tắc hoặc quy định pháp luật về nhượngquyền thương mại của quốc gia mình. Với số lượng các quy tắc không quá đồ sộ,nhưng vớicách hành văn khúc triết, ngắn gọn,dễ hiểu,Bộ Quytắcđãđưa rađịnh nghĩa về hoạtđộngnhượng quyền, các thoả thuận dưới dạng những cam kết chung của các bên trong quan hệ nhượng quyền và những cam kết riêng của từng bên trong mốiquanhệ tương đối đặc biệt này. Các nguyên tắc được đề cập trong Bộ Quy tắcthực sựlà cơ sở mang tính khoa học và thực tiễn để các quốc gia thành viên học tập trong việc xây dựng pháp luật quốc gia mình về hoạt động nhượng quyền. Mặc dù không phải quốc gia thành viên của liên minh Châu Âu, nhưng Việt Nam hoàn toàn có thể tham khảo vàhọctập những quyđịnh tiến bộ, hiệnđạicủabộQuytắcđạođức vềkinh doanh nhượng quyềnđã đề cập ở trên.

+ British Franchise Association Code of Ethical Conduct. Đây là bộ quy tắcứng xửđạo đức về nhượng quyền của Hiệp hội nhượng quyền Anh. Tương tự nhưbộ Quy tắc của Liên minh Châu Âu, Bộ Quy tắc của hiệp hộinhượng quyền Anh cũng xây dựng những quyđịnh mang tính nguyên tắc và có tính chất khuyến nghị

15

các thương nhân tham gia hợp đồng nhượng quyền phải tuân thủ. Tuy nhiên, so với Bộ Quy tắc của EU, Bộ Quy tắc ứng xửcủa Anh có những phần mở rộng thêm

như… Điều này cũng là hoàn toàn hợp lý, bởi lẽ Bộ Quy tắc của Châu Âu là cơ sởđể các nước thành viên của liên minh xây dựng pháp luật nước mình theo nguyên

tắc có thể mởrộng vấn đề hơn bản gốc để phù hợp với tình hình, điều kiện thực tế của các quốc gia thành viên.

1.3. Nghiên cứu hoạt động nhượng quyền thương mạidưới góc độpháp luật cạnh

tranh trên thế giới có một số công trình nghiên cứu như sau:

+ Covenants against competition in franchise agreements, Peter J. Klarfeld, American Bar Association, 2003: Với dung lượng 499 trang, tác giả đã cung cấp cho người đọc một cái nhìn tương đối toàn diện về những điều khoản phản cạnh tranh trong quan hệ nhượng quyền thươngmại, đồngthời nhấn mạnh cách thức các thỏa thuận phản cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thương mại được giải thích và thi hành trên thực tế.

+ Commercial agency, franchise and distribution contracts (PEL CAFDC), Martijn Willem Hesselink, European law Publisher, 2006: Nội dung cuốn sách đề cập đến các nguyên tắc của pháp luật Liên minh Châu Âu liên quan đến hợp đồng phân phối, đại lý và nhượng quyền thương mại. Theo đó, pháp luật của Liên minh Châu Âu về hoạt động nhượng quyền thương mại được đề cập cụ thểởChương 3, từtrang 210 đến trang 257. Theo đó, tác giảđã đềcập đến các nghĩa vụ cơ bản của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại. Tại mục G, chương 3, trang 212, tác giả đã đề cập đến một số quan điểm giải quyết của EU liên quan đến các thỏa thuận hạn chếcạnh tranh trong quan hệnhượng quyền thương mại, theo đó, cácđiều khoản liên quan liên quan đến nghĩa vụphải bảo mật thông tin, bảo mật bí quyết kinh doanh, bảo vệ quyền thương mại mà bên nhượng quyềnđã chuyển giao cho bên nhận quyền cũng như các điều khoản nhằm bảo vệdanh tiếng cũng như tính đồng bộcủa hệthống nhượng quyền đềukhông vi phạmĐiều81 (1) EC. Tuy nhiên, nhữngđiềukhoản liên quan đến sự phân chia thị trường sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 81 (1)

16

EC. Tuy nhiên, các thỏa thuận trong hợp đồng nhượng quyền thương mại có thểđược miễn trừ nếu thuộc các trường hợp được miễn trừ quy định tại Nghị quyết số 2790/1999 của Hội đồng EC ban hành ngày 22/12/1999 về việc áp dụng Điều 81 (3) Hiệp ước EC đối với những thỏa thuận hạn chếcạnh tranh theo chiều dọc.

2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

ỞViệt Nam, hoạtđộng nhượng quyền thương mại hiện nayđược đềcập trong rất nhiều bài viết và công trình nghiên cứu cụ thể sau đây:

2.1. Những công trình tập trung nghiên cứuvềhoạt động nhượng quyền thương mại hiện nay dưới nhiều góc độ khác nhau

–Ở cấp độ luận ánTiến sỹ, đãcó Luận án Tiến sỹ của tác giả Vũ Đặng Hải Yến với đề tài “Nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh nhượng

quyền thươngmại ở Việt Nam”(Đại học Luật Hà Nội – 2009). Luận án nghiên cứu pháp luậtđiềuchỉnh hoạt độngnhượng quyền thương mại dưới góc độpháp luật thương mạinói chung, phân tích chi tiết và chỉra bản chất đặcthù của hoạtđộng nhượng quyền thương mại so với các hoạt động thương mại khác, nộidung của pháp luật điều chỉnh hợp động nhượng quyền thương mại đã được Luận án đề cập và phân tích khá sâu sắc. Đặc biệt, Luận án đã chỉ ra mối liên hệ mật thiết giữa pháp luật điều chỉnh hoạt động nhượng quyền thương mại với pháp luật cạnh tranh vàpháp luật về sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, do sự giới hạn trong phạm vi nghiên cứu của đềtài, những vấn đềvềđối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại dưới góc độ là các yếu tố thuộc quyền sở hữu trí tuệ chưa được Luận ánđi sâu phân tích và nghiên cứu một cách cụ thể.

Luận án tiến sỹ “The Role and influence of Việt Nam’ s franchise Law on the development of Franchsing: a Multiple Case Study” của tácgiả Nguyễn Bá Bìnhđã nghiên cứukhá toàn diện vềvai trò của pháp luật điều chỉnh hoạtđộng nhượng quyền thương mại đối với quá trình phát triển hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam. Thông qua việc nghiên cứu các thương vụ nhượng quyền cụ thể , luận án đã chỉ ra những yếu tố về văn hoá, xã hội và điều kiện cụ thể ở Việt Nam, những

17

lĩnh vựcnhượng quyền phù hợp ởViệt Nam. Thông qua đó, tác giảđã phác hoạmột cách khá cụ thể và chi tiết về bức tranh thực trạng pháp luật về nhượng quyền thương mạinói chungởViệt Nam hiện nay, trên cơsởđó đềxuất phương hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hoạt động nhượng quyền thương mại tại Việt Nam

+ Một số công trình nghiên cứu đề cập khái niệm về nhượng quyền thương mại từ khía cạnh kinh tế với những so sánh giữa nhượng quyền thương mại với một sốhoạt động thương mại khác như bài viết của tác giảPhạmThịThu Hà với tên gọi: “Nhượng quyền thương mại với doanh nghiệp Việt Nam”, đăng trên Tờ tin của

Hội Sở hữu công nghiệp số 47 – 2005; từ khía cạnh pháp lý như “Hoàn thiện khung pháp lý vềnhượng quyền thương mại”(tạp chí nghiên cứu lập pháp, số8/2007). Nhìn nhận hoạt động nhượng quyền thương mại đơn thuần dưới góc độ thương mại và coi nhượng quyền thương mại là một bí quyết kinh doanh, tác giả Lý Quý Trung

có bài viết với tên gọi: “Franchise –Bí quyết thành công bằng mô hình nhượng quyền kinh doanh” (NXB Trẻ, Hà Nội, 2005).

2.2. Những công trình nghiên cứu chuyên sâu vềhợp đồng nhượng quyền thương mại

+ Ởcấp độluận văn thạc sỹ, có đềtài “Pháp luật điều chỉnh hợp đồng

nhượng quyền thương mại –Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” củatácgiảNguyễn Thị Như Nguyễn đã bắt đầu từ việc chỉ ra bản chất của hoạt động nhượng quyền dưới khía cạnh pháp lý cho đến việcđềcập đến bản chất của hợp đồng nhượng quyền thương mại. Qua đó, tácgiảđã phân tích thực trạng pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền ởViệt Nam thông qua hai đối tượng là hợp đồng nhượng quyền trong nước và hợp đồng nhượng quyền có yếu tốnước ngoài cũng như đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về hợp đồng nhượng quyền. Cùng chung một đối tượng nghiên cứu với đềtài nhưđã đềcập trên đây, có đề tài “ Những vấn đề pháp lý về hợp đồng nhượngquyền thương mại”của tác giả Lê Hoàng Lan Chi cũng đã nghiên cứu về hợp đồng nhượng quyền dưới góc độ pháp luật thông qua việc đưa ra cái nhìn khái quát về hoạt động nhượng

18

quyền, trình bày nội dung của hợp đồng nhượng quyền. Bên cạnh đó, tác giả cũng phác hoạ bức tranh toàn cảnh của thực trạng pháp luật về hợp đồng nhượng quyền qua việc phân tích các vấn đềchủthể, hình thức, nội dung của hợpđồng nhượng quyền thương mại.Mặc dù đề tài đãđề cập được mối quan hệ giữa pháp luật điều chỉnh hợp đồng nhượng quyền thương mại với pháp luật cạnh tranh và pháp luật sởhữu trí tuệtuy nhiên những phân tích vẫn còn mang tính sơ sài,chủquan chưa mang tính bao quát và thể hiện được bản chất của hợp đồng nhượng quyền.

+ Ngoài ra, có đềtài “Hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế” của tác giảNguyễn ThịVân và đềtài “Hợp đồng nhượng quyền thương mại trong pháp luật Việt Nam” của tác giảĐàoĐặng Thu Hường. Cảhai đềtài nàyđều có đối tượng nghiên cứu là hợp đồng nhượng quyền với tư cách là một cơ sởpháp lý của hoạt động nhượng quyền màkhông chỉ ra được mối quan hệ giữa Luật Thương mại, Luật Sở hữu trí tuệ và Luật Canh Tranh trong quá trình điều chỉnh các khía cạnh của hoạt động nhượng quyền thương mại. Bên cạnh đó, còn có luận văn thạc sỹ của tác giả Trần Thị Hồng Thúy với đề tài “Kiểm soát hợp đồng nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh”. Mặc dù thành công của đề tài là chỉ ra mối quan hệ của hoạt động nhượng quyền với pháp luật sở hữu trí tuệ và cạnh tranh nhưng chỉ là từ góc độ kiểm soátđối với hợp đồngnhượng quyền nên chưa đề cập được một cách toàn diện vấn đề bảo vệ đối với hợp đồng nhượng quyền.

Bên cạnh đó, bài viết của tác giảVũĐặngHải Yếnđăng trên tạpchí Luật học số11 năm 2008 với tiêu đề“Nộidung của hợp đồng nhượng quyền thương mại” đã phân tích bảnchất pháp lý của hợpđồng nhượng quyền thông qua hai nhóm điều khoản làđiều khoản về đối tượng của hợp đồngvà điều khoản về quyền và nghĩa vụcủa các bên trong hợp đồng nhượng quyền. Tuy nhiên, các phân tích, bình luận của tác giả về đối tượng của hợp đồng nhượng quyền chưa thực sự chi tiết và sâu sắc và chưa đặt nó dưới khía cạnh Luật Sở hữu Trí tuệ và Luật Cạnh tranh

Ngoài ra, cũng nghiêncứu về hợp đồngnhượng quyền thương mại dưới gócđộ pháplý nhưngở một gócnhìnhẹp hơn có đề tài “Vấn đề bảo vệ quyền lợi của

19

bên nhận quyền trong quan hợp đồng nhượng quyền thương mại theo pháp luật Việt

Nam –So sánh với Pháp luật của Anh, Pháp và Liên minh Châu Âu” của tác giảNguyễn ThịTình. Trong đềtài này, hơp đồng nhượng quyền thương mại được đềcập, những thoả thuậncụthểcủa các bên trong hợpđồngđược mô tả. Tuy nhiên, tác giả xuất phát từ mục đích bảo vệ quyền lợi chính đáng của bên nhận quyền đểphân tích, đánh giá các quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong pháp luật Việt Nam. Một điểm thành công của luận văn là đã phân tích những quy định của pháp luật Việt Nam về quyền lợi của bên nhận quyền trong mối tương quan so sánh với pháp luật của Anh, Pháp và Liên minh Châu Âu.Đâyđều là các quốc gia có thực tiễn hoạt động nhượng quyền sôi động bậc nhất trên thế giới. Vì vậy, đề tài đãchỉ ra nhiều bài học cho Việt Nam có thể tham khảo trong việc hoàn thiện kỹ năng lập pháp trong vấn đề bảo vệ quyền lợi của bên nhận quyền. Tuy nhiên, trọng tâm của đề tài là việc bảo vệ các quyền lợi chính đáng cho bên nhận quyền trong quan hệ hợp đồng, do đó, vấn đề kiểm soát quyền thươngmại chỉ được đề cập trongđềtài ở một khía cạnh nhỏ về trợ giúp kỹ thuật của bên nhượng quyền. Do vậy, có thểkhẳng định đề tàikhông nghiên cứu, phân tích, đánh giá một cách toàn diện vấn đềkiểm soát quyền thương mại trong hợp đồng nhượng quyền.

2.3. Những công trình nghiên cứu vềhoạt động nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ

– Ở cấp độ đề tài nghiên cứu khoa học, đã có đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường đạt giải nhất của tác giả Cao Thị Hoàng Oanh (trường Đại học Luật Thành phốHồChí Minh) về“Bảo vệbí mật kinh doanh trong hoạt động nhượng quyền thương mại dưới gócđộ phápluật hợp đồngViệt Nam vàMỹ”. Mặc dù chỉ là một đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường tuy nhiên đề tài đã đi sâu khai thác quyền sởhữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trong quan hệnhượng quyền. Đâycó thể coi là một trong những yếu tố quan trọng cấu thành nên“quyền thương mại” -đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền. Trong đềtài này, tác giảcũng bắt đầu bằng việc xác định bản chất pháp lý của hoạt động nhượng quyền để

từđó chỉra sựtác động của yếu tốbí mật kinh doanh trong hoạtđộng nhượng

20

quyền cũng nhưsựcần thiết phải bảovệyếu tốcấuthành nên đốitượng củahợp đồng nhượng quyền thương mại. Qua đó, tác giả có sự so sánh, đối chiếu giữa pháp luật hợp đồng Việt Nam và pháp luật hợp đồng Mỹ trong việc bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh trong hoạt động nhượng quyền. Từ đó, tác giảcũng phân tích đểthấyđượcnhững tồntại, hạnchếcủa pháp luật hợp đồng nhượng quyền thương mại tại Việt Nam và đềxuất một sốgiải pháp nhằm khắc phục tình trạng trên.

+ Dưới góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ, tác giả Nguyễn Bá Bình có bài viết

“Nhượng quyền thương mại – bản chất và mối quan hệ với hoạt động chuyển giao công nghệ với hoạt động Ly xăng” đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số tháng 2 năm 2006. Trong bài viết này, tác giả đã chỉ ra những đặc trưng mang tính bản chất của hoạtđộngnhượng quyền thông qua cácđặc điểm vềđối tượng, quyền kiểm soát, quyền hỗtrợcủacác thương nhân trong hệthống nhượng quyền. Từđó, tác giả có sựphân biệt cụ thể và chi tiết hoạt động nhượngquyền thương mại với hai

hoạt động “na ná” nó là hoạt động ly – xăng và chuyển giao công nghệ.

Bài viết “Bảo vệbí mật thương mại trong nhượng quyền” đăng trên tạp chíDoanh nhân Sài Gòn điện tử2 đã đề cập đến vấn đề kiểm soát của bên nhượng quyền đối với bên nhận quyền trong việc chuyển giao và sử dụng phương thức kinh doanh. Tuy nhiên phạm vi bài viết chỉtậptrung vào bí mật thương mại là một trong rất nhiều yếu tố cấu thành nên đối tượng của hợp đồng nhượng quyền.

Ngoài ra dưới góc độpháp luật Sởhữu Trí tuệ, đềtài luận văn thạc sỹluật học “Pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động nhượng quyền thương mại” củatác giảĐỗPhương Thảo nghiên cứu mộtcách tương đối toàn diện mối quan hệ của hoạt động nhượng quyền với Luật Sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, luận văn chỉtập trung nghiên cứu, phân tích và đánh giá các quyđịnh củapháp luật Việt Nam hiện hành về các yếu tố Sở hữu trí tuệ cấu thành nên quyền thương mại. Trong

2 http://www.doanhnhansaigon.vn/online/nhuong-quyen/kien-thuc/2010/01/1040762/bao-ve-bi-mat- thuong-mai-trong-nhuong-quyen/

21

khi đó,vấn đềcó tính chất nền tảng và bao trùmđểdẫn tới những bất cậptrong những thực trạng pháp luật đã đề cập ở trên đó là vấn đề thừa nhận khái niệm pháp lý vềquyền thương mại trong hợp đồng nhượng quyền lại chưa được luận văn nghiên cứu. Bên cạnh đó, một vấn đề cũng quan trọng không kém đồng thời cũng mang tính hệquảnhư vấn đềbảo vệquyền các yếu tốsởhữu trí tuệđó là vấn đềkiểm soát quyền thương mại cũng chưa được luận văn khai thác.

2.4. Những công trình khoa học nghiên cứu hoạt động nhượng quyền thương mại dưới góc độ pháp luật cạnh tranh.

+ Xem xét và nghiên cứu hợp đồng nhượng quyền dưới góc độ phápluật sởhữu trí tuệ hoặc pháp luật cạnh tranhcòn có đề tài “Thoả thuận hạn chế cạnh tranh

trong hợp đồng nhượng quyền thươngmại – một số vấn đề lýluận và thực tiễn” của tác giả Đinh Thị Ngọc Châm đã đề cập đến những kiến thức khái quát về thoả thuận hạn chếcạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền thông qua việc phân tích khái niệm, đặc điểm từ đó chỉ ra nguyên nhân và các dạng tồn tại của thoả thuận hạn chếcạnh trạnh trong hợp đồng nhượng quyền. Qua việc phân tích nhữngvấn đề lý luận vềthoả thuậnhạnchếcạnh tranh tác giảđãkhẳng định sựcầnthiết phải có pháp luật điềuchỉnh vấnđềnày trong hợp đồngnhượng quyền thương mại. Đồng thời phân tích một cách khá cụ thể và chi tiết về thực trạng pháp luật điều chỉnh các thoảthuận hạn chếcạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền ởViệt Nam hiện nay vàđưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật có giá trị tham khảo.

Luận án tiến sỹcủa Nguyễn ThịTình với tiêu đề“Pháp luật hạn chếcạnh tranh trong hoạt độngnhượng quyền ởViệt Nam hiện nay” (2015) đã trình bày những vấn đề lí luận về hạn chế cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mạivà pháp luật hạn chếcạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại. Phân tích thực trạng pháp luật hạn chếcạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại ở Việt Nam, từ đó đưa ra phương hướng và một số giải pháp hoàn thiện phápluật về vấn đề này.

22

+ Dưới góc độpháp luật cạnh tranh, tác giảNguyễn Thanh Tú với bài viết “Nhượng quyền thương mại dưới gócđộ Luật Cạnhtranh” (tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 03/2007). Tuy nhiên, bài viết này mới đề cập đến một khía cạnh nhỏ về sựliên hệgiữa hoạt động nhượng quyền thương mại với pháp luật điều chỉnh thỏa thuận hạn chếcạnh tranh, đồng thời bài viết mới đưa ra những thông tin vềquanđiểm giải quyết các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong pháp luật của Liên minh Châu Âu và Hoa Kỳ.

Tác giả Bùi Ngọc Cường với bài viết ‘‘Các điều khoản độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại’’(tạp chí Nhà nước và pháp luật số7/2007) đãnhận diện và đặt ra câu hỏi liệu có các điều khoản độc quyền trong tronghợp đồng nhượng quyền thương mại hay không?

Bài viết “Các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp động nhượng quyền thương mại”củaThS. Nguyễn Hồng Vân (2011) đượcđăng trên tạp chí Nghiên cứu Lậpphápđiệntử3đã chỉra các hành vi thỏa thuận hạn chếcạnh tranh trong nhượng quyền có thể tồn tại dưới các dạng như thỏa thuận phân chia khu vực kinh doanh, thỏa thuận phân phối và cung ứng độc quyền, thỏa thuận mua bán cảgói, thỏa thuận giá bán lại, thỏa thuận kiểm soát số lượng đầu vào- đầu ra của sản phẩm. Bên cạnh đó, bài viết cũng đã đưa ra kinh nghiệm giải quyết của Liên minh Châu Âu thông qua một số bản án điển hình của Tòa án Liên minh Châu Âu. Tuy nhiên, dưới khía cạnh pháp luật Việt Nam, bài viết chưa đề cập đến, chưa phân tíchcụ thểvề thực trạng điều chỉnh các hành vi này ở Việt Nam.

Bài viết “Điều khoản bảo mật thông tin và điều khoản cấm cạnh tranh trong hoạt động nhượng quyền thương mại”của TS. Hoàng ThịThanh Thủy (Tạp chí Luật họcsố02/2011) đã đềcập đếnthỏa thuận vềcấmcạnh tranh trong quanhệnhượng quyền thương mại, theo đó, bài viết đã nhận diện điều khoản cấmcạnh tranh trong các giai đoạn khác nhau của hợp đồng như trong thời gian thực hiện hợp

3 http://www.nclp.org.vn/thuc_tien_phap_luat/cac-thoa-thuan-han-che-canh-tranh-trong-hop- 111ong-nhuong-quyen-thuong-mai

23

đồng và sau khi chấm dứt hợp đồng. Theo tác giả bài viết, các điều khoản cấm cạnh tranh trong thời gian thực hiện hợp đồng được thể hiện dưới dạng thỏa thuận phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hóa/dịch vụ thuộc sự điều chỉnh của K2 và 6 Điều 8 Luật Cạnh tranh 2005 và khẳng định các thỏa thuận này có thể được miễn trừtheo quyđịnh của Luật Cạnh tranh Việt Nam4. Sau khi chấm dứt hợp đồng, thỏa thuận hạn chế cạnh tranh thường thể hiện dưới dạng bên nhận quyền cam kết không thực hiện bất kỳ hoạt động kinh doanh hoặc hợp tác nào đối với các đối thủcạnh tranh của bên nhượng quyền trong một thời gian từ1-2 nămkểtừnày chấm dứt hợp đồng nhượng quyền thương mại. Thông qua bài viết, tác giả chỉ ra sựtác độngcủacác thỏa thuận nàyđốivớimôi trường cạnh tranh và quan điểm giải quyết trong pháp luật EU và Cộng hòa Liên bang Đức. Theo đó, tác giảcho biết, theo pháp luật của EU, tính hợp pháp của các thỏa thuận loại này được xác định trên ba tiêu chí: (1) Thời hạn hiệu lực của các điều khoản cấm cạnh tranh sau khi chấm dứt hợp đồng;(2) hạn chế về lãnh thổ; (3) Nghĩa vụ đền bù, cụ thể, một thỏa thuận cạnh tranh loại này sẽ không được coi là hợp pháp nếu nó không đảm bảo nguyên

tắc “tương xứng và phù hợp”.

Ngoài ra, bài viết “Một sốđiều khoản độc quyền trong hợp đồngnhượng quyền thương mại, so sánh pháp luật Việt Nam, Pháp và Liên minh Châu Âu” của tác giả Ngô Quốc Chiến đăng trên tạp chí Kinh tế Đối ngoại số 67 năm 2014 đã đềcập đến các dạng của thoả thuận độc quyền trong hợp đồng nhượng quyền thương mại. Theo tác giả, các dạng thoả thuận có bóng dáng của các hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh trong hợp đồng nhượng quyền chủ yếu dưới 3 dạng: Thoả thuận độc quyền lãnh thổ, thoả thuận độc quyền cung cấp sản phẩm, thoả thuận ấn định giábán lại. Tuy nhiên sau khi phân tích sự cần thiết phải tồn tại những thỏa thuận này trong hợp đồng nhượng quyền đểđảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của toàn hệthống nhượng quyền thì tác giả có đề xuất một số giải pháp nhằm đảm bảo sự tương thích giữa pháp luật Thương mại và pháp luật Cạnh tranh khi cùng điều chỉnh hoat

4 Xem Điều 10, các điều khoản miễn trừ, Luật Cạnh tranh 2005

24

động thương mại đặc thù này. Các đề xuất của tác giả có tham chiếu đến pháp luật của Pháp và Liên minh Châu Âu đểkhắc phục những hạn chế, tồntại trong Pháp luật Việt Nam.

Nhìn chung, các bài viết này mới chỉ dừng lại ở việc nhận diện các yếu tố sởhữu trí tuệ trong hoạt động nhượng quyền và các hành vi hạn chế cạnh tranh trong quan hệnhượng quyền thương mại, hầu hết đều có phân tích và tìm hiểu kinh nghiệm giải quyết và xửlý các hành vi này thông qua mộtsốvụán điển hình ởChâu Âu và Mỹ. Tuy nhiên, các bài viết chưa thực sự có cái nhìn tổng quan về mối quan hệgiữa pháp luật Thương mại, pháp luật Sởhữu trí tuệvà pháp luật cạnh tranh, thông qua đóphân tích thực trạng pháp luật Việt Nam và thực tiễn thực thi pháp luật nhượng quyền thương mại dưới góc độpháp luật sởhữu trí tuệvà pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam.

Từviệc đánh giá tình hình nghiên cứu pháp luật vềnhượng quyền thương mại ởViệt Nam, cho thấyđến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền dưới góc độ pháp luật sở hữu trí tuệ, để

từ đó chỉ ra cơ sở khoa học của việc tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về nhượng quyền thương mại ở Việt Nam hiện nay. Có thể khẳng định đây là công trình đầu tiên nghiêncứu về vấn đề này ở nước ta,với cấp độ luận án tiến sỹ luật học.

3. Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu củacác công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Qua việc tìmđọc,nghiên cứu một cách công phu và nghiêm túc các công trình khoa học liên quan đến luận án có thể rút ra một số kết luận như sau:

– Một là, xét trên phạm vi khu vực và toàn thế giới, các công trình nghiên cứu về nhượngquyền thương mại chủ yếu tập trung vào: (i) phân tích các đặc điểm và cách thức tiến hành hoạt độngnhượng quyền thương mại, đặc biệt là nhượng quyền thương mại quốc tế (Editors: Yanos Gramatidis & Dennis Campbell – International Franchising: An in-depth treatment of business and legal techniques.

25

(Based on reports made in the Spring 1990 conference sponsored by McGeorge School of Law at Waidring, Austria, and chaired by Yanos Gramatidis, Bahas, Gramatidis & Associates, Athens, Greece.) -Kluwer Law and Taxation Publishers. Deventer -Boston 1999); (ii) đánh giá những tác động của hoạt động nhượng quyền thương mại tới nền kinh tế(Economic Impact of franchised bussiness, a study for the international franchise. Association Educational Foundation, 2004, by the National Economic Consulting Practise of PricewaterhouseCoopers); (iii) nghiên cứu hoạt động nhượng quyền thương mại dưới góc độpháp luật (Roberto Baldi, Distributorship, Franchising, Agency – Community and national Laws and Practice in the EEC).

– Hai là các công trình nghiên cứu xác định khái niệm của hoạt động nhượng quyền thương mại dù là dưới góc độ kinh tế hay góc độ pháp lý đều khẳng định đây là mộtphương thức kinh doanh đặcthù, theođó bên nhượng quyền cho phép bên nhận quyền tiến hành hoat động kinh doanh thông qua việc chuyển giao “quyền kinh doanh” của mình được cấu thành bởi rất nhiều yếu tố như quyền sở hữu công nghiệp đối vớitên thương mại, nhãn hiệu, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, cách thức bài trí, kế hoạch kinh doanh của bên nhượng quyền mà trongđónhững yếu tố của quyền sở hữu trí tuệ là các yếu tố mang tính chủ đạo. Trong khi đó, bên nhận quyềnđược phépsửdụng toàn bộ“quyềnthương mại” mà bên nhượng quyền chuyển giaođểtiến hành hoạt độngkinh doanh hàng hoá, dịchvụdưới sựgiám sát và trợgiúpvềmặtkỹthuật của bên nhượng quyền. Kếtquảcủa phương thức kinh doanh đặc biệt này là tạo nên một hệ thống nhượng quyền mà ởđó người tiêu dùng không thể phân biệt cũng như nhận ra họ đều là các thương nhânđộc lập về tài chính và tư cách pháp lý.

– Ba là, các công trình nghiên cứu đều chỉ ra những đặc trưng mamg tính bản chất củahoạtđộngnhượng quyền là: (i) Chủthểtiến hành là những chủthểkinh doanh chuyên nghiệp; (ii) Đối tượng mà các bên chuyển giao cho nhau là một đối tượng đặc biệt với các yếu tố sở hữu trí tuệ có vai trò chủ đạo; (iii)Tính đồng bộ vàtính hệthống luôn hiện diện trong hoạtđộng nhượng quyền. (iiii) Nhu cầu kiểm

26

soát toànbộ hệ thốngcủa các thương nhân như một xu thế mang tính tất yếu. Quan trọng hơn các công trình nghiên cứu đềukhẳng địnhtừnhững khái niệm và đặc điểmtrên đâycủahoạt độngnhượng quyền đã dẫntớimộtnhu cầu vô cùng bức thiết là pháp luật của các quốc gia vềhoạt động nhượng quyền trong đó có Việt Nam cần phải tồn tại những quy định ghi nhận đúng bản chất của hoạt động thương mại đặc thùnày và đảm bảo hài hoà hoá giữa lợi ích của các thương nhân trong hệthống nhượng quyền với nhu cầu quản lý hoạt động kinh tế của nhà nước.

– Bốn là, dưới các góc độnghiên cứu khác nhau, hầu hết các công trình nghiên cứu đều đềcập đến “Hợp đồng nhượng quyền thương mại” mà trong đó“quyền thương mại” với tưcách là đối tượng mà bên nhượng và bên nhận chuyển giao cho nhau không đơn thuần là một hàng hoá, dịch vụ cụ thể giống như trong các hoạt động mua bán hang hoá, xúc tiến thương mại, trung gian thương mai, vận

chuyển hay logicstic…Đối tượng của hợpđồng nhượng quyền là“quyền thương mại” được đề cập trong cáccông trình nghiên cứu là tập hợp các yếu tố có sự kết hợp nhuần nhuyễn đến mức không phân tách bao gồm các yếu tố của quyền sở hữu trí tuệvà các yếu tốkhác tạo nên thương hiệu kinh doanh mà bên nhượng quyền bán ra thịtrường. Xuất phát từtính chất đặc biệt của đối tượngcủa hợp đồng nhượng quyền thương mại, các công trình nghiên cứu đều khẳng định phải nhìn nhận “quyền thươngmại” dưới khíacạnh sở hữu Trí tuệ mới có thể thiết lập được cơ chếđểghi nhận, bảo vệvà kiểm soát đối tượng đặcthù này của thương nhân trong hệthống nhượng quyền. Đâylà một nhu cầu vô cùng chính đáng của các thương nhân trong cùng toàn bộ hệ thống nhượng quyền.

– Năm là, hầu hết các công trình nghiên đãđề cập đến mối liên hệ giữa Luật Thương mại và Luật Sở hữu trí tuệ trong việc điều chỉnhhoạt độngnhượng quyền thương mại nói chung cũng nhưđối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền nói riêng. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu mới chỉra mối liên hệvà đánh giá mức độtương thích của hai lĩnh vực pháp luật trong việc điều chỉnh đối tượng của hợp đồngnhượng quyền một cách khái quát. Các công trình chưa chỉ ra sự cần thiết phải ghi nhận đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền như

27

một vấn đềtrọng tâm trong pháp luật vềhoạt động nhượng quyền thương mại.Đồng thời cũng chưa nghiên cứu một cách chuyên sâuđể chỉ rađầy đủ những hạn chế, bất cập trong hệ thống pháp luật hiện hành của Việt Nam và các quốc gia khác trong việc xác định đối tượng đặc biệt của hợp đồng nhượng quyền này.

– Sáu là, mặc dù đã có những nghiên cứu vềquyền thương mạinhư là đối tượng của hợp đồng nhượng quyền nhưng các nghiên cứu hiện nay mới chỉ ở mức độ chung chung, chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách cụ thể và chi tiết. Cáckết quảnghiên cứu được ghi nhận trong hai trường hợp sau: Hoặc là nghiên cứu vềhợp

đồng nhượng quyền và đối tượng của hợp đồng –quyền thương mại được đềcập đến với vai trò chỉlà một trong các nội dung của hợp đồng. Do đó, những nhận định, phân tích, đánh giá về đối tượng chuyển giao tronghợp đồng nhượngquyền còn sơ sài, các kết luận chưa có tính bao quát. Hoặc là nghiên cứu đơn lẻ một trong

các yếu tố của quyền thương mại (như là bí mật kinh, nhãn hiệu,bản quyền…) dưới góc độ điều chỉnh của Pháp luật Sởhữu trítuệmà chưa có một công trình nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu vềđốitượng chuyển giao giữa bên nhượng và bên nhận trong hoạt động nhượng quyền thương mại.

Từquá trình khảo cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, Nghiên cứu sinh nhận thấy chưa có công trình nào nghiên cứu về“đối tượng của hợp đồng nhượngquyền thươngmại”cũng như pháp luật điều chỉnhvề “đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại” một cách toàn diện trên tất cảcác khía cạnh như vấn đềnhưđịnh danh, bảo vệvà kiểm soát loại tài sản đặc biệt này. Vìvậy, cóthểkhẳngđịnhluận án là công trìnhđộc lậpcủa Nghiên cứu sinh.Đâylàcông trìnhđầu tiên nghiên cứu một cách chuyên sâu,hệthống vềPháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại.

4. Các giả thuyết, câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu 4.1. Một số cơ sở lý thuyết sử dụng trong Luận án

–Dựkiến luận án được thực hiện trên cơ sởquan điểmcủa Đảng và nhà nước về xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

28

– Bên cạnh đó, dự kiếnluận án được triển khai trên nền tảng lý luận về hợp đồng nói chung và đối tượng của hợp đồng nói riêng.

-Đặc biệt, luận án được thực hiện trên cơ sởtiếp thu,kếthừa có chọn lọc những tư tưởng pháp lý, quanđiểmkhoa học trong các công trình nghiên cứu đãcông bố.

– Ngoài ra, lý thuyết về sự công bằng, minh bạch trong hoạt động thương mại cũng là một cơ sở lý thuyết quan trọng mà luận án đã sử dụng.

– Kết quả nghiên cứu mà luận án đạt được không thể xa rời cơ sở lý thuyết cốt lõi là các quy định của pháp luật như: pháp luật thương mại, pháp luật hợp đồng, pháp luật sở hữu trí tuệ.

4.2. Câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu

Trên cơ sởnghiên cứu thực tiễn vềviệc định danh, bảo vệvà kiểm soát đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại và các tài liệu có liên quan đến đềtài trong và ngoài nước, Luận án dựkiến sẽđược triển khai với hàng loạt các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu sau:

(1) Về phương diện lý luận:

– Câu hỏi nghiên cứu: Nhượng quyền thương mại là gì?Đối tượng của hợp đồng nhượng quyền là gì, Tại sao phải xác định các yếu tốcấu thành đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại? Các yếutốcấu thành nên đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại là gì? Nội dung của quyđịnh pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại nhưthếnào?Đặc điểmcủa đốitượng hợp đồng nhượng quyền thương mại như thế nào?

– Giảthuyết nghiên cứu: Những nềntảng vềkinh tế, pháp lý, đặc trưng của hoạt độngnhượng quyền thương mại, tínhtấtyếukhách quan phải cósựđiềuchỉnh của pháp luật trong lĩnh vực này chưa được làm rõ và cụ thể. Hiện nay cácvấn đềlý luận về pháp luật điều chỉnh đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại chưa được nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện và chuyên sâu, chưa đánh giá đượccácyếutốảnh hưởngđếnpháp luậtvềđốitượngcủahợpđồngnhượng

29

quyền trong hoạt động nhượng quyền thương mại. Do đó, kết quả nghiên cứu sẽxây dựng nền tảng cơ sở lý luận, cơ sở kinh tế và cơ sở xã hội trong việc thiết lập các quy định pháp luật về đối tượng của hợp đồng nhượng quyền

(2) Về khía cạnh pháp luật thực định:

– Câu hỏi nghiên cứu: Những quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam vềđối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại được quyđịnh ởđâu? Trong những văn bản nào? Thực trạng và vướng mắc trong quátrình thực thi các quy định đó ra sao? Những quy định hiện hành điều chỉnh đối tượng của hợp đồng nhượng quyền thương mại liệu đã phù hợp với bản chất đặc thù của hoạtđộng nhượng quyền thương mạivà phù hợp với định hướng phát triển nền kinh tế trong quá trình hội nhập của Việt Nam?

– Giảthuyết nghiên cứu: Các quyđịnh vềxác định và định danh đối tượng của hợp đồng nhượng quyền đã có nhưng chưa thực sựđầyđủ,không phản ánh được bản chất của hoạt động nhượng quyền. Bên cạnh đó, các quy định về bảo hộ vàkiểm soát đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền đã tồn tại trong pháp luật sở hữu trí tuệ và pháp luật cạnh tranh nhưng chỉ mang tính chất chung chung, chưa có những quy định cần thiết để đảm bảo điều chỉnh hiệu quả. Tuy nhiên, nhiều quyđịnh chưa thực sựphù hợp với bản chất củahoạt động nhượng quyền thương mại và thông lệ quốc tế, dẫn đến khó khăn trong quá trình thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại của thương nhân cũng nhưđịnh hướng phát triển hoạt động thương mại này.

(3) Đề xuất, kiến nghị:

– Câu hỏi nghiên cứu: Những nguyên tắc xây dựng phương hướng hoàn thiện pháp luậtđiềuchỉnhđốitượngcủahoạtđộngnhượng quyền là gì? Nhữngtồntại, bất cập nêu trên cần phải có phương hướng, giải pháp gì để hoàn thiện pháp luật

– Giảthuyết nghiên cứu: Hiện nay,ởViệt Nam chưa có phương hướng và giải pháp một cách đầy đủ, hệ thống và hợp lý để khắc phục những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành vềđối tượng chuyển giao trong hợpđồng nhượng quyền thương mại.

30

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỐI TƯỢNG CHUYỂN GIAO

TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI TƯỢNG CHUYỂN GIAO TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN

THƯƠNG MẠI

1.1 Những vấn đềlý luậnvềđối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

1.1.1. Những vấn đềlý luận căn bản liên quan đếnhoạt động nhượng quyền thương mại

1.1.1.1. Định nghĩa hoạt động nhượng quyền thương mại

Mặc dù không phải là phương thức kinh doanh có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài so với các phương thức kinh doanh khác nhưng kể từ khi xuất hiện vào những năm 40 của thế kỷ 19 cho đến ngày nay nhượng quyền thương mại đã có một bước phát triển đáng kể. Người ta phải dùng thuật ngữ “bùngnổ” mới có thể diễn tảhết mức độ thay đổi của nó. Nếu nhưở Mỹ- đất nước khai sinh ra nhượng quyền thương mại, phương thức kinh doanh này bùng nổ vào những năm 60- 70 của thế kỷ205 thì phải đếnđầuthếkỷ21 nhượng quyền thương mại mới xuất hiện tại Việt Nam và thực tế đã chứng minh hoạt động nhượng quyền thương mại đã “bùng nổ” trong giai đoạntừ2010-2020 và đến nay vẫn chưa có dấu hiệu “hạnhiệt”.Hoạt động nhượng quyền thương mại từthời điểm sơ khai cho đến khi phát triển mạnh mẽnhư ngày nay,vềmặtbản chất luôn là hoạt độngthương mại gắn liền với các yếu tố sở hữu trítuệ đồng thời nhấn mạnh quyền kiểm soát hệ thống nhượng quyền thương mại của bên nhượng quyền6. Nghiên cứu lịch sửhình thành hoạt động nhượng quyền, các tài liệu chỉ ra rằng nhượng quyền thương mại là sản phẩm sáng

tạo của các thương nhân khi mà mục tiêu cung ứng hàng hóa dịch vụ của họ cho xã

5 Bùi Thanh Lâm; Nhượng quyền thương mại bùng nổ ở Việt Nam; Sở Thương mại Hà nội; http://www.luatsuvietnam.vn/vi/legal-knowledge/26-hp-ng-dan-s/138-nhng-quyn-thng-mi-franchising-qbung-nq–vit-

nam-.htm

6 T.S Bùi Ngọc Cường. Hoàn thiện khung pháp lý về nhượng quyền thương mại(2007). Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 8/2007

31

hội thông qua các phương thức phân phối bán buôn bán lẻhay phương thức kinh doanh đại lý đều bộc lộ những hạn chế nhất định. Đặc biệt là trong trường hợp các thương nhân muốn phát triển hệ thống kinh doanh của mình ra khỏi biên giới lãnh thổcủa một quốc gia thì những rủi ro mà việc kinh doanh bằng các phương thức kinh doanh truyền thống như xây dựng mạng lưới hệ thống bán lẻ hay phương thức kinh doanh đại lý mang lại là các thương nhân không thể kiểm soát nổi. Do đó, các thương nhân đã sáng tạo ra một phương thức kinh doanh mới có thể khắc phục được những nhược điểm của các phương thức kinh doanh truyền thống và lại có thể mang

lại những lợi ích như nhân rộng được mô hình kinh doanh, phát triển thương

hiệu…đó chính là kinh doanh theo phương thức nhượng quyền thương mại.

Nhìn từgóc độkinh tếnhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại mà hoạt động nàyđược coi là sựkết hợp hiệu quảnhất của hai hoạt động thương mại khác là xúc tiến thương mại và phân phối thương mại. Có thểnói, nhượng quyền thương mạigiúp cho thương nhân có thểphát triển công việc kinh doanh của mình dưới một tên thương mại mà tên thươngmại ấy, ban đầu được đầu tư, xúc tiến bởi tiền và tài sản củamộtthương nhân khác. Việc mua, bán“sựnổi tiếng” chính là cách hiểu thông thường của hoạt động nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên, việc mua bán “sự nổi tiếng” ấy không phải là đích đến cuối cùng của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại. Khi thiết lập quan hệ nhượng quyền thương mại, các bên, một cách trực tiếp hay gián tiếp, đều muốn hướng tới khoản lợi nhuận khổng lồ từ việc phân phối thành công một khối lượng lớn các hàng hoá, dịch vụ đặc thù dưới một tên thương mại chung.

Xét từ góc độ pháp lý, do sự khác biệt về quan điểm, môi trường kinh tế, chính trịxã hội nên pháp luật các quốc gia khác nhau đưara khái niệm nhượng quyền thương mại không giống nhau như sau: Hiệp hội nhượng quyền kinh doanhquốc tế

(The International Franchise Association) đưa ra khái niệm nhượng quyền thương mại là: “Quanhệtheo hợp đồng, giữa Bên giao và Bên nhận quyền, theo đó Bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của Bên nhận trên các khía cạnh như: bí quyết kinh doanh (know-how), đào tạo nhân viên; Bên

32

nhận hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hóa, phương thức, phương pháp kinh doanh do Bên giao sởhữu hoặc kiểm soát; và Bên nhận đang, hoặc sẽtiến hành đầu tưđáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng các nguồn lực của mình”7. Trong khiđó,Liên minh Châu Âu (EU) lại định nghĩa nhượng quyền thương mại là: “tập hợp những quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan tới nhãn hiệu hàng hóa, tên thương mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền tác giả, bíquyết, hoặc sáng chế sẽ được khai thác để bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ tới người sửdụng cuốicùng”8. Ủyban thươngmạiliên bang Hoa kỳlại định nghĩa nhượng quyền thươngmạidưới góc độmộthợpđồngmà theo hợp đồngđóBên

giao: “(i)hỗtrợđángkểcho Bên nhận trong việcđiềuhành doanh nghiệp hoặc kiểm soát chặt chẽ phương pháp điều hành doanh nghiệp của Bên nhận.

(ii) li-xăng nhãn hiệu cho Bên nhận để phân phối sản phẩm hoặc dịch

vụ theo nhãn hiệu hàng hóa của Bên giao và

(iii) yêu cầu Bên nhận thanh toán cho Bên giao một khoản phí tối thiểu.”9

Bên cạnh đó, pháp luật của Mê-hi-cô chỉra bản chất pháp lý của nhượng quyền thương mại như sau: “Nhượng quyền thương mại tồn tại khi với một li-xăng cấp quyền sửdụng một thương hiệu nhất định, có sựchuyển giao kiến thức công nghệ hoặc hỗtrợkỹthuật đểmộtngườisản xuất,chếtạo, hoặc bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ với các phương pháp vận hành (operative methods), các hoạt động thương mại, hoặc hành chính đã được chủthương hiệu (brand owner) thiết lập, với chất lượng(quality), danh tiếng (prestige), hình ảnhcủasản phẩm, hoặc dịch vụ đãtạo dựng được dưới thương hiệu đó”10. Ngoài ra, pháp luật của Nga cũngđồngquan điểm với Ủy ban thương mại liên bang Hoa Kỳ khi chỉ ra

7 Một số khái niệm nhượng quyền thương mại trên thế giới. http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/02/27/2397/ 8Một sốkhái niệm nhượng quyền thương mại trên thế giới. http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/02/27/2397/ 9Một sốkhái niệm nhượng quyền thương mại trên thế giới. http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/02/27/2397/

10Một sốkhái niệm nhượng quyền thương mại trên thế giới. http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/02/27/2397/

33

bản chất pháp lý của hoạt động nhượng quyền dưới góc độhợp đồng nhưng cónhững sửa đổi như sau: “TheoHợp đồngnhượng quyền thương mại, một bên (bên có quyền) phải cấp cho bên kia (bên sử dụng) với một khoản thù lao, theo một thời hạn, hay không thời hạn, quyền được sử dụng trong các hoạt động kinh doanh của bên sửdụng một tập hợp các quyền độc quyền của bên có quyền bao gồm, quyền đối với dấu hiệu, chỉdẫn thương mại, quyền đối với bí mật kinh doanh, và các quyền độc quyền theo hợp đồng đối với các đối tượng khác như nhãn hiệu hàng hoá

, nhãn hiệu dịch vụ,..”11. Như vậy, mặc dù pháp luật các quốc gia đưa ra các định nghĩa vềhoạt động nhượng quyền dưới nhiều góc độkhác nhau nhưng các định nghĩa trên đều gặp nhau ở một điểm chung đó là đều khẳng định nhượng quyền làviệc một bên độc lập(bên nhận) được phép phân phối sản phẩm, hàng hóa, dịch vụdưới nhãn hiệu, cácđối tượngkhác của quyền sở hữu trí tuệ, hệ thống kinh doanh mang tính đồng bộ dưới sự cho phép của một bên khác(bênnhượng) mà để được sựcho phép này bên nhận phải trả phí và chịu sự kiểmsoát nhất địnhtừ bên nhượng quyền.

Pháp luật Việt Nam cũng ít nhiều tương đồng với các nước khác trên thế giới khi đưa ra định nghĩa nhượng quyền thương mại trong Điều 284 Luật Thương mại như sau: “Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tựmình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:

1. Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổchức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền;

2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợgiúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.”

11Một sốkhái niệm nhượng quyền thương mại trên thế giới. http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/02/27/2397/

34

Như vậy, pháp luật thương mại Việt Nam đã khẳng định nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại do các thương nhân thực hiện nhằm mục tiêu lợi nhuận. Ngoài ra, với khái niệm này, pháp luật Việt Nam đã chỉ ra sự ràng buộc mang tính đặc thù giữa các bên trong quan hệnhượng quyền, như nghĩa vụchuyển giao phương thức kinh doanh cùng với các yếu tố liên quanđến sở hữu trítuệcủabên nhượng quyền đối với bên nhận quyền và nghĩavụchịu sựkiểm soát của bên nhận quyền trước bên nhượng quyền trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh.

Tóm lại, từgóc độthực tiễn cũng như góc độpháp lý đều có thểnhìn nhận nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại đặc thù mà trong đó bên nhượng quyền được phép chuyển giao “quyền thương mại” gắn liền với quyền sửdụng nhãn hiệu, tên thương mại, các yếu tố khác của quyền sở hữu trí tuệ, phương thức kinh doanh, mô hình kinh doanh cùng với danh tiếng và uy tín của mình cho một hoặc nhiều bên nhận quyền độc lập đểcùng nhau kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận và các bên nhận quyền phải chịusựkiểm soát nhất địnhtừbên nhượng quyền đểđảm bảotính đồngbộvà tính hệthống của toàn bộhệthống nhượng quyền.

Có thể nói, dù nhượng quyền thương mại được nhìn nhận dưới góc độ nào, ởnhững quốc gia khác nhau, thì nhượng quyền thương vẫn mạiluônđược xác định với những đặc trưng cơ bản sau đây: (1) Bên nhận quyền được phép sử dụng quyền thương mại mà bên nhượng trao cho bao gồm cả việc kinh doanh dưới cùng một tên

thương mại, nhãn hiệu hàng hóa, khẩu hiệu kinh doanh… (2) Bên nhượng quyền vàbên nhận quyền có sự độc lập về tư cách pháp lý và chịu trách nhiệm độc lập về vấn đềtài chính, hiệu quảkinh doanh trong quá trình kinh doanh theo phương thức nhượng quyền. Cũng bởi lý do này mà pháp luật của hầu hết các quốc gia đều quyđịnh một trong các điều kiện để một chủ thể có thể tham gia vào hệ thống nhượng quyền dướidanh nghĩa bên nhượng quyền hay bên nhận quyền đólà chủthểđó phải là thương nhân. Các thương nhân này tham gia vào hệ thống nhượng quyền cóthể dưới sự hỗ trợ, kiểm soát nhất định của thương nhân nhượng quyền nhưng với

35

một tư cách pháp lý độc lập, tiến hành hoạt động kinh doanh dưới danh nghĩa của mình và tự chịu trách nhiệm với hoạt động kinh doanh đó; (3) Tính thống nhất, tínhđồng bộtrong cách thức tiến hành hoạt động thươngmạicủabên nhượng quyền cũng như bên nhận quyền luôn tồn tại như một đặc trưng cố hữu và không thể thay thế. Điều này xuất phát từ việc các bên trong quan hệ nhượng quyền cùng nhau sửdụng các yếu tố, nội dung của quyền thương mại nên các bên trong toàn hệthống nhượng quyền có thể sẽ được hưởng những lợi ích hoặc phải gánh chịu những rủi ro nhất địnhtừtính thống nhất đặc trưng của toàn bộhệthống nhượng quyền; (4) Nhượng quyền thương mại là sựkết hợp của các hoạt động của các hoạtđộng

thương mại khác như ly xăng, chuyển giao công nghệ, đại lý, phân phối sản phẩm… trong một chỉnh thểthống nhất. Thông thường, các thương nhân có thểthực hiện các hoạt động thương mại kể trên một cách độc lập nhưng trong hoạt động nhượng quyền không thể tìm thấy sự độc lập này. Do đó, có thể coi hợp đồng nhượng quyền thương mại là hợp đồng chuyển giao một tậphợpcác yếu tốsởhữu trí tuệkhông thể tách rời, thể hiện tính chất của các loại hợp đồng li-xăng, chuyển giao công nghệvà đại lý. Đây chính là điểm đặc biệt của hoạt động nhượng quyền thương mại trong tương quan so sánh với các loại hợp đồng thương mại cùng loại khác.

1.1.1.2. Đặc điểm của hoạt động nhượng quyền thương mại

Qua sự phân tích về bản chất hoạt động nhượng quyền đã đề cập trên đây, cóthể thấy nhượng quyền thương mại được đặc trưng bởi một số đặc điểmmà thông qua những đặc điểm này chúng ta có thể dễ dàng phân biệt nhượng quyền với một số hoạt động thương mại khác như sau:

– Thứ nhất, về chủ thể: Trong hoạt động nhượng quyền thương mại điều kiện đặt ra đối với chủ thể tham gia được xem xét trên cả hai bình diện: (1) điều kiện vềthời gian thực hiện việc kinh doanh tối thiểu trên thực tế và (2) điều kiện về tư cách pháp lý của các bên. Đểmột thương nhân có thể: chuyển nhượng “quyền thương mại” của mình cho các thương nhân khác với mục đích thu lợi nhuận thì bản thân thương nhân đó phải có một hệ thống, cơ sở kinh doanh có lợi thế cạnh tranh trên thịtrường hay nói cách khác thương nhân đó phải có một sựthành công và danh

36

tiếng nhất định trên thương trường kinh doanh đủđểcác thương nhân khác thấy rằng kinh doanh dưới thương hiệu và sự nổi tiếng của thương nhân đó là có tính khảthi và đem lại lợi nhuận. Để phần nàođiều kiện đãđề cập trên đây có thể đảm bảo được trên thực tế, pháp luật của hầu hết các quốc gia đều quy định một trong nhữngđiều kiện đối với bên nhượng quyền là phải có thời gian kinh doanh thực tếnhất định đối với hànghóa, dịch vụ trong quyền thương mại. Khoảng thời gian này dài hay ngắn là tùy thuộc vào quan điểm của mỗi quốc gia khác nhau và pháp luật các quốc gia đều thống nhất chỉ quyđịnh vềmột khoảng thời gian kinh doanhthực tếhợp lý của bên nhượng quyền mà không đặtra điều kiện phải có lãi hay phải đạt được một tỷ lệ lợi nhuận nhất định trong thời gian đó kinh doanh đó. Mặc dù trên thực tếviệc bên nhượng quyền kinh doanh có lãi chính là một trong các yếu tốkhẳng định giá trị quyền thương mại và tính khả thi của việc nhượng quyền thương mại đó. Mặt khác, hoạt động nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại đặc thù do đó hoạt động này phải do các thương nhân thực hiện. Điều nàyđãđược hiện thực hóa trong pháp luật các quốc gia khi quy định điều kiện của cả bên

nhượng và bên nhận đều phải là thương nhân – là những đối tượng tiến hành hoạt động thương mại một cách chuyên nghiệp và được nhà nước thừa nhận. Cũng nhưđa phần các hoạt động thương mại khác, thương nhân nhượng quyền muốn tiến hành hoạt động nhượng quyền thương mại đều phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước thông qua cơ chế đăng ký với cơ quan nhà nước có thầm quyền của các bên trong hoạt động nhượng quyền thương mại.

– Thứ hai, về hình thức biểu hiện, hoạt động nhượng quyền thương mại có sựđa dạng nhất định. Hoạt độngnhượng quyền thươngmạibao gồm rất nhiều loại, phân biệt với nhau dựa theo một sốtiêu chí cụthểsau đây: Theo tiêu chí cấp độ, hoạt động nhượng quyềnđược phân loại thành nhượng quyền sơ cấp và nhượng quyền thứ cấp. Trong khi đó, theo tiêu chí lãnh thổ, có thể có nhượng quyền nội địa và nhượng quyền quốctế12 Tính chất đa dạng của nhượng quyền thương mạiphát

12 Vũ Đặng Hải Yến (2009). Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại trong nền kinh

tế thị trường ở Việt Nam. Luận án tiến sỹ Luật học năm 2009

37

triển tỷlệthuận với những lợi ích mà nhượng quyền thương mại đem lại cho các bên trong quan hệ cũng như cho nền kinh tế – xã hội.

-Thứba, vềtínhđồng bộvà tính thống nhất của hệthống nhượng quyền thương mại. Đây là một đặc điểm tồn tại mang tính bản chất, bất biến của hoạt động nhượng quyền. Sởdĩ nhưvậylà vì khi thực hiện hoạt động nhượng quyền các thương nhân muốn tìm đến với một phương thức kinh doanh vừa đạt được mục đích mở rộng, phát triển hệ thống phân phối hàng hóa, dịch vụ đồng thời nhân rộng môhình kinh doanh, phát triển thương hiệu. Để có thể thực hiện điều này thương nhân nhượng quyền chấp nhận đểcác thương nhân khác sửdụng “quyền thương mại” của mình theo hướng chuyển giao toàn bộ “cả gói” baogồmtất cả các yếu tố liên quan đến quyền sởhữu trí tuệ, các bí quyết, phương thức kinh doanh, cung cách phục vụcủa nhân viên, cách thức tổchức hoạt động kinh doanh… trong một thểthống nhất không thể tách rời. Bằng cách này hay cách khác tất cả các yếu tố đó tạo nên nhữngđặctrưng cơ bảncủahàng hóa, dịch vụcũng như cách thức cung ứng của bên nhượng quyền phải được bên nhận quyền lặp lại. Mọi sựsáng tạo, phát triển đối với phương thức kinh doanh mà bên nhận quyền thực hiện không xuất phát

từý chí của bên nhượng quyền hoặc không được sựcho phép của bên nhượng quyền đều có thểdẫn đến việc phá vỡtínhđồng bộ, thống nhất của cảhệthống nhượng quyền. Từ đó, có thể thấy hệ quả và mục đích chính của hoạt động nhượng quyền là hướng tới sự đồng bộ và phát triển hệ thống nhượng quyền tới mức khách hàng không thể nhận ra các thương nhân trong hệ thống nhượng quyền là những cơsởkinh doanh độc lậpmà chỉnhận biết sựkhác nhau của các hệthống nhượng quyền thông qua các sản phẩm mà họcung ứng. Vì vậy, tính đồng bộ, hệthống chính là đặc trưng cơ bản và quan trọng trong quan hệ nhượng quyền thương mại. Đâychính là một trong những mục tiêu quan trọng nhất mà các bên, nhất là bên nhượng quyền hướng tới trong khi thiết lập các quan hệ nhượng quyền thương mại với các bên nhận quyền khác.

Thứ tư, về đối tượng chuyển giao trong hoạt động nhượng quyền:Đối tượngđược các bên chuyển giao trong hoạt động nhượng quyền chính là “quyền thương

38

mại”, do bên nhượng quyền xây dựng và sáng tạo. Quyền thương mại được các bên chuyển giao thông qua hợp đồng nhượng quyền, đâylà một khái niệm mang tínhđộng với nội dung có sự thay đổi và phát triển rất phong phú: Từ khi ra đời chođến nay, nội dung của hoạt động nhượng quyền đã có sựbiến đổi từhàng tiêu dùng, dịch vụ, dịch vụ chuyên môn, dịch vụ đặc biệt (thuộc Chính phủ), cho đến phương

thức kinh doanh…13 Có thể khẳng định đây là một khái niệm mở, cho phép các bên trong những mối quanhệcụthểhoặc nhữnghệthống nhượng quyền nhấtđịnhtựmình sáng tạo và xác định nội dung phù hợp với sản phẩm mà họ cung ứng trên thịtrường. Với bảnchất là hoạt độngchuyển giao “sựnổitiếng”(nhưng không làm mất đi quyền sở hữu) dưới dạng mô hình, phương thức kinh doanh cho thương nhân khác để mở rộng mạng lưới và cùng nhau thu lợi nhuận trên thị trường, thương nhân nhượng quyền phải đầu tư công sức và một sự sáng tạo không hề nhỏ để có thể tạo nên sự độc đáo trong mô hình kinh doanh của mìnhđể tănggiá trị thương hiệu vàtăng nhucầuđược nhận chuyển nhượng quyền thươngmạicủacác thương nhân khác. Kết tinh của toàn bộsựsáng tạo ấyđã cấuthành nênnộidung củaquyền

thương mại – đối tượng mà bên nhượng quyền chuyển giao cho bên nhận quyền. Vìvậy, mặc dù là một khái niệm có tính chất động nhưng có thể khẳng định nội dung của quyền thương mại chủ yếu gắn liền với các yếu tố sở hữu trí tuệ – kết quả của sựsáng tạo. Quyền thương mại cóthể chỉ đơngiản là những yếu tố sở hữu trí tuệ nhưtên thương mại, nhãn hiệu, công nghệ sản xuất, bí quyết kinh doanh hay có thể là sựtổng hợp của tất cả các yếu tố của quyền sở hữu trí tuệ để bên nhận quyền có thể sử

dụng và tạo ra những sản phẩm mà bên nhượng quyền cung ứngra thịtrường. Trong một bối cảnh mà Luật Thương mạichưa có một định nghĩa chính thứcvềquyền thương mại và văn bản dưới luật cũng chưa mô tả một cách chính xác về đối tượng này thì việc xác định nội hàm khái niệm này chủ yếu phụ thuộc vào ý chí của các bên trong một quan hệ nhượng quyền nhất định. Tuy nhiên tính chất “tổng hợp”

13 Vũ Đặng Hải Yến (2009). Những vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật điều chỉnh nhượng quyền thương mại trong nền kinh

tế thị trường ở Việt Nam. Luận án tiến sỹ Luật học năm 2009

39

hay “kết hợp”giữa các quyền sở hữu trí tuệ và các yếu tố khác cấu thành nên quyền thương mại trong hoạt động nhượng quyền là một đặc tính tạo nên sự khác biệt rõ

rệt của hoạt động này với các hoạt động thương mại tương tựkhác. Tóm lại,đối tượngcủaquan hệ nhượng quyền thương mại là một chỉnh thể thống nhất bao gồm nhiều yếu tố kết hợp liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt đối với tên thương mại hoặc nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ thuộc sở hữu của thương nhân nhượng quyền.

1.1.1.3. Phân biệt hoạt động nhượng quyền thương mại với các hoạt động thương mại khác

Có thể nói, ở một chừng mực nhất định, nhượng quyền thương mại có nhữngđặc điểm khá tương đồng với các hoạt động li xăng, chuyển giao công nghệ, ủy thác mua bán hàng hóa hayđại lý. Tuy nhiên, bên cạnh những nét tương đồng đó, nhượng quyền thương mại, với bản chất là một hoạt động thương mại đặc thù, vẫn mang những đặc điểm riêng giúp đặc định hoạt động này với các hoạt động thương mại khác. Việc đặc định nhượng quyền thương mại so với các hoạt động thương mại khác được nhìn nhận từ góc độ pháp luật và góc độ thực tiễn như sau:

-Thứ nhất, nhượng quyền thương mại không giống với việc bán doanh nghiệp, chuyển nhượng hoàn toàn cơ sở kinh doanh. Điểm khác biệt cơ bản giữa hai hoạt độngnày là ởkết quảpháp lý của chúng. Việc chuyển nhượng hoàn toàn thương hiệu, quyền kinh doanh một hàng hóa, dịchvụ nhất địnhsẽ đưa đến một kết quả pháp lý là bên chuyển nhượng sẽ chấm dứt việc kinh doanh hàng hóa, dịchvụđó. Trong khiđó,kết quả pháp lý của hoạt động nhượng quyền sẽ là cả bên nhượng quyền và bên nhận quyền cùng song song tồn tại và kinh doanh hàng hóa, dịch vụđó dướicùngmộttên thương mại, nhãn hiệu, mô hình kinh doanh, phương thức kinh doanh của bên nhượng quyền.

-Thứhai, nhượng quyền thương mại khác với hoạt động ủythác mua bán hàng hóa: Trên thực tế, có không ít chủthểnhầmlẫnhai hoạt động này với nhau nhưng hai hoạt động này khác biệt cảvềđốitượng, phạm vi và tính chất chuyển giao. Ủy thác mua bán hàng hóa là việc bên nhận ủy thác thực hiện công việc mua bán hàng hóa với danh nghĩa của mình với những điều kiện đã thỏa thuận với bên

40

ủy thác và được nhận thù lao. Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa không bắt buộc phải chuyển giao các đối tượng sởhữu công nghiệp, quy trình kinh doanh, huấn

luyện… cũng như không tồn tại nghĩa vụkiểm soát/hỗtrợkinh doanh toàn diện, chặt chẽ giữa các bên như nhượng quyền thương mại.14

– Thứ ba, với quan hệ đại lý thương mại, nhượng quyền thương mại khác biệt chủ yếu ở trách nhiệm phân minh giữa các bên đối với kết quả kinh doanh và rủi ro trong kinh doanh. Trong hoạt động đại lý thương mại, bên giao đại lý chuyển giao hàng hóa cho bên đại lý nhưng lại giữ lại quyền sở hữu đối với hàng hóa đó hay nói cách khác bên đại lý chỉ là bên “bánhộ” bêngiao đại lý để hưởng thù lao. Do đó, mọi hư hỏng đối với hàng hóa hay rủi ro thua lỗ trong kinh doanh về cơ bản sẽ do

bên giao đại lý –chủsởhữu của hàng hóa đó gánh chịu. Trong khi đó, các bên trong quan hệnhượng quyền thực hiện việc kinh doanh mộtcáchđộc lập, không bên nào “bán hộ” hàng hóa cho bên nào. Vì vậy, giữa các bên có sự độc lập về trách nhiệm tài chính cũng như trách nhiệm đối với các rủi ro, thua lỗ trong kinh doanh. Trên thực tế, nếu bên nhượng quyền hoặc bên nhận quyền kinh doanh thua lỗ, không có khách hàng hoặc có rủi ro đối với hàng hóa của mỗi bên không liên quan trực tiếp đến bên kia, trừkhi những sựkiệnđó liên quan trực tiếpđến những vi phạm nghĩa vụtrong hợp đồng nhượng quyền. Do đó, vềbảnchất, trong quanhệnhượng quyền thương mại, các bên chỉcùng nhau kinh doanh dướicùng một tên thương mại.

– Thứ tư, so với hoạt động chuyển giao công nghệ, nhượng quyền thương mại cũng mang nhiều nét khác biệt. Vềmục đích chuyển giao công nghệ là hoạt động nhằm chuyển giao quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu công nghệ, bí quyết kỹ thuật để ứng dụng vào quy trình sản xuất kinh doanh. Trong khi đó, mục đích của nhượng quyền thương mại là mở rộng hệ thống phân phối sản phẩm của bên nhượng quyền bằng phương thức chuyển giao quyền thương mại| bao gồmcảviệc chuyển giao

14 Nguyễn Hải Vân, Nhượng quyền thương mại– nhận diện sựkhác biệt với một số hình thức kinh doanh khác

http://www.vietfranchise.com/index.php?Module=Content&Action=view&id=284&Itemid=15

41

nhãn hiệu, tên thương mại, công nghệ, bí quyết kinh doanh…Bên cạnh đó, về điều kiện chủ thể, trong hoạt động chuyển giao công nghệ bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao có thể là bất kỳ cá nhân nào trong xã hội sở hữu một công nghệ nhất định, có nhu cầu bán lại nó hoặc có mục đích ứng dụng công nghệđó vào kinh doanh. Do đó, pháp luật các quốc gia khôngđặt ra điều kiện đối với bên chuyển giao và bên nhận chuyển giao công nghệ. Trong khi đó,đối với hoạt động nhượng quyền thương mại, đểđảmbảo hoạt động này có tính khảthi và hiệu quả, thông thường, pháp luật củacác quốc gia đều yêu cầu các bên trong quan hệnhượng quyền phải hội tụđược một sốđiều kiện nhất định như phải là thương nhân, bên nhượng quyền phải có thời gian kinh doanh thực tế và bên nhận quyền phải có đăng ký kinh doanh phù hợp vớiquyền thương mại được chuyển giaotừbên nhượng

quyền…. Ngoài ra, giữa hai hoạt động này còn có điểm khác biệt rất lớn về quyền và nghĩa vụcủa các bên trong quan hệ. Đối với chuyển giao công nghệ, bên nhận chuyển giao có quyền sử dụng công nghệ được chuyển giao để sản xuất ra hàng hóa của mình và hoàn toànđược phép lựa chọngiữnguyên công nghệđó đểáp dụng hoặc sáng tạo, phát triển công nghệ đó theo hướng tích cực mà không phụ thuộc vàoý chí của bên chuyển giao. Đối với hoạt động nhượng quyền thương mại, bên nhận quyền chỉ được phép sử dụng quyền thương mại bao gồm công nghệ, bí quyết màbên nhượng quyền chuyển giao theo những điều kiện nhất định.

-Thứnăm, giống với chuyển giao công nghệ, li-xăng cũng là một hoạt động có nhiều điểm tương đồng với hoạt động nhượng quyền thương mại. Tuy nhiên li- xăng và nhượng quyền thương mại mang những đặc trưng khác biệt như sau: Một là, hoạt động li-xăng là hoạt động thương mại, theo đó chủsởhữu chuyển giao quyền sử dụng đối với các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp như nhãn hiệu,

tên thương mại, kiểu dáng công nghiệp, bí mật kinh doanh…cho bên có nhu cầu sửdụng để thu phí. Sau đó bên nhận có quyền sử dụng các đối tượng được li-xăng vào hoạt độngkinh doanh của mình. Như vậy, so với nhượng quyền thương mại, hoạt động li-xăng là hoạt động chuyển giao quyền sử dụng đối tượng của quyền sở hữu trí tuệnhư nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp hay sángchếmột cách tách rời, độc

42

lập, Trong khi đó nhượng quyền thương mại là hoạt động chuyển giao một tập hợp các quyền với đốitượng sởhữu trí tuệmà chúng cómốiquan hệnhuần nhuyễn, chặt chẽ với nhau không thể phân tách. Khác biệt rõ rệt ở đây chính là mối liên hệmật thiết tạo nên một chỉnh thể thống nhất của các đối tượng được các bên chuyển giao trong nhượng quyền thương mại so với hoạt động li-xăng. Hai là, tùy thuộc vào sự thỏa thuận của các bên, bên được li-xăng có quyền sử dụng các đối tượng li- xăng để gắn vào hàng hóa, dịch vụ của mình một cách tự do mà không phụ thuộc vào ý chí của bên li-xăng. Trong khi đó, bên nhận quyền phải sửdụng quyền thương mại mà bên nhượng trao cho theo những điều kiện và yêu cầu nhất định một cách chặt chẽ và phải chịu sự kiểm tra, giám sát của bên nhượng quyền.

1.1.1.4. Vai trò của hoạt động nhượng quyền thương mại

Xuất phát từbản chất và cơ chếhoạt độngcủa phương thức kinh doanh nhượng quyền thương mại, có thể thấy hoạt động thương mại đặc thù này không chỉmang lại những lợi ích to lớn cho bản thân các bên trực tiếp tham gia quan hệ màcòn góp phần nhất định vào sựtồn tại và phát triển của nền kinh tếmột quốc gia. Bên cạnh đó, nhượng quyền thương mại cũng có thểmang lại những rủi ro nhất định cho các bên tham gia cũng nhưđối vớinền kinhtế- xã hội. Tuy nhiên, tựu chung lại, những tác động tích cực mà hoạt động này mang lại vẫn chiếm ưu thế so với những tác động tiêu cực của nó đối với nền kinh tếnói chung và các chủthểtrong quan hệnói riêng, do vậyđâyvẫn là sựlựa chọn phổbiến của các thương nhân khi tiến hành hoạt động tìm kiếm lợi nhuận và ngày càng trở thành hoạt động kinh doanh thịnh hành trong những năm gần đây đặc biệt là tại Việt Nam.

1.1.1.4.1.Đối với bên nhượng quyền.

Là thương nhân sáng tạo và đảm bảo cho sự tồn tại cũng như phát triển của một hệthống nhượng quyền nên thương nhân nhượng quyền nhận được nhiều lợi ích thiết thực từ hoạt động này. Cụ thể:

Trước hết, khi tiến hành hoạtđộng nhượng quyền, thương nhân nhượng quyền sẽthực hiện được mục đích mởrộng thịtrường và hệthống phân phối của mình. Trong quá trình kinh doanh, đểthực hiện mụctiêu khẳng định vịthếcủa

43

mình trên thương trường cũng như tối đa hoá lợi nhuận, thương nhân nói chung cũng như thương nhân nhượng quyền nói riêng, luôn có nhu cầu mở rộng mạng lưới phân phối. Nếu các thương nhân khác sẽ lựa chọn các hình thức như tự mình đầu tưmởrộng hệthống phân phối bánlẻthông qua các đại lý thì các thương nhân nhượng quyền sẽthực hiện mục tiêu này thông qua việc hình thành hệthống nhượng quyền thương mại. Điều đó có nghĩa là thông qua các thương nhân nhận quyền, hệthống nhượng quyền sẽđược mởrộng, mạng lưới cung cấp sản phẩm, dịch vụcủathương nhân nhượng quyền sẽđược phủkhắp trong khi họlại không phải đầu tư chi phí cho hoạt động này. Bởi lẽ, các thương nhân nhận quyền khi tham gia vào hệ thống nhượng quyền thương mại đều là những thương nhân độc lập vềtài chính và tư cách pháp lý, họphải tựmình đầu tư toàn bộcơ sởvật chất đểchuẩn bị cho việc nhận quyền thương mại mà bên nhượng quyền trao cho. Do đó, các thương nhân nhượng quyền có thểmởrộng mạng lưới phân phối, nâng cao vịthế của thương hiệu một cách hoàn toàn “miễn phí” hay nói cách khác họ thực hiện

mởrộng quy mô kinh doanh thông qua việcđầu tư tài chính của chủthểkhác–thương nhân nhận quyền. Trong quan hệ này, thương nhân nhượng quyền có thể đạt được hai mục đích: mở rộng mạng lưới và tiết kiệm được chi phí trong kinh doanh

Không chỉ mở rộng được quy mô kinh doanh, tiết kiệm được chi phí, nhượng quyền thương mại còn giúp thương nhân nhượng quyền tối đa hoá được lợi nhuận trong quá trình kinh doanh. Lợinhuậnđó bao gồmcác khoản phí mà bên nhượng quyền thu đượctừhoạt độngnhượng quyền thươngmạiđến từrất nhiều nguồn khác nhau: (i) phí nhượng quyền lần đầu, (ii) phí nhượng quyền duy trì, (iii) phần

trăm doanh thu hàng năm…

Thêm vào đó, thương nhân nhượng quyền còn đảmbảo được quyền kiểm soát của mình đối vớihoạt độngkinh doanh của bên nhận quyền. Vấn đềnày rất quan trọng, bởi lẽ mục tiêu xây dựng được một mạng lưới kinh doanh rộng rãi của bên nhượng quyền sẽ không còn có ý nghĩa nếu như họ không duy trì sự tồn tại ổn định và phát triển của hệ thống kinh doanh này. Muốn thực hiện được điều này, họphải có được sự kiểm soát nhất định đối với mạng lưới kinh doanh mà mình đã thiết

44

lập. Với đặc trưng bản chất của hoạt động nhượng quyền thương mại là tính đồng bộvà không thểphân biệt trong toàn hệthống nhượng quyền, nên bên nhượng quyền hoàn toàn có thể thiết lập quyền kiểm soát của mình đối với hoạt động kinh doanh của bên nhận quyền: từ quá trình giao kết hợp đồng nhượng quyền cho đến khi tiến hành hiện thực hoá những điều khoản đóvà cảquá trình sau khi thương nhân nhận quyền đã trở thành một chủ thể tham gia trực tiếp vào hệ thống nhượng quyền thương mại(kiểm tra, giám sát quá trình cung ứng sản phẩm của bên nhận quyền).

Tuy nhiên, bên cạnh nhiều ý nghĩa tích cực mà hoạt động nhượng quyền thương mại mang lại cho các thương nhân nhượng quyền thì các chủ thể này cũng phải đối mặt với những tác động mang tính tiêu cực không nhỏ. Đầu tiên, có thể kể

đến nguy cơ bịxâm phạmđối tượng chuyển giao –quyền thương mại mà bên nhượng quyền đã trao cho bên nhận quyền. Không dừng lại ở đó, nguy cơ đổ vỡ của hệ thống nhượng quyền là rủi ro nghiêm trọng mà bên nhượng quyền thương mại cóthể phải đối mặt khi lựa chọn phương thức này.

Do đó, khi lựa chọn phương thức kinh doanh này, thương nhân nhượng quyền hoàn toàn có thểdựkiến được những lợi thếvà những rủi ro mà nhượng quyền thương mại có thể mang lại. Vấn đề mấu chốt là họ có thể áp dụng các biện pháp kiểm soát hợp lý, để có thể vừa phát huy tối đa những lợi thế và hạn chế triệt đểnhững rủi ro có thểgặp phải trong quá trình kinh doanh. Góp phần không nhỏvào việc này là sựhoàn thiện của hệthống pháp luậtvềhoạt động nhượng quyền của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

1.1.1.4.2. Đối với bên nhận quyền

Khi tham gia vào hệthống nhượng quyền với tư cách là bên nhận chuyển giao quyền thương mại từ bên nhượng quyền, bên nhận quyền cũng có thể tận dụngđược rất nhiều lợi thế mà phương thức kinh doanh này mang lại. Bên nhận quyền sẽtiết kiệm đượckhá nhiều thời gian và chi phí cho việc xây dựng một chiến lược kinh doanh, thiết kế một mô hình kinh doanh cũng như gây dựng tên tuổi và thương hiệu trên thịtrường. Bởi lẽtất cảnhững quá trình nàyđều đãđược bên nhượng

45

quyền tiến hành và trao cho bên nhận quyền thànhquảlà sựthành côngcủahọthông qua hợp đồng nhượng quyền thương mại. Bên cạnh lợiích có được từviệc tiết kiệm thời gian, chi phí trong quá trình gia nhập thị trường, thông qua hợp đồng nhượng quyền, bên nhận quyền còn có thể hạn chế được tối đa những đổ vỡ, rủi ro của những thương nhân mớitìm kiếm chỗđứng trên thương trường. Bởilẽ,lựa chọn trở thành một phần trong hệ thống nhượng quyền thương mại, là họ cùng chia sẻ danh tiếngcủa cả hệ thốngnhượng quyền với các thương nhân khác. Đồng thời họcũng có thểtận dụng được hiệu ứngđámđông mà các thương nhân trong hệthống nhượng quyền đã tạo lập được. Ngoài ra, bên nhận quyền còn có thểnhận được sựhỗtrợtừphía thương nhân nhượng quyền trong việc xây dựng mô hình

kinh doanh, đào tạo nhân viên, bài trí cửa hàng… Tuy nhiên, khi lựa chọn nhượng quyền thương mại, thương nhân nhận quyền cũng có thể phải tiếp nhận những tácđộng, hạn chếcủa hoạt động thương mại đặc biệt này mang lại.Đó là những tácđộng tiêu cực đến từ sự kiểm soát toànbộ hệ thốngcủa bên nhượng quyền thương mại. Sự hiện diện của các cam kết trong hợp đồng nhằm mục đích kiểm soát sẽ làm hạn chế quyền tự do cạnh tranh, tự do sáng tạo và thậm chí là tự do kinh doanh ngay cảkhihợpđồngnhượng quyền đã chấm dứt hiệu lực. Như vậy, tương tựbên nhượng quyền, nhượng quyền thương mại có thểđem lại khá nhiều lợi ích và tácđộng tích cực cho bên nhận quyền, đồng thời cũng có thể mang tới một vài tác động mang tính hạn chế cho bên này trong quá trình kinh doanh trên thực tế.

1.1.1.4.3. Đối với nền kinh tế

Xuất pháttừnhững ýnghĩa hếtsức tích cực đối vớicác bên tham gia hệthống của hoạt động nhượng quyền thương mại nhưđã đề cập ở phần trên của luận án, có thểnhận thấy hoạt độngthươngmạiđặc thù nàyđã trởthành mộtphương thức kinh doanh được các thương nhân ngày càng ưa chuộng. Tại các quốc gia phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, các thương nhânđều thực hiện mục tiêu mởrộng mạng lưới kinh doanh thông qua phương thức kinh doanh nhượng quyền. Do vậy, người tiêu dùng ở các quốc gia khác nhau đều có cơhội tiếp cậnvới mạnglưới kinh doanh, phân phối rộng lớn, chuyên nghiệp dưới

46

dạng hệthống nhượng quyền thương mại. Đặc biệt đối với người tiêu dùng ởcác nước đang phát triển, đây là cơ hội để họ có thể làm quen và sử dụng hàng hoá, dịch vụ của các thương hiệu lớn, uy tín và chất lượng trên thế giới. Bên cạnh đó, sự hiệu quảvà an toàn trong quá trình kinh doanh từphương thức kinh doanh nhượng quyền thương mại giúp cho các thương nhân mạnh dạn và an tâm hơn trong quátrình lựa chọn phương thức tìm kiếm lợi nhuận của mình. Điều này góp phần thúcđẩy họ thực hiện các hoạt động thương mại trên thị trường, làm cho thị trườngtrởnên sôi động hơn. Nền kinh tế của mỗi quốc gia cũng trở nên năng động và mang tính kết nối trong bối cảnh có sự tồn tại và phát triển của hoạt động nhượng quyền thương mại. Bên cạnh đó, xét từgóc độđầu tư, hoạt động nhượng quyền thương mại cũng trởthành một kênh đầu tư hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước, góp phần làm cho thị trường đầu tư của mỗi quốc gia trở nên sôi nổi và phong phúhơn. Mặt khác, nhượng quyền thương mại cũng có thể có những tác động tiêu cực đến nền kinhtế- xã hội của một quốc gia. Trước hết, nếu có sựđổvỡtrong quátrình kinh doanh là sựđổvỡcủa cảmột hệthống phân phối hàng hoá, dịch vụvàảnh hưởng tiêu cực đến tình hình kinh tế – xã hội của một quốc gia cũng sẽ nặng nềhơn. Thêm vào đó, đốitượng chuyển giao mà các bên trao cho nhau đểtiến hành nhượng quyền thương mại được cấu thành chủ yếu bởi các yếu tố sở hữu trí tuệ – dễbịxâm hại, đặc biệt trong quan hệnhượng quyền. Do vậy, đâycũng là một hoạt động tiềm ẩn sự xâm phạm nghiêm trọng các đối tượng mà Luật Sở hữu trí tuệ bảo hộ, điều này đòi hỏi pháp luật sở hữu trí tuệ ở mỗi một quốc gia phải có những quyđịnh đủ sức mạnh bảo vệ cho quyền lợi chính đáng của các bên tham gia vào hoạt động thương mại đặc thù này. Ngoài ra, từ góc độ của nhà nước, các quốc gia đều nhận thức được tầm quan trọng, vai trò của nhượng quyền thương mạiđốivớisự

tồn tại và phát triển của nền kinh tếbằng việc ghi nhận hoạt động này trong pháp luật của mỗi quốc gia như một hoạt động thương mại đặc thù, hiện đại với cơ chếđiều tiết khác hẳn với các hoạt động thương mại truyền thống trước đó. Tuy nhiên, xu thế phát triển của hoạt động này ở mỗi quốc gia như thế nào còn tuỳ thuộc vào

47

quan điểmcủa nhà nước đó trong cách đánh giá vai trò của nó từgóc độcủa bên nhượng quyền hoặc bên nhận quyền

1.1.2. Khái niệm đối tượng chuyển giao trong hợp đồngnhượng quyền thương mại

1.1.2.1. Định nghĩa đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐỐI TƯỢNG CHUYỂN GIAO TRONG HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI

Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại Hoàn thiện pháp luật điều chỉnh đối tượng chuyển giao trong hợp đồng nhượng quyền thương mại

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *