Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty Cổ phần Cảng Đà Nẵng
Được thành lập từ năm 1901 với lịch sử 120 năm xây dựng và phát triển, Công ty Cổ phần Cảng Đà Nẵng (CĐN) đến nay đã chứng tỏ vai trò quan trọng của mình trong việc phát triển kinh tế – xã hội của khu vực, cũng như khẳng định tầm vóc là cảng biển lớn nhất và là cảng container hiện đại nhất miền Trung Việt Nam. Cảng được xây dựng trong vịnh Đà Nẵng với diện tích 100 km2, có núi Hải Vân và Núi Sơn Trà che chắn, ít chịu ảnh hưởng lớn của sóng gió, là điểm cuối của Tuyến Hành lang Kinh tế Đông Tây (nối liền 4 nước Myanmar, Thailand, Lào và Việt Nam) và là một khâu quan trọng trong chuỗi dịch vụ logistics của khu vực miền Trung Việt Nam. Cảng Đà Nẵng bao gồm khu cảng chính là xí nghiệp cảng Tiên Sa và các công ty thành viên, sở hữu gần 1.700m cầu bến với khả năng tiếp nhận các tàu hàng tổng hợp lên đến 70.000 DWT, tàu container đến 4.000 Teus và tàu khách đến 170.000 GT, cùng với các thiết bị xếp dỡ và kho bãi hiện đại.
Từ năm 2015 đến nay, CĐN đã liên tục nâng cấp cơ sở hạ tầng, đầu tư thiết bị mới, đổi mới công nghệ thông tin, đẩy mạnh công tác tiếp thị, đặc biệt là tập trung mở rộng vùng hậu phương lên các tỉnh qua Tuyến Hành Lang Kinh Tế Đông Tây (EWEC) là nơi cung cấp nguồn hàng quan trọng cho sự tăng trưởng của CĐN trong tương lai. Sản lượng hàng hóa (theo tấn) qua CĐN tăng trưởng bình quân 12%/năm trong giai đoạn 2016-2020; trong đó, sản lượng hàng container tăng gần 15%/năm. CĐN, do đó, cũng là đơn vị có tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận duy trì ở mức cao trong giai đoạn từ 2016-2020 (bình quân đạt 12,12%/năm đối với doanh thu và 12,90%/năm đối với lợi nhuận trước thuế). Năm 2020, Cảng có mức doanh thu là 938 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế là 260 tỷ đồng (tỷ suất lợi nhuận trước thuế/doanh thu của doanh nghiệp đạt gần 28%), là những con số ấn tượng trong bối cảnh nền kinh tế chịu tác động nặng nề bởi dịch bệnh Covid-19 và ảnh hưởng liên tục của thiên tai, bão lũ.
Bên cạnh những kết quả đạt được trong giai đoạn vừa qua, CĐN vẫn còn nhiều khó khăn thách thức rất lớn trong giai đoạn sắp đến. Với sự tăng trưởng của thị trường hàng hóa tại khu vực miền Trung trong những năm trở lại đây, đã “thu hút sự quan tâm và tham gia” của rất nhiều đối thủ với tiềm lực mạnh trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ cảng biển. Một số Cảng hiện nay có ý định hoặc đã chuyển hướng tham gia khai thác mặt hàng Container trong vùng thị trường của CĐN như Cảng Vũng Áng, Chân Mây, Chu Lai, Gemadept Dung Quất và Hòa Phát (chuẩn bị xây dựng ở Quảng Ngãi). Những thay đổi trên là nguy cơ rất lớn cho vị thế của CĐN trong thị trường dịch vụ Container, làm cho miếng bánh thị phần bị chia nhỏ, sự cạnh tranh cũng dần trở nên khốc liệt hơn. Chính vì thế, để tồn tại và phát triển, khẳng định được vị thế và chiến thắng trong các cuộc cạnh tranh, vấn đề nâng cao năng lực cạnh trạnh để phát triển đã trở thành mối quan tâm hàng đầu và vấn đề rất cấp thiết đối với CĐN. Trên tinh thần đó, học viên đã chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty Cổ phần Cảng Đà Nẵng” để thực hiện nghiên cứu luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
2.1. Những công trình nghiên cứu về chiến lược cạnh tranh và kinh doanh
2.2. Những công trình nghiên cứu về năng lực cạnh tranh (NLCT)
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài nhằm nghiên cứu, phân tích năng lực cạnh tranh của CĐN và đưa ra những giải pháp, kiến nghị để nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty trên thị trường.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
– Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
– Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh doanh nghiệp của CĐN và xác định những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của chúng.
– Dựa trên phương hướng, mục tiêu kinh doanh và quan điểm năng lực cạnh tranh của công ty để đưa ra những định hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Cảng Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu những nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Cảng Đà Nẵng.
Phạm vi về không gian: Công ty Cổ phần Cảng Đà Nẵng.
Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu theo số liệu thứ cấp năm 2019-2022 từ nội bộ Công ty và các giải pháp được đề xuất từ năm 2023-2025. Số liệu sơ cấp được thu thập từ khảo sát các đối tượng có liên quan trực tiếp và gián tiếp trong năm 2023.
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nói trên, luận văn đã sử dụng tổng hợp các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Học viên đã thực hiện thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn thông tin khác nhau, cụ thể những vấn đề lý luận đã được đúc rút từ các giáo trình chuyên ngành trong nước và quốc tế, qua các bài báo, internet, các website liên quan đến vấn đề cạnh tranh.
- Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn trực tiếp chuyên gia để xác định các yếu tố nào ảnh hưởng đến năng lực cạnh trạnh của CĐN, sau đó thiết kế bảng hỏi.
- Phương pháp điều tra: Học viên sử dụng bảng câu hỏi để khảo sát đội ngũ lãnh đạo, chuyên viên CĐN và các chuyên gia trong ngành logistics.
- Phương pháp thống kê, tổng hợp: Tổng hợp những thông tin thu thập được, tiến hành phân tích kết hợp giữa lý luận và thực tiễn.
- Các phương pháp khác.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Chương 2: Phân tích và đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Cảng Đà Nẵng.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Cảng Đà Nẵng.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh
Nói đến khái niệm về cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng đã có nhiều quan điểm và ý kiến khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia. Mỗi khái niệm đưa ra tùy thuộc vào mục tiêu được đặt ra cho chỗ quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia. Nếu như đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân. Có thể thấy, cạnh tranh là yếu tố tất yếu khách quan trong kinh doanh nhằm đào thải những thành viên yếu kém trên thị trường, giữ lại những thành viên có năng lực. Nhờ có cạnh tranh mà các doanh nghiệp không ngừng nâng cao chất lượng, đổi mới sản phẩm, đa dạng hóa dịch vụ nhằm mang lại sự hài lòng cho khách hàng. Cạnh tranh chính là môi trường, là động lực của sự phát triển xã hội
- Theo Từ điển Kinh tế chính trị học (Mikhail Ivanovich Volkov, 1987), cạnh tranh là cuộc đấu tranh có tính chất đối kháng giữa người sản xuất hàng hóa tư nhân nhằm giành các điều kiện có lới nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa.
- Theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê, 2000), cạnh tranh là hoạt động tranh nhau để giành lấy lợi ích về phía mình, giữa những người, những tổ chức có cùng lĩnh vực hoạt động như nhau.
- Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn Kinh tế học (1989) cho rằng cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường. Hai tác giả này cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo.
- Theo Michael Porter (1985), cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi.
- Xét theo phạm vi quốc gia, Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp của Tổng thống Mỹ cho rằng cạnh tranh đối với một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của người dân nước đó.
- Tại Diễn đàn Liên hợp quốc trong báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2003 thì định nghĩa cạnh tranh đối với một quốc gia là khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt đựơc các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng các thay đổi của tổn sản phẩm quốc nội (GDP) tính trên đầu người theo thời gian.
1.1.1.2. Khái niệm về lợi thế cạnh tranh
Lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật, trong khi các đối thủ cạnh tranh khác lại không làm được điều này. Nhờ đó, doanh nghiệp sẽ hoạt động tốt hơn so với những doanh nghiệp khác. Đây là yếu tố cần thiết phải có giúp công ty ngày thành công và tồn tại lâu dài, khác biệt so với đối thủ cạnh tranh.
Có hai cách tiếp cận về lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp:
- Cách tiếp cận thứ nhất: Là cách tiếp cận dựa trên chuỗi giá trị
Theo Michael Porter, doanh nghiệp có thể xem như một chuỗi các hoạt động chuyển hoá các yếu tố đầu vào thành đầu ra. Khách hàng sẽ đánh giá, giá trị các sản phẩm theo quan điểm của họ. Nếu họ thoả mãn thì họ sẵn sàng trả với giá cao và nếu ngược lại thì họ sẽ trả giá thấp hơn. Các hoạt động chuyển hoá này sẽ làm tăng giá trị của sản phẩm của doanh nghiệp. Ông gọi đây là các hoạt động tạo ra giá trị. Dựa trên quan điểm của Ông thì chuỗi giá trị của doanh nghiệp gồm hai loại hoạt động đó là các hoạt động chính và hoạt động hỗ trợ. Các hoạt động chính là hoạt động liên quan trực tiếp đến việc tạo ra sản phẩm. Các hoạt động hỗ trợ là những hoạt động tạo cơ sở và điều kiện cần thiết để tiến hành các hoạt động chính. Các hoạt động này bao gồm các yếu tố, quá trình thuộc nền tảng chung của doanh nghiệp, phát triển công nghệ, quản trị nhân lực, mua sắm thiết bị phương tiện phục vụ sản xuất. Doanh nghiệp muốn có lợi thế cạnh tranh thì phải hoạt động tạo ra giá trị với chi phí thấp hơn so với các đối thủ cạnh tranh hoặc tạo sự khác biệt trong sản phẩm để tăng giá trị cho khách hàng. Chênh lệch giữa giá trị mà doanh nghiệp tạo ra cho khách hàng với chi phí để tạo ra giá trị đó gọi là biên lợi nhuận. Biên lợi nhuận càng lớn thì doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh cao vì nếu doanh nghiệp đặt giá sản phẩm ngang với giá của đối thủ cạnh tranh thì họ vẫn thu được lợi nhuận cao hơn. Ngay cả khi doanh nghiệp đặt giá thấp hơn thì vận thu được tỷ suất lợi nhuận ngang bằng và khi đó doanh nghiệp vẫn thu hút được khách hàng và gia tăng thị phần. Nếu doanh nghiệp chỉ tập trung cải thiện hiệu quả hoạt động nội bộ, tức là thực hiện các hoạt động tạo chi phí thấp hơn thì chưa đủ tạo ra lợi thế cạnh tranh trong dài hạn. Các đối thủ có thể bắt chước cách thức hoạt động hiệu quả của doanh nghiệp và khi đó doanh nghiệp sẽ mất đi lợi thế về chi phí thấp. Lợi thế cạnh tranh không xuất phát từ một vài hoạt động riêng lẻ mà phụ thuộc và là kết quả của sự tương tác, phối hợp của các hoạt động trong chuỗi giá trị.
- Cách tiếp cận thứ hai: Là cách tiếp cận dựa trên các nguồn lực của doanh nghiệp.
Đây là cách tiếp cận xem xét nguồn gốc lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên các nguồn lực và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Với cách tiếp cận này thì lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá qua những nguồn lực mang tính độc đáo, khó bị sao chép và có giá trị của doanh nghiệp và doanh nghiệp phải khai thác sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đó. Doanh nghiệp có thể chỉ có nguồn lực thông thường nhưng lại có khả năng đặc biệt mà các đối thủ khác không có để kết hợp thì những nguồn lực này cũng được đánh giá là nguồn lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong khi đó có những nguồn lực độc đáo nhưng chỉ có khả năng thông thường thì lợi thế cạnh tranh của nguồn lực đó cũng không được đánh giá cao và kém bền vững. Lợi thế cạnh tranh mạnh nhất nếu doanh nghiệp vừa có các nguồn lực độc đáo, khó sao chép, có giá trị, vừa có khả năng đặc biệt để khai thác nhằm tạo ra các dịch vụ có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp có thể bị mai một và mất đi nhanh nhưng có một số lợi thế thì lại tồn tại tương đối lâu dài. Doanh nghiệp có nguồn lực hữu hình dễ sao chép thì lợi thế đó sẽ nhất thời vì các doanh nghiệp khác có thể sao chép được. Nếu doanh nghiệp xây dựng lợi thế cạnh tranh dựa vào những nguồn lực vô hình và dựa vào yếu tố độc đáo, lợi thế có xu hướng lâu bền hơn vì đối thủ khó sao chép.
1.1.1.3. Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Hiện nay, ở mỗi ngành, mỗi góc độ nghiên cứu lại có những nhận định khác nhau về NLCT. Do vậy, khái niệm NLCT vẫn chưa được định nghĩa một cách thống nhất. Thuật ngữ năng lực cạnh tranh đang được sử dụng để đánh giá khả năng cạnh tranh chung cho tất cả các doanh nghiệp, các ngành, các quốc gia. Khả năng cạnh tranh gọi là năng lực cạnh tranh hay sức cạnh tranh. Vì vậy năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu là năng lực tồn tại, duy trì hay gia tăng lợi nhuận và thị phần về sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường. Khi xem xét khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập quốc tế cần tính đến tiềm năng sản xuất một mặt hàng có chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ở một mức giá ngang bằng hay thấp hơn mức giá phổ biến trên thị trường thế giới mà không có trợ cấp. Khái niệm năng lực cạnh tranh được đề cập đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 1990. Theo Aldington Report (1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm và dịch vụ với chất lượng vượt trội và giá cả thấp hơn các đối thủ khác trong nước và quốc tế. Khả năng cạnh tranh đồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng bảo đảm thu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”.
Định nghĩa này cũng được nhắc lại trong “Sách trắng về năng lực cạnh tranh của Vương quốc Anh” (1994). Năm 1998, Bộ Thương mại và Công nghiệp Anh đưa ra định nghĩa “Đối với doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh là khả năng sản xuất đúng sản phẩm, xác định đúng giá cả và vào đúng thời điểm. Điều đó có nghĩa là đáp ứng nhu cầu khách hàng với hiệu suất và hiệu quả hơn các doanh nghiệp khác”. Tuy nhiên, khái niệm NLCT đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất. Thực tế cho thấy, không một doanh nghiệp nào có khả năng thỏa mãn đầy đủ tất cả những yêu cầu của khách hàng. Vấn đề cơ bản là, doanh nghiệp phải nhận biết được điều này và cố gắng phát huy tốt những điểm mạnh mà mình đang có để đáp ứng tốt nhất những đòi hỏi của khách hàng. Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong một doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp như marketing, tài chính, sản xuất, nhân sự, công nghệ, quản trị, hệ thống thông tin… Như vậy có thể thấy, khái niệm năng lực cạnh tranh là một khái niệm động, được cấu thành bởi nhiều yếu tố và chịu sự tác động của cả môi trường vi mô và vĩ mô. Một sản phẩm có thể năm nay được đánh giá là có năng lực cạnh tranh, nhưng năm sau, hoặc năm sau nữa lại không còn khả năng cạnh tranh nếu không giữ được các yếu tố lợi thế. Qua đó, có thể khái quát khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp tận dụng các lợi thế so sánh, đặc biệt là tận dụng các lợi thế khác biệt của một số yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong những điều kiện nhất định để duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như vị thế của doanh nghiệp trên thị trường.
1.1.2. Các cấp độ của năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh có thể được phân biệt thành ba cấp độ: cấp quốc gia, cấp ngành, và cấp doanh nghiệp. Có thể nói ba cấp độ của năng lực cạnh tranh mặc dù có sự độc lập tương đối nhưng giữa ba cấp độ năng lực cạnh tranh vẫn tồn tại mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau và được mô tả qua hình dưới.

Hình 1.1. Mô hình Ba cấp độ của năng lực cạnh tranh theo M.Porter (1990)
(Nguồn: Michael E.Porter 1990)
1.1.2.1. Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia
Scott và Lodge (1985) định nghĩa năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng của một quốc gia tạo ra, sản xuất, phân phối các sản phẩm, dịch vụ trên thị trường quốc tế và thu được nguồn lợi tăng lên từ các nguồn lực của nó. Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) tiếp cận khái niệm này cụ thể hơn dựa trên các trụ cột của một quốc gia:“Năng lực cạnh tranh quốc gia là một hệ thống các thể chế, chính sách, quy định tạo nên mức sản lượng của một quốc gia. Nói cách khác, một nền kinh tế cạnh tranh thì có xu hướng có thể đem tới mức thu nhập cao hơn cho các công dân của mình, tỷ lệ tái đầu tư lớn hơn và do đó có thể phát triển nhanh hơn trong tương lai trung và dài hạn”. Năng lực cạnh tranh của một quốc gia sẽ ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nước đó. Vì vậy, năng lực cạnh tranh quốc gia cũng tác động đến năng lực cạnh tranh ngành thông qua tác động đến các doanh nghiệp trong nước của ngành; thêm vào đó tác động đến thu hút đầu tư nước ngoài – thứ mà sau cùng cũng tác động đến năng lực cạnh tranh của những ngành thu hút được đầu tư nước ngoài.
Theo Asia Development Outlook 2003, năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng cạnh tranh của một nước để sản xuất các hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được thử thách của thị trường quốc tế. Đồng thời, duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của công dân nước đó. Mặt khác, năng lực cạnh tranh quốc gia phản ánh khả năng của một nước để tạo ra việc sản xuất sản phẩm, phân phối sản phẩm và dịch vụ trong thương mại quốc tế, trong khi kiếm được thu nhập tăng lên từ nguồn lực của nó.
Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF), thì năng lực cạnh tranh quốc gia được hiểu là “sức mạnh thể hiện trong hiệu quả kinh tế vĩ mô, đó là năng lực của một nền kinh tế đạt được và duy trì mức tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư, bảo đảm ổn định kinh tế xã hội, nâng cao đời sống người dân trên cơ sở xác định các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác”. Và được đo bằng tám chỉ tiêu: mức độ mở của nền kinh tế, vai trò của Nhà nước, vai trò của thị trường tài chính, môi trường công nghệ, kết cấu hạ tầng, chất lượng quản trị kinh doanh, hiệu quả và tính linh họat của thị trường lao động, môi trường pháp lý.
1.1.2.2. Năng lực cạnh tranh cấp ngành
Cạnh tranh giữa các ngành là cuộc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất khác nhau nhằm mục đích đầu tư có lợi hơn và kết quả là tạo nên tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị sản xuất. Năng lực cạnh tranh cấp ngành thường được dùng cho ngành sản xuất trong phạm vi một quốc gia, thể hiện khả năng của một ngành trong việc đương đầu với các thách thức phát sinh từ các đối thủ cạnh tranh nước ngoài. Vì vậy, năng lực cạnh tranh ngành không chỉ được quyết định bởi các yếu tố nội tại của ngành, tức năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành, mà còn bởi các yếu tố từ Chính phủ trong việc xây dựng môi trường kinh doanh, tức năng lực cạnh tranh quốc gia.
1.1.2.3. Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp
Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp thể hiện qua khả năng sinh lời của đồng vốn mà doanh nghiệp đã đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Ở cấp độ này, chỉ số cạnh tranh thể hiện ở các yếu tố như khả năng sinh lợi nhuận, chi phí, năng suất sản xuất và thị phần. Bên cạnh đó, các yếu tố như các kĩ năng quản trị, tài chính, những kiến thức về mặt công nghệ, bản chất của thị trường cũng ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp (Theo Công nghiệp Canada 1995, OECD 1992 và Grossi 1990).
Bản chất của cạnh tranh ngày nay không phải tiêu diệt đối thủ mà chính là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc khác biệt so với đối thủ để họ có thể lựa chọn mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là khả năng của doanh nghiệp trong việc thiết kế, sản xuất và cung cấp sản phẩm ưu việt hơn soi với đối thủ khi đã tính đến yếu tố giá cả. Porter (1990) khái quát hơn khi định nghĩa năng lực cạnh tranh doanh nghiệp là khả năng của một doanh nghiệp nhất định cạnh tranh thành công trong một môi trường kinh doanh nhất định. Theo GS.TS.Nguyễn Bách Khoa (2004) trình bày trong bài viết “Phương pháp luận xác định NLCT và hội nhập kinh tế quốc tế của doanh nghiệp” được đăng trên tạp chí khoa học thương mại của trường ĐH Thương mại thì NLCT của doanh nghiệp (DN) được hiểu là: “tích hợp các khả năng và nguồn nội lực để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận và định vị những ưu thế cạnh tranh của sản phẩm của DN trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng trên một thị trường mục tiêu xác định”. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với các yếu tố về năng suất, sản phẩm, lợi thế cạnh tranh. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được cấu thành và quyết định một phần bởi năng lực cạnh tranh của sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là lợi thế, ưu việt của sản phẩm mà doanh nghiệp cung ứng so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để chiếm thị phần và lợi nhuận ngày càng cao hơn. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ cao thể hiện qua việc được sử dụng nhiều và nhanh chóng khi trên thị trường có nhiều doanh nghiệp cung cấp loại sản phẩm, dịch vụ đó.
1.1.3. Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Do định hướng phát triển kinh tế, phát triển doanh nghiệp của Nhà nước: Trong thời gian tới, Chính phủ sẽ nỗ lực phát huy những kết quả đạt được; ra sức khắc phục những hạn chế, yếu kém; thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế thành công, phát triển nhanh và bền vững, trong đó tập trung vào những nội dung chủ yếu như: Bảo đảm tăng cường tính ổn định của kinh tế vĩ mô; kiểm soát lạm phát tốt hơn; điều hành lãi suất, tỷ giá theo tín hiệu thị trường; tăng dự trữ ngoại tệ; v.v.. Tiếp tục đẩy mạnh tái cơ cấu theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, Chính phủ sẽ tập trung chỉ đạo tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, tạo mọi điều kiện cho cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước có thêm thuận lợi để phát triển. Những quan điểm, định hướng phát triển hết sức tích cực này của Chính phủ trong thời gian tới chính là cơ hội phát triển, cơ hội cải thiện, nâng cao năng lực cạnh tranh của tất cả doanh nghiệp trong nền kinh tế.
- Do tác động của hội nhập kinh tế quốc tế: Trong điều kiện hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, để tồn tại và đứng vững trên thị trường các doanh nghiệp cần phải cạnh tranh gay gắt với không chỉ với các doanh nghiệp trong nước mà còn phải cạnh tranh với các Công ty, Tập đoàn xuyên quốc gia. Quá trình cạnh tranh sẽ đào thải các doanh nghiệp không đủ năng lực cạnh tranh để đứng vững trên thị trường. Do vậy các doanh nghiệp phải đi sâu nghiên cứu thị trường, phát hiện ra những nhu cầu mới của khách hàng để qua đó có thể lựa chọn phương án phù hợp với năng lực kinh doanh của doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu khách hàng. Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập là điều kiện sống còn cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
- Do tâm lý khách hàng: Khách hàng là những người quyết định sự tồn tại hay diệt vong của một doanh nghiệp. Do đó, làm hài lòng khách hàng luôn là mục tiêu phấn đấu của các doanh nghiệp trên thị trường. Tuy nhiên, tâm lý của khách hàng thường rất đa dạng, nó phụ thuộc vào đặc điểm của các loại hàng hóa, dịch vụ, phụ thuộc vào giới tính, độ tuổi, yếu tố địa lý, v.v… Doanh nghiệp cần cung cấp sản phẩm, dịch vụ phù hợp với tâm lý của khách hàng, và điều quan trọng hơn là phải làm khách hàng thỏa mãn hơn so với việc tiêu dùng hàng hóa của các doanh nghiệp khác. Làm được điều đó cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đã nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
1.2. Các mô hình phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Hiện nay, có nhiều lý thuyết được áp dụng để phân tích năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, từ việc phân tích môi trường kinh doanh để đánh giá năng lực cạnh tranh, đến việc phân tích lựa chọn các chiến lược cạnh tranh cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, các ma trận được sử dụng nhiều nhất, phổ biến nhất để phân tích năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là: ma trận SWOT; ma trận hình ảnh cạnh tranh. Tùy từng hoàn cảnh và giai đoạn cụ thể mà các doanh nghiệp có thể lựa chọn mô hình phân tích năng lực cạnh tranh khác nhau.
Ma trận SWOT là một phương pháp hiệu quả trong việc nắm bắt tình huống và đưa ra quyết định trong doanh nghiệp. SWOT viết tắt của 4 chữ: Strengths (những điểm mạnh), Weaknesses (những điểm yếu), Opportunities (các cơ hội) và Threats (những thách thức). SWOT cung cấp một công cụ phân tích chiến lược, rà soát và đánh giá vị trí, định hướng năng lực kinh doanh hoặc cạnh tranh của một doanh nghiệp. SWOT là một kỹ thuật phân tích hiệu quả trong việc xác định Điểm mạnh, Điểm yếu để từ đó tìm ra Cơ hội và Thách thức. Để xây dựng Ma trận SWOT cần phải liệt kê tất cả các yếu tố về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức thông qua ma trận theo các thứ tự ưu tiên. Tiếp đó là phối hợp tạo ra các nhóm tương ứng với mỗi nhóm này là các phương án chiến lược cạnh tranh.
| Ma trận SWOT | Cơ hội (O) | Thách thức (T) |
| Mặt mạnh (S) | Phối hợp (S/O) | Phối hợp (S/T) |
| Mặt yếu (W) | Phối hợp (W/O) | Phối hợp (W/T) |
(Nguồn: Garry D. Smith và các cộng sự, NXB Lao động – Xã hội, 2007)
Ma trận SWOT được sử dụng để đưa ra 4 chiến lược cơ bản:
- S/O: chiến lược dựa trên ưu thế của doanh nghiệp để tận dụng các cơ hội thị trường.
- W/O: chiến lược dựa trên khả năng vượt qua các điểm yếu của doanh nghiệp để tận dụng cơ hội thị trường.
- S/T: chiến lược dựa trên ưu thế của doanh nghiệp để tránh các nguy cơ của thị trường.
- W/T: chiến lược dựa trên khả năng vượt qua hoặc hạn chế tối đa các điểm yếu của doanh nghiệp để tránh các thách thức của thị trường.
Phân tích SWOT cho vị thế cạnh tranh của một doanh nghiệp cụ thể như sau:
- Các điểm mạnh: điểm mạnh là khả năng và nguồn lực cung cấp cho các doanh nghiệp một lợi thế cạnh tranh. Điểm mạnh bản chất là giá trị gia tăng từ chuỗi giá trị cho khách hàng mà đối thủ không thể tạo ra. Ví dụ: Điểm mạnh của một sản phẩm có thể là giá rẻ hơn các đối thủ trên thị trường. Nhưng bản chất giá rẻ đó bắt nguồn từ chi phí đầu vào, chi phí tạo ra sản phẩm, chi phí marketing,…
- Các điểm yếu: Trong doanh nghiệp, đối lập với điểm mạnh là điểm yếu. Điểm yếu thể hiện thông qua các mặt như: nguồn lực, con người, tài sản,… Điểm yếu là những vấn đề đang tồn tại bên trong tổ chức trên con đường đạt mục tiêu đề ra của mình. Từ đó, tổ chức cần có biện pháp để khắc phục những điểm yếu của mình.
- Các cơ hội: Cơ hội minh họa cho việc di chuyển mà một công ty có thể thực hiện để nâng cao vị thế của mình. Trong danh sách các cơ hội có thể bao gồm việc liệt kê các mặt như: nguồn tài chính rộng rãi, hoạt động Marketing, vị thế và thương hiệu.
- Các thách thức: Các mối đe dọa tương tự như điểm yếu. Một mối đe dọa trong ma trận SWOT cho thấy một công ty dễ bị ảnh hưởng đến sự phát triển trên thị trường như thế nào. Kế hoạch cần phải chi tiết. Một doanh nghiệp mà không nhận thấy có nguy cơ gì trước mặt thì sẽ hứng chịu rắc rối lớn. Điều tệ hại nhất đối với công ty là bị tấn công bởi mối đe dọa chưa được dự tính trước trong kế hoạch.
1.2.2. Ma trận hình ảnh cạnh tranh
Việc xây dựng ma trận hình ảnh cạnh tranh được thực hiện qua bước sau:
- Bước 1. Lập danh sách các yếu tố quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Việc này đòi hỏi người lập ma trận phải nắm chắc được các yếu tố nội bộ nào có tác động đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp so sánh. Việc xác định các yếu tố này có ý nghĩa to lớn đến chất lượng của ma trận.
- Bước 2. Phân loại tầm quan trọng:
- Từ 0.0 đến 0.2 : không quan trọng
- Từ 0.2 đến 0.4 : Ít quan trọng
- Từ 0.4 đến 0.6 : Quan trọng
- Từ 0.6 đến 0.8 : Khá quan trọng
- Từ 0.8 đến 1.0 : Rất quan trọng
Dựa vào đặc thù ngành nghề của các doanh nghiệp và ý kiến từ chuyên gia.
- Bước 3. Đánh giá mức độ phản ứng của doanh nghiệp với các yếu tố:
Việc phân loại để xác định được rằng: cách thức mà các chiến lược của công ty phản ứng với các yếu tố này quyết định cho sự thành công của doanh nghiệp.
- 4 điểm là phản ứng tốt
- 3 điểm là phản ứng phản ứng trên trung bình
- 2 điểm là phản ứng trung bình
- 1 điểm là phản ứng ít
- Bước 4. Nhân và cộng số điểm
D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG CHI TIET/ Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty Cổ phần Cảng Đà Nẵng
Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty Cổ phần Cảng Đà Nẵng Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh tại Công ty Cổ phần Cảng Đà Nẵng

