Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân bằng toà án theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân bằng toà án theo pháp luật Việt Nam hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết việc nghiên cứu của luận án

Khi đề cập đến chiến lược phát triển về kinh tế – xãhộicủa một đất nước, các nhà nghiên cứu luôn chú tâm đến khía cạnh pháp luật của nó và tìm ra phương thức điều chỉnh để phù hợpvới sựphát triển kinh tế. Để hội nhập với nền kinh tế đang phát triển to lớncủa nhiều nước trên thế giới, và để góp phần giải quyết tốtcác tranh chấp phát sinh trong hoạt động tiêu dùng, bảo đảm về quyền tự do kinh doanh, bảo vệ và tôn trọng lợi ích hợp pháp của mọi chủ thể trong kinh doanh, cũng nhưNTD và việc ổn định và phát triển nền kinh tế thị trường. Hiện nay trong nền kinh tế thị trường, quan hệ tiêu dùng đã được mỡ rộng nhiều quốc gia. Đặc biệt các quốc gia đang phát triển trên thế giới, sức cung tăng, sức cầu tăng, thương nhân ngày càng nhiều, NTD càng ngày càng đông vì thế khó tránh khỏi vấn đề tranh chấp xảy ra. Pháp luật điều chỉnh quan hệ tiêu dùng cũng từ đó mà hình thành và phát triển nhanh chóng. Trong quan hệ tiêu dùng, tranh chấp là điều khó tránh. Khi mối quan hệ cung,cầunày phát triển vàmở rộngvề quy mô, nó sẽ gia tăng tính chất phức tạp của việc cung ứng hàng hoá cũng đồng thời gia tăng tính phức tạp của các tranh chấp tiêu dùng. Điều này cần phải nghiên cứu tỷ mỷ để đảm bảo tính công bằng cho các bên nếu không may có tranh chấp xảy ra.

Tranh chấp tiêu dùng không mới nhưng trước tình hình phát triển kinh tế,

đường lối đổi mới và chính sách mở cửa của Nhà nước…đã tạo điềukiện cho nhiều thương nhân thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau, có cơ hội phát triển, vàNTD có cơ hội lựachọn các sản phẩm mà họ cần. Trong quá trình trao đổi hàng hoá, dịch vụ giữa NTD với thương nhân khó có thể tránh khỏi các tranh chấp ngoài ý muốn. Trước bối cảnh đó Việt Nam đã cho ban hành LBVQLNTD 2010, các văn bản dưới luật. Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế nhấtđịnh trong việc giải quyết tranh chấp tiêu dùng.

Ví dụ:mộtsố phương thức có thể giải quyết tranh chấp như: phương thức trọng tài, hoà giải, thương lượng, Toà án. Ngoài ra, PLBVQLNTD liên quan tới các

1

ngành luật khác chẳn hạn như pháp luật dân sự, tố tụng dân sự, luật nhà ở, điều này khiến giới học giả và các nhà lập pháp chưa thể giải quyết hết trong bối cảnh yêu cầu đặt rađối với hoạtđộng lập pháp. Hiện nay có nhiều quy phạm được ban hành với mục đích điềuchỉnh tốthơnmốiquanhệ giữa NTD với thương nhâncụthể bằng phương thức Toà án, vì thế việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện pháp luật là rất cần thiết cho giai đoạn phát triển kinh tế. Trong vấn đề giải quyết tranh chấp, một số ưu điểm cần đượcphát huy hơn nữa và một số nhược điểm cần hoàn thiệnđể trởnên tốt hơn.

Ngày nay vị thế của NTD được nâng lên, pháp luật cũng đã chú tâm đến vấn đề có liên quan đến tranh chấp trong tiêu dùng. Trước yêu cầu chung đó, tác giả đã nhìn nhận: việc nghiên cứu quan hệpháp luật tiêu dùng và các phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng là điều cần thiết. Hiện nay tranh chấp tiêu dùng có khuynh hướng gia tăng, chúng diễn biến phức tạp đòihỏi phải có những phương thức giải quyết mang lại hiệu quả. Do dó việc lựa chọn một phương thức giải quyết hợp lý là vấnđề mang ý nghĩa rất quan trọng.Đặc biệt tranh chấp phát sinh giữa thương nhân với NTD. Trên thực tế, Toà án là cơ quan có đầy đủ các chức năng đểthực hiện những cơ sởpháp lý trong việc giải quyết tranh chấp mang lại hiệu quảcao. Tuy nhiên, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng phương thức Toà án vừa có những ưu điểm nhất định, vừa có những điểm hạn chế cố hữu cần được nghiên cứu để khắc phục. Từcác phân tích trên, tác giảquyết định nghiên cứu đề tài: “Giải quyết tranh chấp giữangườitiêu dùngvớithương nhân bằng toà án theo pháp luật Việt Nam hiện nay.”Để làm đề tài nghiên cứu sinh cho mình, với mong muốn

góp phần hoàn thiện pháp luậtđể đáp ứngyêu cầu phát triển kinh tế– xãhộiở Việt Nam trong tương lai.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án – Mục đích nghiên cứu

Làm rõ các vấn đề lý luận, thực tiễn về việc giải quyết tranh chấp giữa NTD với thương nhân bằng Toà án theo pháp luật Việt Nam, đồng thời phân tích các khía cạnh, đánh giá những nội hàm liên quan đếnlí luận đối với các mối liên hệ pháp

2

luật tiêu dùng trên cơ sở đó đánh giá thực trạng pháp luật và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật.

– Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu, hệ thống các ấn phẩm, công trình khoa học của các học giả đi trước gầngũivớiđề tài, đúckết kinh nghiệm, phát triển ý tưởng khoa học, từđócho ra những nhận định của riêng mình.

Nhiệm vụ cụ thể của luận án bao gồm:1, tác giả tiến hành phân tích, đánh giácác nộidungvề mặt lí luận và thực tiễn liên quan tác động tới quan hệ pháp luật tiêu dùng, phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng bằng toà án theo pháp luật Việt Nam hiện nay. 2, tham khảo phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng ở một sốnướctừđóxem xét những ưu điểmvà nhược điểmđút kết thành kinh nghiệm. 3, nêu ra những vấn đề lý luận về quan hệ pháp luật tiêu dùng, pháp luật về giải quyết tranh chấp tiêu dùng bằng phương thức toà án, thực tiễn áp dụng pháp luật ra sao hiện nay. 4, so sánh, đối chiếu phương thức giải quyết tranh chấp bằng toà án với các phương thức khác. 5, đưa ra những kiến nghị về quan điểm, hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp giữa NTD vớithương nhân bằng phương thức Toà án.

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án – Đối tượng nghiên cứu của luận án

Đối tượng nghiên cứu của đề tài:

Thứ nhất, những tư tưởng, học thuyết vềpháp luật tiêu dùng, những cách thức giải quyết tranh chấp giữa NTD với thương nhân bằng Toà án.

Thứhai, nghiên cứu các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam và thếgiới về bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NTD.

Thứba, thực trạng và thực tiễn hoạt động giải quyết tranh chấp của Toà án tại Việtnam.

– Phạm vi nghiên cứu của luận án

Về nội dung, nghiên cứu những vấn đề cơ bản về việc giải quyết tranh chấp giữa NTD với thương nhân bằng Toà án ở Việt nam, thực trạng thi hành và thực

3

tiễn giải quyết, khái niệm NTD, thương nhân, phân loại tranh chấp, đối tượng của quan hệ, đặcthù, tính độc đáo của PLBVQLNTD, đặc điểm giải quyết tranh chấp tiêu dùng bằng Toà án, nghiên cứu về thực tiễn giải quyết tranh chấp, đồng thời nghiên cứu PLBVQLNTD ở quốc gia lớn, phát triển về pháp luật tiên tiến để đánh giá pháp luật bảo vệ NTD ở Việtnam, từđó đề xuất những quan điểmhoàn thiện, nêu ra những cái đúng cái sai, cái chưa phù hợp để tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật ngày một tốt hơn.

Vềkhông gian,tậptrung nghiên cứu của luận án về vấn đề lý luận, thực tiễn liên quanđến giải quyết tranh chấp tiêu dùng bằng Toà ánở Việt Nam.Lấykinh nghiệmmộtsố quốc gia, đúckết, bổ sung cho những mặt hạn chế trong hệ thống pháp luật Việtnam.

Thời gian nghiên cứu, đề tài tập trung nghiên cứu về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân bằng Toà án từ năm 2010đếnnay và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện định hướng đến năm 2030.

4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận án

– Phương pháp luận của luận án

Phương pháp tiếp cận: dựa vào quan điểm về đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đối với việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và giải quyết tranh chấp, quan điểm này nâng cao vai trò bảo vệ người tiêu dùng.Đồng thờivận dụng quan điểm từtưtưởngHồ Chí Minh, triết học Mác-Lênin đốivới vấn đềphát triển kinh

tế.

– Phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án được nghiên cứu dựa vào phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, và duy vật lịch sử. Phương pháp này được sử dụng làm kim chỉ namđối với luận án, đánh giávềpháp luậtthực địnhvề vấn đềbảovệ NTD và thực trạng việc giải quyết tranh chấp giữa NTD với thương nhân bằng Toà án tại Việt Nam. Luận án còn sử dụng thêm một số phương pháp nghiên cứu khác để làm cho luận án trở nên phong phú và đa dạng chẳng hạn như: Phương pháp tiếp cậnđa ngành, liên ngành trong nghiên cứu pháp luật, phương pháp tiếp cận luật học thực định-nghiên

4

cứu trên văn bản, phương pháp tiếp cận triết học pháp luật-nghiên cứu pháp luật dưới phương diện triết học, phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu…đểhoàn tất công việc nghiên cứu tác giả lồng ghép các phương pháp trên trong luận án tùy theo từng chương mà lòng vào để phù hợp với luận án, để luận án đạt được kết quả tối ưu.

5. Những đóng góp mới của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên ở cấp độ tiến sỹ chuyên sâu và cóhệ thống về vấn đề tranh chấp và giải quyết tranh chấp giữa NTD với thương nhân, cụ thể như sau:

Thứ nhất, luận án đề ra quan điểm tiếp tục hoàn thiện về lý luận pháp luật vềgiải quyết tranh chấp giữa NTD với thương nhân bằng Toà án. Luận án phân tíchđánh giá, kế thừa một số công trình nghiên cứu trước về giải quyết tranh chấp trong tiêu dùng, đồng thời làm rõ khái niệm, tính đặc thù quan hệ tiêu dùng và giải quyết tranh chấp trong tiêu dùng. Trên cơ sở đó nghiên cứu chuyên sâu khái niệm, đặc tính, và nội dung liên quan đến pháp luật giải quyết tranh chấp giữa NTD với thương nhân bằng Toà án theo pháp luật Việtnam.

Thứ hai, luận án sửdụng một số phương pháp: phương pháp tiếp cận đa ngành, liên ngành, luật học thực định, nghiên cứu luật học thông qua lăng kính triết học để phân tích, đánh giá vàhệ thống về thực trạng, thực tiễn áp dụng pháp luậtđối với tranh chấp tiêu dùng và giải quyết tranh chấp tiêu dùng bằng Toà án theo pháp luật Việtnam hiện nay đểtừđó nêu racác vấn đềđã đạt đượcvà những vấn đề bất cập của pháp luật Việtnam.

Thứ ba, luận án đưa ra một số giải pháp kiến nghị cụ thể với mục đích hoàn thiện đốivớihệ thống pháp luật Việtnam vềtranh chấp và giải quyết tranh chấp giữa NTD với thương nhân bằng Toà án tại Việtnam.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Ý nghĩa về lý luận, qua đánh giá, phân tích, nghiên cứu rút ra được kết quả:

đề tài được nghiên cứu một cách chi tiết, đóng góp thêm làm đa dạng, hoàn thiện cho lý luận chung về quan hệ tiêu dùng, giải quyết tranh chấp tiêu dùng bằng Toà

5

án. Hơn thế nữa,đề tàinói lên được tính đặc thù, tính độc đáo riêng của pháp luật tiêu dùng so với cách ngành luật khác bằng cách so sánh, đối chiếu. Đề tài là một phần đóng góp thêm, hữu ích cho lý luận về PLBVQLNTD. Thông qua quá trình nghiên cứu các khía cạnh PLBVQLNTD về lý thuyết và về tình hình thực tế tác giả nhận thấy rằng đề tài của luận án mang tính chất thời sự, nói lên các vấn đề thực

tế.Luận án đóng góp hoàn chỉnh vềmặtlý luận mang tính chất nền móngđể thực hiện việccảithiện pháp luật BVQLNTD trở nên chuẩn mực hơn. Tác giả phân tích, so sánh, đối chiếu, kiến nghị theo những nền tảng logic, căn cứ từ lý thuyết đến thực tiễn.

Ý nghĩavề thựctiễn, đề tài của luận án hiện nay, mang tính thực tiễn, có thểsửdụng để làm tư liệu, tham khảo, giảng dạy, hoàn thiện thêm, làm nguồn tài liệu bổ sung, phong phú, đa dạng cho pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam, đảm bảo tính công bằng cho các bên khi tham gia tranh chấp, đảm bảo lợi ích hợp pháp đối với NTD. Trên thực tiễn, nhu cầu hoàn thiện pháp luật bảo vệquyền lợi NTD để giảm bớt tính bất công trong xã hội, mang tính thiết yếu vì thếcần phải có nghiên cứu chi tiếtđể hổ trợtrong việc thực thi và hình thành pháp luật. Luận án mang ý nghĩa sâu xavề phương diện lý luận và đồng thời góp phần làm sáng tỏ về phương diện thực tiễn luận án góp một phần không thể thiếu trong việc hoàn thiện về phương diện giải quyết tranh chấp giữa NTD với thương nhân bằng phương thức Toà án, cũng nhưvề mặt hoàn thiện PLBVQLNTD tạo ra một hành lang pháp lý mang tính công bằng cho các bên, các bên cùng có lợi, và duy trìổn định đảm bảo tính công bằng đối với mọi người.

7. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu,danh mụctừviết tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án bao gồm 4 chương như sau:

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiêncứu đề tài luận án.

Chương 2. Những vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân bằng Toà án.

Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân bằng toà án theo pháp luật Việt Nam hiện nay
Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân bằng toà án theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Chương 3. Thực trạng và thực tiễn pháp luậtvề giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân bằng Toá án ở việt nam.

Chương 4. Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân bằng Toà án.

7

Chƣơng 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Phương thức giải quyết tranh chấp giữa NTD với thương nhân đã quá quen thuộc trên thếgiớitừkhi các quyền và lợi ích hợppháp của NTDbị xâm phạm, pháp luật BVNTD cũng theo đó mà phát triển, đồng thời các phương thức tiếp cận nghiên cứu các khía cạnh PLBVQLNTD và vấn đề giải quyết tranh chấp trong tiêu dùng cũng được nhiều nhà làm luật tiến hành nghiên cứu ở các khiá cạnh, các phương diện khác nhau, họ đã thể hiện tư tưởng, quan điểm của mình theo từng phương thức khác nhau.

1.1.1. Những công trình nghiên cứu về lý luận bảo vệ người tiêu dùng và liên quan đến các phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng.

1.1.2. Những công trình nghiên cứuvề các phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng và giải quyết tranh chấp tiêu dùng chuyên sâu bẳng Toà án liên quan đến đề tài của luận án

1.1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu

1.1.3.1. Những vấn đề đã được nghiên cứu

Thông qua nghiên cứu các công trình của những tác giả trong nước và ngoài nước vềvấn đề tiêu dùng, tác giả đánh giá các kết quả cụ thể sau đây:

Thứ nhất, nhìn chung pháp luật ở Việt Nam và ở nước ngoài, đối tượng cần được pháp luật bảo vệđối với quan hệ tư là NTD, vì thế cần phải bảo vệ NTD. ỞViệt Nam xem thương nhân là người ở vị thế mạnh, NTD ở vị thế yếu.

22

Thứ hai, tính công bằng chưa đạt được như mong đợi, và quyền của NTD bịxâm phạm thường xuyên, đây cũng là vấnđềhiện nay cần được nghiên cứu để tìm ra các phương thức đưa vào pháp luật để bảo vệ NTD.

Thứ ba, pháp luật nước ngoài và Việt Namđềcao tôn trọng và bảo vệ NTD, họ làm những điều mà có lợi nhất, tốt nhất cho NTD, ví dụ ở nước ngoài, việc kiện tập thể rấtcó lợi cho NTD vìđỡ tốnkém, tiện lợi và kiện tập thểcũng rất bình thường, còn ở Việtnam, NTD khởi kiện tập thể thì không dễ dàng.

Thứ tư,ở nước ngoài NTD và các tổ chức bảo vệ NTD có khuynh hướng năng động. Nếu NTD gặp phải vấn đề bị xâm phạm về quyền và lợi ích hợp pháp của mình,họ lập tức khởi kiện hoặc thương lượng yêu cầu bồi thường ngay. Cònđối vớicác tổchức, khi thấy quyền và lợi ích hợp pháp của NTDbị xâm phạm, không cần NTD lên tiếng họ cũng trình đơn khởi kiện tới nơi, kiện ngay. Trong khiở Việt Nam NTD có vẻ còn bị thụđộng,thờ ơ. Đối với cáctổ chức bảo vệ tiêu dùng, tiếng nói họ không có trọng lượng, vẫn chưa hoạt động hết mình, mọi chuyện họ đều muốn cho qua.

Thứ năm, ở nước ngoài cũng như Việt Nam còn tồn tại một số hạn chế trong pháp luật cần phải tìm ra phương thức hoàn thiện, và cũng có một số lỗ hổng trên thực tế hiện không có khả năng giải quyết, gây tổn hại cho NTD.

Đối với vấn đề giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân bằng phương thức Toà án.

Thứ nhất, GQTC bằng Tòa án có khả năng giải quyết triệt để hầu hết các vấn đề có liên quan đến tranh chấp tiêu dùng, mà các phương thức giải quyết ngoài Tòa án không mang lại kếtquả, và phương thức GQTC bằng Tòa là một phương thức bảo vệ mang tính hiệu quả cao.

Thứ hai, phương thức xét xử bằng Toà án đảm bảo hơn vì Tòa án mang tính quyền lực công, tính nghiêm túc. Mục đích quan trọng đối với phán quyết Toà án ban ra là việc thực thi, vì nếu có phán quyết mà không được thực thi, các bên tham gia tranh chấp không tuân theo, thì có phán quyết cũng như không có.

23

Thứ ba, Tòa án hiện nay không được NTD lựa chọn nhiều, NTD lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng phương thức ngoài Tòa án vì tính tiện lợi, nhanh chóng, tiền bạc, chủ động. Các phương thúc ngoài Toà án này phù hợp với các vụ kiện nhỏ, có tài sản hoặc có mức bồi thường giá trị thấp.

Thứ tư,ở Việt Nam, NTD giải quyết tranh chấp bằng Tòa án khi khởi kiện tập thể, nhân danh vì lợi ích tập thể, hoặc cácvụ việcliên quan đến các tranh chấp tiêu dùng có yếu tố nước ngoài thì Toà án còn lúng túng, thậm chí không thể giải quyết vì chưa va chạm nhiều, nên việc xét xử bằng Toà án vẫn chưa thật sự mang lại kết quảmà NTD mong đợi.

1.1.3.2. Những vấn đề chưa được nghiên cứu

Hiện nay việc nghiên cứu liên quan GQTC tiêu dùng bằng Toà án cũng đãđược nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu đánh giá, tuy nhiên mức độ còn rời rạc, chưa tập trung chuyên sâu hết các ngõ ngách liên quan đến GQTC tiêu dùng bằng Toà án. Tại Việtnam công trình nghiên cứu thiên về một lĩnh vực “duy nhấtvềGQTC tiêu dùng bằng Toà án” cấp độtiến sĩ chưađượcthực hiện. Tác giả quyết định nghiên cứu “giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân bằng Toà án theo pháp luật Việt Nam hiện nay” đề tài này không trùng lắp với các công trình khoa học nghiên cứu trước đó ở cấp độ tiến sĩ và luận án tiếp tục nghiên cứu:

Thứ nhất,vềvấn đề lý luận về GQTC giữa NTD với thương nhân trong đó bao gồm khái niệm tranh chấp tiêu dùng,nộidung liên quan đếnđề tài.Thứ hai, luận án nêu ra một số thực trạng, thực tiễn liên quan đếngiải quyết tình chấp tiêu dùng bằng Tòa án theo tinh thần pháp luật Việt Nam. Thứ ba, luận án đúc kết kinh nghiệm từthực tiễn và đối chiếu thực trạng pháp luật để đề ra một số phương thức hoàn thiện.

1.2. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu 1.2.1. Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu, nghiên cứu sinh sẽ đi sâu và giải quyết những câu hỏi được nêu dưới đây:

24

– Tại sao việc giải quyết tranh chấp tiêu dùng bằng phương thức Toà án đóng vai trò quan trọng hiện nay? những phương thức nào đượcthực hiện để giải quyết tranh chấp trong tiêu dùng?

Phương thức GQTC bằng Toà án đóng vai trò rất quan trọng, không những có đặc thù riêng mà còn là phương thức giải quyết cứu cánh cuối cùng khi các phương thức giải quyết khác không thành. Phương thức Toà án vừa có những ưu điểm nhất định và vừa có những hạn chế cố hủ, vì thế cần phải được nghiên cứu tỉ mỉ. Ngoài phương thức GQTC bằng Toà án, vẫn có các phương thức ngoài Toà án khác.

– Tranh chấp và tranh chấp trong tiêu dùng được hiểu như thế nào?

Tranh chấp trong tiêu dùng có nét đặc thù riêng, chuyên cho lĩnh vực tiêu dùng, nó có nhiều sự khác biệt so với các loại tranh chấp khác.

– Thực trạng và thực tiễn giải quyết tranh chấp tiêu dùng thời gian qua cónhững bất cập vướng mắc gì?

Thực trạng và thực tiễn giải quyết tranh chấp tiêu dùng thời gian qua cónhững bất cập vướng mắc trong nhiều vấn đề liên quan về quy định như: thủ tục rút gọn chưa phù hợp, về khởi kiện tập thể, nghĩa vụ chứng minh,địa vị pháp lí của người khởi kiện…thực tiển án phí, đối tượng chịu án phí, BTTH. Sau nhiều năm PLBVQLNTD đi vào đời sống phát sinh những điểmchưa phù hợp từthực trạng trong pháp luật và thực tiễn GQTC. Để GQTC tiêu dùng có hiệu quả, các quy định có liên quan cần phải chuẩn mực, khắc phụcđược lỗ hổng, và hoàn thiện tồn tại phát sinh.

– Những bất cập, vướng mắc và nguyên nhân của bất cập trong pháp luật ?

Những bất cập, vướng mắc liên quan đến định nghĩa NTD, thiếu định nghĩa hàng hoá, dịch vụ…những vấn đề chưa có quyđịnh trong pháp luật như khởi kiện tập thể…

– Nhu cầu và giải pháp hoàn thiện đối với vấn đề giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân như thế nào?

25

Về vấn đề hoàn thiện pháp luật đối với PLBVQLNTD và PLTTDS phải cótính khả thi, phù hợp với tình hình thực tế.

1.2.2. Lý thuyết nghiên cứu

Để thực hiện đề tài nghiên cứu, lý thuyết nghiên cứumà luận án dùng để nghiên cứu và trả lời cho những câu hỏi được đề ra cụ thể như sau:

– Lý thuyết bất cân xứng trong quan hệ tiêu dùng. Lý thuyết này rất quan trọng, lý thuyết đềcập vấn đề kẻmạnhbắt nạt kẻ yếu. Có thể thấybất kỳ thờiđại nào, chế độ nào, để bảo vệ các bên trong quan hệ pháp luật. Pháp luật nhân đạo luôn luôn ưu tiên bảo vệ người ở vị thế yếu. Vớilý do trên, pháp luật cần phải bảo vệ NTD vì NTD luôn ở vị thế yếu. Chính vì điểm đặc thù của quan hệ trên, kéo theo điểm đặc thù của quan hệ NTD.

– Lý thuyết đảo nghĩa vụ chứng minh, lý thuyết về đảo nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng, lý thuyết này làm giảm gánh nặng việc chứng minh đối NTD ở vị thế yếu.

– Lý thuyết về quyền của người tiêu dùng, lý thuyết này đóng vai trò quan trọng để phân định về quyền của người tiêu dùng được phép làm gì,cần được bảo vệ, tôn trọng, và đượcbảo đảm từ nhiều góc độ.

– Lý thuyết bóc lột (exploitation theory) [130, tr.572],đềcập đến vấn đề bảo vệ NTD, sử dụng sức mạnh thị trường, lý thuyết này chỉ ra rằng NTD cần phải được bảo vệ vì 2 nguyên nhân chính sau: thứ nhất NTD không có nhiều sự chọn lựa, chỉ việc phải mua hàng và ký hợp đồng có các điều khoản do các công ty ở vị thế mạnh

lập sẵn. Thứ hai các công ty có thể bóc lột, khai thác những thông tin quan trọng vàsự bất bình đẳng trong quan hệ tiêu dùng.

Dựa vào những lý thuyết trên, luận án xác định và giải quyết đượccâu hỏi nghiên cứu, giải thuyết nghiên cứu, đồng thời so sánh, đối chiếu, rà soát những quyđịnh hiện tại của pháp luật Việtnam nói chung và pháp luật liên quan đến lĩnh vực tiêu dùng nói riêng từ đó dưa ra kiến nghị để hoàn thiện.

26

Kếtluận chƣơng 1

Đối với tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu đề tài luận án, tác giả nêu lên tổng quan tình hình nghiên cứutrongđó bao gồm những công trình nghiên cứuvề lý luận bảo vệ người tiêu dùng và liên quan đến các phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng. Bên cạnh đó còn có những công trình nghiên cứu về các phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng và giải quyết tranh chấp tiêu dùng chuyên sâu bẳng Toà án liên quan đến đề tài của luận án, cụ thể các phương thức giải quyết ngoài Toà án và Toà án

Một sốcác công trình nghiên cứu về vấnđề giải quyếttranh chấp tiêu dùng, và giải quyết tranh chấp tiêu dùng bằng Toà án thông qua tác giả bài viết đã đưa ra quan điểm rất quan trọng đối với việc giải quyết tranh chấp trong bối cảnh hiện nay. Thông qua các tổng quan trên, tác giả đánh giá tình hình nghiên cứu, nêu lên những vấn đề đã được nghiên cứu, những vấn đề chưa được nghiên cứuvà quyết định nghiên cứu đề tài “giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân bằng Toà án theo pháp luật Việt Nam hiện nay” vàđề tài này không trùng lắp với các công trình khoa học nghiên cứu trước đó ở cấp độ tiến sĩ. Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả đặt ra câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu dùngđể sửdụng cho việc nghiên cứu và viết cả bài luận án. Trên cơ sở kế thừa từcác công trình nghiên cứu trước, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu một số vấnđề về lý luận, so sánh, đối chiếu, phân tích quyđịnh pháp luật và nghiên cứu thực trạng, thực tiễn của việc GQTC tiêu dùng với thương nhân bằng Tòa án,đồngthời kiến nghị các phương thức cụ thể để nâng cao và hoàn thiện việc GQTC tiêu dùng bằng Tòa án hiện nay. Các vấn đề được đề cập ở trên sẽ được luận án tiếp tục phát triển nghiên cứu làm rõ trong đề tài này.

27

Chƣơng 2

NHỮNGVẤNĐỀ LÝ LUẬNVỀTRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP GIỮA NGƢỜI TIÊU DÙNG VỚI THƢƠNG NHÂN BẰNG TOÀ ÁN

2.1. Quan hệ về tiêu dùng và các yếu tố cấu thành

Quan hệ tiêu dùng là một loại quan hệ dân sự đặc biệt, là quan hệ tư hay nói cách khác là quan hệ mua bán được xây dựng trên nền tảng của hợp đồng mua bán, theo đó, NTD mua, sử dụng hoặc mua và sử dụng hàng hóa, sản phẩm, dịchvụ từphía nhà cung cấp, nhưng không vì mục đích kinh doanh hoặc cho tặng người khác, chỉ dùng trong mục đích tiêu dùng. Thực ra, quan hệ tiêu dùng chính là một mảng củaquanhệdân sự, được tách riêng ra từ quan hệ dân sự. Quan hệ tiêu dùng thiên về lĩnh vực tiêu dùng nhiều hơn, chuyên sâu hơn được tách riêng ra từ pháp luật dân sựtruyền thống. Có thể thấy, quan hệ tiêu dùng là một loại quan hệ dân sự. Quan hệtiêu dùng là một loại quan hệ mang tính chất tư nên có nhiều ngoại lệ hơn so với quan hệ dân sựtheo phương thức truyền thống, chẳng hạn về mặt chủ thể, về đối tượng, về sựbất bình đẳng trong quan hệ, và được hình thành dựatrên hợp đồng mua bán trong tiêu dùng. Hợp đồng mua bán trong lĩnh vực tiêu dùng có các chủthể then chốt sau: NTD, thương nhân, người phân phối, người cung ứng hàng hóa, dịch vụnói chung.

2.1.1. Khái niệm người tiêu dùng

– Theo pháp luật Anh Quốc, một quốc gia nằmở TâyBắc lục địa Châu Âu có Đạo luật về quyền của NTD 2015 s.2(3), quyđịnh NTD như sau: “người tiêu dùng là (1 cá nhân) thực hiện những mục đích hoàn toàn độc lập (ngoài, hoặc không liên quan đến) hoạt động thương mại, kinh doanh, nghề thủ công hoặc nghề nghiệp của cá nhân đó”[141]. NTDở đâyđược hiểu là người thực hiện mục đíchđối lập với mục đíchthương nhân.Địnhnghĩa này rộng hơn, và dựa trên nền tảng của định nghĩa tại “điều khoản bất cân xứng trong quyđịnh hợp đồng tiêu dùng 1999, reg 3(1)”. Định nghĩa này quy định “NTD là bất kỳ thể nhân nào, trong hợp đồng được pháp luật quy định, thực hiện cho các mục đích trừviệc thương mại,

28

kinh doanh, nghề nghiệp của mình”[159].Định nghĩa của Đạo luậtvề quyền của NTD 2015 ra đời giải quyết triệt tiêu các mâu thuẫn của việc diễn giải về khái niệm tình trạng NTD mà cá nhân các thành viên công ty khi giao dịch các sản phẩm, màcác sản phẩm này có quyền được sửdụng trừviệc sửdụng cho mục đích thương mạihoặc nghề nghiệp của họ [139, tr.7].“Một người không phải là NTD có liên quan đếnhợpđồngmua bán, nếu hàng hóa là hàng đã quasửdụng “second-hand”được người ta đem ra bán đấu giá ở công cộng, và các cá nhân đều có cơ hội đích thân mình tham giabuổi đấu giá đó”. Đặcbiêt mặc dù có việc mua bán hàng nhưng vẫn không phải là NTD.

– Theo pháp luật Bồ Đào Nha, một quốc gia ở Tây nam Châu Âu định nghĩa, “người tiêu dùng là bất kỳ pháp nhân nào hoặc tự nhiên nhân mua, hoặc sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ với tư cách là ngườinhận sau cùng“. “Người tiêu dùng là tập thể người, (dù không xác định được), đãtham gia can thiệp vào mối quan hệtiêu dùng” [142]. Định nghĩa này, tập trung người nhận sau cùng là một điểm quan trọng để xác định chủ thể là NTD.

– Theo pháp luật Canada,mộtquốc gia ởBắc Mỹ, cụ thểtại bang Québec, trong đạo luật bảo vệ NTD tại Điều 1 (e) quy định: “người tiêu dùng là tự nhiên nhân, ngoại trừ nhà buôn mang hàng hóa và dịchvụ cho mục đích kinh doanh” [143]. Định nghĩa này chỉ nêu ra chung chung, không cụ thể vấn đề, chỉ nhấn mạnh tính tự nhiên nhân, và loại trừ các nhà buôn, kinh doanh hàng, hóa dịch vụ kiếm lời thì không phải là NTD.

– Theo pháp luật Đu Bai, một quốc gia phía nam vịnh Ba Tư (UAE) tiểu vương quốc Ả Rập, theo quy chế điều hành của luật Liên bang số 24 năm 2006,Điều 1: quy định bảo vệ NTD, có định nghĩa như sau: “Người tiêudùng làbất kỳthể nhân hoặc pháp nhân (Juridical person) tiếp nhận hàng hóa và dịch vụ, (có lý do hoặc không có lý do) nhằmmụcđích để thỏa mãn nhu cầu cá nhân hoặc các nhu cầu của người khác” [144]. Luật quy định chỉ cần tiếp nhận hàng cho mình hoặc cho người khác, không cần biết lý do sử dụng, nhưng chỉ cần dùng thỏa mãn nhu cầu thì chính là NTD.

29

– Theo pháp luật Ecuador, một quốc gia ở NamMỹ có đạo luậtcơ bản bảo vệNTD năm 2000. “El 10 de julio de 2000 entró en vigencia la ley orgánica de defensa del consumidor, superando la anterior que fue aprobada en 1990. La ley orgánica de defensa del consumidor contiene 15 capitulos y ha sido reformada enuna ocasión en el ano 2006” (Tiếng Tây Ban Nha) “Ngày 10 / 7/ 2000, luật cơbản bảo vệNTD có hiệu lực, thay luật trước đó được phê duyệt vào năm 1990. Luật cơ bản bảo vệ NTD có 15 chương và đã được sửa đổi vào năm 2006.”Đạo luật cơ bản bảo vệ người tiêu dùng của Ecuador tại Điều 2 quy định: “Người tiêu dùng: bất kỳ thể nhân hoặc pháp nhân nào là người nhận hàng cuối cùng, mua, sử dụng hoặc có được (tham gia) hàng hóa hoặc dịch vụ, hoặc được cho tặng để sử dụng” [145]. Pháp luật Ecuador coi người nhận hàng sau cùng là NTD hoặc chỉ cần tham gia vào dịch vụ nào đó thì chính là NTD.

– Theo pháp luật Fiji một quốc gia nằm ở Châu Đại Dương có đạo Luật HộiĐồng Tiêu Dùng “The Consumer Council of Fiji Act 1976” làm chủ đạo trong việc bảo vệ NTD. Đặc biệt hiện nay khái niệm NTD ở Fiji được định nghĩa ở ba nguồn khác nhau: “The Consumer Commission Decree 2010, The Consumer Council of Fiji Act 1976, and The Consumer Credit Act 1999”. Trong ba định nghĩa này cónhững định nghĩa còn gây tranh luận, tuy nhiên, có nhữngđịnh nghĩa chuẩn mựcđược quyđịnhtại đạoluật Hội đồng tiêu dùng, tạiphần II vềNTD quyđịnhnhưsau:“Người tiêu dùng là người mua, thuê ngắn hạn, thuê dài hạn, hoặc là một người mua, người thuê ngắn hạn hoặc thuê dài hạn có tìm năng, hàng hóa trừ trường hợp bán lại, hoặc cho thuê ngắn hạn hoặc dài hạn, và bao gồm người sửdụng với mục đích khác, trừ mục đích giao dịch kinh doanh, hoặc trừ người có tìm năng thực hiện mục đích giao dịch kinh doanh, và bất kỳ dịch vụ nào được người ta thuê nhầm để lấy chi phí hoặc tiền thưởng” [149]. Đây là định nghĩa lâu đời ở Fiji, được đưa vào dùng loại trừ những nhà sử dụng hàng hóa khác dịch vụ nhằm để kinh doanh lại hoặc cho thuê để định nghĩa NTD. Đối với Luật Tín dụng tiêu dùng sửa đổi 2006 có nội dung: “Người tiêu dùng là tựnhiên nhân, mua hàng hóa, dịch vụ dùng cho mục đích cá nhân, cho gia đình, hoặc trong nước“. Điềuluật nàyđã có

30

thêm một số chi tiết bao gồm việc mua hàng hoá sử dụng chomục đích đối với hộgia đìnhvà cả đốitượng là NTD trong nước, đồngthời họ đã thêm vào chi tiếttựnhiên nhân trong luật.

– Theo pháp luật Việt Nam cũng có nhiều tác giả đưa ra quan điểm về NTD, cụ thể: người tiêu dùng theo quan điểmcủa tác giả Phương Châu cũng nên hiểu theo nghĩa rộng bao gồmkể cả tổ chức, giả sửtổ chức mua hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng của nhân viên thì cũng nên gọi là người tiêu dùng [40, tr.7]. Tuy nhiên vẫn có một số nhà nghiên cứu cho rằng không nên để đối tượng tổ chức trởthành NTD. Tổ chức suy cho cùng khó có thể ở vị thế yếu, vì tổ chức có cơ cấu, có sựphân công, có quản lý, có trợ lý, nhìn chung là có nhiều người, vì thế không thể từvị thế cósức mạnh nhưvậy lạiphải cần bảo vệ nhiều, từ góc độ ở vị thế mạnh tổ chức lại trở thành người ở vị thế yếu, điềunày hơi mâu thuẫn. Xét về mặt chữnghĩa, tổ chức là từtrừu tượng, không phải là con người cụ thể.Vậycần được sựbảo vệ không, cũng sẽ không có ốm đau bệnh tật gì, nên không cần pháp luật bảo vệ về tính mạng sức khỏe theo quy định về “quyền của người tiêu dùng“.Mộttác giảkhác cho rằng nếu chủ thể NTD, ở đây được định nghĩa theo nghĩa rộng bao gồm cả

tổ chức, nhưng nếu tổ chức là bên ở vị thế yếu không có khả năng tự bảo vệ quyền

lợi ích chính mình thì chẳng khác biệt gì so vớimôt cá nhân bình thường [104, tr.40].

Theo pháp luật Việt Nam, Điều 3 LBVQLNTD 2010, “Người tiêu dùng làngười mua, sửdụng hàng hóa, dịch vụcho mục đích tiêu dùng, sinh hoạtcủacánhân, gia đình, tổ chức”. quan điểm này cũng có nhũng phần tươngđồngvớiquanđiểm của nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên đối với cụm từ“sinh hoạt của cánhân” vẫnchưa có văn bản hướng dẫn hoặc định nghĩa như thế nào gọi là sinh hoạt cá nhân trong LBVQLNTD 2010. Vì thế cần phải làm rõ sinh hoạt cá nhân là các hoạt động sinh hoạt như thế nào, để có thể xác định được đối tượng chính là NTD hay không phải là NTD. Sinh hoạt có rất nhiều loại ví dụ: sinh hoạt vật chất, sinh hoạt tinh thần. Còn quy định hiện nay chỉ nói sinh hoạt chung chung, chưa cụ thể, và cũng không giải thích rõ. Đối với mục đích theo Điều 3 LBVQLNTD 2010 quy

31

định việc mua, sửdụng cho“mụcđích tiêu dùng, sinh hoạt cá nhân, gia đình, tổ chức”. quy định này mở rộng cho cả gia đình và tổ chức. Nếu đem quy định này so sánh với quy định của “đạo luật các điều khoản hợp đồng bất cân xứng 1977” trước đây của Anh quốc thì quy định Việtnam rộng hơn, trong khi đạo luật của Anh quyđịnh về mục đích: “NTD là người mua hàng hoá thường xuyên, sửdụng cho các mục đích cá nhân” [139, tr.29]. Thật ra việcsửdụng cho mục đích cá nhân là đã đầy đủ ý nghĩa, không thiếu cũng không thừa.

Đối vớichủ thểlà NTD: “cũng cần lưu ý là người tiêu dùng có thể không có quan hệ trực tiếp với nhà cung cấp, họ có thể được người mua tặng, cho, cấp phát. Chẳng hạn, người mẹ hoặc cha mua sữa cho con uống, đứa con không tham gia vào giao dịch mua bán nhưng nó vẫn là người tiêu dùng” [104, tr.41], [26, tr.26]. Người mua chưa chắc là người sử dụng, hoặc chưa hẳn là NTD nhưtrường hợp “người mẹ

mua đồ chơi cho con chơi…đứa con là người sử dụng” [105, tr.6]. Tuy nhiên cũng cần xem xét đối với nội dung trên: trường hợp người mẹ mua sữa cho con “đứa con

không tham gia vào giao dịch mua bán nhưng nó vẫn là người tiêudùng”…điều này chưa chắc, mẹ mua cho con uống nhưng con có uống chưa. Phải xem xét đối tượng là đứa con trên có sử dụng sản phẩm sữa hay không, nếu đứa con không sửdụng thì nó vẫn chưa phải là NTD. Một trường hợp khác đối với vấn đề trên, nếu đứa bé đó lại đemsản phẩm sữa đó lại tặng sinh nhật cho một người bạn khác, thì lúc bây giờ đứa bé đó cũng không thể là NTD, mà người bạn được nó tặng sữa vàsửdụng sữa đó mớilà NTD. Chỉ có người cuối cùngsửdụngđượcsản phẩm mới gọi là NTD. Nhưvậy đối tượng cóphải là NTD hay không, còn tùy thuộc vào phần

lớn đối tượng đó có sửdụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà họđược ngườikhác

tặng, cho, hoặc mua được hay không.Lấyví dụ làm minh chứng, một tác giảđã nêu: một công ty mua nước uống cho người làm việc tại công ty đó uống, mà không phải để công ty uống, nếu người uống nước bị thiệt hại về sức khỏe, thì người uống nước đó có thể kiện nhà cung cấp nước uống cho công ty với tư cách là NTD, trường hợp này là được công ty cấp phátnước uống, công ty mua cho uống [26, tr.25].

32

Tổng quanvề quan điểm NTD trong quan hệ tiêu dùng có thểnhận thấy, mỗi quốc gia, mỗi tác giả đều có những quan điểm riêng, có nhữngnhận địnhriêng, tuy nhiên quan điểm chung mang tính phổ biến nhất. Một là, NTD làngười sửdụng của cải vật chất gồmhàng hóa, dịch vụ.Hai là, sửdụng cho mục đích tiêu dùng. Mục đích tiêu dùng được đặt lên hàngđầu.Ba là, không vì mục tiêu lợi nhuận. Vìmục tiêu lợi nhuận chỉ nằm trong mục tiêu kinh doanh. Bốn là,người sửdụng sau cùng hàng hóa và dịch vụ.Yếutố sau cùng trong việc tiêu thụ hàng hoá và dịch vụphải do NTD sửdụng. Năm là, người thực hiện mục đích đối lậpvới mụcđích thương nhân. Sáu là, thời gian dùng món hàng, cho mục đích tiêu dùng nhiều hơn. Một quan điểm khác đối với khái niệm về NTD: khái niệm định nghĩa về NTD nói chung, chỉ mang tính chất chung nhất, và tương đối. Tuy nhiên, định nghĩa chuẩn mực và hoàn hảo về NTD trên thực tế không có, chưa tìm ra được [139, tr.4].

– Ngoài NTD đã được định nghĩa, pháp luật Việtnam lại còn có khái niệm về khách hàng trong đó có khách hàng mua lẽ, khách hàng mua sĩ.

– Bên cạnh vấn đề trên, theo định nghĩa NTD là ngườimua, sửdụng hàng hóa, dịch vụ cho những mục đích sau: Một là, mục đích tiêu dùng. Hai là, mục đích sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức. Trên thực tế có người mua,sửdụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sản xuất ra sản phẩm để đáp ứng nhu cầu đời sống con người.

– Đối với tiêu dùng cho cá nhân, còn có tiêu dùng qua hộ gia đình. Hiện nay tiêu dùng qua hộ gia đình rất phức tạp, nếu phát sinh tranh chấp cũng khó giải quyết ví dụ: hộ gia đình nông dân mua giống cây trồng, nhưng giống câyđó không nhưthông tin như quảng cáo, 10 năm sau cây mới cho ra trái. Sau 10 năm, NTD là hộ gia đình mới phát hiện được không như thông tin về cây trồng đó. Việc giải quyết tranh chấp rất khó.

Từcác phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa như sau: NTD là người mua, sửdụng hoặc mua và sử dụng hoặc thuê bao gồm thuê ngắn hạn, thuê dài hạn hàng hoá, dịch vụ sau cùng cho mục đích tiêu dùng. Trừ mục tiêu kinh doanh

2.1.2. Khái niệm người cung ứng hàng hoá và dịch vụ

33

– Theo pháp luật Anh Quốc, đạo luật về quyền của người tiêu dùng 2015 quyđịnh vềthương nhân như sau: “thương nhân là người thực hiện những mục đích cóliên quan đến: hoạt động thương mại, kinh doanh, thủ công, nghề nghiệp của ngườiđó, cho dù tự mình thực hiện hoặcnhờngười khác thực hiện dưới tên của thương nhân hoặc nhân danh thương nhân” [141]. Pháp luật của Anh quốc định nghĩa rất hẹp về thương nhân, tuy nhiên trong phần ghi chú có giải thích đối với đối tượng buôn bán cá thể. Trong một số trường hợp, người mua máy in, sửdụng 95% thời gian cho mục đích kinh doanh thì không gọi là NTD [141]. Xem họ là người thực hiện công việc kinh doanh. Ví dụ như: mua một photo về in tài liệu dùng cho khách, không phải là NTD. Ví dụ mua 1 tủ lạnh về, dùng để đựng thức ăn cho khách cũng không phải là NTD.

– Theo pháp luật Bồ đào nha định nghĩa: “nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ là bất kỳ thể nhân, hoặc pháp nhân, công hoặc tư, trong nước hoặc ngoài nước thực hiện khâu sản xuất, khâu lắp ráp, sáng tạo, xây dựng, nhập khẩu, xuất khẩu, phân phối, hoặc bánsảnphẩm hoặc dịch vụ, cung cấp dịch vụ” [142]. Pháp luật quy định đối với nhà cung cấp,mở rộng ra nhiều đốitượng, nhà cungcấpcó thể thực hiện một trong các khâu trên thì chính là nhà cung cấp, hoặc chỉ cần thực hiện sáng tạo sản phẩm hàng hoá, cũng trở thành nhà cung cấp hàng hoá. Định nghĩa này cũng cho thấy nhà cungcấphàng hóa, dịch vụ là bất kỳthểnhân hoặc pháp nhân thực hiện một trong các chuỗi trong khâu sản xuất hoặc bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.

– Theo pháp luật Canada tại bang Québec, Đạo luật bảo vệ NTD tại Điều 1 (g) nêu rõ: “Nhà sản xuất là người thực hiện công đoạn của quá trình lắp ráp, sản xuất, hoặc tiêu thụ hàng hóa“. i. Người tự mình tuyên bố đến công chúng mình lànhà sản xuất hàng hoá; ii. Tại nơi mà nhà sản xuất không có cơ sở ở Canada, người nhập khẩu hoặc phân phối những hàng hóa được người ta sản xuất bên ngoài nước

Canada, hoặc người cho phép thương hiệu của mình được in trên hàng hoá” [143]. Đây cũng là điểm đặc biệt của pháp luật, thứ nhất chỉ cần công bố mình là nhà sản xuất là được, thứhai nếu nhà sản xuất không có cơ sở thì in nhãn mác lên hàng thì trở thành nhà sản xuất.

34

– Theo pháp luật Đu Bai, theo quy chế điều hành luật Liên bang số 24 năm 2006 về vấn đề bảo vệ NTD tại Điều 1 có quy định: “nhà cung cấp là thể nhân hoặc pháp nhân thực hiện cung ứng dịch vụ hoặc thông tin, hoặc thực hiện công đoạn sản xuất, phân phối, giao dịch, bán hàng, cung cấp, hoặc xuất khẩu mọi hàng hoá hoặc liên quan đếnsản xuất hoặc công việc kinh doanhcủacác dịch vụđã nêu trên” [144]. Đặc biệt ở Dubai ngoài nhà cung cấp được định nghĩa như trên, còn cóđịnh nghĩa về nhà cung cấp chủ lý. “Nhà cung cấp chủ lý là nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp, thực hiện công việc cung ứng hàng hóa và dịch vụ đến tay nhà phân phối, trừngười tiêu dùng”. Tức là chỉ cung cấp trực tiếp cho các nhà phân phối, và không cung ứng trực tiếp cho NTD.

– Theo pháp luật Ecuador, luật bảo vệ NTD 2000 Điều2 quy định: “Nhà cung cấp làbấtkỳ thể nhân hoặc pháp nhân nào thuộc công hay tư (công ty quốc doanh hoặc công ty tư nhân) phát triển hoạt động sản xuất, chế tạo, nhập khẩu, xây dựng, phân phối, cho thuê hoặc thương mại hóa hàng hóa, cũng như cung ứng dịch vụ cho người dùng để lấy tiền”. “Định nghĩa này bao gồm những ai mua hàng hóa và dịch vụ, hợp lại tạo thành sản phẩm (sản xuất sản phẩm), hoặc thích hợp chúng lại dùng cho các quy trình sản xuất, hoặc chuyển đổi, cũng như những người cung cấp dịch vụ công bằng phương thức ủy quyền hoặc nhượng quyền” [145]. Pháp luật quy định và mở rộng công việc của thương nhân cụ thể: quy định này bao gồm công ty quốc doanh hoặc công ty tư nhân cũng có thể là nhà cung cấp và đặc biệt là đối với vấn đề mua hàng hoá và sử dụng kết hợp chúng lại dùng cho sản xuất, cũng là nhà cung cấp.

– Theo pháp luật Việt Namđốivớingườicung ứng hàng hóa, dịch vụ, hay còn gọi chung là đối tượng cung ứng hàng hoá và dịch vụ bao gồm thương nhân, thì có cách hiểu như sau: theo từ điển tiếng Việt năm 2018 do giáo sư Hoàng Phêchủbiên định nghĩa: “Thương nhân là người làm nghề buôn bán”[91, tr.1236]. Còn “cung ứng là cung cấp những thứ cần thiết để đáp ứng nhu cầu, thường của khách hàng hoặc của sản xuất. Cung ứng hàng tiêu dùng. Cung ứng vật tư” [91, tr.281]. Vậy người cung ứng hàng hóa, dịch vụ là người cung cấp những thứ cần thiết gồm

35

hàng hóa, dịch vụđểđáp ứng nhu cầu của hành khách hoặccủasảnxuất. Tuy nhiên theo tinh thần của LBVQLNTD 2010 tại Điều 3 khoản 2, quy định đối tượng cungứng hàng hóa và dịch vụ bao gồm hai đối tượng phục vụ:“tổ chức,và cá nhân kinh doanh”. Trongđốitượng tổchức và cá nhân kinh doanh này lại chia làm hai loại khác biệt, loạithứnhất là thương nhân, loại thứhai là cá nhân hoạt độngthương mại độc lập, thường xuyên, không phải đăng ký kinh doanh.

– Đối với thương nhân thì phải theo quy định Luật Thương mại, vì LBVQLNTD 2010 không có quy định riêng.

– Điều kiện để người cung ứng hàng hóa và dịch vụ trở thành tổ chức hoặc cá nhân kinh doanh hàng hóa và dịch vụ như sau: chỉ cần thực hiện một trong các khâu sau đây hoặc tất cả các khâu do luật quy định thì gọi là tổ chức cá nhân kinh doanh hàng hóa và dịch vụ. Một là, thực hiện một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình đầu tư, từviệc sản xuất ra hàng hóa cho đến khâu tiêu thụ hàng hóa, hoặc chỉ sản xuất hàng hóa, hoặc chỉ sử dụng tiêu thụ hàng hóa trên thị trường. Hai là, tổ chức hoặc cá nhân chỉ việc cung ứng dịch vụ trên thị trường.

Ba là, tổ chức và cá nhân trên thực hiện các công việc có liên quan đến kinh doanh nhằm mục đích sinh lợi.

– “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa và dịch vụ” trong đó có hai loại. Thứnhất là thương nhân và thứ hai không phải là thương nhân mà là cá nhân hoạt động thương mại độc lập thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh.

Loại thứnhất: thương nhân theo Luật Thương mại 2005 quyđịnh gồm: i, tổ chức kinh tếđược thànhlậphợppháp; ii, cá nhân hoạt độngthương mại mộtcách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh [10]. Loại thứ hai: “cá nhân hoạt động thương mại độc lập thường xuyên và không phải đăng ký kinh doanh”. Cá nhân chỉcần có hoạt động thương mại độc lập và phải có yêu tố thường xuyên thì trở thành cá nhân kinh doanh hàng hóa và dịch vụ.Việc đăng ký kinh doanh đối với đối tượng này là không cần thiết.

Trên thực tế,vẫn có 1đối tượng chưa biết sắp xếp vào nhóm nào. Trong trường hợpcá nhân hoạt động thương mại độc lập nhưng không thường xuyên

36

không có đăng ký kinh doanh thì có được xem là cá nhân kinh doanh hàng hóa vàdịch vụ hay không. Ví dụ: một cá nhân lâu lâu gom tất cả các vật dụng mà họ không sài đến, họ đem ra đểbán vì lợi nhuận, nhưng không phải thường xuyên. Trong trường hợp này có thể thấy, không phải lúc trong quan hệ tiêu dùng đều xuất hiện chủ thể một cách rõ ràng. Vậyđốitượng trên là gì. Theo quyđịnh PLBVQLNTD hiện nay vẫn chưa tính đếnđối tượng này. Tuy nhiên có thể hiểu và suy ra theo pháp luật Việtnam như sau: nếu không có tính chất thường xuyên sẽ theo Luật Dân sự, còn có tính chất thường xuyên sẽ theo Luật Thương mại.

Tổng quan về quan điểm “đối tượng cung ứng hàng hoá, dịchvụ”trong quan hệ tiêu dùng có thể nhận thấy, mỗi quốc gia, mỗi tác giả đều có những quan điểm riêng, tuy nhiên quan điểmchung mang tính phổ biến nhất hiện nay bao gồm các tiêu chí sau: Một là, người cung ứng dịchvụ,hàng hoá cho đối tượng chính là NTD. Hai là, người thực hiện 1 trong những công đoạn sản xuất hoặc tiêu thụ. Ba là, vì mục tiêu lợi nhuận. Bốn là, người thực hiện mục đích đối lập với mục đích NTD. Năm là, thời gian dùng món hàng, cho mụcđích kinh doanh nhiều hơn. Sáu là, ngườithực hiện những mục đích có liên quan đến hoạt động kinh doanh, thương mại. Bảy là, xem việc kinh doanh là nghề nghiệp chính trên thị trường. Tám là, sản phẩm sản xuất ra có thể đưa ra thị trường.

Từcác khái niệm, phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa về người cung ứng hàng hoá và dịch vụ như sau: thương nhân là người cung ứng hàng hoá, dịch vụthực hiện những mục đích có liên quan đến hoạt động thương mại vì mục tiêu lợi nhuận, không liên quan đến mụch đích tiêu dùng.

2.1.3. Đặc điểm của quan hệ tiêu dùng

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP GIỮA NGƯỜI TIÊU DÙNG VỚI THƯƠNG NHÂN BẰNG TÒA ÁN THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân bằng toà án theo pháp luật Việt Nam hiện nay Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân bằng toà án theo pháp luật Việt Nam hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *