Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trên phương diện nhận thức luận, quyền lực nhân dân trong mọi xã hội hiệnđại đều có thể và cần thiết thể hiện theo hai phương thức: dân chủ đại diện, dân chủtrực tiếp và thực hiện trên các phạm vi không gian của đất nước. Điều đó bao hàm cách hiểu, nhân dân – với vị thế chủ thể quyền lực, có thể trao quyền cho cá nhân hay tổ chức đại diện cho mình để thực hiện quyền lực nhân dân đồng thời nhân dân cũng có thểtựmình bàytỏý chí của mình để trực tiếp thực hiện quyền lực nhân dân. Nói cách khác, mặc dù làm chủ thông qua con đường nhà nước là phương thức làm chủ thông dụng và hữu hiệu nhưng nhân dân không thể trao hết quyền lực cho nhà nước. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, Nhà nước luôn vấp phải những lỗi hệthống và nhân dân luôngặpkhó khăn trong việc kiểm soát hoạtđộngcủacác cơquanĐảngvà Nhànướcnhằmđảmbảoquyềnlựcnhân dân. Vì vậy, nhân dân khôngthểđặtcượctoànbộvào nhànước.Nhân dân phảitựmình – thông qua những hình thức khác nhau, trực tiếp thực hiện quyền của chủ nhân quyền lực. Điều này thể hiện rõ nét nhất tại địa bàn cơ sở. Cách đặt vấn đề đó đã chỉ ra nhu cầu phải tìm kiếm căn cứ lý thuyết để tạo khung tư duy cho việc xác lập các cơ chế bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân, trong đó – như một tất yếu – có cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở.

Trên phương diện thực tiễn, Đảng ta luôn coi trọng nhân dân, luôn xác định vị thế chủ thể quyền lực của nhân dânvà phấn đấuvì lợi ích của nhân dân. Trong quá trình đổi mới, tính pháp quyền của Nhà nước, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa

(XHCN)đãtừngbước đượcxây dựng, củngcố.Bướctiếnđóđãcókhảnăng thâm nhập sâu rộng vàomọilĩnh vực hoạtđộngcủa Nhà nước, vào đời sống xã hội trên nhiều vùng của đất nước, đang tạo ra những mô hình, những điển hình có sức lan tỏa lớn. Tuy nhiên, trong thực tế, cơ chế bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân vẫn đang tồntạinhữngbấtcập.Mộtmặt, tuy Hiến pháp 2013đã có những thay đổi quan trọng trong ghi nhận chủ quyền nhân dân và các cơ chế thực thi dân chủnhưng trên thực tế, quá trình triển khai thi hành Hiến phápmớiđượckhởi

2

động, mặtkhác, dân chủ cơ sở ở nước ta chưa được phát huy đúng mức – xétcả ởgóc độnhận thức cũng nhưở hiện thựccủacác hình thức và cơ chế đảmbảo quyền tham gia và quyếtđịnhtrực tiếpcủanhân dân đối với cácvấn đề của địa phương và đất nước. Trong suốt những nămđổimớivừa qua, để đảm bảo tính an toàn và ổnđịnhxã hội, quá trình phát huy dân chủ ở nước ta vẫn căn bản dựa trên cơ sở chiêm nghiệm thực tế, vừa làm vừa đúc rút lý luận và kinh nghiệm, do vậy tính tổng thể, tính đồng bộ, tính phù hợp và hiệu quả còn bị hạn chế. Đặc biệt, tạiđịa bàn cơsở,tình trạng vi phạm dân chủ vẫn là hiện tượng tươngđối phổbiến. Đi kèmvớinó là trạng thái suy giảm lòng tin của dân chúng và hiệu ứng ngược đối với năng lực thực hành dân chủ của nhân dân. Những nỗ lực phát huy dânchủở cơ sở trong những nămgầnđâyvẫn chưa phát huyhếtđượctác động thựctế.Các cơ chế, hình thức thực thi dân chủ của người dân và các cơ chế bảovệ, bảođảm quyền dân chủ của người dân ở cơ sở vẫn có không ít khoảng trống về mặt lý luận và thiết kế pháp lý. Nhìn một cách tổng thể, phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” tại cơ sở vẫn chưa có được những căn cứ chính trị và pháp lý vững chắc cho việc thực hiện nhất quánđể mộtmặtbảo đảmvai trò và sứ mệnh lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội của Đảng, quyền làm chủ của nhân dân, hiệu

lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, mặt khác, bảo đảmđểcó sự cầm quyền và thực thi quyền lực chính đáng, hợp hiến vì nhân dân, ngăn chặn có hiệu quả mọi biểu hiện của sự lạm dụng quyền lực và nguy cơ phát triển chệchhướng, vượtra ngoài quỹ đạo phục vụ nhân dân.

Nhu cầu khắc phục tình trạng nói trên đã được Đảng và Nhà nước ta nhận thức rất rõ. Nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề lý luận và tổng kết thực tiễn để hình thành một chủ thuyết đầy đủ về chủ quyền nhân dân, trên cơ sở đó xác lập cơ chếhữu hiệu đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, tăng cường các cơ chế, hình thứcđảm bảo phát huy dân chủ cơ sở, giải quyết các mối quan hệ giữa quyền làm chủ

trực tiếp của người dân với các thiết chế thuộc hệ thống chính trị cơ sở… đã được xácđịnhlàmộtyêucầucấpbách vàtrởthànhmộtđịnhhướngquan trọng trong nghiên cứu khoa học và được đặt trong bối cảnh đổi mới chính trị hiện nay nhằm khơi thông một cách tiếp cận và quảng bá xã hội về quyền của người dân, về khả

3

năng nhân dânđượclàm gì và làm nhưthếnàođểbảovệvà thực thi quyền lực nhân dân trongmộttrậttựnhànước pháp quyền.Đặcbiệt, thực hiệntốtvàđẩy mạnh dân chủ cơ sở không chỉ đơn thuần là một phản ứng chínhtrị của Đảng vàNhà nước trước tình hình phức tạp của những điểm nóng ở cơ sở mà còn thể hiện cái nhìn hướng tới cơ sở, coi trọng cái gốc ở cơ sở, do vậy mang tính chiến lược, căn bản, lâu dài. Theo hướng đó, trên từng bình diện cụ thể, nhiều đề tài nghiên cứuđã được triển khai. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu đến nay vẫn chưa phúc đáp được yêu cầu.

Trong bối cảnh đó, rất cần thiết phải tiến hành nghiên cứu theo hướng làm sâu sắc thêm về mặt lý luận, tổng kết thực tiễn và định hình một cách cơ bản, đồng bộ, có hệ thống về các giải pháp tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở gắn với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, thúc đẩy và bảo vệ các quyền cơ bản của con người ở Việt Nam. Bối cảnh triển khai Hiến pháp năm 2013 hiện nay càng khiến cho chủ đề này trở nên cấp bách.

Như vậy, có thể khẳng định, trong tình hình hiện nay việc lựa chọn nghiên cứuchủđề“Hoàn thiện cơ chếpháp lý thực hiện dân chủcơsởởViệt Nam hiện nay” trong quy mô của một luận án tiến sĩ và dưới góc độ tiếp cận của khoa học pháp lý là rất cần thiết, xét cả từ góc độ lý luận và góc độ thực tiễn.

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích tổng quát của luận án là xây dựng luận cứ khoa học cho các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam, góp phần phát huy dân chủ, bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Nghiên cứu làm sáng tỏ nhận thức về dân chủ cơ sở; xác định khái niệm,đặc điểm, các yếutố cấu thành và vai trò của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơsở ở Việt Nam hiện nay.

– Nhận diện các tiêu chí hoàn thiện và các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam.

4

– Đánh giá thực trạng cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ ở cơ sở ở Việt Nam. Xác định và phân tích các nguyên nhân của ưu điểm và hạn chế của cơ chế pháp lýthực hiện dân chủ cơ sở hiện nay.

– Xác định các quan điểm và đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện cơ chếpháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam trong giai đoạn tới.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

– Các khía cạnh lý luận về hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở. – Hệ thống pháp luật và thực hiện pháp luật về quyền dân chủ, các hình thức,

phương pháp, trình tự, thủ tục thực hiện dân chủ tại cơ sở.

– Hệ thống pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế thực thi dân chủ tại cơ sở.

– Các điều kiện, yếu tố tác động đến quá trình hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Phạm vi không gian: Cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở là một phạm trù có nội hàm rộng, khó có thể giải quyết thấu đáo trong quy mô của luận án tiến sĩluật học.

Vì vậy, luận án triển khai nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng thể chế, thiết chế và các điều kiện đảm bảo thực hiện dân chủ cơ sở trên không gian cả nước nhưng chỉ giới hạn ở đơn vị hành chính – lãnh thổ cấp cơ sở. Khái niệm thực hiện dân chủ cơ sở – đối tượng nghiên cứu của đề tài – được xác định là việc thực hiện dân chủ tại loại hình cơ sở xã, phường, thị trấn (chủ yếu là xã – đơn vị hành chính cơ sở phổ biến ở nước ta hiện nay), không bao hàm việc thực hiện dân chủ trong các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức nhà nước tại cơ sở.

– Phạm vi thời gian:

Luận án triển khai nghiên cứu quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam từ sau khi Bộ Chính trị (khóa VIII) cóChỉ thịsố 30/CT-TWcủaBộ Chính trị ngày 18/2/1998 về xây dựng và thực hiện quychếdân chủ ở cơsở.Trực tiếp là từkhi Chínhphủcó Nghịđịnhsố

5

29/1998/NĐ-CP ngày 28/5/1998 về việc ban hành quy chế thực hiện quy chế dân chủ cơ sở đến 2015.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận của luận án

Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu luận án là lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, chủ quyền nhân dân và bản chất của dân chủ XHCN, về chức năng nhiệm vụ của hệ thống chính trị cơ sở, về vịtrí vai trò của các tổ chức quần chúng, về đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máyĐảng và Nhà nước theo hướng phục vụ nhân dân và bảo đảm quyền lực nhân dân.

Luận án trực tiếpdựatrên những quanđiểmvàđịnhhướngcác nhiệmvụchính trị được đề cập trong các Văn kiện Đại hội VIII, IX, X, XI của Đảng về tiếp tục phát huy dân chủ, đổi mới hệ thống chính trị, về chiến lược phát triển bền vữngở Việt Nam, về tiến bộ và công bằng xã hội, về xây dựng hệ thống pháp luật đồng

bộ, minh bạch, đảm bảo các quyền con người, quyền công dân…

Luận án cũngdựatrên cách tiếpcậnnghiêncứucủamộtsốlý thuyếtphổbiến hiện nay trên thế giới như: lý thuyết về chủ quyền nhân dân, học thuyết nhà

nước pháp quyền, học thuyết về quyền con người…

4.2. Phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến hiện nay của khoa học pháp lý, trong đó chú trọng các phương pháp: phân tích và tổng hợp, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, lý thuyết hệ thống. Ngoài ra luận văn còn sử dụng một sốphương pháp cụ thể như thống kê, so sánh, điều tra xã hội học, lịch sử…

Do tính chất liên ngành của đề tài, luận án có chú ý thích đáng đến cách tiếp cận đa ngành, liên ngành khoa học xã hội trên cơ sở lát cắt chủ đạo của khoa học pháp lý và khoa học chính trị.

Chương 1 sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp phân tích tài liệuthứcấpnhằmkếthừa các kếtquảnghiên cứuđãcó, phân tích, tổng hợp, khái quát thành quan điểm riêng của tác giả.

Chương 2 sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp trên cơ sở quanđiểm biện chứng của triết học Mác-Lênin.

6

Chương 3 sử dụng phương pháp lịch sử, phân tích, so sánh, điều tra xã hội học, đánh giá thực hiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở các tỉnh, thành phố trong cả nước.

Chương 4 sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, lý thuyết hệ thống nhằm phát hiện mối liên hệ giữa bối cảnh, điều kiện với các yêu cầu phát huy dân chủ cơsở; bảo đảm tính tổng thể và khoa học của các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lýthực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay.

5. Đóng góp mới của luận án

Đâylà công trìnhđầu tiên nghiêncứuvềhoàn thiện cơchếpháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay. Tác giả luận án phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễnvềcơchếpháp lý thực hiện dânchủcơsởvà kiến nghị hệthống các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dânchủcơ sở ở Việt Nam hiện nay.

Những đóng góp chủ yếu của luận án là:

-Đưara khái niệm cơchếpháp lý thực hiện dânchủcơsở;chỉ rõ các thành tố của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam; xác định các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam.

– Luận án chỉ ra sự tương tác giữa phát huydân chủ cơ sở với đảm bảoquyền con người ở nước ta hiện nay.

– Đánh giá những kết quả và hạn chế, bất cập của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay; Chỉ rõ nguyên nhân của những kết quả và hạn chếtrong sự tácđộngcủacơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơsở đốivới xã hội Việt Nam hiện nay.

– Nêu và luận chứng đầy đủ về hệ thống giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lýthực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 6.1. Về lý luận

Kết quả nghiên cứu và đóng góp mới của luận án góp phần làm sáng tỏ vàphong phú thêm những vấn đề lý luận về thực hiện dân chủ nói chung, về cơ chế

7

pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam nói riêng. Từ đó, luận án góp phần đổi mới nhận thức lý luận về dân chủ và dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay.

6.2. Về thực tiễn

Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo đối với các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và quản lý.

Kết quả luận án có thể được sử dụng phục vụ cho hoạt động đào tạo cho học viên cao học, sinh viên đại học tại các cơ sở đào tạo ngành luật và các ngành khoa học xã hội có liên quan.

Các kết quả nghiên cứu của luận án có thể được các cơ quan hữu quan tại cácđịaphươngsửdụng làm luậncứkhoa học, tài liệu tham khảo phụcvụviệc xây dựng các giải pháp, biện pháp cụ thể để phát huy dân chủ cơ sở trên địa bàn, góp phần đảm bảo quyền lực nhân dân, phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội, phát triển bền vững tại địa phương.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phầnmở đầu,kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả liên quan đến luận án và danh mục tài liệu tham khảo. Nội dung luận án gồm 4 chương, 15 tiết.

8

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀNHỮNG VẤN ĐỀ

ĐẶT RA CẦN NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC

Cùng với quá trình đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, yêu cầu phát huy dân chủ trong các lĩnh vực củađờisốngđãđượcđặtra hếtsứcmạnhmẽở Việt Nam. Theo đó, hoạtđộng nghiên cứu hướng tới mục tiêu tìm kiếm các giải phápđảmbảothực hiện dân chủ nói chung, dân chủ cơ sở nói riêng diễn ra đặc biệt sôi động ở nước ta trong những năm gần đây. Số lượng các công trình nghiên cứu liên quanđến chủ đề này khócó thểliệt kêhếtthông qua những consốthống kêđơnthuần.Sảnphẩmcủahoạtđộngnghiêncứu được công bốdưới nhiều hình thức ấn phẩm khác nhau: Báo cáo tổnghợpvà kiến nghị của các đề tài nghiên cứu các cấp, sách chuyên khảo, các bài báo khoa học, các kỷyếu hộithảo khoa học, các luận án và luận văn trong các

lĩnh vực chuyên ngành luật học, chính trị học, hành chính học…

Nhằm phụcvụcho việc nghiêncứuchủđề luận án, nghiêncứusinhchỉdừng ởviệc lựa chọn và tổng quan những quan điểm nghiên cứu chính củamột sốcông trình tiêu biểu có liên quan trực tiếptớicác nội dung thuộc phạm vi bàn luận của luận án. Về cơ bản, có thể gom các công trình đó thành các nhóm sau:

1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về dân chủ và dân chủ cơ sởTrước hết, nghiên cứu về dân chủ có thể kể đến các công trình sau:

– Dân chủ tư sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, của Thái Ninh, Hoàng ChíBảo[96]. Nội dung cuốn sách tập trung làm rõ các vấn đề lý luận về dân chủ tưsản và dân chủ xãhộichủ nghĩa; coi dânchủtư sản là thành quả của cuộc cách mạng tư sản, làkếtquảviệc nhànướctưsảnsửdụng phương pháptựdo chủ nghĩađểthực hiện chuyên chính tư sản;chỉra nhữngđặctrưng cơbảncủadân chủ tư sản. Dân chủ XHCN là nền dân chủ gắn với bản chấtcủa chếđộ Nhà nước XHCN; là hình thức chính quyền mà đặc trưng là việc tuyên bố chính thức nguyên tắcthiểusốphục tùng đasố vàthừa nhận quyềntựdo bìnhđẳngcủacông dân.

9

Trong tương quan với quyền lực nhân dân, dân chủ đượccoi là công cụ, là hình thức chủ yếu thực hiện quyền lực nhân dân…

–Mốiquanhệpháp lý giữa cá nhân công dânvớiNhànước,củaTrần Ngọc Đường, Chu Văn Thành [44]. Nội dung cuốn sách đã phân tích và lý giải vềmốiquan hệ bình đẳng giữa Nhà nước và công dân về quyền và nghĩa vụ. Bởi lẽ, chế độ chính trị ở nướcta nhân dân là người chủ của đất nước, đương nhiên phải có đầy đủ quyền của người làmchủ, đồng thời cũng phải thực hiện nghĩa vụ, đó là mốiquanhệbiện chứng. Nhưng đểbảođảmquyền, nghĩa vụ được thực thi trên thực tế, phải được luật quy định chính xác, đầy đủ, đó là điều kiện quyết định, nếu không thì dù có cơ chế tốt đến đâu cũng không thể thực thiđược.

– Dânchủvàtậptrung dânchủ- lý luận và thực tiễn, củaNguyễn Tiến Phồn [100]. Cuốn sách bàntậptrungvềcách hiểu khái niệm dân chủ,tậptrung

dân chủ, trạng thái của dân chủ trong xã hội hiện đại và ở Việt Nam…

– Một số suy nghĩ về xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay,của ĐỗTrung Hiếu [54]. Tác giả dành sự quan tâm phân tích nhu cầu và đặc thù nền dân chủ Việt Nam, đề xuất các giải pháp tiếp tục phát huy dânchủtrong điều kiện hiện nay ở Việt Nam.

– Dânchủvà pháp luật,củaNgô Huy Cương [16]. Cuốn sáchgồm3 chương, trình bầy những nhận thức chung về dân chủ, đánh giá tính dân chủ trong pháp luật Việt Nam hiện nay, đề cập việc xây dựng dânchủvà pháp luật dân chủ ởViệt Nam trong giaiđoạnhiện nay như: xây dựngnềnvăn hóa chính trị, xây dựng Hiến pháp dân chủ, xây dựng chính quyền dân chủ, phát triển các hình thức dân chủ và xây dựng xã hội công dân.

– Các chuyênđềbài giảng chínhtrịhọc,củaPhan Xuân Sơn [119]. Các chuyên đề bài giảng chính trị học đều có những nội dung liên quanở các mức độ khác nhau đến nền dân chủ. Đó là các vấn đề lý luậnvềquyền lực chính trị, quyền

lực nhà nước, hệ thống chính trị, Nhà nước pháp quyền, Đảng chính trị và xã hội công dân, kiểm soát quyền lực nhànước, bầu cử… Đặcbiệt chuyênđề 21- Xây dựng nền dân chủ XHCN Việt Nam do Lê Minh Quân biên soạn đã trình bầy một cách hệ thống những vấn đề lý luận chung về dân chủ, bao gồm: các quan niệm về

10

dân chủ và các mô hình dân chủ trong lịch sử chính trị thế giới từ thờicổđạiđến nay, quan niệm về dân chủ của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam, những yếutố tạonên cơ sở cho nền dân chủ hiện đại và tiêu chuẩn dân chủ. Trên cơsở đó, chuyên đề đánh giá khái quát thực trạng dân chủ ở Việt Nam và đặt ra yêu cầu tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế thịtrường định hướng XHCN.

– Đặcbiệt, số lượng các bài báo khoa học về chủđềdân chủ hết sức phong phú, trongđóphảikểđến danhmụccác bài sau: Hoàng Văn Hảo, Vấnđềdân chủvà các đặctrưngcủamô hình tổng thể Nhà nướcpháp quyền xã hộichủnghĩa ởViệt Nam [50]; Nguyễn Trọng Thóc, Nâng cao vai trò lãnhđạocủaĐảng đốivớiviệc xây dựng Nhànước pháp quyền và nền dân chủxã hộichủ nghĩa ởnướcta hiện nay [133];Đặng Hữu Toàn, Xây dựng Nhà nướcpháp quyền xã hộichủ nghĩa và vấnđềthực thi quyền làm chủcủa nhân dân [140]; Lương Đình Hải, Xây dựng Nhà nước pháp quyền và vấn đề dân chủ hóa xã hội ở nước tahiện nay [49]; Nguyễn Minh Đoan, Dânchủ vớipháp luật [42]; Phạm Văn Nhuận, Để Đảngthực sự là hạt nhân lãnh đạo xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩaở nướcta hiện nay [94]; Đặng Viết Đạt, Pháp luật và dân chủ trong

nhà nước pháp quyền [41]…

Đi sâu bàn luận về dânchủcơ sở đã có rấtnhiều công trình nghiêncứutừ các góc độ khác nhau, trong đó phải kể đến các công trình sau:

– Mối quan hệ giữa các yếu tố tâm lý xã hội với quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nông thôn hiện nay, của Trần Ngọc Khuê [68]. Đề tài đã phân tích làm rõ sự tác động qua lại của một số yếutốtâm lý xã hội cơ bản với việc thực hiện Quychếdânchủởcơ sở nông thônđồng bằngBắc Bộhiện nay; đánh giá thực trạng và nguyên nhân thực hiện Quychếdânchủởcơ sởnông thônđồng bằng Bắc Bộ; đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở nông thôn trong thời kỳ mới.

– Quá trình thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng hiện nay, của NguyễnThịNgân [89]. Đề tài đã tiến hành nghiên cứu thực trạng việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở ở các tỉnhđồngbằng sông Hồng, qua

11

đó đề xuấtnhững giải pháp nhằm đẩy mạnh và hoàn thiện việc thực hiện quy chế dân chủ (QCDC) ở khu vực đồng bằng sông Hồng.

– Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã – một số vấn đề lý luận và thực tiễn, của Dương Xuân Ngọc [90]. Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận tác giả đã làm rõ ýnghĩa và tầm quan trọng của Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp, phân tích đánh giá thực trạng của việc thực hiện Quy chế dânchủ ở cấpxã, đưa ra những giải pháp phù hợp cho việc thực hiện QCDC ở cấp xã ở nước ta trong điều kiện mới.

– Thực hiện quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, củaNguyễn Văn Sáu, Hồ Văn Thông [116]. Nội dung của cuốn sách được rút ra từ những kết quả khảo cứu, nghiên cứu của tập thể tác giả tiến hành ởnhiều địa phương trên cả ba miềnđất nước và cótham khảo kinh nghiệm ở một số nước. Qua nội dung cuốn sách cho thấy trong thời gian qua, chính quyền cơsở đã tích cực thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, nhiều nơi đã triển khai quy chế dân chủ cơ sở có hiệu quả cùng nhân dân làm nên những thành tựu đổi mớitrong phát triển kinhtế làm thayđổibộmặtnông thôn và thành thị. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng, chính quyền cơsở còn bộc lộ những khuyết điểm, yếu kém trong công tác lãnhđạo,tổchức và vậnđộng nhân dân. Tình trạng quan liêu, tham nhũng, mất đoàn kết, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân còn xảy ra ở không ít nơi, quy chế dân chủ cơ sở chưa được triển khai đầy đủ, cónơi chưa đi vào cuộc sống…

– Thể chế dân chủ và phát triển nông thôn Việt Nam hiện nay, của Nguyễn Văn Sáu, Hồ Văn Thông [117]. Nội dungcủacuốn sách cho thấy cách nhìn sinhđộngtrong việc thực Quy chế dânchủ ở cơ sở và xây dựng chính quyềncấpxãtrênmộtsốhoạtđộngnhư quản lý xã hội, kinh tế, quản lý tài chính, thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo, nhằm phát triển nông thôn Việt Nam trong giaiđoạn mới.

–Hỏi đáp vềdân chủở cơ sở, của Nguyễn Bắc Son [118]. Cuốn sách gồm 3 phần, trongđóphần Iđềcậpđếnthực hiện dânchủởxã, phường, thịtrấn. Bao gồm những quy định chung trong thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Những nội dung công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định;

12

những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền bàn vàquyết định; nhữngnộidung nhân dân giám sát. Sách đượckết cấu dướidạng hỏi -đáp, được sắpxếp theo từng vấn đề, dễ nhớ, dễ thuộc và dễ tra cứu. Các câu hỏi và đáp ántrả lờitrong cuốn sách đã khái quát và cụ thể hóa những quy định pháp lý cơ bản nhất trong lĩnh vực dân chủở cơ sở:quyền và nghĩa vụcủacông dân, tổ chức, cá nhân trong hoạt động dân chủ ở xã, phường, thị trấn.

– Đỗ Tiến Sâm,Vấnđề thựchiện dân chủ cơ sở ở nông thôn Trung Quốc [115]. Trong công trình này, tác giả nghiên cứuhệ thống chính quyền cơsở,tổ chức tự quản ở nông thôn Trung Quốc và vấnđề thực hiệndânchủcơ sở ở nông thôn Trung Quốc. Trên cơ sở đánh giá những thành tựu, hạn chế, các vấn đề đặt ra và phương hướng giải quyết, tác giả rút ra những bài học kinh nghiệm có thể tham khảo trong thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã tại Việt Nam.

– Vũ Văn Hiền, Dân chủ ở cơ sở qua kinh nghiệm ở Thụy Điển và Trung Quốc [52]. Cuốn sách tập hợp các bài viếtcủacác nhà khoa học nghiêncứuvề vấn đề bảo đảmquyền dân chủ của người dân ở cơ sở trêntất cảcác lĩnh vực củađời sống xã hội qua kinh nghiệm thực hànhdân chủ ởThụy Điển và Trung Quốc.

– Viện Chính sách công và Pháp luật – Viện Nhà nước và pháp luật (Đồng chủ biên): Đào Trí Úc và các cộng sự,Mộtsố vấn đề lý luận, thực tiễn vềdân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam [150]. Cuốn sách gồm tập hợp những bài tham luận tại cuộc Hội thảo“Dân chủ trực tiếp, Dân chủ cơ sở trên thếgiới và ở Việt Nam”, trong đó, các tác giả đã chia sẻ kiến thức, thông tin về một loạt vấn đề lý luận, thực tiễn và các mô hình tổ chức thực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở trên thế giới và ở Việt Nam; đồngthời, đề xuấtnhững quan điểm, giải pháp hoàn thiện khuônkhổpháp luật và các cơ chế bảođảmthực hiện dân chủ trực tiếp, dân chủ cơ sở ở nước ta trong thời gian tới.

– Cuốn sách: Dânchủvà dânchủở cơ sở nông thôn trong tiến trìnhđổi mới, của Hoàng Chí Bảo [5]. Nội dung của cuốn sách bao gồmsáu vấn đề lớn:

1. Ý thức dân chủ của người Việt Nam từ lịchsử đến hiện đại. 2. Dân chủ xã hội chủ nghĩa và quy chế dân chủ ở cơ sở.

13

3. Quan hệ giữa thể chế chính thống và phi chính thống trong việc củng cố, xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn hiện nay.

4. Tácđộngcủaquychếdânchủở cơ sở đốivớiviệc thực hiện xoá đói giảm nghèo ở nông thôn từ góc nhìn đánh giá chính sách.

5. Tâm lý làng xã trong việc thực hiện dân chủ ở cơ sở và tăng cường văn hoá pháp luật ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ hiện nay.

6. Những bàihọckinh nghiệmtừcácđịaphươngvềquá trình triển khai, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở và một vài khuyến nghị.

– Cuốn sáchHệthống chínhtrịcơ sởở nông thôn nướcta hiện nay, của Hoàng Chí Bảo [6]. Theo tinh thần nội dung Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) về”Đổimới và nâng cao chấtlượnghệ thống chínhtrịở cơ sở xã, phường,thịtrấn, cuốn sách trên là kết quả nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứumột số vấnđềnhằm củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở trong sự nghiệp đổi mới ởnướcta hiện nay“.

Sau khi Chínhphủban hành Nghịđịnhsố 29/1998/NĐ-CP Vềviệc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xãđã córất nhiều bài báo khoa học được đăng tải trên các Tạp chí chuyên ngành Luật học, Chính trị học, Triết học… bàn sâu các khía cạnh của dân chủ cơ sở nói chung, dân chủ trên địa bàn cấp xã nói riêng:

– Ngọ Văn Nhân, Về đổi mớichế độ dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trênđịabàn cơ sởởnướcta hiện nay [93]. Trong bài viết, tác giảkhẳngđịnh rằng, phát huy dân chủ, tiếptụcxây dựng và hoàn thiện Nhànướcpháp quyền XHCN là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng, Nhà nước ta trong công cuộc xây dựng, đổi mới và phát triển đất nước hiện nay, là điều kiện tiên quyết đểxây dựng bộ máy nhà nước thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân,đồngthời nhấn mạnh, dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện đều là hình thức của chế độ dân chủ, có quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau.

– Đỗ Văn Dương, Những giải pháp phát huy vai trò hệ thống chính trị cơsở nhằmbảođảm thực hiệndân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên [20]. Theo tác giả bài viết, xây dựng hệthống chính trị cơsởxã,

14

phường, thịtrấn ngày càngđổimớivà hoàn thiện được coi là cơchế vậnhành củanềndân chủ nhằm bảo đảm quyềnlựcthuộcvềnhân dân, là khâu then chốt củatoàn bộ quá trình dân chủ hóa đời sống chính trị – xã hội ở cơ sở, giúp giải quyếttốt mốiquan hệ giữa Đảng, Nhà nước và công dân, qua đó quyền làm chủcủanhân dân ngày càng được bảođảmđầyđủhơn trên thực tế. Nhìn trên phương diện đó, những hạn chế, bất cập của hệ thống chínhtrị cơ sở đối với việc lãnh đạo, triển khai thực hiện dân chủ ở cấp xã trênđịa bàncác tỉnh Tây Nguyên vẫncònrấtlớn. Chính vì vậy, tác giả khẳngđịnhcần phải có những giải pháp toàn diện nhằm phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở nhằm bảo đảm thực hiện dânchủở cấp xã ở TâyNguyên, như tăngcường sự lãnh đạo của Đảng bộcơ sở; nâng cao trình độ, năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành của đội ngũ cán bộ cấp xã ở Tây Nguyên…

– Nguyễn Thị Thu Hà, Thực hiện Quy chế dân chủ trong hệ thống chính trịcơ sở nông thônở nướcta hiện nay [47]. Nội dung bài viết tập trung làm rõ hai phương diện của hoạtđộngthực hiện Quy chế dân chủ trong hệ thống chính trị cơsở nông thônở nướcta hiện nay, nhữngkếtquảbướcđầu,mộtsốhạnchếvà nguyên nhân.

– Nguyễn Thọ Khang, Thực hiện dân chủở cấp xã vàvấn đề đặt ra đốivới báo chí ở nước ta hiện nay [65]. Bài viết nhấn mạnh vai trò của việc thực hiện dân chủởcấpxã trong phát huy quyền làm chủ, sứcsángtạocủa nhân dânởxã, phường,thịtrấn,động viên sức mạnhvậtchất và tinh thần tolớncủa nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định chính trị – xã hội, tăng cường đoàn kết toàn dân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, xây dựng Đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể ở xã trong sạch, vững mạnh; trên cơ sở đó, bài viết cho rằng các loại hình báo chí có vai tròđặcbiệt quan trọng trong việcphổbiến, tuyên truyền Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn và nêu một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền của báo chí về thực hiện dân chủ ở cấp xã.

– Ngoài ra,có thể điểmdanh một danh mục lớn các sách chuyên khảo, các bài báo và các luận án, luận văn nghiêncứutậptrungvềdânchủcơ sởnhư:

15

Dương Xuân Ngọc, Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn [90]; Lương Gia Ban, Dân chủ và việc thực hiện Quy chế dânchủở cơ sở[3];Đặng ĐìnhTân, Đặng Minh Tuấn, Tiếp tục thực hiện tốt Quy chế dân chủở cơsở[122]; Trần Bạch Đằng,Dân chủ ở cơ sở-mộtsức mạnh truyền thống của dân tộc Việt Nam [40]; Lê Quang Minh, Để thực hiện dân chủ sở cơsở [76]; Phạm Ngọc Quang, Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong quá trình đổi mới – thành tựu, vấn đềvà giải pháp [104]; Hoàng Trọng Chính, Nâng cao hiệu quảhoạtđộngquy chế dânchủ ở cơ sở[10]; Nguyễn Kim Thanh, Một vài suy nghĩ về kết quả 10 năm xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở [129]; Trần Quốc Huy, Hoàn thiện quy chế thực hiện dân chủ cơ sở cấp xã ở Việt Nam hiện nay [61]; Vũ Thị Nhung, Hoàn thiện tổ chức thực hiện dân chủ ở cấp xã trên địa

bàn tỉnh Bắc Ninh [95]…

1.1.2. Nhóm các công trình nghiên cứu trực diện về cơ chế pháp lý và cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

Liên quanđếncơ chế pháp lý, khó cóthểtìm thấy các công trình nghiên cứu chuyên biệt về chủ đề này nhưng hoàn toàn có thể nhận diện các quan điểm khoa học về cơ chế pháp lý thông qua các công trình nghiên cứu về cơ chế thực thi pháp luật hoặc cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhànướctrong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, chẳng hạn:

– Dân chủ trực tiếp và hoàn thiện cơ chế pháp lý thực thi dân chủ trực tiếp trong Nhànướcpháp quyền xãhộichủ nghĩa Việt Nam,củaNguyễnThịViệt Hương [59]. Đề tài nêu ra cách hiểu về cơ chế pháp lý thực thi dân chủ trực tiếp, phân tích các yếutốảnhhưởngđến cơchếpháp lý thực thi dânchủtrực tiếpở Việt Nam, đánh giá thực trạng cơ chế pháp lý thực thi dân chủ trực tiếp và trên cơsở đó đề xuấthệ thống các giải pháp tiếp tục phát huy dân chủ trực tiếp và hoàn thiện cơ chế pháp lý thực thi dân chủ trực tiếp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Có thể nói đây là công trình nghiên cứu có nhiều nội dunggắn bó tới chủ đềcủaluận án này và có nhiềuđiểmcó thể tiếp thu khi triển khai nghiêncứunội dung luận án.

Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay
Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

– Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nướcở nướcta hiện nay, của Đào Trí Úc, Võ Khánh Vinh [148]. Khi bàn về giám sát quyền lực nhà nước, các tác giả đã dành một dung lượng thích đáng để xem xét khái niệm “cơ chế”, “cơ chế giám sát”và đưa ra cách hiểu nội hàm hai khái niệm này.

– Cơchếgiám sátcủanhân dânđốivớihoạtđộngcủabộmáyĐảngvà Nhà nước – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, của Đào Trí Úc [149]. Công trình làsảnphẩmcủađềtài KX 10-07đượctriển khai trong khuônkhổcủaChương trình nghiên cứu khoa học xã hội cấp nhà nước: “Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nướcvà chủ động hộinhập quốctế”. Cuốn chuyên luậnđãđi sâu phân tích, cơchế và hình thức kiểm tra, giám sát của nhân dânđốivới hoạtđộng của bộmáyĐảng và Nhà nước; làm rõ vị trí, tính chất, đặc điểm của cơ chế và hình thức kiểm tra, giámsát xã hội ở nướcta; đánh giá những ưu điểm và thực trạng cơ chế giám sát của nhân dânđốivớihoạt độngcủa bộmáyĐảngvà Nhà nước cũng như thực trạng thiết chế hệ thống chính trị ở nước ta; xây dựng và đề xuất mô hình nội dung

và hình thức giám sát của nhân dân đối với hoạt động của Đảng và Nhà nước… Trong quá trình phân tích các nội dung của cuốn chuyên luận, các tác giả đã thể hiện quan điểm khoahọc về “cơ chế” “cơ chế giám sát của nhân dân”.

– Kiểm soát quyền lực nhà nước – một số vấn đề lý luận và thực tiễnở Việt Nam hiện nay, của Trịnh Thị Xuyến [160]. Nội dung của cuốn sách chỉ tập trung chủ yếuvàovấn đề kiểmsoát quyền lực nhà nước trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn, phạm vi nghiên cứu trên bình diện tổ chức quyền lực nhà nước trung ương giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp và kiểm soátxã hội đối vớihoạt động quyềnlựcnhà nước, thông qua đógóp phần làm sáng tỏ mộtphần kiểm soát quyềnlực Nhà nước ởViệt Nam hiện nay. Ở mức độ nhất định, cuốn chuyên khảo cũng chúýluận bànvềcơchếpháp lýcủakiểm soát quyềnlựcnhànước,tập trung là cơ chế pháp lý của giám sát xã hội.

– Nghiêncứuvềđổimớihệthống chính trị, có công trìnhcủaTrần Đình HoanvềQuanđiểm và nguyêntắcđổimớihệthống chínhtrịởViệt Nam giai

17

đoạn2005-2020 [55]. Khi luận bàn về đổi mới hệ thống chính trị, công trình này tiếpcậntừgócđộcơ chế, quychếphốihợpgiữa các thiếtchếtronghệthống chính trị trên cơ sở làm rõ chức năng của tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội. Theo đó, nội hàmcủa “cơ chế” được hiểu với các phạm vi rộng, hẹp khác nhau.

– Tương tự như trên, công trình nghiên cứuĐổi mớitổ chức và hoạt động củaMặttrậnTổquốc và các tổ chức chính trị- xãhộiởnướcta hiện nay, của Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương [102] đã tập trung phân tích luận giải tính phổ biến và tính đặc thù của cáctổ chứcchính trị – xã hội trong hệ thống chính trịở nước ta, vai trò của xã hội dân sự trong xây dựng và phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa, luận chứng tính tất yếu khách quan và cơ sở lý luận – thực tiễn của việcđổi mới tổ chức, khẳng định vai trò đại diện của Mặt trậnTổquốc và các đoàn thể nhân dân trong việc xây dựng, kiểm tra giám sát và phản biện từ khâu khởi thảo chính sách, pháp luật đến khâu thực thực hiện chính sách, pháp luật và cả công tác

cán bộ… Cùng với việc làmrõ những vấn đềnói trên, cơ chế hoạtđộng của Mặt trậnTổquốc và các đoànthểnhân dân cũngđượcđềcậpnhư làhệthống các nguyên tắc, phương pháp, hình thứcđể hiện thực hóa vai trò,vịtrí, chức năng, thẩm quyền của các tổ chức chính trị – xã hội trong hệ thống chính trị Việt Nam.

– Năm 2006, nhằm triển khai nội dung trong Nghị quyếtĐại hộiĐảng lần thứ IX và thứ X, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì nghiên cứu Đề án phản biện xã hộicủa Mặt trận Tổquốc Việt Nam. Đề án đã thu hút được sự chú ý, quan tâmđông đảo của các giới nghiên cứu, nhân sĩ, tri thức, các nhà lãnh đạo cách mạng lão thành đóng góp ý kiến để xây dựng, hoàn thiện phản biện xã hội. Nội dungđề án, đề cập đến những vấn đềnhư: khái niệm, mục đích, phạm vi; cơ chế, mối quan hệ giám sát và phản biện xã hội. Đề án này đã góp phần không nhỏtạosự nhận thức đúng đắn về cơ chế giám sát, phản biện xã hội, là cơ sở cho việc xây dựng cơchếvềgiám sát, phản biện xãhộiđốivớiviệc thực hiện quyềnlựcnhànướcởnướcta hiện nay.

– Một số bài viết, luận án, luận văn cómộtsố nội dung tham gia bàn luận vềcơ chế pháp lý như: Hoàng Chí Bảo, Tổng quanvềdânchủvà cơ chế thực hiện

18

dân chủ: quanđiểm,lý luận và phương pháp nghiên cứu[4]; Lê Minh Thông, Tăng cường cơ sở pháp luật về dân chủ trực tiếp ở nước ta trong giaiđoạnhiện nay [135]; Lê Minh Thông, Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm quyền con ngườiởnướcta [136]; Nguyễn Văn Mạnh, Xây dựng và hoàn thiệnđảmbảopháp lý thực hiện quyền conngườitrongđiềukiện đổimớiởnướcta hiện nay [71]; Trương Thị Hồng Hà, Hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của Quốc hội nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam [48]; Nguyễn Chí Dũng, Cơ

chế pháp lý giám sát hoạt động tư pháp ở Việt Nam [19];…

Tiếp thu quan niệmvềcơ chếpháp lý,đãcómộtsốcông trình đi sâu nghiên cứu riêng biệt từngyếu tố cụthể hợpthành nội hàm cơ chế pháp lý thực hiện dânchủcơ sở ở Việt Nam. Phần lớn trong số đó tiếp cận từ góc độ xây dựng và thực hiện pháp luật về dân chủ cơ sở. Đáng chú ý là một số công trình sau:

– Các đoàn thể nhân dân với việc bảo đảm dân chủ ở cơ sở hiện nay, của Phan Xuân Sơn [119]. Cuốn sách đã phân tích vai trò của các đoàn thể nhân dân như là một thiết chế quan trọng trongcơ chế đảmbảo dânchủở cơ sở.Theo đó, cuốn sách đã đề cập hệ thống các giải pháp nâng cao vai trò của đoàn thể nhân dân trong thực hiện dânchủ ở cơ sở.

– Thực hiện pháp luậtvề dânchủcấpxã trongđiềukiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ thực tiễn của tỉnh Thái Bình), của Nguyễn Hồng Chuyên [13]. Nội dung cuốn sách đã phân tích, góp phần làm rõ cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật về dân chủ cấp xã trong điều kiện xây dựng nhà nướcpháp quyền XHCN Việt Nam; khảo sát đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về dân chủở cấpxã cả về nhữngđiểmthành công cũng như hạn chế và nguyên nhân của thực trạng đó qua thực tiễn tỉnh Thái Bình; trên cơ sở đó đề xuất và luận giảimộtsốquanđiểm,giải pháp nhằmđẩymạnh và nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện pháp luậtvề dân chủ ở cấp xã đápứng yêu cầu xây dựng nhà nướcpháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

– Phản biện xãhộivà phát huy dânchủpháp quyền,củaHồBá Thâm, Nguyễn TônThịTườngVân [125]. Cuốn sáchchỉrõ việc thực hiện chức năng

19

phản biện xã hội của các tổ chức xã hội dânsự, đặcbiệt là của Mặt trận và tổ chức CT-XH, xã hội nghề nghiệpđối vớicác cấp chính quyềnvà cả cấp ủyđảng ở nước ta nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. Theo đó, để thực hiện dân chủ thực sự, tránh hình thức, các cơ quan lãnh đạo, quản lý cần tạođiềukiện để nhân dân thực hiện vai trò phản biện xãhộimà thực chất là thực hiện quy trình“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân quyết định và dân thụ hưởng”.

Ngoài các công trình tiêu biểu trên đây còn mộtsốbài viết đăng trên các Tạp chí chuyên ngành có nội dung gắn với thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường thị trấn như:

Bài báo“Pháp luậtvớivấnđềthực hiện dânchủở nông thôn Việt Nam hiện nay”, của Lê Xuân Huy [62]. Trong bài viết này, tác giả đã luận chứng vai trò quan trọng của pháp luậtvớiviệc bảo đảmvà thực hiện dân chủ ở nông thôn nướcta hiện nay, thể hiện ở chức năng hướng dẫn thực hiện dân chủ, điều chỉnh và bổ sung các giá trị mới, định hướng nhận thức về quyền và nghĩa vụ, đồng thời góp phần cải tạo tâm lý tiểu nông, các luật tục và thói quen lạc hậu cũng như đấu tranh khắc phục tệ quan liêu, gia trưởng của mộtbộphận cán bộở cơ sở. Từ đó, tác giả khẳng định sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và nâng cao ý thức pháp luật của cán bộ và nhân dân ở nông thôn nước ta; Bài báo “Những điểm mới của Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”, của Kim Thanh, Phan Hiên [128]. Nội dung bài viết giới thiệu nhữngđiểmmớicủa Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thịtrấn, đượcQuốc hội khóa X thông qua ngày 1/7/2007. Đây là mộtbước tiếntrong việc phát huy dân chủ, là cơ sở pháp lý vững chắc để người dân thực hiện quyền làmchủ củamình. Các tácgiả đãnêu lên những điểm mới của Pháp lệnh sovớiNghị định79/2003 trước đây, Pháp lệnh có kết cấuhợplý với những quy định định điều chỉnh quanhệ mới, bảo đảmtính khả thi, mang tính dự báo dài hơi của sự vận động và phát triển. Tuy nhiên, theo các tác giả cho rằng trong tương lai không xa, vấn đề dân chủ cần được điều chỉnh dưới hình thức Bộ luật để bao quát được các loại hình một cách hiệu quả hơn; Bài báo“Nhìn lại 10 năm thực hiện quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn”, của Huỳnh Đảm [22]. Nội dung bài viết đã đánh giá khái quát những kếtquả đạt đượcsau 10 năm thực hiện

20

Quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn, trên cơ sở đó đề ra 5 nhiệm vụ, giải phápđể tiếptục đẩymạnh việc thực hiện dânchủtrong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội lên một tầm cao mới; Bài báo “Mộtsố vấn đề đặtra trong quá trình thực thi Pháp lệnh dân chủ ởxã, phường, thịtrấn”,củaChuThịTrang Vân [153]. Nội dung bài viết xác định việc thực hiện và phát huy dân chủ cơ sở là một chủ trương lớncủaĐảngta, trách nhiệmcủahệthống chínhtrịcơ sở trong việc thực hiện Pháp lệnh dânchủở xã, phường, thị trấn, trong đó nhấn mạnhđếnvai trò của tổ chức đảng, chính quyền và đặc biệt là trưởng thôn trong thực hiện Pháp lệnh dân chủở xã, phường, thịtrấn;từđóchỉra những khó khăn, vướng mắctrong quá trình thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn và hướng giải quyết; Bài báo “Luật tục và việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở Tây Nguyên thực trạng và những vấn đề đặtra”, của Nguyễn Văn Nam [87] đề cập vai trò của các thiết chếxã hội truyền thống củađồngbào các dântộcthiểusốTây Nguyên có tácđộng đến quá trình tổ chức và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Theo tác giả, để thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, cần phải khai thác các mặt tích cực của thiếtchếxã hội và tín ngưỡng truyền thống để xây dựng và phát triển kinh tế, chính trị – xãhội, văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, kết hợp vận dụng những ưu điểm của luật tục vào quá trình triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; Bài báo “Vấn đề xây dựng và hoàn thiện pháp luậtdân chủ cơ sở ở nướcta hiện nay”, của Quách Sĩ Hùng [58]. Nội dung bài viết đã góp phần làm rõ khái niệm dân chủ và dân chủ cơ sở.Dân chủ cơ sở đượcxem là hình thức phương pháp dân chủ trực tiếp của nhân dân trong việc thực hiện quyền dân chủ của nhân dân. Dânchủcơ sởbao gồm các nội dung mà nhân dân được biết được bàn để nhà nước quyết định,

hoặc nhân dân quyết định, các nội dung nhân dân được giám sát kiểm tra;…

– Cũng đã có một số luận văn, luận án tiếp cận nghiên cứu dân chủcơ sở từgóc nhìn của cơ chế pháp lý như: Đỗ Minh Khôi “Mối quan hệ giữa dân chủ và pháp luật trongđiềukiện Việt Nam hiện nay” [67]; ĐỗVăn Dương, Thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn trên địa bàn các tỉnh Tây nguyên [21]; Nguyễn Hồng Chuyên “Thực hiện pháp luật về dân chủ ở cấp xã theo yêu cầu xây dựng Nhànướcpháp quyền xãhộichủnghĩa Việt Nam” [14]; Nguyễn Tiến

21

Thành“Kếthợpdânchủđạidiện và dânchủtrực tiếp trong thực hiện quychếdân chủ ở xã trên địa bàn thành phố Hà Nội” [131];…

1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI

Liên quan đến đề tài luận án là các vấn đề lý luận về dân chủ và dân chủ cơ sở;lý luậnvề nhà nướcpháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân được xem là cốt lõi của nền dân chủ; vai trò của hệ thống chính trị trong việc bảođảm thực hiện quyền dânchủcủacông dân. Trong cácvấnđềtrên, công dân (người dân) với tư cách là chủ thể của chếđộ dân chủ đượcquan tâm đặc biệt trong các hình thức, phương pháp thực hiện quyền dânchủcủamìnhđặcbiệt làở cơ sở. Tuy nhiên, đây là những vấn đề thu hút sự quan tâmrấtlớncủa cáchọc giả nước ngoài – nơi có những tranh luận khoa học sôi nổi về dân chủ trong suốt chiều dài

lịch sử nhân loại. Vì vậy, luận án chỉ xin điểm danh một số công trình nghiên cứu mang tính minh họa và nằm trong khả năng thu thập tư liệu của tác giả luận án.

– Robert Alan, Dalh, Democracy and its Critics (Dân chủ và sự phê phán)

[166]. Trong cuốn sách này, từ cách tiếp cậnchínhtrịhọc, tác giả khẳng định quyềnlựcmà nhànướccó được là xuấtphát từ quyềnlực gốccủa nhân dân; bởi vậy, để thực thi một nền dân chủ đòi hỏi phải có sự chế ước lẫn nhau giữa các chủ thểtrong xã hội, phảiđượccụthểhóa vàbảođảmthực thi bằng pháp luật. Tuy nhiên, mỗi một chế độ dân chủ được duy trì, thực thi như thế nào còn phụ thuộc vào cácđiều kiệnvề kinh tế, truyền thống văn hóa dântộc của mỗiquốc gia khác nhau. Khi làm rõ khái niệm dân chủ, tác giả khẳng định rằng, cho đến nay, chưa có quốc gia nàođápứng đầy đủcác lý tưởngdân chủ. Để đạt tớimộtnềndân chủ lý tưởng, theo tác giả cuốn sách, phải đápứngnăm tiêu chí sau: 1)Sựtham gia hiệu quả:mọicông dân phải có cơ hộiđầy đủvà bìnhđẳngđểthểhiện nguyện vọng của mình vàđặt câu hỏitrong các chương trình công cộng, thể hiện các lý do chomộtkếtquảtốtđẹphơn; 2) Các công dân phảiđượcbìnhđẳng,công bằng trongbầu cửởgiaiđoạnquyếtđịnh;3)Sự hiểu biết sâu sắc: các công dân phảiđượchưởngnhững cơhộiphong phú và bìnhđẳngcho những phát hiện và lựa chọn tốt nhất phục vụ cho lợi ích của họ; 4) Kiểm soát các chương trình nghị sự:

22

các công dân phải có cơ hội quyết định những vấn đề chính trị thực sự toàn diện; 5) Tính toàn diện: tính bình đẳng phải được mở rộngđến tấtcả các công dân. Mọi người đều phải có cổ phần hợp pháp trong quá trình chính trị.

– Tương lai của nềndânchủxã hội”củaThomas Meyer, Nicole Breyer. [134]. Bản dịch tác phẩm “Tương lai của nền dân chủ xã hội” là kết quả của dự án nghiên cứu về phong trào dân chủ xã hộiở Đức và TâyÂu, do nhóm nghiên cứu của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện trên cơ sở quan hệ hợp tác giữa Học viện và Viện Friedrich Rbert (Fes) trong những năm gần đây. Cuốn sách là một tác phẩm khoa học lý luậngồm10 chương. Tư tưởng lớn của cuốn sách là sự phê phán chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa tân tự do với những đặc trưng của nó là phát triển và bảo vệ sở hữutư nhân, kinh tếthịtrườngtựdo,tựđiềutiết, các quyền conngườithụ động, nền dân chủ hình thức và không hoàn thiện. Tư tưởng cốt lõi của cuốn sách là dân chủ xã hội ra đời và phát triển trên cơ sở không hoàn thiện của dân chủ tự do. Dự án dân chủ xã hội khác với chủ nghĩa tự do thuần túy, bao gồmmộthệthống các giá trị cơ bản, các quan điểm, nguyêntắcvà giải pháp cải cách kinh tế – xã hội. Vì mục tiêu phát triển và lý tưởng tự do công bằng bình đẳng và hạnh phúc của con người trongbốicảnh hiện nay của thế giới. Xuất phát

từ lập trường quan điểm dân chủ xã hội, các tác giả cố gắng lập luận về triển vọng sáng sủa của dân chủ xã hội so với dân chủ tân tự do trong sự phát triển của thế giới đương đại.

– Cuốn sách: Trào lưu xã hội dânchủở một số nướcphương Tây hiện đại, của Tống Đức Thảo, Bùi Việt Hương [132]. Hiện nay trào lưu xã hội dân chủ cóảnh hưởngmạnh mẽ và các Đảng dân chủ xã hội có vai trò quan trọng trongđời sống chính trị châu Âu, đặc biệt là các nước Tây Âu. Nội dung của cuốn sáchđã khái quát trào lưu xã hội dân chủ, nguồn gốc nội dung, bản chất của trào lưu xã hội dân chủ, và sự điều chỉnh cơ bản của trào lưu dân chủ xã hội trongbốicảnh quốc tế đương đại. Các tác giả đã bàn đến những ảnh hưởng của trào lưu xã hội dân chủ ởcác nước phương Tây hiện nay, những giá trị và hạn chế của trào lưu xã hội dân chủ và ảnh hưởng của trào lưunày đối vớiViệt Nam.

23

– Virginia Beramandi, Andrew Elis và các tác giả khác, Dân chủ trực tiếp:

Sổ tay IDEA Quốc tế [158]. Cuốn sách nàyđượcbiên dịch và xuất bản bằng tiếng Việt bởi Viện Chính sách công và Pháp luật trực thuộc Liên hiệp cácHộiKhoa học và Kỹ thuật Việt Nam với sự cho phép của IDEA Quốc tế, sự hỗ trợ của Đại sứquán Na UytạiHàNộivàsựcộng táccủaBộmôn Luật Hiến pháp – Hành chính thuộc Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Nội dung cuốn sách cung cấp các khuyến nghị và bàihọcthực tiễnvề việcvận dụng dân chủ trực tiếpở tấtcả các vùng trên thế giới; đánh giá điển hình ở 06 quốc gia, gồm Hungary, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ (bang Oregan), Uruguay và Venezuela với các hoạt động trưng cầu dân ý, sáng kiến của công dân, sáng kiến chương trình nghị sự và bãi miễn…

– Olivier Vidal (Nguyễn Hoàng Anh dịch),Nước Cộng hòa Pháp và các cộng đồnglãnh thổ địa phương: sự trở lại của nhóm Girondins?, bài viết in trong cuốn sách“Phâncấpquản lý nhànước”[98]. Trong bài viết tácgiảbànvề sự hình thành của tư tưởng phân quyền theo chiều dọc, nghĩa là phân quyền cho các đơn vị hành chính lãnh thổ địa phương. Thực chất phân quyền là sự thể hiện của mô hình quản lý phi tập trung, là sự biểu hiện của dân chủ, nếu không có dân chủ thì không có phân quyền theo chiều dọc. Theo tác giả, việc thừa nhận sự tự quản của cộng đồng lãnh thổ địa phươngở nước Pháptrải qua một quá trình rất lâu dài, phức tạp, là kết quả của sự đấu tranh giữa phái ủng hộchế độ tập quyềnvà pháiủng hộchế độ phânquyền;đồng thời, tác giả đề cậptới hình thức thực hiện hoạtđộngtự quảnđịa phương thông qua hình thức trưng cầu ý dân hay “dân chủ ở cơsở”- đỉnh cao của chế độ phân quyền.

– Adam Przeworski, Michael Alvarez, Jose Antonio Chebub and Fernando Limongi, What makes Democracies Endure? (Điềugìtạonên cácnềndân chủ bền vững?) [162]. Trong bài viết, thông qua việc khảo sát thực chứng về dân chủ tại135nước trên thếgiới, các tác giả đãchỉ rađượcvớimức độthu nhập bình quânđầungười ở mức nào thì dân chủ xuất hiện, ở mức nào thì dân chủ bền vững. Các tácgiảcho rằng, các cuộc khủng hoảng kinhtế làmộttrong nhữngmốiđe dọa phổbiến nhấtđốivớisựổnđịnh,phát triểnnềndân chủ. Ngượclại, tăng trưởng kinhtế sẽluôn có lợi cho sự sống còn của nền dân chủ. Trên thực tế, nhiều

24

nền kinh tế phát triển đã góp phần giúp cho nền dân chủ cóthể tồntại, phát triển bền vững hơn so với cácnướccó nền kinh tế phát triển kém.

– Harold Hongju Koh, The right to Democracy, Towards a community of democracy (Quyền dân chủ, Hướng tới một cộng đồng dân chủ), Issue of Democracy [163]. Trong công trình nghiêncứunày, tácgiảđãđề cậptớinhiều tiêu chuẩn của dân chủ, cho thấy dân chủ bao trùm lêntất cả mọilĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội. Mục tiêu của việc xây dựng dân chủ không chỉdừnglạiởcách hànhxửvềchính trị, mà còn làm cho dânchủtrở thànhyếutố định hướng hành vi của con người.

– Sorensen Georg, Democracy and democractization processes and prospects in changing world (Dânchủvà quá trình dânchủhóa và triển vọng trong một thế giới chuyển đổi) [167]. Từ cách tiếp cận lịch sử về dân chủ, tác giả xem xét, đánh giá triển vọng dân chủ trongthếgiới ngày nay, làm rõ khái niệm dân chủ và cho thấy tiềm năng tích cực trong xu hướng dân chủ hóa, sự phát triển dân chủ trong nhữngđiều kiệnkhác nhau ở các nước cóđiều kiệnkinh tế – xã hội khác nhau.

– Phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa và xây dựng xã hội hài hoà, của ĐàmĐức Vũ [159]. Nội dung của bài viết cho rằng: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải từ xưa đã có, nó là thành quả của sự phát triển xã hội và văn minh của loài người. Dân chủ xã hội chủ nghĩa tuy đã kế thừa, phát triển các hình thức dân chủ trong lịchsử,nhưng các hình thức dân chủ tồntạitrong hình thái TBCNtrướcđây… Trong khi đó dân chủ XHCN cần được xây dựng phù hợp với sự thống trịcủa tuyệtđạiđa số nhân dân nhằm xoá bỏ bóc lột giai cấp. Tác giả bàn đến dân chủ XHCN là nội dung quan trọngcủa chếđộXHCN; xây dựng xãhộihài hoàXHCN cần phát triển dân chủ XHCN; xây dựng phát triển dân chủ XHCN, thúcđẩyxây dựng xã hội hài hoà và giữ vững ổn định xã hội; mở rộng sự tham gia của nhân dân vào đời sống chính trị, thúc đẩy xã hội không ngừng tiến tới hài hoà.

–ĐảngCộngsảnTrung Quốc vàvấnđềdân chủ,củaTạpchí Thông tin Những vấn đề lý luận [123]. Bài giới thiệu quanđiểmcủa Đảng Cộng sảnTrung

25

Quốc về dân chủ trong quá trình diễn biến tích cực. Những luận điểm có liên quanđếndânchủđượctrình bày trong Báo cáo chínhtrịcủaBan Chấp hành Trung ương (BCHTW) Đảng tại Đại hội XVII được phân tích chi tiết trong bài báo đăng trên Báo Nguyệt san“Diễnđànnhândân”nhan đề:Dânchủlà sinh mệnh của nướcCộng hoà của DuKhảBình. Nộidung bài báođãphân tích việccảicách chính trị không chỉ khẳng định lại “phát triển chính trị dân chủ XHCN là mục tiêu phấnđấukhôngmệtmỏicủachúng ta”mà cònđặtmục tiêu:“Kiênđịnhphát triển dân chủ XHCN”. Dân chủ với tư cách là giá trị chính trị chung của nhân loại,đều có tínhphổbiến trên các mặt giá trị chính trị, hình thức thực hiện, yếutố nội

tại, cơ chế thực hiện, ví dụ, chính trị dânchủkhông tách rời pháp trị, không tách rời bầu cử của nhân dân, không tách rời sự tham gia của nhân dân, không tách rời việc giám sát quyền lực, không tách rời sự minh bạch về chính trị, không tách rời việc quản lý xã hội. Không có những giá trị mang tính phổ biến nêu trên dân chủ sẽ chỉ là tập hợptừ trống rỗng giả hiệu.

–Xây dựng chế độdân chủ chính trị ở Trung Quốc theo tinh thần của chủ nghĩa Mác,của Tạpchí “Tân Hoa xã” [124]. Bài báo phân tích thực chất của dân chủ là nhân dân làm chủ. Dân chủ là thành quả văn minh chung của nhân loại, dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ kiểu mới tiếp nhận và kế thừa truyền thống dân chủ tốt đẹp trong lịch sử nhân loại. Bài báo đã nêu những nội dung chủ yếu của “Mô hình dân chủ đặc sắc Trung Quốc” và cácnộidungcần chú ý đầy đủ, thường xuyên áp dụng biện pháp đủ hiệu lực để phát triển chính trị dân chủ cải cách thể chế chính trị coi phát triển dân chủ chính trị là mục tiêu và động lực của cải cách thể chế chính trị.

– Ngoài ra, có thể kể thêm một số tài liệu, công trình nghiên cứu của các tác giả khác, như: A. B. Agapốp, Luật Hành chính (tái bản lần thứ sáu) [2]; Bộ Giáo dục Liên bang Nga, Đ.N. Bakhrac, Luật Hành chính Nga [8]; G.V. Atamanchuc, Lý thuyết quản lý nhànước[46]; Matinne Lombard, Gille Dumont, Pháp luật hành chính của Cộng hòa Pháp [74]… Các công trình trênchủ yếu tậptrung giải quyết nhữngvấnđềlý luậnvềquản lý nhà nước,dânchủđượcxem xét như là mộttrong những nhân tố bảo đảm sự thành công của hoạt động quản lý nhà nước

26

và phương thức quản lý nhà nước, đề cập tới các hình thức dân chủ: dânchủ đại diện và dânchủtrực tiếp,đặcbiệt là dânchủở những cộngđồnglãnhthổđịa phương ở Liên bang Nga và ở Cộng hòa Pháp.

1.3. NHẬN XÉT CHUNGVỀTÌNH HÌNH NGHIÊNCỨUVÀ NHỮNGVẤNĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.3.1. Nhận xét chungvềtình hình nghiêncứuliên quanđến đềtài luận án

Căn cứ tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chủ đề luận án, có thể rút ra một số nhận xét sau:

Thứ nhất, số lượng các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án rất lớn, phong phú và đa dạng, được tiếp cận từ nhiều hướng vớicác mức độliên quan khác nhau. Đây là một thuận lợi đồng thời cũng là một thách thức lớnđối với việc triển khai nghiên cứu đề tài luận án. Kết quả của các công trình nghiêncứu đã cungcấpmộtlượngkiến thức quan trọngvề dân chủ, dânchủcơ sởvà cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam, là nguồn tư liệu vật chấtcầnthiết và có thể tiếp thu để tiếp tục triển khai nghiên cứu sâu về những nội dung trọng yếu của đề tài luậnán. Tuy nhiên, các quan điểm nghiên cứu về dân chủ cơ sở và cơchếpháp lý thực hiện dânchủcơsở có nhiềusựkhác biệt, thậm chí trái chiều nhau, cộng với các thông tin đa chiều, thiếu thống nhất và tính phức tạpcủa vấnđề lại là những trở lực không nhỏ cho công việc nghiên cứu đề tài.

Thứ hai, nhiều vấn đề liên quanđến chủđề luận án đã được làm sáng tỏvà đề tài có thể tiếp thu, không cần phải trở lại để phân tích, lập luận làm sáng tỏ thêm.

Trên phương diện lý luận,mộtsốnhận thức chungvềNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, về quyền lực nhân dân và dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng như vai tròcủaviệc thực hiện dânchủtrong Nhà nướcpháp quyền XHCN Việt Nam đã rõ. Tương tự như vậy, quan niệm về cơ sở và cơ chế quản lý cơsởở Việt Namđãđạtđượcsựthống nhất cao. Tiêu chívềmộtnềndân chủ hoàn thiện cũng không còn nhiều vấn đề gây tranh luận. Nhận thức về vai trò của pháp luật trong việc chế định hóa các yếu tố của nền dân chủ và tạo lập cácđảm

27

bảo thực thi dân chủ đã được chấp nhận trong hầu hết các công trình nghiên cứu.Đặc biệt, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã phân tích rất sâu về nội hàm của dân chủ và các phương thức để đạt tới dân chủ trong xã hội hiệnđại.

Trên phương diện thực tiễn, một số khía cạnhcủa đờisống dân chủ đã được làm rõ. Nhiều công trình nghiêncứuđãtổngkếtđầyđủquanđiểmvề dân chủ trong tư tưởng Hồ Chí Minh và trong nhận thức của Đảng, Nhà nước ta. Quá trình xây dựng pháp luật về dân chủđã được đề cập một cáchkhái quát. Đặc biệt, các nghiêncứuhầu như đã làm rõđược thựctrạngcủanềndân chủ đạidiệnởViệt Nam hiện nay. Công việc tổng kết và đánh giá thực trạng dân chủ trực tiếp trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội đã được triển khai mạnh mẽ trong nhiều nghiên cứu. Đặc biệt, việc tổngkếtthực tiễn thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở nói chung và Pháp lệnh về dân chủcơ sở ở xã, phường,thịtrấnđãđượcnhiều công trình nghiên cứu đề cậpvà đạt đượcsự thống nhất cao trong nhận định. Một số nguyên nhân liên quan đến những bất cập, hạn chế trong quá trình thực hiện dânchủcơ sở ởViệt Namđãđượcphân tích, trongđóđiểmnhấn là những nguyên nhân nằm trong quá trìnhtổchức thực hiện pháp luật (vai tròcủatổchứcĐảngvà chính quyền cơ sở; năng lực thực hành dân chủ của người dân; điều kiện vật chất đảm bảo cho việc triển khai thực hiện dân chủ tại cơ sở..).

Trên phương diệnđề xuất, kiến nghị,đãcó nhiềuýkiếnkhảthivềgiải pháp phát huy dânchủ, đảmbảo thực hiện tốt dânchủ ở cơ sở tạiViệt Nam hiện nay. Đã có sự nhất trí cao về sự cần thiết thực hiện tổng thể các giải pháp để phát huy dân chủ ởViệt Nam hiện nay, trongđó tậptrungở mộtsố giải pháp chính như: nâng cao nhận thức của Đảng, Nhà nước và các bộ phận nhân dân về dân chủ và thực hành dân chủ; hoàn thiện pháp luật và đảm bảo hiệu quả thực thi pháp luật về dân chủ; tạo lập cácđảmbảocho việc thực thi dânchủtrong các lĩnhvực cụ thể ở Việt Nam hiện nay.

Thứ ba, nhiềuvấnđề trọng yếuliên quan trực diệntớichủ đề nghiên cứu của luận án chưa được đề cập giải quyết hoặcchưa đượcgiải quyết thấu đáo.

Trướchếtđó là mộtsốvấnđềđã đượcđề cập trong nhiều công trình nghiên cứu nhưng chưa đạtđượcsự thống nhất cao như: cách hiểu một số khái

28

niệm: dân chủ ở cơ sở, cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ ở cơ sở; các yếutố hợp thành của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ ở cơ sở; đặc điểm của cơ chế pháp lýthực hiện dân chủ ở cơ sở; trạng thái hiện hành của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở ViệtNam hiện nay xét cả từ phương diệnđiềuchỉnh pháp luật và cả

từ phương diện thực thi pháp luật; các giải pháp pháp lý và giải pháptổ chức để hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ ở cơ sở, trongđóbất cập lớn nhất là thiếu tính hệ thống giữa các giải pháp đã được đề xuất trong quá trình hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ ở cơ sở. Cũng liên quan đến vấn đề này là tình trạng thiếu một quanđiểm được thừa nhậnchungvềmô hình pháp luật cần thiết và khung pháp luật cơ bản cho việc ghi nhậnvà điềuchỉnh quá trình dân chủ cơsở ở nước tahiện nay.

Bên cạnh đó, có khá nhiều vấnđề cótầmquan trọng đặc biệt tới việc xác định các luận cứ khoa học đúng đắn nhằm hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ ở cơ sở tại Việt Nam nhưng chưa đượcđề cậpnghiêncứu. Cụ thể các vấn đề sau: nội dung cơ chế pháp lý thực hiện dânchủ cơ sở ở ViệtNam; các yếutốảnh hưởng đến mức độ hoàn thiện của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam; kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sởở mộtsố quốc gia có hoàn cảnh, điều kiện tương đồng với Việt Nam; những bất cập của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở hiện hành trước nhu cầu triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 và các chủ trương lớn của Đảng tavềphát huy dân chủ, tăngcườngdân chủ trực tiếp ở Việt Nam hiện nay; Nguyên nhân của các ưu điểmvà hạnchếcủacơchếpháp lý hiện hànhvềthực hiện dân chủ cơ sở;giải pháp về xây dựng chiến lược tổng thể và lâu dài cho quá trình hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dânchủcơ sởở Việt Nam. Ngoài ra, cũng đang thiếusựlập luận cần thiết và thuyết phục cho từng giải pháp cụ thể liên quan đến yêu cầu hiện thực hóa cơ chế pháp lý thực hiện dânchủ cơ sở ởViệt Nam hiện nay.

Như vậy nhìn một cách tổng thể, có thể thấy, mặc dù số lượng các công trình nghiên cứu liên quan tớiđềtài luận án lên tới consốhàng trăm nhưng hiện tại chưa có một công trình nghiên cứu nào tổ chức nghiên cứu một cách hệ

29

thống vàđầyđủ,toàn diệnvề cơchếpháp lý thực hiện dân chủ cơsởởViệt Nam hiện nay để từđó,đề xuất những phương hướng, giải pháp hoàn thiện cơchế pháp lý đảm bảo phát huy dân chủ cơ sở trongbốicảnh xây dựng và hoàn thiện Nhànướcpháp quyền XHCN, quá trình phát triển kinh tế- xã hội, hội nhập quốctếcủa đất nước và trong yêu cầu triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013. Nói cách khác, hiện chưa có công trình nghiên cứu nào ở trong và ngoài nướcđặtcơ chếpháp lý thực hiện dân chủ cơ sởởViệt Nam làđốitượng nghiên cứu chính.

1.3.2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu đề tài luận án

Xuất phát từ sự phân tích thực trạng tình hình nghiêncứuliên quan đến chủ đề luậnán nêu trên, có thể thấy không gian nghiên cứu dành cho luận án còn hết sức rộng rãi, bao gồm những vấn đề sau:

Thứ nhất, nghiên cứu những thayđổimớitrong nhận thức lý luận về dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa trong điều kiện nhất nguyên chính trị, một Đảng cộng sản cầmquyền, xây dựng Nhànướcpháp quyền xã hộichủ nghĩa và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, nghiên cứu làm sáng tỏ khái niệm và nội dung của dân chủ cơ sở. Nghiên cứu các mối quan hệ phát sinh trong tiến trình dân chủ hoá ở cơ sở (đi từ chủ quyền nhân dân, quyền con ngườiđể xác định các mốiquan hệ cơ bản hướng tớiđảmbảo quyền lực nhân dân và quyền con người: mối quan hệ giữa công dân với các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở, vai trò, trách nhiệm của Nhà nước

và các thiết chế khác đối với phát huy dân chủ cơ sở…).

Thứ ba, nghiên cứu khái niệm, đặc điểm, vai trò và cácyếu tố hợpthành của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu phảiđưa ra được định nghĩa về cơ chế pháp lý thực hiện dânchủcơ sở, các yếu tố cấu thành nội hàm cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở. Kết quả nghiên cứu cũng cần đạt đượcsự luậnchứng thuyết phục về vai trò không thể thiếu của cơ chế pháp lý trong thực hiện dân chủ gắn liền với các quyền và lợi ích thiết thực của người dân tại cơ sở.

30

Thứ tư, nghiên cứu xác lập các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay. Các tiêu chícầnđược xem xét ở mức độ toàn diện và cụ thể.

Thứ năm, nghiêncứuđánh giá toàn diện, tổng thể về quá trình xây dựng, hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở và thực trạng cơ chế pháp lý thực hiện dânchủcơ sởở Việt Nam hiện nay.Kếtquả nghiêncứuphảichỉrõ đượcnhững thành tựu,hạnchế, bấtcậpvà nguyên nhâncủacác thành tựu, hạn chếcủacơchếpháp lý thực hiện dânchủcơ sở hiện hành.Kếtquảnghiên cứu cũng cần chỉ ra thực trạng các điềukiện đảm bảomức độ hoàn thiện của cơ chếpháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay.

Thứ sáu, nghiêncứu dựbáo bối cảnh phát huy dân chủ ở Việt Nam trong giaiđoạntới.Từđóxây dựng các quanđiểmvàđềxuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dânchủcơ sở ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu phảiđảmbảolậpluận thuyết phục hơn về các giải pháp có liên quanđã được các công trình nghiên cứu khác đề cập và luận chứng, đồng thời kiến nghị hệ giải pháp tổng thể mang tính chiến lược cho quá trình hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dânchủ cơ sở ở nướcta.

Tiểu kết chương 1

Hoàn thiện, phát huy dân chủ, đảmbảoquyền làm chủ của nhân dân ở mọi phạm vi trongđời sốngxã hội là yêu cầu tất yếu khách quan trong xã hội hiệnđại. Chính vì vậy, đây là vấn đề nhận được nhiều nhất sự quan tâm của xã hội.

Trong chương 1, luận ánđãtiến hành khảo cứunhiều công trình nghiên cứu trongnướcvà ngoài nước có liên quan đến chủ đề hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam. Kết quả tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy nhiềuvấnđề lý luận và thực tiễn về dân chủ cơ sở, cơ chế pháp lý và cơ chế

pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở… đã được các nhà khoa học trong và ngoàinước nghiên cứu ở các mức độ và khía cạnh khác nhau. Nhìn chung, đã có nhiều chất liệu tốt cho việc tiếp tục triển khai nghiên cứu đề tài luận án.

31

Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiêncứu đều tậptrung giải mã một trong haivấnđềlớn: 1/ pháp luậtvềdân chủ cơ sở ở Việt Nam; và 2/ thực tiễn phát huy dân chủ cơ sở ở Việt Nam. Rất ít các công trình luận bàn toàn diệnvềdânchủcơ sở. Đặcbiệt, chưa có công trình nào nghiêncứutrực diệnvềhoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam. Vì vậy, còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến cơ chế pháp lý và hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở chưa được giải quyết triệtđể.

Luận án, một mặt tìm kiếm những giá trị có thể kế thừa và phát triển trong các công trình đã công bố, mặt khác có nhiệm vụ triển khai nghiên cứu nhiều nội dung mới, hướngtớitạolậpcơsởkhoahọcvững chắc cho các giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở trong điều kiện đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân và triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013ở ViệtNam hiện nay.

32

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ

THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở VIỆT NAM

2.1. NHẬN THỨC VỀ DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ CƠ SỞ

2.1.1. Quan niệm về dân chủ

Trong tri thức nhân loại, dân chủ được coi là mộtcụm từ có đượctừ “sản phẩm của nền văn minh”, là điều kiện và tiêu chuẩn tiến bộ xã hội.

Dân chủ trong lịchsử thườngđượcnhận diện như một phạm trù đa nghĩa với bảnchất nhiềuthứbậc, do vậy, dânchủ đượcxem xét ở nhiều phương diện khác nhau.

Nhìn từ khía cạnh tổng quát, dân chủ bao gồm một tổ hợp các giá trị nhân bản, duy lý và cao đẹp. Dân chủ là sự hòa hợp giữa các giá trị: tự do, bình đẳng, sự thống nhất trong tính đa dạng. Ở mức độ này, dân chủđượchiểu như một lý tưởng mà con người khao khát hướngđếnvà cố gắng thực hành trong cuộc sống. Những nhà tư tưởng Hy Lạp cổ đại cho rằng, để có một xã hội tốtđẹpthì dân phải có quyền lực mạnh nhất, cao nhất, từ đó xuất hiện khái niệm “dân chủ”

(Demokratia) có nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân.

Các công trình nghiêncứuđềuchỉra rằng: Dânchủvớitư cách là hiện tượng chính trị gắn liềnvớixã hội có giai cấp, nó mang tính giai cấp nên chế độ dân chủ cần đượcxem xét trongmốitương quan với chế độ nhà nước. Hai chế độ này nhiều khi khác nhau, đối lập nhau, nhưng về cơ bản thì tồn tại không thể thiếu nhau. Dânchủcó liênhệ chặtchẽvớibảnchấtcủanhànước,vớichức năng, nhiệm vụ và hình thức nhà nước. Nhiều cách hiểu đã được đưa ra nhưng về cơ bảnđều quy tụ về bảnchất “Dân chủ tức là chính quyền của nhân dân” “Chế độ dân chủ,đólàmộtnhànước thừa nhận việc thiểusốphục tùng đa số”“Nếukhông khinh thường lẽ phải và lịch sử, ai cũng thấy rõ ràng chừng nào mà còn có những giai cấp khác nhau thì không thể nói đến “dân chủ thuầntuý” được, mà chỉ có thể nóiđếndân chủ có tính giaicấp”[154, tr.304]. Như vậy, dânchủtrướchếtlà thuộc tính của nhà nước, trong đó người dân thể hiện quyền làm chủ của mình, kể

33

cả quyền tạo lập và kiểm soát quyền lực nhà nước. Nhà nước có trách nhiệmbảođảmbằng quyền năng của Nhà nước, thông qua các phương thức thực hiện quyền lực nhà nước để nhân dân thực hiện các quyền của mình.

Nếu xuất phát từ cách hiểu như trên, dân chủ trong hiệnthực đờisống sẽ liên quan đến quan niệm về ba yếutố:1/ Nhân dân; 2/ quyền lực công cộng và 3/ tính chất trực tiếp của mối quan hệ giữa nhân dân và quyền lực công cộng trong sởhữu quyền lực công cộng.

Điểmkhác nhau cănbảngiữa cách hiểu về dânchủtrong thờicổđạivới thời hiệnđạilà ở cách quan niệmvề phạmtrù nhân dân và tính chất trực tiếp của mốiquanhệsởhữuquyềnlựccông cộng.Đãlà mộtnềndânchủthì nó phải chứng tỏ quyền lực thuộc về nhân dân. Nhưng nhân dân mang nội dung thế nào lại tùy thuộc vào các thờiđạikhác nhau mà xácđịnh.Chế độdânchủnào thì nhà nướccũng là của nhân dân, nhưng sự khác nhau giữa chế độ dân chủ này với chế độ dânchủ khác là ở chỗ nhân dân là ai và ai trong nhân dân có thực quyền. Điều này nói nênnộidung bản chất giai cấp của dân chủ. Không có dân chủ trìu trượng, bao giờ dân chủ cũng có nội dungcụthể, xác định. Trong xã hội ai là nhân dân mới có dân chủ và trong nhân dân thì quyền lực thực sự, cuối cùng không phải lúc nào cũng thuộc về tất cả nhân dân. Như vậy, dân chủ chỉ là một nhưng nó bị chếướcbởinhữngđiềukiện kinh tế, văn hóa, xã hộiở cácthời đại và các quốc gia khác nhau.

Theo cách hiểu thông dụng ở Việt Nam “dân chủ là hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội dựa trên việc thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do. Dân chủ cũng được vận dụng vào cáctổchức và hoạtđộngcủa nhữngtổchức và thiết chế xã hội nhấtđịnh”[91, tr.89].ChủtịchHồChí Minhđãlý giải“dânchủ” mộtcáchhếtsứcgiản dị, côđọngvà dễ hiểu, theo đó: “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là dân làmchủ”, “nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”. Như vậy, quan niệmvềdân chủ gắn liền với nguyên lý chủ quyền nhân dân.

Vớiviệckếthừa những giá trị tư tưởng và kinh nghiệm thực tiễn có liên quanđếntổ chức nhà nước trong lịch sử, nguyên lý về chủ quyền nhân dânđược

34

khẳng định như là bản chất và trụ cột của việc tổ chức và vận hành xã hội hiệnđại.Cho đếnnay, mặc dù, vớinhững góc nhìn và quan niệm hết sức đa dạng nhưng nội dung cơ bản và chung nhấtcủanguyên lý này là: quyền lực nhân dân là quyền lực tốicao và là quyền lực gốctrong các xã hộidân chủ; quyền lực nhân dân không được biểu hiện và thực thi liêntụcbởi chính chủthểcủa nó lànhân dân nhưng tư cách chủ thể của nhân dânthểhiện ở việc trực tiếp thực hiện một phần quyền lực,ủythác thực hiện quyền lực và kiểm tra, giám sát, kể cảviệc thayđổi,hủybỏquyềnlực đã được ủy thác;quyền lực nhà nước là bộ phận cơbảncủa quyềnlựcnhân dân đượchình thành thông quasựđồngthuậnủy quyềncủanhân dân mà bằng chứnghữuhìnhcủasự đồng thuận đó là sự hiện diện của chủ nghĩa lập hiến. Trong nội hàm của nguyên lý nói trên, nhân dân làmột khái niệm dùng để chỉ mộtcộng đồngcủa mọicá nhân trong xã hội tuy có sự khác nhau về thành phần xã hội như dân tộc, sắc tộc, hoạt động chính trị – xã

hội, quan điểm tư tưởng, tôn giáo, giới tính, nghề nghiệp v.v… nhưng thống nhất lại,vượtlên trênsựkhác biệt xã hộiđểcó và thực hiệnmộtýchí,mộtđịnh hướng, mộtmụctiêu phát triểncộng đồng, đất nước.Từphương diện chính trị – pháp lý, nhân dân – với sự thống nhất lại, vượt lên trên sự khác biệtxã hội đóđãtrở thànhmộtđoàn thể pháp lý bao gồmcác cửtriđược quyền hành xửchủquyền thông qua các thể thức pháp lý nhất định. Chính các thể thức pháp lý nàyđịnh chế hóa chủ quyền nhân dân.

Như vậy, dân chủ với tính cách là một chế độ, được thực hiện dưới hai hình thức cơ bản là dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.

Dânchủđạidiện (còngọilà dânchủgián tiếp) là hình thức dân chủmà theo đó nhân dân thông qua đại diện của mìnhđể bàytỏ chính kiến, để quyếtđịnh nhữngvấnđề của đờisống cộng đồng. Nhờ thông qua bầucửđể lựa chọnnhững ngườiưu túđứngđầu các cơ quanđạidiện, nhờ đónhữngngườiđạidiện sáng suốt trong việc quyết định vấn đề quan trọng của đời sống xã hội, giải quyết nhanh chóngkịpthời những vấn đề bức bách trong xã hộiđặtra. Vớisựrađời,hình thành của Nhà nước, do mức độ rộnglớnvề không gian, dân số ngày càng đông, trìnhđộdân cư chênh lệch, tính phức tạp và khẩn trươngcủacông việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội mà hình thức dânchủ đạidiện trở thành phương thức chủ

35

yếucủa nền dân chủxã hội. Ở hầu hếtcác nước phát triển trên thế giới, quá trình mởrộng dân chủ dường như trướchếtlà quá trình hoàn thiện các hình thức dân chủđạidiện và các thiếtchếđạidiện sao cho các công dân cóthểdễ dàng hơn trong việc bàytỏchính kiếncủamình khi tham gia vào quyếtđịnhcác vấnđềquan trọng của đất nước. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy dânchủ đạidiện có những nhược điểmchođếnnayvẫnchưa khắc phụcđược.Đólà những biểu hiệnđặc quyền, đặc lợi, có khả năng lạm quyền, tham nhũng mà quyềnlựcđó có được do nhân dân ủy quyền.

Dân chủ trực tiếp là hình thái nhân dân trực tiếp quyết định các vấnđề, các công việc quan trọng của quốc giacủa cộng đồnglãnh thổ, trực tiếp thông qua các đạo luật mà khôngmột yếutố trung gian nào. Theo nghĩađó,dân chủ trực tiếp gắn liền với nguồn gốc bản chất của khái niệm dân chủ

(demokratia/δημοκρατία – tiếng Hy Lạp) mà có nghĩa là“quyềnlực,sựcaitrịcủanhân dân” (power/ruleofthepeople). Chính vì vậy, dân chủ trực tiếp đôi khi còn được gọi là dân chủ đích thực/ nguyên nghĩa (pure/true democracy) và được xem là biểu hiện cho chính quyền của dân, do dân và vì dân. Nhìn nhận một cách tổng quát thì dân chủ trực tiếp là phương thức để ngườichủquyền lực trực tiếp thểhiện ýchí của mình, tựmình thực hiệnmộtsốhoạtđộngtrong chu trình quyền lực. Dân chủ trực tiếp là một phương thức làmchủ củanhân dân khi nhân dân – chủ thể quyền lực duy nhất có thể bày tỏ ý chí, nguyệnvọng, đề đạtkiến nghị nàođó trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đồng thời thực hiện kiểm tra, giám sát bộ máy nhà nước do chính mình lập nên. Kết quả của sự bày tỏ ý chíđó cóthể có ý nghĩa quyếtđịnh, bắtbuộc phải thi hành ngay như trưng cầu ý dân,

bầucử,bãi miễnđạibiểu dâncử;hoặcchỉcóýnghĩa tham khảo như các hình thức tham khảo ý kiến nhân dân, kiểm tra, giám sát bộ máy nhà nước v.v.. Trong nền dân chủ hiện đại, các quốc gia đã ngày càng dành sự chú ý đặc biệt tới việc sửdụng các hình thức dân chủ trựctiếp để quyếtđịnhmộtsố vấnđề quan trọng đối với quốc gia và cácvấnđề của cộng đồng tạiđịa phương. Trong rất nhiều trường hợp phương thức dân chủ trực tiếp có nhiềuưu điểmmà phương thức dân chủ đại diện không cóđược. Đólàkhảnăngthểhiệnmộtcách khách quan nhất ýchí,

36

nguyện vọng của nhân dân và thểhiệnmộtcách thiết thực nhất quyền lựccủa nhân dân trong việc quản lý xã hội.

Như vậy, khi nóiđếndânchủđạidiện là người ta nhắcđếnhình thức mà người dân ủy quyền cho những người đại diện cho mình quyếtđịnhcác công việc nhà nướctrong phạm vi xác định. Dânchủđạidiện thườnggắnliềnvớicác cơquanhoạt động tập thểnghị viện (hoặc tên gọi khác), hội đồng địa phương. Còn khi nói đến dânchủtrực tiếp, người ta nói đến việc quyết định các công việc nhà nướcdo công dân trực tiếp thực hiện không thông qua khâu trung gian. Như vậy, dân chủ đại diện hay dân chủ trực tiếpđều dựavào chỗ chủ thể nào quyết định các vấnđềthuộc công việc nhànước,tứclà căncứvào tiêu chí ai quyếtđịnhcông việc nhà nước nào đó.

Như vậy, sẽxuất hiện câuhỏilớn: giữa dânchủtrực tiếp và dânchủđại diện, có những hình thức thể hiện quyền của người dân nhưng sẽ xếp vào đâu nếu chỉ theo tiêu chí nói trên? Các hình thức đó như: khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản biện xã hội, tư vấn xã hội, giám sát trực tiếp của người dân. Các hình thức này tựnó không có vai trò quyết định trong việc ra quyết định hoặc thực hiện các hànhđộng, hành vi nào của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền. Vậy nên chăng, trong nhận thức lý luận cần xem nó như một yếutốcủa công đoạn, hay quy trình không thể thiếu trong các trường hợp nhất định để chính quyềnquyết định về vấnđề nàođó. Về cơ bản, đây là các hình thức đứng trung gian để thực hiện quyền của người dân, vừa mang yếu tố của dân chủ trực tiếp (xét về tính chất và mục tiêu), vừamangyếutốcủadânchủđạidiện (xétvề kỹthuật thực hiện).Mộtsốnhà nghiên cứu gọi đó là hình thức “dân chủ tham gia” [138, tr.58].

2.1.2. Quan niệm về dân chủ cơ sở và thực hiện dân chủ cơ sở

Nếu xét từ khía cạnh quan hệ thứ bậc mang tính pháp lý của cấu trúc hành chính – lãnh thổ và chỉnh thể hệ thống chính trị thống nhất ở nước ta thì cơ sở là cấp thấp nhất, tuy nhiên cơ sở không đơn thuần là cánh tay nối dài của cấp trên. Cơ sở là địa bàn cư trú của dân, là nơi diễn ra mọi hoạt động sinh sống và làm ăn của nhân dân lao động, vì vậy nói tới cơ sở là nói tới vai trò chủ thể của người dân và hình thức tổ chức các hoạt động sống của cộng đồng, các mối quan hệ xã hội.

37

Cơ sở là nơi trực tiếp nhất của thực tiễn, thể hiện ý thức và năng lực làm chủ của nhân dân bằng cả phương thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, cũng là nơiđầu tiên đốimặtvới những yêu cầu bức xúc của dân chúng với những mâu thuẫn, thậm chícảnhững xung đột nảy sinh trong đời sống dân sự. Trong hệ thống quản lý,cấpcơ sởlà cấp cuối cùng nhưnglạilàcấp đầutiên và trực tiếp nhất với tưcách nền tảng xâydựng chế độ dânchủ củatoàn hệ thống chính trị. Cơ sở tuy là cấp thấp nhất nhưng lại là tầng sâu nhất mà sự vận hành của thể chế chính trị từ vĩmô phải tác động tới, là địa chỉquan trọng nhất màmọichỉthị, nghị quyết, chủ trương,đườnglối, chính sách của Đảng,Nhànướcphải tìmđến, phải bằng mọi cáchtổchức, tuyên truyền, vậnđộnglàm cho dân hiểu, dân tin, dân làm. Cơsởcòn là cấp hành động và tổ chức hành động, nghĩa là cấp tổ chức triển khai thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Cơ sở cũng không chỉ là cấp thực hiện chức năng lãnh đạo và quản lý của Nhà nước mà còn là nơi diễn ra các hoạt độngtự quản của cộng đồng xã hội, quản lý với tự quản đan xen vào nhau, các thể chế quản lý, pháp luật nhà nước và các quy ước của thôn, làng, ấp, bản tồn tại song hành với nhau. Cấp cơ sở là nơi chính quyền trong lòng dân, cán bộ cơ sở

từ dân mà ra, là cấp có nhiềulợithếvà khả năng nhất để giảm thiểu xuống mức thấp nhất những thóitậtquan liêu, hành chính, mệnh lệnh,tệhạitham ô, tham nhũng, mặt khác cánbộ ở cơ sở là người sởtại, làm việc tại cơ sở, hàng ngày sinh sống, làm việc và quan hệ trực tiếp với dân, bị chi phối, ràng buộc rất mạnhmẽbởi quan hệ họ hàng, thân tộc, bởi các truyền thống, phong tục, tập quán, lối sống làng xã.

Liên quanđếnkhái niệm này, cơsở đượchiểu theo tinh thần Pháp lệnh 34/2007/PL-UBTVQH ngày 20/7/2007 của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện dânchủởxã, phường,thịtrấn. Cơsởđượclấylàmđốitượngnghiên cứuởđâykhông phải làmộtđơnvịcơsở bấtkỳ(gia đình, cơ quan, công sở,

trường học, bệnh viện, doanh nghiệp hay viện nghiên cứu…) mà là cơsở với tưcách làmộtcấpquản lý nhà nướctronghệthống quản lý hành chính nhà nước hiện hành. Cơ sở đó chính là xã – phường – thị trấn, là cấp cơ sở của quản lý nhà nướctrong đó xã là cấp cơ sở ở khu vực nông thôn – địa bàn rộng lớn, chiếm đa số trong tổng số đơn vị cơ sở nước ta.

38

Dân chủ cơ sở là sự phản ánh vị thế quyền lực của nhân dân trên địa bàn cơsở.Xã, phường, thị trấn là nơi trực tiếpthực hiện đường lốicủa Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, là nơi kiểm nghiệm một cách chính xác nhấtđường lối của Đảng trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa trong thực tiễn khách quan. Thực hiện dân chủ ở cấp xã là toàn bộ quá trình hiện thực hóa các quyền thể hiện sự tham gia của công dân vào chu trình thực hiện quyền lực tại cơ sở. Khi nghiên cứu nhóm quyền này thì dân chủ, với ý nghĩa là quyền tự nhiêntốicao nhất của conngườiđược thực hiệntrướchếtlàởcơ sở. Vớitư cáchchủthểquyền lực, người dântạicơ sở có quyền có đại diện của mình, có quyền trực tiếpđược biết,đượcbàn, được tham gia giải quyết và kiểm tra giám sát mọihoạt độngquyền lực diễn ra tại cơ sở.

Như vậy, do bản chất của dân chủ ở cơ sở là phát huy quyền làm chủ mọi mặt của người dân ở cơ sở nên dân chủ cơ sở là một phương thức hỗn hợp để thực hiện dân chủ. Dân chủ cơ sở bao gồm trong nó cả hình thức dânchủ đạidiện và hình thức dân chủ trực tiếp, hướng tới mục tiêu hiện thực hóa quyền lực của chủ nhân quyềnlựctạiđịa bàn cơ sở. Ngoài ra, dân chủ cơ sở còn thể hiện ở quyền tham gia ý kiến với tư cách cá nhân vào các vấn đề nảy sinh tại cơ sở có liên quan đến quyền và lợi ích của chính họ, của các cá nhân khác hoặc của Nhà nước. Theođó, ý kiếncủa mộtsố nhà nghiên cứu cho rằng, tham gia cũng có thể được xem là mộthình thức thực hiện dân chủ mang đặc thù của dânchủ cơ sở: “Thực hiệndân chủ cơ sở được thông qua bằng nhiều hình thức và phương pháp khác nhau, cụ thể là dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và dân chủ tham gia” [138, tr.58].

Ở Việt Nam, thực hiện dânchủ cơ sở đượcbiểu hiệntrước hếtở sự tồntại và hoạt động của các thiết chế đại diện của nhân dân, bao gồm Hội đồng nhân dân cấp xã và các đoàn thể nhân dân. Đây là các thiết chế do nhân dânlậpra và trực tiếp ủyquyền lực nhân dân, thay mặt nhân dân để thực hiện quyền lực của nhân dân. Thông qua hoạt động của các thiết chế này, người dân tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội và kiểm soát hoạtđộngcủa Nhà nước, buộc hoạt động quyền lực nhà nước vận hành trong quỹ đạo phục vụ nhân dân.

39

Tuy nhiên, trong các quy chế dân chủ ở cơ sở, chẳng hạn như Quy chế dân chủ ở xã, có rất nhiều loại công việc cầnđượcđưa ra trưng cầu ý kiến của nhân dânđểcáccấpcó thẩm quyền tham khảotrướckhi quyếtđịnh.Mặc dùkếtquả trưngcầuýkiến trong Quy chế dânchủở xãđượcxácđịnhlà “để tham khảo” nhưng bản thân việc đưa ra trưng cầu ý kiến là bắt buộc.

Ngoài loại hình trưng cầu ý kiến“để tham khảo”các quy chế cũng đã có những quy định việc lấy ý kiến nhân dâncó “tính chất quyết định”.

Hình thức lấy ý kiến nhân dân có tính chất quyếtđịnhđã đượcquy định cụthể trong quy chế thực hiện dân chủ ở xã như sau:

– Chủ trương và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng (điện, đường, trường học, trạm y tế, nghĩa trang, các công trình văn hóa, thể thao);

– Xây dựng hương ước, quyướclàng văn hóa, nếp sống văn minh, giữ gìn an ninh trật tự, bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội;

– Các công việc trong nội bộ cộng đồng dân cư thôn, phù hợp với quyđịnh của pháp luật hiện hành.

– Thành lập Ban Giám sát các công trình xây dựng do dân đóng góp;

– Tổ chức bảo vệ sản xuất, kinh doanh giữ gìn an ninh trật tự, an toàn giao thông, vệ sinh môi trường và các hoạt động khác trên địa bàn xã, thôn”.

Như vậy, mặc dù có sự phân biệt các nội dung giữa dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và dân chủ tham gia nhưng dân chủ trực tiếp là hình thức phổ biến vàdễ thực hiện nhất tại cơ sở. Các nội dung “dân bàn và quyết định trực tiếp “chính là những biểu hiện của dân chủ trực tiếp theo nghĩa hẹp, cổ điển nhất. Bên cạnh đó, các nộidung“dânbàn, biểu quyết, tham giaýkiếnđểcấpcó thẩm quyền quyết định” và “dân tham gia kiểm tra, giám sát” là những biểu hiện của dân chủ trực tiếp theo nghĩa rộng và được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam từ trước đến nay.

Dân chủ cơ sở khôngđồngnhất với tự quản cơ sở. Xét về bản chất, dân chủcơ sở tạo ra nhiều khả năng cho sự tham gia trực tiếp và nhiều mặt của người dân vào các công việccủaNhà nước và xã hội. Theođó,dânchủcơsởlàmắtxích quan trọng nối liền những mặt tích cực của dân chủ và củachế độ tự quản cơ sở.

40

Mặc dù vậy, dân chủ cơ sở là hình thức quyền lực nhân dân, không trùng lặp với tự quản cơ sở.

Trên thựctế, cảdânchủ cơ sở và tự quản cơ sở đều được thực hiện ở cơ sở,ở đơnvị nhỏ nhấthoặc các tập thể, cộng đồng khác nhau, nhưng khi nói dân chủ cơ sở là nói đến những khía cạnh giải quyết các vấn đề chính trị – nhà nước, dù là ở cơ sở. Dân chủ cơ sở phản ánh mối quan hệ giữa chủ thể quyền lực gốc – nhân dân – với các thiết chế được nhân dân ủy quyền lực và với việc đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân tại cơ sở. Nói đến dân chủ cơ sở là nói đến mối quan hệ tương tác giữa nhà nước và nhân dân tại cơ sở. Ở Việt Nam, các đơn vị cơ sở như vậy là các xã, phường, thị trấn; là các tập thể cơ quan, tổ chức, đơn vị, trường học, bệnh

viện… là nơi mọi chính sách, đường lối, pháp luậtcủaĐảng vàNhà nước được phản ánh qua lăng kính của cá nhân, của lợi ích tập thể, là nơi kiểm nghiệm tính đúngđắnvà hiệu quả của các quyết sách của Đảng ta. Dân chủcơ sở là “hệ thống báo động” nhạycảmnhất, những thông tin phản hồi nhanh nhất về hiệu lực, hiệu quả của các đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước để kịp thời sửa chữa, bổ sung. “Hệ thống báođộng” và các thông tin phản hồi này giúp cho Đảngvà Nhànướckiểm nghiệm lại đườnglối, chính sáchcủamìnhmộtcách nhanh nhất, khắc phục bệnhchủquan duy ý chí, xa rời thực tế, tăngcườngmối quan hệ máu thịtgiữa Đảng vớiNhân dân. Trong khi đó, tự quản cơsở là vấn đềnằmngoài hệ thống nhà nước, liên quanđếncách tổ chức và vận hành của xã hội. Xét về bản chất, tự quản cơ sở cũng là một phương thức thực hiện quyền lực nhân dân, tuy nhiên phương thức này khôngnằmtrong mối liên hệ tương tác chặt chẽ với quyền lực nhà nước, không có mục tiêu tác động trực tiếp vào quyền lực nhà nước, không có sự tham gia trực tiếp của các thiết chế quyền lực công. Các hình thức tự quản cơ sở do các cộng đồng dân cư tự tổ chức và thực hiện tại cơ sở để tựgiải quyết những vấn đề của xã hội mà không cần tới sự can thiệp của nhà nước.

Dân chủ cơ sở là một đòihỏi tấtyếucủaquá trình thực hiện và phát huy dân chủ ở Việt Nam hiện nay. Thực hiện tốt và đẩy mạnh dân chủ cơ sở khôngchỉđơn thuần là một phản ứng chính trị của Đảng và Nhà nước trước tình hình phức tạpcủanhữngđiểmnóngở cơsở mà nó thểhiện cái nhìn hướng tớicơsở,coi trọng cái gốc ở cơ sở nên nó mang tính chiến lược, căn bản, lâu dài.

41

2.2. KHÁI NIỆM,ĐẶCĐIỂM,VAI TRÒ CỦACƠCHẾPHÁP LÝ THỰC HIỆN DÂN CHỦCƠ SỞ

2.2.1. Khái niệm cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở

Cơchếlàmộtthuậtngữcó thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tùy vào hoàn cảnh và lĩnh vực.

Cơ chế có thể hiểu là “máy móc, bộ máy, cơ cấu”. Chẳng hạn, cơ chế nhà nước(bộmáy nhà nước). Theo Đại từ điển tiếng Việt thì: “Cơ chế là cách thức, sắp xếptổ chức đểlàm đường hướng, cơ sở theođómà thực hiện” [161, tr.463]. Theo GS,TS Triết học Phạm Ngọc Quang, “Cơ chế là khái niệm dùng để chỉ một chuỗi những khâu liênkếtvớinhau theomộtlôgic nhấtđịnhnhờvậymụctiêuđượcthực hiện” [104, tr.38].

Theo cách hiểu thông thường nhấtthì cơ chế đượchiểu là “cách thức theođó một quá trình được thực hiện” [99, tr.234].

Có nhiều loại cơ chế. Đối với khoa học luật học nước ta, khái niệm cơ chế pháp lýmớira đời nhằm giải quyếtmột sốvấn đềthực tiễn trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN.

Trong các công trình nghiên cứu về cơ chế pháp lý đều cơ bảnđồngthuận ý kiến khi hiểu cơ chế pháp lý như sau:

(1) Đó là tổng thể các yếu tố, bộ phận cấu thành hay hợp thành;

(2) Các bộ phận trong cơ chế có mối quan hệ, tác động lẫn nhau, hướng đích; (3) Cơ chế hoạt động theo các nguyên tắc, qui trình do luật quy định;

(4) Thiếu một bộ phận thì cơ chế hoạt động không đồng bộ, kém hiệu quả… Cơ chế pháp lý là một khái niệm luôn gắn liền với pháp luật và khả năng

điều chỉnh của pháp luật. Cơ chế pháp lý trước hết phải được pháp luật ghi nhận ở các cấp độ khác nhau trong các văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý khác nhau, khởi nguồn từ Hiến pháp – đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất chế định những vấn đề cótính nguyên tắc của cơ chế pháp lý trongmộtlĩnhvựccụ thể của đời sống xã hội.

Xét trên phương diện nội dung, cơ chế pháp lý phải bao gồm hệ thống các quy định pháp luật ghi nhận các quy tắc ứng xử của các cá nhân và tổ chức liên

42

quanđếnmột chuỗi các khâu của quá trình thực hiện mục tiêu trong một lĩnh vực cụ thể.

Xét trên phương diệntổchức, cơ chếpháp lý baogồmhệthống các quyđịnhvề tổ chức vàhoạt động của các thiết chế tham gia vào quá trình thực hiện mục tiêu trong một lĩnhvực cụ thể.

Xét trên phương diệnthủtục, cơ chếpháp lý làsựhợpthành của các phương pháp, trình tự, bước đi, hậu quả pháp lý do pháp luật ghi nhận để đảm bảo tính hợp pháp của quá trình thực hiện mục tiêu trong một lĩnh vực nhất định.

Như vậy, cơ chế pháp lý được hiểu là tổngthểcủa nhiều yếutố cóquan hệ tác động qua lại mật thiết với nhau, baogồmcác yếu tố thể chế, thiết chế và các bảo đảmđể thựchiện một chức năng hoặc một nhiệm vụ nào đó trong quản trị nhà nướcvà xã hội. Các yếu tố nàygắn kếtvới nhau, hợp thành hệ thống, do pháp luật quy định, nếu thiếu một trong các bộ phận đó thì hệ thống không thể vận hành một cách bình thường.

Từ đó, có thể đưa ra khái niệm về cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở:

Cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở là tổng thể các nguyên tắc, thể chế, thiết chế và các điều kiện đảm bảo, gắn kết với nhau, hợp thành hệ thống, do pháp luật quy định, nhằm xác lập các quyền và khả năng để nhân dân thực hiện quyền làm chủ tạicơ sở.

2.2.2. Đặc điểm của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở

Thứ nhất, cơ chế pháp lý thực hiện dânchủcơ sở gắn liền với pháp luật vàđiều chỉnh pháp luật.

Bản thân khái niệm“cơ chế pháp lý”đã gắn liền với pháp luật bởi lẽ không có pháp luật thì khôngthểcó tính pháp lýcủacơ chế. Hơn nữa,“dânchủ”và “dânchủcơsở”không phải làlờinói suông mà phảiđược thểhiện thông qua hình thức pháp lý,đượcghi nhận, giớihạnvàđảmbảothực hiệnbởipháp luật. Nói cách khác, cơ chế pháp lý thực thi dân chủ cơ sở phảigắn vớipháp luật, tồn tạivàvậnhànhdướihình thức pháp luật. Điều7, tuyên ngônthếgiớivềquyền con người cũng đã ghi nhận: “Tất cảmọi người đều bình đẳng trướcpháp luật và có quyềnđượcpháp luật bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân

43

biệtnào”.Mặt khác, trongchế độpháp quyền dân chủ và xã hội dân sự thì mọi quyền đều do luật định [62, tr.95].

Hệthống pháp luật baogồmnhiều vănbảncó cấp độgiá trịkhác nhau, cao nhất là Hiến pháp, tiếpđólà các luật và văn bản dưới luật. Dân chủ dưới hai hình thức cơ bản là dân chủ đạidiện và dân chủ trực tiếp là quyền cơ bảncủa công dân và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng nênluôn đượcghi nhận trong Hiến pháp và các luật, bởi lẽ “chỉ bằng Hiến pháp và luật, các quyền và nghĩa vụ trên mớimang đủ ý nghĩa long trọng và hiện thực” [43, tr.185]. Hiến pháp là văn bản chính trị – pháp lý có giá trị cao nhất trong việc giới hạn quyền lực nhà nước vàbảovệquyền con người, quyền công dân dođó bảo đảm bằng hiếnpháp là bảođảm ởmức độ cao nhất.

Quy định pháp luật về dân chủ khôngchỉ đượcthể hiện trong một văn bản mà đượcthể hiện trong nhiều văn bản trên các lĩnh vực khác nhau. Chính vì vậy, khi nóiđếncơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở từ phương diện này, điều đó cũng phản ánh được những nội dung cơ bản của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở được thể hiện ra bên ngoài thông qua việc cụ thể hóa quyền của người dân

tại cơ sở trên các lĩnh vực gắn liềnvớicác phương pháp, hình thức, thủ tục giải quyết có hiệu quả vấn đề dân chủ cơ sở, cũng như các yêu cầu liên quan đến thanh

tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện phápluật dân chủ cơ sở…

Thứ hai, cơ chế pháp lý thực hiện dânchủcơ sở thể hiện trách nhiệm của Nhà nước và yêu cầu của người dân trong việc bảo đảm thực thi quyền con người, quyền công dân tại địa bàn cơ sở.

Như đã nói ở trên, cấp cơ sở là tầng sâu nhất mà sự vận hành của thể chế từvĩ mô phải tác động tới. Cơ sở là địa chỉ quan trọng cuối cùng mà mọi quyết định, mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải tìmđến. Đường lối, nghị quyết có đi vào cuộc sống thực sự hay không, dân có đượctổ chức hành động trong phong trào rộng khắpđể biếnkhả năng thành hiện thực hay không; đường lối, chính sách có tác dụng, hiệuquả đếnđâu, đúng sai ra sao đềuđượcchứng thực bởi cuộc sống, tâm trạng, thái độ, niềm tin và hành động thực tế củadân chúngtạicơ sở. Vì vậy, cấpcơ sở tuy là cấpthấp nhất trong hệthống

44

quản lý nhưng cótầmquan trọngđặcbiệt, là vấn đề sống còn, thành bại của chế độ. Cơ sở là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, là vùng nhạy cảm nhất của đời sống xã hội, khôngđược xao nhãng mà cầnđặcbiệt quan tâm, chỉđạothường xuyên. Thực chất của mất cơ sở là mất dân, mà khởi đầu của sự mất dân là xa dân của cán bộ xã, sự thiếu trách nhiệm, thiếu đồng bộ, cồng kềnh của tổ chức bộ máy và nạn quan liêu, tham nhũng, thiếu minh bạch của đội ngũ cán bộ công chức cấp xã.

Cơ chế pháp lý thực thi dân chủ cơ sở phản ánh bản chất dân chủ trong việc thực hiện quyền lực nhànướcvàthểhiện trách nhiệmcủaNhànướctrong mối quanhệ Nhà nước- công dân tại địa bàn quan trọng nhất. Trách nhiệm của Nhà nướcthường được hiểu trên hai phương diện là bảo đảm thực hiện và bảo đảm bảo vệ.Bảođảmthực hiện cóýnghĩarấttrực quan,đólà nhànướctạora các điều kiệnđểcông dân thể hiệnýchícủamình, tựmình thực hiệnmộtsốhoạtđộng trong chu trình quyền lực trên thực tế. Bảo đảm bảo vệ là việc nhà nước giải quyết các khiếu nại, khiếu kiện và xử lý các vi phạm trong quá trình bảo đảm thực thi dân chủ cơ sở. Bảo đảm thực hiện và bảo đảm bảo vệ có quan hệ hữu cơ với nhau. Trên thực tế, khó có thể phânbiệt đượcbảo đảm thực hiện và bảođảm bảovệ bởi

lẽ ngay trong việc tạođiều kiệnđể công dân thực hiện quyền dân chủ tại cơ sở thìđã bao hàm cả mục đích bảo vệ quyền này.

Như vậy, trách nhiệmbảođảmthực hiện dânchủtạicơsởđòihỏiNhà nướcphải ghi nhận các quyền và phương thức thực hiện quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp và hệ thống pháp luật. Đó là cơ sở quan trọngđểtạolập các thủ tục pháp lý gắnvớithiết chế, phương tiện và quy trình cụ thể trong việc thực hiện dân chủ cơ sở; kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật trong việc thực hiện dân chủ cơ sở;tạo điều kiệnđể cácchủ thể khác tham gia, hỗ trợ trong việc thực hiện quyền dân chủ tại cơ sở của công dân.

Thứ ba, cơ chế pháp lý thực hiện dânchủ cơ sở chỉvận hành có hiệu quả trong môi trường dân chủ, pháp quyền của đất nước và trên cơ sở nguyên tắc công khai, minh bạch của Nhà nước. Vì thế, dân chủ hóa đời sống chính trị xã hội, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân và dân chủ XHCN, tôn trọng quyền tự chủ, tự quản của cơ sở

45

ngày càng được tăng cường thì cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ngày càng có hiệu lực và hiệu quả.

Thứ tư, giá trị và nănglựctácđộngthựctế củacơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở phụ thuộc vào nhận thức, khả năng của mỗi cá nhân công dân, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức và sự tôn trọng, hỗ trợ từ phía xã hội.

Quyền dânchủcủa công dân là nhucầuvà khảnăngcủacông dânđược Nhà nước thừa nhận nên cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở luôn gắn liền với khả năng và nhận thức của mỗi cá nhân công dân. Mỗi cá nhân công dân có những đặc điểm riêng về thể chất và tinh thần, với nhu cầu và khả năng riêng rất đa dạng. Do đó, sự thực thi dân chủ cũng được thực hiện bằng các hình thức, mức độ khác nhau tùy thuộc vàoýchí chủ quanvà sựlựachọncủahọ. Nếucông dân không nhận thức đượchoặc không có khả năng để thực hiện thì quyền dânchủtạicơ sở cũng không trở thành hiện thực.Đặcđiểmnàyđòihỏiviệc hoàn thiện cácbảođảmpháp lý thực hiện dân chủ cơ sở của công dân phải dựa trên nhu cầu và phù hợp vớinăng lực của cá nhân công dân.

Bên cạnh đó, việc thực hiện dân chủ cơ sở còn phụ thuộc vào trình độ, năng lực của độingũ cánbộ,công chức trong hệ thống chính trị cơ sở – là những người có thẩm quyền xem xét, giải quyết cácvấnđềliên quanđếnthực thi quyền dân chủ của công dân. Phát huy dân chủ, trao quyền thực sự cho nhân dân là nội dung thực chất của đổi mớihệ thống chính trị. Tại địa bàn cơ sở, yêu cầu nàygắnviệc nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở với việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơsởvà nâng cao trách nhiệm thực hành dân chủ trongđảng vàtrong xãhội. Vì vậy, bộ máy Đảng và chính quyền phải chân thành lắng nghe ý kiến nhân dân, hành động vì lợi ích của nhân dân, sẵn sàng đối thoạicởimở với dân, triệtđể khắc phục bệnh quan liêu, cửa quyền, hống hách, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi, bao che khuyết điểm của cán bộ đảng viên.

Cơchếpháp lý thực hiện dânchủcơsở còn chịu sựtácđộngbởinhững điềukiện xã hội, đólàýthức trách nhiệm, văn hóa pháp lýcủacộngđồngnói chung, là sự tham gia trực tiếp của các định chế xã hội trong việc hỗ trợ, thúc đẩy hoặc thậm chí cản trở việc thực hiện dân chủ cơ sở của người dân.

46

Thứ năm, cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở mang tínhcụ thểvà linh hoạt, nhanh chóng, có tác dụng đảmbảotính nguyên vẹn của ý chí chính trị của nhân dân, chuyển tải ý chí chính trị của nhân dân một cách cụ thể và hiệuquả đối vớicác vấnđềcủađịaphương và quốc gia,tạolậpcơsởđểnhân dân trực tiếp kiểm soát con đường chính trị của bộ máy Đảng và Nhà nước.

2.2.3. Vai trò của cơ chế pháp lý thực hiện dân chủcơ sở

Thứ nhất, cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở là phương tiện pháp lý cơ bản, hiệu quả nhấtbảo đảmquyền con người, quyền công dân, thực thi quyền làm chủ của nhân dân tại địa bàn cơ sở.

Thực hiện tốt dân chủ tại cơ sở sẽ góp phần xây dựng, củng cố và phát huy nền dân chủ, góp phầnbảođảm, bảovệquyền con người, quyền công dân. Tuy nhiên, dân chủ sẽ chỉ là những khẩu hiệu nằm trên biểu ngữ nếu không có cơ chế hữu hiệuđể hiệnthực hóa. Thông qua các thể chế, thiết chế và các bảo đảmđược ghi nhận và triển khai trên thực tế, dân chủ sẽ chuyển hóa từ lý tưởng, mong muốn thành hiệnthực đờisống. Chính vì vậy, Văn kiệnĐại hộiĐảngtoàn quốc lầnthứXI đã chỉ rõ: “Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người làchủthể, nguồn lực chủyếuvà làmụctiêucủasựphát triển. Phảibảođảm quyền con người, quyền công dân và cácđiềukiện để mọi người phát triển toàn diện. Nâng cao năng lực và tạo cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nhất là dân chủ trực tiếp để phát huy mạnh mẽ mọi khả năng sáng tạovà bảo đảmđồng thuận cao trong xã hội, tạo động lực phát triểnđất nước” [38].

Thứ hai, cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở có vai trò quan trọng trong việc củngcố,nâng cao chấtlượnghệthống chínhtrịcơ sở,góp phần phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa bàn cơ sở.

Trong mô hình quản lý xãhộihiệnđạiluôntồntạihaiyếutốkhôngthểthiếu và ràng buộc lẫn nhau. Đó là dân chủ và pháp quyền: Nhà nước và các thiết chế khác được nhân dân giao quyền và có trách nhiệm phải điều hoà, giải quyết các mâu thuẫn, đảmbảocho các hoạt động xã hội trong khuônkhổpháp luật và dân – ngườichủđích thực của quyền lực có quyền khôngthể bịxâm phạm là tácđộngvà kiểm soát nhà nước thực thi quyền lực thông qua các chính sách công và

47

các hành viđiềuhành, quản lý xã hội. Từ đó,hình thành một nhucầutấtyếu khách quan – Nhànướccủadân, do dân, vì dân thì phải lắng nghe dân nói còn người dân thì phải dõi theo Nhà nước làm [167].

Từ phương diện này, cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở là căncứ đểngười dân tham gia vào việc xây dựng và kiểm soát toàn bộ hệ thống chính trị cơ sở,trực tiếp tham gia vào hoạtđộng quảnlý nhà nước tại cơ sở.Đâychính là một trong những kênh dẫn quan trọng để tăng cường tính chính đáng, tính hiệu quả của hệ thống chính trị cơ sở. Lịch sử lập hiến của thế giới và Việt Namđã biết đếncác mô hình tham gia của dân vào việc quản lý nhà nước và kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước mà điển hình là giám sát hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, cán bộ, công chức nhà nước, phản ánh, kiến nghị, tham giaýkiến xây dựng chính sách, pháp luật, quyếtđịnhnhững vấn đềquan trọng

của quốc gia thông qua trưng cầu ý dân, bầu cử,… trên phạm vi cả nước và ở từng đơn vị cơ sở.

Ngoài ra, chính cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở là căn cứ pháp lýcho tổ chức và hoạt động của các thiết chế tham gia thực hiện dân chủ cơ sở.Ởnghĩa này, một cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở phùhợpsẽ đảmbảochất lượng, hiệu quả hoạt động của các thiết chế chính trị – pháp lý tại địa bàn cơ sở.

Thứ ba, cơchếpháp lý thực hiện dân chủcơ sởgóp phần tạo ra sựđồng thuận, sự đoàn kết và nhất trí cả về chính trị và tinh thần tại cộngđồngdân cư cơbản của xã hội.

Xét về vị trícủa ngườidân, ngoài việc tham gia vàohoạt độngquản lý nhà nước với tư cách là chủ thể của quyền lực nhà nước, thì sự tham gia của họ còn có ý nghĩa bởi họ còn là đối tượng chịu sự tác động (có thể trực tiếp hoặc gián tiếp) bởicác quyếtđịnhcủanhà quản lý.Bởivậy,họ cóquyềnđượcđạidiện, quyềnđượcbiết, đượctiếp cận, được tham gia ý kiến, được kiếnnghị, đượcđối thoạivà đượcgiám sát trong toàn bộ quá trình xây dựng và ban hành các quyết định quản lý. Nếu các cá nhân tin rằng, họ vừa tham gia một cách có ý nghĩa vào các quyếtđịnhảnh hưởng đếnbản thân mình thì họ sẽ sẵn sàng chấp nhận những thay đổi đó hơn. Nhưng nếu họ tin là bị người ngoài cuộc hoặc một Chính phủ không đếm xỉa

48

gì đến mối quan tâmcủa họ áp đặtphải thay đổi thì chắc chắn sự tức giận sẽ bùng lên và gây tác hại cho xã hội. “Quá trình tham gia mang lại cho cá nhân tiếng nóiđể địnhhình một đổi thay, cho nên những thay đổi đó có khả năngdễ được chấp nhận hơnvà ít bị đảongược hơn khi cơ hội đầu tiên xuất hiện” [63]. Nói một cách khác, khi người dân trực tiếp tham gia và bỏ công sức vào góp ý một chính sách hay một quyết định quản lý thì họ sẽ đối xử với chính sáchđónhư một sản phẩm

tự nguyện ràng buộc thi hành, vìhọđãđóng góp xây dựng nên chính sách này. Nói theo ý nghĩa chính trị, đó chính là thực hiện đại đoàn kết và hướng tới hài hoàcác lợi ích trong xã hội thông qua sự tham gia của người dân.

Sựtham giacủadân còn làyếutốcănbảncủachủthuyết“quảnlý nhà nướctốt”(Good Government).“Quản lý nhànướctốt”có nghĩa làmộtChính quyền hoạtđộng có hiệuquảcùngvớiviệc ban hành các quyếtđịnhcủamình đúng trình tự, quy định: quản lý nhà nước bằng pháp luật; trách nhiệm giải trình; minh bạch vàđảmbảosựtham giacủacông chúng. Quản lý bằng pháp luật cónghĩa là người ra văn bản khi ra quyết định không được căn cứ trên trực giác hoặcý tưởng ngẫu nhiên của họ, mà phải căn cứ trên các chuẩnmực được chấpnhận, có lý lẽ và cơ sở thực tiễn vững chắc. Trách nhiệm giải trình thể hiện ở chỗ: người ra quyếtđịnhphải giải trình các quyếtđịnh của họmột cách công khai, chịusựgiám sát của cơ quan có thẩm quyền cấp trên và của cử tri. Minh bạch, chính là việc các công chức thi hành công việc nhà nước một cách công khai để các công dân và báo chí có thể biết và bàn bạc về công việc của họ. Và bảo đảm sự tham gia của dân chính là việc tạo cơ hội cho những người chịu tác động (trực tiếp hoặc gián tiếp) của một quyết sách sắp ban hành có cơ hội khả thi tốiđa để đónggóp ý kiến hoặc tham gia vào quá trình ra quyết định.

Thứ tư, cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở giúp kiểm soát được tệ quan liêu, cục bộ – căn bệnh trầm kha của nhà nước, của các nhà quản lý, nhất là tạiđịa bàn cơ sở.

Các cơ quan nhà nước vốn mang sẵn trong mình ít nhiều bản chất “quan liêu”, cho dù đó là nhà nước tiếnbộvà phát triển. Cơ quan nhànước,công chức không chỉ bị giớihạnvềsự nhạy cảmthực tiễn, vốn sống thực tế mà còn do tâm

49

lý tự vệcủa“ngườigáccổng”, luôn muốn “tuyệtđối hoá”cho sự an toàn của toàn xã hội. Ngoài ra, quá trình ban hành các quyết định quản lý luôn bị chi phối bởilăng kính chủ quan của những nhà quản lý, trong một số trường hợp còn bị chi phối bởi những toan tính cục bộ, đặc quyền đặc lợi của một bộ phận nào đó. Bởi vậy, sự tham gia của người dân sẽ tạo sự cân bằng và khoa học: có bảo vệ và có phản biện, có nêuvấnđềvà có phản bác vấn đề, có vai trò của quản lý và bị

quản lý, có quyền tự do kinh doanh và có trật tự côngcộng… Hồ ChíMinh từng nói:“Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy, muốn biết các nghị quyết cóđược thi hành không, thi hành có đúng không, muốn biết ai ra sức làm, ai làm qua chuyện, chỉcómộtcách, là khéo kiểm soát. Kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa, kiểm tra khéo về sau khuyếtđiểm nhấtđịnh sẽ bớtđi [78, tr.286].

Theo nghĩa đó, kiểm soát có hai cách: từ trên xuống và từ dưới lên. Kiểm soát từ dưới lên là do quần chúng thực hiện. Đây là cách tốt nhất, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh “để kiểm soát các nhân viên” thì người dân “đã là người làm chủ thìphải biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ. Mỗi người phải ra sức góp công, góp của để xây dựng nước nhà” [81, tr.310].

2.3. CÁC THÀNHTỐCỦACƠCHẾPHÁP LÝ THỰC HIỆN DÂNCHỦCƠ SỞ

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\HOÀN THIỆN CƠ CHẾ PHÁP LÝ THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay Hoàn thiện cơ chế pháp lý thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *