“Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Với quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới đã đưa đến cho Việt Nam những cơ hội mới. Hoạt động xuất nhập khẩu trong những năm qua của Việt Nam cũng có nhiều biến chuyển. Số lượng hàng hóa xuất nhập khẩu tăng lên nhanh chóng, nhu cầu xuất nhập khẩu hàng hóa dưới nhiều hình thức đa dạng phong phú… nhưng đồng thời cũng làm xuất hiện những khó khăn và thách thức. Sự bùng nổ của công nghệ thông tin và sự phát triển gia tăng của nạn buôn lậu, gian lận thương mại và những loại hình tội phạm mới cũng đang đặt ra cho Hải quan Việt Nam nói chung và Hải quan Quảng Nam nhiều nhiệm vụ mới, đòi hỏi các chính sách về quản lý thuế xuất, nhập khẩu phải được sửa đổi, bổ sung để phù hợp hơn với các chuẩn mực, thông lệ và cam kết quốc tế, góp phần tăng cường quản lý, giám sát thực thi công tác quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhằm đảm bảo lợi ích quốc gia về quyền thu thuế.

Cùng với tình hình chung của đất nước, ngành Hải quan Việt Nam nói chung và Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam nói riêng, đã và đang có những bước thay đổi mạnh mẽ theo tiến trình cải cách hiện đại hóa của ngành. Theo đó, thời gian thông quan hàng hóa tại các cửa khẩu sẽ được cắt giảm đáng kể theo đúng cam kết của Chính phủ với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Tổ chức thương mại thế giới (WTO), nhằm tạo thuận lợi tối đa cho hoạt động xuất nhập khẩu thương mại của doanh nghiệp. Thủ tục kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu sẽ dịch chuyển mạnh từ “tiền kiểm sang hậu kiểm”. Hoạt động nghiệp vụ có sự thay đổi mạnh mẽ đó chính là áp dụng kỹ thuật “Kiểm tra sau thông quan”.

Theo quan điểm của Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) thì “Trong điều kiện hiện nay việc duy trì và phát triển hệ thống Kiểm tra sau thông quan của ngành hải quan là tuyệt đối cần thiết vì một hệ thống kiểm tra sau thông quan đủ mạnh có thể ngăn chặn và phát hiện mọi hình thức gian lận thương mại, đặc biệt là gian lận về trị giá hải quan, cho dù hệ thống trị giá hải quan đó được xác định theo bất cứ phương pháp nào”. Như vậy, có thể nói Kiểm tra sau thông quan có vai trò hết sức quan trọng trong quản lý nhà nước về Hải quan, đảm bảo thuận lợi cho cộng đồng doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu, ngăn chặn buôn lậu, gian lận thương mại, tạo sự cạnh tranh công bằng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Tuy nhiên, trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động Kiểm tra sau thông quan của Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam đã bộc lộ nhiều bất cập, chưa thực sự đáp ứng được các yêu cầu đặt ra; các quy định về kiểm tra sau thông quan còn phân tán, chồng chéo, thiếu thống nhất, còn tồn tại nhiều vướng mắc trong quá trình thực hiện và chưa đạt hiệu quả cao.

Xuất phát từ thực tiễn trên, học viên đã chọn đề tài “Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam” để thực hiện nghiên cứu luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ kinh tế chuyên ngành Quản trị kinh doanh.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát: Mục đích của luận văn hướng tới làm sáng tỏ cơ sở lý luận hoạt động kiểm tra sau thông quan; đánh giá thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam để đưa ra phương hướng và giải pháp hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.

2.2. Mục tiêu cụ thể:

Để đáp ứng được mục tiêu tổng quát, luận văn chia nhỏ thành 3 mục tiêu cụ thể:

– Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết như khái niệm, đặc điểm, nội dung và vai trò của hoạt động kiểm tra sau thông quan; những yếu tố chủ quan và khách quan có ảnh hưởng đến hoạt động kiểm tra sau thông quan; nghiên cứu kinh nghiệm kiểm tra sau thông quan của một số nước trên thế giới có sự tương đồng nhất định về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và văn hóa pháp lý với Việt Nam để khái lược những giá trị có thể tham khảo.

– Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam để chỉ ra những kết quả đạt được; những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập.

– Đề xuất phương hướng và những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.

2.3. Câu hỏi nghiên cứu:

Để đáp ứng mục tiêu tổng quát cũng như 3 mục tiêu cụ thể, luận văn cần trả lời 3 câu hỏi nghiên cứu tương ứng.

– Công tác kiểm tra sau thông quan gồm những nội dung gì?

– Thực trạng công tác kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua là như thế nào?

– Cần phải làm gì để nâng cao chất lượng công tác kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến?

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề liên quan đến hiện trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan của Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.

Dưới góc độ của khoa học Quản trị kinh doanh, luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động kiểm tra sau thông quan của Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam với nguồn số liệu để minh chứng được giới hạn từ năm 2009-2017.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển ngành Hải quan. Luận văn có kế thừa và phát triển những kinh nghiệm hoàn thiện hoạt động kiểm tra sau thông quan của các công trình khoa học có liên quan. Đồng thời, luận văn sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu khác như hệ thống, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, dự báo để chọn lọc tri thức khoa học cũng như kinh nghiệm thực tiễn về hoạt động kiểm tra sau thông quan ở trong nước và nước ngoài, cụ thể:

– Phương pháp tổng hợp: được sử dụng trong việc hệ thống hóa các vấn đề lý luận làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài cũng như tổng kết thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.

– Phương pháp phân tích: được sử dụng trong việc luận giải, chứng minh nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, trong đánh giá thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan của Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua cũng như trong việc đánh giá, lựa chọn giải pháp hữu ích cho hoạt động kiểm tra sau thông quan của Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.

– Phương pháp so sánh: được sử dụng chủ yếu trong việc đánh giá hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam qua các năm.

– Phương pháp thống kê: được sử dụng trong việc dẫn chứng các số liệu liên quan đến số thu ngân sách, kim ngạch XNK, hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.

“Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam
“Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

5.1. Ý nghĩa khoa học

Đề tài nghiên cứu góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm các cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý, quy trình liên quan đến công tác kiểm tra sau thông quan.

5.2. Ý nghĩa thực tiễn

Đề tài đánh giá được thực trạng và đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao công tác kiểm tra sau thông quan trong thời gian đến. Vì vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tư liệu hữu ích nhằm nâng cao chất lượng trong công tác kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam, là nguồn tư liệu tham khảo của các đơn vị hải quan địa phương và ngành Hải quan.

6. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động kiểm tra sau thông quan;

Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan ở Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam;

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra sau thông quan ở Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG

KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN

1.1. Lý luận chung về hoạt động kiểm tra sau thông quan

1.1.1. Khái niệm kiểm tra sau thông quan

Kiểm tra sau thông quan là thuật ngữ chuyên môn được thể hiện bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới. Ở mỗi quốc gia khác nhau, định nghĩa “Kiểm tra sau thông quan” được diễn đạt khác nhau và cách gọi nghiệp vụ này cũng có sự khác nhau.

Theo Tổ chức Hải quan thế giới (WCO): “Kiểm tra sau thông quan là quy trình công tác cho phép viên chức hải quan kiểm tra tính chính xác của hoạt động khai hải quan bằng việc kiểm tra các hồ sơ, tài liệu ghi chép về kế toán và thương mại liên quan đến hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa và tất cả các số liệu, thông tin, bằng chứng khác cho cơ quan hải quan mà hiện tại đang được các đối tượng kiểm tra (cá nhân hoặc doanh nghiệp) trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào hoạt động buôn bán quốc tế nắm giữ” [32].

Theo Công ước Kyoto sửa đổi, bổ sung tháng 9/1999, tại Phụ lục tổng quát, Chương 2, định nghĩa E3/F4 có nêu: “Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán là các biện pháp được cơ quan hải quan tiến hành nhằm thoả mãn mục đích của họ trong việc xác định tính chính xác và trung thực của các tờ khai hàng hoá thông qua kiểm tra các chứng từ, biên bản, hệ thống kinh tế và dữ liệu thương mại của các bên liên quan” [33].

Theo Hải quan ASEAN, trong cuốn Sổ tay hướng dẫn về kiểm tra sau thông quan của Tổ chức Hải quan ASEAN được công bố tại cuộc họp Tổng cục trưởng Hải quan ASEAN tại Thái Lan tháng 8/2003 đã nêu: “Kiểm tra sau thông quan là một biện pháp kiểm soát hải quan có hệ thống mà cơ quan hải quan tự thỏa mãn về độ chính xác và trung thực của việc khai báo hải quan thông qua việc kiểm tra sổ sách, hồ sơ có liên quan, hệ thống kinh doanh và dữ liệu thương mại của các cá nhân/các công ty tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào thương mại quốc tế” [34].

Theo Luật Hải quan số 54/2014/QH13: “Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan nhằm thẩm định tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ mà chủ hàng, người được chủ hàng uỷ quyền, tổ chức, cá nhân trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan; thẩm định việc tuân thủ pháp luật trong quá trình làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu” [22].

Tất cả các định nghĩa về kiểm tra sau thông quan của các nước đều coi kiểm tra sau thông quan là khâu nghiệp vụ kiểm tra cuối cùng và đóng vai trò như một nghiệp vụ thẩm định lại những nghiệp vụ kiểm tra trước của các đối tượng tham gia vào hoạt động xuất nhập khẩu.

1.1.2. Vai trò của kiểm tra sau thông quan

Những kinh nghiệm, kết quả thu được qua công tác kiểm tra sau thông quan được đánh giá rất hiệu quả, được coi là một công cụ toàn diện giúp cơ quan hải quan thay thế việc kiểm tra trước các lô hàng của doanh nghiệp. Về lâu dài, kiểm tra sau thông quan đạt được hiệu quả trong việc làm cho doanh nghiệp hiểu và tuân thủ các quy định và yêu cầu khác của pháp luật ở mức độ cao và tự giác.

Tổ chức Hải quan thế giới và hải quan các nước trong khu vực đã triển khai thực hiện nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan đều có đánh giá chung về vai trò tác dụng của nghiệp vụ này như sau:

Một là, nâng cao năng lực quản lý: kiểm tra sau thông quan là một trong những biện pháp nâng cao năng lực quản lý của cơ quan hải quan, chống gian lận thương mại có hiệu quả, tạo điều kiện cho thông quan nhanh, góp phần tích cực phát triển giao lưu thương mại quốc tế, cải thiện môi trường đầu tư, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong cộng đồng doanh nghiệp;

Hai là, đảm bảo tuân thủ pháp luật: Góp phần đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh và có hiệu quả pháp luật hải quan và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến lĩnh vực XK, NK hàng hoá, đặc biệt nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cộng đồng doanh nghiệp;

Ba là, tăng thu thuế, giảm thiểu chi phí và rủi ro: Đảm bảo ngăn chặn tình trạng thất thu cho ngân sách nhà nước, giảm chi phí quản lý về hải quan; giảm thiểu rủi ro cho các chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật hải quan;

Bốn là, tác động tích cực trở lại với hệ thống quản lý của cơ quan hải quan thông qua việc nhận biết và xử lý các rủi ro tiềm ẩn của hệ thống;

Năm là, mở rộng phạm vi kiểm tra: Thông qua hoạt động KTSTQ có thể mở rộng phạm vi kiểm tra tiếp theo khi cần thiết trong nhiều lĩnh vực, như kiểm tra chế độ giấy phép, về hạn ngạch, về xuất xứ hàng hoá, về chống bán phá giá…;

Sáu là, kiểm tra sau thông quan là công cụ hiệu quả đối với công tác kiểm tra, giám sát của hải quan: Thông qua nghiệp vụ này cơ quan hải quan có được khá đầy đủ các thông tin về giao dịch có liên quan được phản ánh trong hệ thống sổ sách kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp;

Bảy là, kiểm tra sau thông quan góp phần đơn giản hóa trong giám sát, quản lý hải quan: cho phép cơ quan hải quan áp dụng đơn giản hoá các biện pháp giám sát, quản lý trên cơ sở hiện đại hoá hải quan nhưng vẫn đảm bảo chức năng quản lý nhà nước về hải quan.

Trong bối cảnh tự do hoá thương mại hiện nay vai trò của KTSTQ được đánh giá là hết sức quan trọng trong hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan cũng như tạo điều kiện thuận lợi để thương mại phát triển. Do đó, kiểm tra sau thông quan được coi là công cụ quản lý hiệu quả không thể thiếu của cơ quan hải quan đối với công tác kiểm tra giám sát hải quan.

1.1.3. Đặc điểm kiểm tra sau thông quan

Đặc điểm kiểm tra sau thông quan là những nét đặc trưng cơ bản của kiểm tra sau thông quan. Trong quá trình hình thành và phát triển, hoạt động kiểm tra sau thông quan có các đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, kiểm tra sau thông quan là một trong những nghiệp vụ kiểm tra của cơ quan hải quan. Luật Hải quan và các văn bản pháp quy của các cơ quan Nhà Nước có thẩm quyền đã đưa ra các quy định cần thiết để thực hiện KTSTQ, trong đó bao gồm cả thẩm quyền của cán bộ công chức hải quan, quá trình thực hiện KTSTQ cũng như các chế tài được áp dụng trong KTSTQ… Thông qua quy trình KTSTQ, công chức Hải quan tiếp cận, hợp tác với các doanh nghiệp đang được kiểm tra (người được kiểm tra) và tiến hành KTSTQ với sự hợp tác của doanh nghiệp.

Thứ hai, kiểm tra sau thông quan chia sẻ trách nhiệm quản lý hải quan một cách có hệ thống với các bộ phận chức năng khác của ngành Hải quan. Bởi vì, trong hệ thống kiểm tra của ngành hải quan KTSTQ là không phải là một hệ thống độc lập mà là một bộ phận tổ chức của cơ quan Hải quan nhằm thực hiện một phần chức năng kiểm tra hải quan, kết quả kiểm tra của KTSTQ được cập nhật vào hệ thống dữ liệu của ngành hải quan để các bộ phận khác trong toàn ngành khai thác và sử dụng.

Thứ ba, kiểm tra sau thông quan là phương pháp kiểm tra ngược thời gian, diễn ra sau khi hàng hóa đã được thông quan. KTSTQ có hiệu quả đáng kể khi thực hiện kiểm tra đối với những cá nhân, tổ chức có tham gia vào hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu liên tục trong một thời gian nhất định và có giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu lớn dựa trên cơ sở phân tích trước thông tin về hồ sơ lưu trữ.

Thứ tư, kiểm tra sau thông quan được tiến hành để xác định tính chính xác của các khai báo trên tờ khai hải quan. Đây được coi là đặc điểm quan trọng của KTSTQ vì KTSTQ đòi hỏi sự tự giác và tính tuân thủ pháp luật cao trong khai báo của người khai hải quan, cơ quan Hải quan cần tiến hành các biện pháp toàn diện nhằm khuyến khích các nhà XNK hoặc bất kỳ đối tượng khai hải quan nào tuân thủ các quy định pháp luật hải quan thông qua phần tự khai báo.

Thứ năm, kiểm tra sau thông quan thực hiện các biện pháp kiểm tra theo tất cả các thông tin liên quan, bao gồm cả dữ liệu điện tử, do các cá nhân, các tổ chức có liên quan cung cấp nhằm thẩm định tính chính xác, trung thực của các khai báo hải quan. Công chức hải quan tập hợp các bằng chứng thu thập từ các nguồn thông tin, thực hiện phân tích và đánh giá các thông tin trên cơ sở quy định của pháp luật hải quan để có căn cứ xác định mức độ ưu tiên trong quá trình làm thủ tục hải quan đối với đối tượng có hồ sơ hải quan đã được KTSTQ.

Thứ sáu, khi tiến hành kiểm tra sau thông quan, cơ quan hải quan phải tiến hành thu thập phân tích và xử lý thông tin, các thông tin thu thập không chỉ dừng lại ở đối tượng tham gia trực tiếp vào hoạt động xuất khẩu nhập khẩu mà còn cần sự hỗ trợ của các nguồn cung cấp thông tin từ bên ngoài như: Ngân hàng, Cơ quan Thuế nội địa, các hãng Bảo hiểm … Chính sự hợp tác chặt chẽ trong quá trình thu thập, phân tích và xử lý thông tin này sẽ giúp cho cơ quan Hải quan xác định được đối tượng của KTSTQ.

Với các đặc điểm của kiểm tra sau thông quan nêu trên đã phản ánh những nét cơ bản về nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, tuy nhiên hoạt động KTSTQ là một hoạt động nghiệp vụ của ngành Hải quan, các công việc được thực hiện dựa trên các nguyên tắc cụ thể và thống nhất. Các nguyên tắc KTSTQ là một trong những vấn đề cơ bản của kiểm tra sau thông quan cần thống nhất trong mỗi cuộc kiểm tra sau thông quan.

1.1.4. Nguyên tắc kiểm tra sau thông quan

Nguyên tắc Kiểm tra sau thông quan là những quy định cơ bản, ổn định và chuẩn mực để hướng dẫn thực hiện nghiệp vụ KTSTQ. Những nguyên tắc KTSTQ được thống nhất và xuyên suốt trong khi thực hiện KTSTQ, nội dung cụ thể của các nguyên tắc KTSTQ được thể hiện như sau:

Nguyên tắc 1: Đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

Thực hiện theo nguyên tắc này, đòi hỏi mọi hoạt động KTSTQ đảm bảo tuân thủ đúng các quy định của pháp luật quốc gia, các điều ước quốc tế, các chuẩn mực quốc tế. Các quy định này không chỉ là các quy định trực tiếp về hoạt động KTSTQ mà còn bao gồm cả các quy định mà KTSTQ có liên quan, ví dụ như: Luật Hải quan, Công ước Kyoto, Quy tắc xác định xuất xứ, Nguyên tắc xác định trị giá theo GATT/WTO…

Nguyên tắc 2: Chính trực, khách quan, độc lập, không gây cản trở đến họat động sản xuất kinh doanh Nam thường của đơn vị được kiểm tra.

Chính trực (hay còn gọi là liêm chính): nguyên tắc này đòi hỏi công chức hải quan phải là người ngay thẳng, trung thực và có lương tâm nghề nghiệp không được phép để cho sự định kiến thiên lệch lấn át tính khách quan. Mọi hành vi định kiến, thiên vị thiếu khách quan đều bị coi là vi phạm đạo đức nghề nghiệp.

Khách quan: theo nguyên tắc này, yêu cầu bắt buộc của mọi hoạt động kiểm tra, giám định phải luôn tôn trọng thực tế khách quan. Mọi phân tích, nhận xét và kết luận của công chức hải quan đều phải xuất phát từ thực tế khách quan. Công chức hải quan phải công minh, không định kiến, thiên vị. Khi lập báo cáo phải giữ thái độ vô tư, tôn trọng kết quả thực tế.

Độc lập: nguyên tắc này luôn yêu cầu công chức hải quan chỉ đưa ra những kết luận mà tự bản thân mình xét thấy những kết luận đó có căn cứ vững chắc, phù hợp với các chuẩn mực nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp. Trong quá trình kiểm tra, công chức hải quan có thể tranh thủ ý kiến hay sử dụng tư liệu của những người khác (trợ lý, chuyên gia, kiểm toán viên nội bộ, các nhà quản lý doanh nghiệp…) nhưng chỉ được tin vào chính mình và phải tự chịu trách nhiệm về các kết luận của mình. Không ai có quyền ép công chức hải quan phải đưa ra những kết luận mà bản thân cán bộ kiểm tra tự thấy là chưa thỏa đáng. Công chức hải quan phải thể hiện rõ bản lĩnh độc lập, không để bị vật chất, quyền lực chi phối mà chỉ tuân thủ pháp luật và các qui tắc nghề nghiệp. Khái niệm độc lập ở đây được hiểu là độc lập về quan hệ gia đình và cả độc lập về quan hệ kinh tế.

Không gây cản trở đến hoạt động sản xuất kinh doanh Nam thường của đơn vị được kiểm tra: nguyên tắc này đòi hỏi mọi hoạt động kiểm tra trong quá trình KTSTQ tại đơn vị phải đảm bảo không gây phiền hà, sách nhiễu để ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tuân thủ nguyên tắc này đã giúp cho hoạt động KTSTQ ngày càng minh bạch và luôn tạo được sự hỗ trợ từ phía doanh nghiệp trong suốt quá trình KTSTQ tại đơn vị được kiểm tra.

Nguyên tắc 3: Bí mật thông tin.

Khi thực hiện KTSTQ, nguyên tắc bí mật thông tin được thực hiện dựa trên cơ sở thực hiện nghiêm túc trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm của công dân đối với cộng đồng và với xã hội. Đối với mỗi công chức KTSTQ, không được sử dụng thông tin liên quan về công việc KTSTQ cho các mục đích cá nhân hoặc tự ý chuyển cho người khác, mà các thông tin phải được quản lý và sử dụng đúng chế độ bảo mật theo quy định của cơ quan hải quan.

Nguyên tắc 4: Dẫn chứng bằng tài liệu.

Trong quá trình kiểm tra, công chức hải quan phải thu thập và ghi chép đầy đủ, khoa học, chính xác mọi tư liệu có liên quan đến cuộc kiểm tra. Với những vấn đề quan trọng cần phải được dẫn chứng bằng tài liệu để chứng minh rằng công việc kiểm tra đã được tiến hành phù hợp với những nguyên tắc kiểm tra cơ bản.

Bằng chứng kiểm tra là những thông tin xác thực có liên quan đến hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp mà công chức hải quan thu thập được trong quá trình thực hiện KTSTQ. Các thông tin này chứng minh cho các kết luận của cán bộ kiểm tra khi lập báo cáo KTSTQ. Một cuộc KTSTQ chỉ được coi là hoàn thành với chất lượng tốt khi công chức hải quan thu thập được đầy đủ những bằng chứng kiểm tra thích hợp. Tính “đầy đủ” và “thích hợp” ở đây là đề cập đến số lượng và chất lượng của bằng chứng kiểm tra. Trong KTSTQ, chất lượng của bằng chứng kiểm tra (như: độ tin cậy, tính thuyết phục…) được đánh giá cao hơn là số lượng bằng chứng. Các bằng chứng trong KTSTQ thường được thể hiện như: bằng chứng do công chức hải quan tự khai thác, bằng chứng do doanh nghiệp cung cấp, bằng chứng do người thứ ba độc lập cung cấp..

Nguyên tắc 5: Tuân thủ quy trình kiểm tra sau thông quan.

Việc tiến hành KTSTQ phải được thực hiện theo đúng quy trình KTSTQ đã nêu ra, mọi công việc từ khi thu thập và xử lý thông tin về đối tượng KTSTQ cho đến khi ban hành các kết luận về KTSTQ phải được thực hiện theo các bước của quy trình KTSTQ đề ra. Tùy theo trình độ, tùy theo cơ sở vật chất của các nước mà quy trình KTSTQ ở mỗi nước được xây dựng theo các cách khác nhau, tuy nhiên các quy trình này luôn tuân thủ 3 bước chính đó là: Chuẩn bị kiểm tra, tiến hành kiểm tra và kết luận kiểm tra.

Các nguyên tắc KTSTQ là những chuẩn mực để công chức hải quan thực hiện đúng nội dung KTSTQ dựa trên các phương pháp và kỹ thuật nghiệp vụ trong KTSTQ.

1.1.5. Đối tượng kiểm tra sau thông quan

Theo quy định Điều 79 Luật Hải quan số 54/2014/QH13 do Quốc hội thông qua ngày 23/6/2014, thì “Hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa; kiểm tra thực tế hàng hóa trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đã được thông quan.”

Để làm rõ, có thể thấy đối tượng kiểm tra sau thông quan được chia làm 03 dạng cụ thể:

Một là, hồ sơ hải quan đang lưu giữ tại doanh nghiệp và đơn vị Hải quan làm thủ tục hải quan cho hàng hóa liên quan.

Hai là, chứng từ, tài liệu liên quan hàng hóa xuất nhập khẩu đã được thông quan như sổ kế toán, chứng từ kế toán, báo cáo tài chính, các tài liệu, dữ liệu liên quan, do doanh nghiệp lưu giữ ở dạng giấy tờ hoặc dữ liệu điện tử.

Ba là, Hàng hóa, nơi sản xuất nếu cần thiết và còn điều kiện.

Ngoài các đối tượng chịu kiểm tra sau thông quan trên, kiểm tra sau thông quan có thể tiến hành phối hợp, thu thập thông tin phục vụ kiểm tra sau thông quan từ các đơn vị trong và ngoài ngành, bao gồm:

Các đại lý làm thủ tục hải quan, môi giới hải quan: đó là người thay mặt chủ sở hữu hàng hoá đi khai, làm thủ tục hải quan, đồng thời nắm giữ hầu hết các chứng từ thương mại, hồ sơ hải quan và các thông tin liên quan đến việc làm thủ tục hải quan cho hàng hoá xuất nhập khẩu.

Các đơn vị nhập khẩu uỷ thác: là những đơn vị được uỷ thác nhập khẩu hàng hoá và nắm rõ các thông tin giao dịch có liên quan đến hàng hoá nhập khẩu.

Các doanh nghiệp kho vận ngoại thương: là các đơn vị thực hiện các dịch vụ vận chuyển nội địa, giao nhận, lưu kho, phân phối hàng hoá theo các hợp đồng dịch vụ đã ký kết với chủ hàng hoá XNK.

Các hãng vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu: là những đơn vị phát hành và lưu giữ các chứng từ vận chuyển, nắm giữ các thông tin về hành trình của hàng hoá, cước phí vận tải, tình trạng tổn thất của hàng hoá và các vấn đề khác liên quan đến dịch vụ, hợp đồng vận chuyển hàng hoá phục vụ cho hoạt động kiểm tra sau thông quan.

Các đơn vị bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu: là các đơn vị phát hành các chứng từ bảo hiểm, thu phí bảo hiểm và lưu giữ các chứng từ khác có liên quan đến việc xác định trị giá hải quan cũng như các yếu tố khác trong quá trình lưu chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu.

Các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính, tín dụng khác: Nơi nắm giữ các thông tin như số liệu tài khoản thanh toán, sổ kế toán chi tiết tài khoản thanh toán, bộ chứng từ thanh toán quốc tế, thanh toán biên mậu có liên quan đến lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu.

Các cơ quan thuế nội địa: Nơi nắm giữ các thông tin về giá bán hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa, thuế giá trị gia tăng đầu vào, đầu ra, các báo cáo tài chính trong đó có số liệu các chi phí, thanh quyết toán cho các lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu.

Các cơ quan tổ chức, giám định hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu: Nơi nắm giữ thông tin thực tế của hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu.

Người mua hàng nhập khẩu trên thị trường nội địa.

Các cơ quan quản lý chuyên ngành khác: Như các cơ quan cấp giấy phép quản lý chuyên ngành thuộc các lĩnh vực y tế, kiểm dịch động thực vật, thủy sản, công nghiệp, nông nghiệp, môi trường, văn hóa, lao động, ngân hàng, công an, khoa học công nghệ….

Theo thông lệ quốc tế thì người xuất nhập khẩu, người uỷ thác là đối tượng trực tiếp của kiểm tra sau thông quan, còn các đối tượng khác có trách nhiệm hợp tác, giúp đỡ và cung cấp thông tin cần thiết khi cơ quan hải quan yêu cầu.

1.1.6. Phạm vi kiểm tra sau thông quan

Việc kiểm tra sau thông quan được tiến hành khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật về hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan hoặc theo kế hoạch kiểm tra để đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật hải quan của doanh nghiệp. Do đó, phạm vi của kiểm tra sau thông quan sẽ tuỳ thuộc vào cách thức xác định đối tượng kiểm tra, đó là kiểm tra theo kế hoạch, kiểm tra chuyên đề hay kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm.

Đối với trường hợp kiểm tra theo kế hoạch để đánh giá tính tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp thì phạm vi kiểm tra rộng hơn.

Đối với trường hợp kiểm tra theo chuyên đề, kiểm tra theo dấu hiệu vi phạmthì được tiến hành khi đã có những thông tin vi phạm pháp luật hoặc có những nghi ngờ nhất định. Do đó, phạm vi kiểm tra thường hẹp hơn, tập trung vào những dấu hiệu vi phạm như : dấu hiệu gây thất thu thuế, khai sai trị giá hàng hoá góp vốn đầu tư…

Tuỳ theo yêu cầu của mỗi cuộc kiểm tra sau thông quan và từng trường hợp kiểm tra, cơ quan hải quan xác định phạm vi kiểm tra sau thông quan như sau :

Một là, kiểm tra việc xuất khẩu, nhập khẩu một mặt hàng của một doanh nghiệp trong một giai đoạn.

Hai là, kiểm tra việc xuất khẩu, nhập khẩu nhiều mặt hàng của một doanh nghiệp trong một giai đoạn.

Ba là, kiểm tra một hoặc nhiều nội dung (ví dụ kiểm tra chính sách, trị giá, mã số, xuất xứ) của một hoặc nhiều mặt hàng xuất khẩu, nhập khẩu của một doanh nghiệp trong một giai đoạn.

Bốn là, kiểm tra một hoặc nhiều loại hình xuất khẩu, nhập khẩu của một doanh nghiệp trong một giai đoạn.

Năm là, kiểm tra tất cả hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của một doanh nghiệp trong một giai đoạn.

Địa điểm và thời hạn kiểm tra sau thông quan (phạm vi về mặt không gian và thời gian) bao gồm:

Địa điểm kiểm tra sau thông quan được thực hiện tại trụ sở cơ quan hải quan và/hoặc tại trụ sở của đơn vị được kiểm tra.

Thời hạn kiểm tra sau thông quan như sau:

Thời hạn kiểm tra của mỗi quyết định kiểm tra tại trụ sở cơ quan hải quan được kiểm tra tối đa là 5 (năm) ngày làm việc đối với trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan hoặc xác định có khả năng vi phạm pháp luật hải quan dựa trên kết quả phân tích thông tin của cơ quan hải quan; tối đa là 10 (mười) ngày làm việc đối với trường hợp kiểm tra theo kế hoạch để đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật hải quan của người khai hải quan.

Trường hợp phức tạp người quyết định kiểm tra gia hạn thời gian kiểm tra không quá thời hạn quy định nêu trên. Thời gian gia hạn, lý do gia hạn được thông báo bằng văn bản cho đơn vị được kiểm tra.

Cơ quan hải quan có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho đơn vị được kiểm tra về quyết định kiểm tra sau thông quan chậm nhất là 5 (năm) ngày làm việc trước khi tiến hành kiểm tra, trừ trường hợp kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan hoặc xác định có khả năng vi phạm pháp luật hải quan dựa trên kết quả phân tích thông tin của cơ quan hải quan.

1.2. Nội dung kiểm tra sau thông quan

Nội dung kiểm tra sau thông quan được quy định tại Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu và Quyết định số 575/QĐ-TCHQ ngày 21/3/2019 của Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan về việc ban hành Quy trình kiểm tra sau thông quan, theo đó, thực hiện kiểm tra sau thông quan đảm bảo các nội dung cụ thể sau:

Một là, kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ hải quan đang lưu giữ tại doanh nghiệp và cơ quan hải quan nơi làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

Hai là, kiểm tra tính chính xác của các căn cứ tính thuế, tính chính xác của việc khai các khoản thuế phải nộp, được miễn, không thu, được hoàn;

Ba là, kiểm tra việc thực hiện các quy định khác của pháp luật về thuế;

Bốn là, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về hải quan.

Năm là, kiểm tra thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã thông quan tại trụ sở chính của doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp, cửa hàng, nơi sản xuất hoặc nơi lưu giữ hàng hóa trong trường hợp cần thiết.

Để thực hiện được các nội dung KTSTQ, việc thực hiện trình tự kiểm tra sau thông quan là quá trình thực hiện các thao tác nghiệp vụ mà công chức hải quan phải thực hiện để tiến hành kiểm tra sau thông quan theo quy định. Quá trình này có thể khái quát gồm các nội dung cụ thể sau:

1.2.1. Thu thập, xử lý thông tin phục vụ KTSTQ

* Nguyên tắc

Thu thập thông tin được thực hiện theo nguyên tắc thu thập, tổng hợp thông tin từ một nguồn hay nhiều nguồn để đảm bảo đánh giá, phân loại thông tin. Trong quá trình thu thập thông tin, công chức hải quan ưu tiên thu thập từ các nguồn thông tin từ hệ thống thông tin của ngành hải quan và từ các Vụ, Cục thuộc Tổng cục Hải quan và Cục Hải quan tỉnh, thành phố, tiếp theo là thu thập từ các nguồn thông tin từ:

– Các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu.

– Các tổ chức, cá nhân có liên quan như ngân hàng thương mại, các hãng vận tải, các tổ chức bảo hiểm, cảng vụ, các tổ chức, cá nhân là đối tác mua hàng, bán hàng.

– Thông tin thu thập được từ người khai hải quan..

Trường hợp kết quả thu thập thông tin từ cơ quan hải quan có dấu hiệu nghi vấn, rủi ro nhưng chưa đầy đủ, rõ ràng, thì người có thẩm quyền quyết định tiến hành thu thập thêm thông tin từ người khai hải quan, bằng hình thức gửi văn bản đề nghị người khai hải quan cung cấp thông tin.

* Hình thức thu thập thông tin

– Từ các Vụ, Cục thuộc Tổng cục Hải quan và Cục Hải quan tỉnh, thành phố/từ các cơ quan, tổ chức cá nhân ngoài ngành.

Trường hợp các đơn vị có thông tin, số liệu, dữ liệu dưới dạng bản mềm thì đơn vị thu thập thông tin chủ động liên hệ với đơn vị có thông tin để thu thập.

Trường hợp thông tin cần thu thập chỉ có dưới dạng bản cứng (văn bản, tài liệu) ngoài việc liên hệ, trao đổi thì có thể gửi văn bản đề nghị cung cấp thông tin hoặc có giấy giới thiệu cử người trực tiếp đến nhận thông tin.

Văn bản đề nghị cung cấp thông tin phải ghi rõ phạm vi, nội dung, thông tin cần cung cấp, hình thức cung cấp thông tin.

Các đơn vị thuộc và trực thuộc Tổng cục Hải quan được đề nghị cung cấp thông tin có trách nhiệm tạo điều kiện để việc cung cấp và tiếp nhận thông tin được nhanh nhất, đầy đủ nhất.

– Từ người khai hải quan

Việc thu thập thông tin từ người khai hải quan được thực hiện khi xác định có vấn đề nghi vấn, bất hợp lý hoặc các dấu hiệu vi phạm… thông qua hình thức văn bản đề nghị cung cấp thông tin

Trường hợp lượng hồ sơ, dữ liệu phải cung cấp nhiều thì người khai hải quan có quyền đề nghị cung cấp thông tin trực tiếp (người khai hải quan có văn bản đề nghị cung cấp thông tin trực tiếp) tại trụ sở cơ quan hải quan (lập biên bản giao nhận hồ sơ giữa hai bên.

* Xử lý thông tin:

Sau khi thu thập thông tin, công chức thực hiện các bước phân tích thông tin từ đó đánh giá thông tin để phân loại đối tượng theo các nhóm có dấu hiệu vi phạm, có rủi ro, cần kiểm tra đánh giá tuân thủ hoặc chưa cần kiểm tra đưa vào lưu trữ/ cần tiếp tục theo dõi đánh giá.

* Phân loại thông tin:

Trên cơ sở kết quả phân tích, đánh giá thông tin, công chức hải quan thực hiện phân loại đối tượng để xác định đối tượng phân cấp theo thẩm quyền kiểm tra (tại trụ sở Chi cục, Tại Cục) và từng loại thì tiến hành phân loại ưu tiên kiểm tra trước.

1.2.2. Xác định đối tượng, quyết định kiểm tra

Công chức tiến hành xác định đối tượng kiểm tra trên cơ sở kết quả thu thập, phân tích thông tin, cụ thể :

* Đối với kiểm tra sau thông quan tại cơ quan hải quan

– Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở Chi cục Hải quan

Trường hợp kiểm tra theo dấu hiệu vi phạm, phải đề xuất kiểm tra toàn bộ (100%) tờ khai đã thông quan có dấu hiệu vi phạm đã xác định (trong thời hạn 60 ngày).

Trừ những lô hàng đã được Chi cục Hải quan kiểm tra thực tế hàng hoá trước khi thông quan, tập trung kiểm tra những hồ sơ hàng hóa luồng xanh chưa được Chi cục Hải quan kiểm tra trong thông quan và những hồ sơ chưa thực hiện tham vấn giá.

Trường hợp có dấu hiệu vi phạm nhưng người khai hải quan được xác định có khối lượng hàng hoá lớn, chủng loại hàng hoá phức tạp, có rủi ro về thuế theo quy định tại khoản 1, Điều 97 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 thì lập phiếu chuyển nghiệp vụ chuyển Chi cục Kiểm tra sau thông quan xem xét đề xuất Cục trưởng Cục Hải quan quyết định kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan.

Không thực hiện kiểm tra đối với các hồ sơ hải quan của các lô hàng giống hệt, tương tự với hồ sơ của lô hàng Chi cục Hải quan đã kiểm tra sau thông quan nhưng kết quả kiểm tra ghi nhận đã kiểm tra không phát hiện sai phạm/chấp nhận nội dung khai báo của cùng người khai hải quan, nếu không có thông tin mới hoặc dấu hiệu vi phạm khác. Trường hợp hồ sơ các lô hàng giống hệt, tương tự vẫn còn dấu hiệu nghi vấn thì Chi cục trưởng Chi cục Hải quan báo cáo Cục trưởng Cục Hải quan xem xét tiến hành kiểm tra sau thông quan tại trụ sở Cục Hải quan hoặc tại trụ sở người khai hải quan theo quy định.

Trường hợp kiểm tra sau thông quan theo quản lý rủi ro thì không áp dụng kiểm tra đối với trường hợp đã thực hiện tham vấn giá (trừ trường hợp có dấu hiệu vi phạm).

– Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở Chi cục Kiểm tra sau thông quan/Trụ sở Cục Hải quan tỉnh, thành phố

Trường hợp người khai hải quan có trụ sở chính/mã số thuế không thuộc địa bàn quản lý của Cục Hải quan, chỉ tiến hành kiểm tra đối với các tờ khai làm thủ tục hải quan tại địa bàn quản lý của Cục Hải quan. Trường hợp có thông tin dấu hiệu vi phạm có văn bản gửi cho Cục Hải quan quản lý người khai hải quan xem xét tiến hành kiểm tra (gửi Cục Kiểm tra sau thông quan 01 bản thay báo cáo). Trường hợp đề nghị trực tiếp kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan thì có văn bản báo cáo Tổng cục Hải quan (Cục Kiểm tra sau thông quan) xem xét theo quy định.

* Đối với kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan

Trên cơ sở danh sách người khai hải quan có dấu hiệu vi phạm; người khai hải quan xác định có rủi ro cao và danh sách kiểm tra theo Kế hoạch đã được Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan phê duyệt, công chức thực hiện:

Đề xuất kế hoạch thực hiện kiểm tra đối với người khai hải quan đã được Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan giao cho đơn vị.

Ngoài trường hợp tại điểm nêu trên, đề xuất kiểm tra ưu tiên theo thứ tự sau:

Các doanh nghiệp nhưng chưa thực hiện kiểm tra tại trụ sở cơ quan hải quan.

Các trường hợp khác từ thông tin phiếu chuyển nghiệp vụ của Chi cục Hải quan và chuyển hình thức kiểm tra (tại trụ sở cơ quan hải quan sang tại trụ sở người khai hải quan).

Các trường hợp còn lại: công chức xác định lựa chọn kiểm tra trên cơ sở phân tích, đánh giá, xác định tính chất,mức độ rủi ro cao.

Sau khi xác định được đối tượng cụ thể, công chức thực hiện đề xuất kiểm tra và tiếp tục tiến hành thu thập, phân tích thông tin chi tiết về đối tượng đã được lựa chọn.

Rà soát trên Hệ thống STQ02 để tránh đề xuất trùng đối tượng kiểm tra, cụ thể: Tra cứu trên Hệ thống STQ02 thấy đối tượng kiểm tra đang được đơn vị khác đề xuất thì báo cáo người có thẩm quyền quyết định kiểm tra chưa ban hành quyết định kiểm tra, thực hiện phối hợp, trao đổi thông tin và thống nhất đơn vị kiểm tra giữa 02 đơn vị. Trường hợp không thống nhất thì báo cáo Tổng cục Hải quan (qua Cục Kiểm tra sau thông quan) phân công đơn vị kiểm tra.

Công chức lập Phiếu đề xuất kiểm tra trong đó đánh giá đối tượng kiểm tra tổng quát các loại hình (gia công, SXXK, đầu tư, nhập kinh doanh…) chính sách mặt hàng (hàng hóa nhập khẩu có điều kiện, hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành..), lĩnh vực (giá, mã số hàng hóa, C/O…) ghi rõ nội dung dự kiến kiểm tra, số lượng tờ khai theo mức độ rủi ro cao thấp, dấu hiệu vi phạm cụ thể…

Khi đề xuất kiểm tra sau thông quan, cán bộ đề xuất phải thực hiện cập nhật vào Hệ thống STQ02.

Căn cứ kế hoạch kiểm tra sau thông quan được Tổng cục Hải quan phê duyệt từ đầu năm hoặc kiểm tra đột xuất, xác định đối tượng kiểm tra cụ thể, người có thẩm quyền ban hành quyết định kiểm tra phân công dự kiến nhân sự Đoàn kiểm tra và phân công thực hiện công tác chuẩn bị kiểm tra.

Dựa trên phân công của người ban hành quyết định kiểm tra, Đoàn kiểm tra (nhân sự dự kiến) thực hiện các công việc sau:

– Thu thập thêm thông tin:

Trong trường hợp cần có văn bản yêu cầu thu thập thông tin từ đối tượng kiểm tra để xác định kế hoạch kiểm tra hiệu quả, Đoàn kiểm tra (nhân sự dự kiến) dự thảo văn bản trình người có thẩm quyền ký văn bản thu thập thông tin (ví dụ các quy trình quản lý, cách thức tổ chức các bộ phận…) để xác định kế hoạch kiểm tra.

– Họp đoàn:

Trưởng đoàn kiểm tra họp đoàn kiểm tra phân công công việc chuẩn bị, lập kế hoạch kiểm tra chi tiết bằng văn bản. Bản kế hoạch kiểm tra phải có các nội dung: nội dung kiểm tra đảm bảo tổng quát (theo loại hình, lĩnh vực, chính sách mặt hàng) thuộc phạm vi kiểm tra của quyết định, thời gian kiểm tra, phương pháp kiểm tra, dấu hiệu vi phạm (nếu có) và các thông tin cần lưu ý kiểm tra, dự kiến những công việc phải làm, phân công nhiệm vụ cho các thành viên của đoàn kiểm tra, dự kiến các tình huống và biện pháp xử lý tình huống, thông tin liên lạc, kế hoạch hậu cần,… (theo mẫu số 23/2019-KTSTQ).

– Phân công chuẩn bị:

Trưởng đoàn phân công từng thành viên thực hiện phân tích dữ liệu, hồ sơ để đưa ra các nội dung nhận định đánh giá trước khi tiến hành kiểm tra; Báo cáo trưởng đoàn phương pháp dự kiến kiểm tra, cách thức áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro để lựa chọn vấn đề, nội dung hồ sơ, tài liệu, dữ liệu kiểm tra dự kiến theo từng nội dung được phân công.

Dự kiến việc áp dụng nguyên tắc quản lý rủi ro để lựa chọn vấn đề, nội dung hồ sơ, tài liệu, dữ liệu kiểm tra dựa trên nguyên tắc như sau:

+ Trên cơ sở các hồ sơ, chứng từ, tài liệu, dữ liệu, báo cáo thống kê, quy trình quản lý hoạt động do người khai hải quan đã cung cấp có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, Đoàn kiểm tra thực hiện phân tích để đánh giá theo nguyên tắc quản lý rủi ro để áp dụng thực hiện kiểm tra sau này.

+ Xác định các lĩnh vực, loại hình, mặt hàng của doanh nghiệp có rủi ro; Việc phân tích, đánh giá được thực hiện theo giai đoạn, thời gian và phạm vi kiểm tra; Việc xác định rủi ro phải tập trung vào các vấn đề: mức độ ảnh hưởng đến số thuế phải nộp và chính sách quản lý xuất, nhập khẩu.

+ Đảm bảo nguyên tắc phân loại mức độ rủi ro từ mức độ cao xuống thấp. Khi tiến hành kiểm tra thực hiện kiểm tra từ rủi ro cao đến thấp.

+ Khi đánh giá rủi ro dự kiến cách thức kiểm tra xác suất, cách thức lựa chọn vấn đề sẽ kiểm tra.

– Lập kế hoạch và trình phê duyệt kế hoạch kiểm tra:

+ Dựa trên phân tích báo cáo của thành viên, Trưởng đoàn lập Kế hoạch kiểm tra (theo mẫu số 23/2019-KTSTQ) báo cáo người có thẩm quyền ký ban hành quyết định kiểm tra để xem xét phê duyệt.

+ Người có thẩm quyền ban hành kiểm tra xem xét và phê duyệt kế hoạch kiểm tra dự kiến.

+ Trưởng đoàn kiểm tra chịu trách nhiệm tổ chức, phân công, triển khai thực hiện kế hoạch kiểm tra đã được duyệt. Các thành viên thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công của Trưởng đoàn kiểm tra. Thành viên chịu trách nhiệm thực hiện các công việc được giao và báo cáo Trưởng đoàn.

Dựa trên phiếu đề xuất kiểm tra (kèm kế hoạch kiểm tra), người có thẩm quyền xem xét ký ban hành Quyết định kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan/trụ sở người khai hải quan theo mẫu số 01/2015-KTSTQ.

– Trường hợp kiểm tra theo kế hoạch, có dấu hiệu vi phạm cụ thể, có mức độ rủi ro cao thì phê duyệt nội dung đề xuất và ký ban hành quyết định kiểm tra.

– Trường hợp dấu hiệu vi phạm, dấu hiệu rủi ro chưa rõ hoặc chưa đồng ý với nội dung đề xuất thì phải ghi rõ ý kiến, chỉ đạo công việc tiếp theo để xác định rõ hơn về đối tượng kiểm tra.

Sau khi người có thẩm quyền ký ban hành Quyết định kiểm tra thì công chức tiến hành ban hành quyết định kiểm tra.

Quyết định kiểm tra phải có số, ký hiệu, phải được đơn vị mở sổ theo dõi từ khi phát hành đến khi cập nhật xong kết quả xử lý vụ việc.

Quyết định kiểm tra sau thông quan phải gửi trực tiếp hoặc bằng thư bảo đảm, fax hoặc mail cho người khai hải quan trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày ký Quyết định kiểm tra và chậm nhất là 05 (năm) ngày làm việc trước khi tiến hành kiểm tra. Công chức chịu trách nhiệm gửi quyết định phải lưu hồ sơ bản in nội dung xác nhận của người khai hải quan đã nhận được quyết định (báo phát bưu điện/fax có chữ ký xác nhận/bản in mail xác nhận đã nhận).

Trường hợp người khai hải quan nhận được quyết định kiểm tra nhưng có văn bản xin đề nghị được lùi thời gian kiểm tra hoặc sửa đổi, bổ sung nội dung quyết định kiểm tra, Trưởng đoàn/trưởng nhóm kiểm tra xem xét lý do người khai hải quan đề nghị, báo cáo người ban hành quyết định kiểm tra xem xét quyết định:

+ Trường hợp chấp nhận, người ban hành quyết định kiểm tra ký ban hành quyết định sửa đổi, bổ sung quyết định kiểm tra.

+ Trường hợp không chấp nhận, người ban hành quyết định kiểm tra báo cho người khai hải quan biết để chấp hành đúng thời gian của quyết định kiểm tra.

Trong trường hợp kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan, đối với tình huống phức tạp, dữ liệu nhiều…nếu xét thấy cần thiết, để đảm bảo việc kiểm tra hiệu quả, đúng quy định, tạo thuận lợi cho người khai hải quan, người ban hành quyết định kiểm tra có Thông báo bằng văn bản theo mẫu số 13/2015-KTSTQ gửi người khai hải quan để thông báo các công việc người khai hải quan cần chuẩn bị.

1.2.3. Thực hiện kiểm tra

* Công bố quyết định kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan

– Người công bố quyết định: Trưởng đoàn kiểm tra công bố Quyết định kiểm tra ngay ngày làm việc đầu tiên tại trụ sở người khai hải quan.

– Nội dung công bố quyết định:

Đọc nội dung quyết định kiểm tra, nêu rõ trách nhiệm, quyền hạn của Trưởng đoàn và các thành viên, quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan theo quy định của pháp luật.

– Biên bản công bố quyết định:

+ Việc công bố quyết định kiểm tra được lập thành Biên bản công bố quyết định kiểm tra theo mẫu số 09/2015-KTSTQ tại ngày làm việc đầu tiên tại trụ sở người khai hải quan.

+ Người công bố quyết định kiểm tra và người đại diện có thẩm quyền của người khai hải quan cùng ký vào Biên bản công bố (người khai hải quan đồng thời đóng dấu lên Biên bản công bố)

– Trường hợp người khai hải quan không chấp hành quyết định kiểm tra:

Trường hợp người khai hải quan không cử đại diện làm việc, không giải trình, cung cấp hồ sơ, tài liệu theo yêu cầu của cơ quan hải quan thì cơ quan hải quan tiến hành xử lý vi phạm hành chính theo quy định

+ Trường hợp chưa đủ cơ sở kết luận thì báo cáo người có thẩm quyền xem xét thực hiện thanh tra chuyên ngành;

+ Trường hợp đủ cơ sở kết luận kiểm tra, thủ trưởng cơ quan hải quan ban hành kết luận kiểm tra trên cơ sở kết quả kiểm tra hồ sơ, dữ liệu của cơ quan hải quan hiện có và các quyết định hành chính (nếu có).

* Tiến hành kiểm tra

– Tại trụ sở cơ quan hải quan

Nhóm kiểm tra tại trụ sở Chi cục Hải quan, Chi cục Kiểm tra sau thông quan thuộc Cục Hải quan theo quyết định kiểm tra tại trụ sở cơ quan Hải quan thực hiện như sau:

+ Thời hạn kiểm tra tối đa là hai (05) ngày làm việc, theo quyết định kiểm tra.

+ Trong quá trình kiểm tra, nhóm kiểm tra làm việc với đại diện theo pháp luật hoặc đại diện được ủy quyền (sau đây gọi tắt là đại diện có thấm quyền) của người khai hải quan về các nội dung kiểm tra, các dấu hiệu nghi vấn, yêu cầu người khai hải quan giải trình, làm rõ và cung cấp chứng từ, tài liệu chứng minh.

+ Nội dung kiểm tra được ghi nhận bằng các Biên bản kiểm tra theo mẫu số 08/2015-KTSTQ.

+ Quá thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kiểm tra ghi trên Quyết định kiểm tra mà người khai hải quan không gửi hồ sơ tài liệu hoặc cử đại diện đến làm việc, cơ quan hải quan tiến hành xử lý vi phạm hành chính theo quy định và xử lý trên cơ sở kết quả kiểm tra hồ sơ, dữ liệu, thông tin của cơ quan hải quan hiện có.

– Tại trụ sở người khai hải quan

Đoàn kiểm tra theo quyết định kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan thực hiện kiểm tra như sau:

+ Thời hạn kiểm tra theo quyết định kiểm tra nhưng tối đa không quá mười (10) ngày làm việc.

+ Thành viên đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra theo kế hoạch đã được Trưởng đoàn kiểm tra lập và theo sự phân công của Trưởng đoàn kiểm tra, phải báo cáo bằng văn bản cho Trưởng đoàn kiểm tra, chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với các nội dung kiểm tra được phân công.

+ Nội dung kiểm tra được ghi nhận bằng các Biên bản kiểm tra theo mẫu số 08/2015-KTSTQ. Biên bản kiểm tra (giữa thành viên/nhóm thành viên đoàn kiểm tra với đại diện người khai hải quan/đại diện có thẩm quyền của người khai hải quan).

+ Các biên bản kiểm tra hoàn thành trong thời gian thực hiện quyết định kiểm tra. Trường hợp phức tạp, trường hợp cần bổ sung chứng từ, tài liệu hoặc trường hợp người khai hải quan cần giải trình và một số trường hợp đặc biệt khác, trong thời hạn tối đa 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc kiểm tra, phải hoàn thành Biên bản kiểm tra.

* Báo cáo, đề xuất, xử lý kết quả kiểm tra

-Tùy theo tình hình diễn biến kiểm tra, Trưởng Đoàn kiểm tra báo cáo tình hình kiểm tra theo các hình thức bằng văn bản, điện thoại, email,… (nhưng chậm nhất sau 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định kiểm tra) cho người ký ban hành quyết định kiểm tra sau thông quan về tiến độ công việc, nội dung kiểm tra, những vấn đề đã kiểm tra phát hiện, những khó khăn, bất cập, phức tạp cần xin ý kiến chỉ đạo.

– Trong báo cáo nêu rõ việc phân công, trách nhiệm của từng thành viên đoàn về từng vấn đề liên quan đến việc đề xuất xử lý kết quả kiểm tra dựa trên nguyên tắc ai chịu trách nhiệm kiểm tra nội dung nào thì chịu trách nhiệm đề xuất xử lý kết quả kiểm tra có liên quan đến nội dung đó.

* Thông báo kết quả kiểm tra/Kết luận kiểm tra

Trên cơ sở Báo cáo kết quả kiểm tra, người có thẩm quyền xem xét ký Thông báo kết quả kiểm tra/Kết luận kiểm tra chỉ đạo tiếp một số công việc cụ thể:

– Rà soát các vi phạm tương tự vừa được kiểm tra trước khi ký Thông báo kết quả kiểm tra đối với trường hợp kiểm tra tại trụ sở Chi cục Hải quan.

Kết thúc kiểm tra tại trụ sở Chi cục Hải quan, nhóm kiểm tra/công chức được giao nhiệm vụ thực hiện việc rà soát các vi phạm tương tự đối với các hồ sơ hải quan đã thông quan của người khai hải quan vừa được kiểm tra tại Chi cục trong thời hạn 05 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan. Trường hợp xác định người khai hải quan có vi phạm tương tự đề xuất với Chi cục trưởng trong Thông báo kết quả kiểm tra có nội dung yêu cầu người khai hải quan tự khai bổ sung (đối với các tờ khai có vi phạm ngoài thời hạn 60 ngày, trong thời gian 05 (năm) ngày kể từ ngày ký thông báo kết quả kiểm tra).

Chi cục trưởng Chi cục Hải quan có trách nhiệm chỉ đạo xử lý các công việc liên quan đến cuộc kiểm tra, đồng thời xem xét ấn định thuế (đối với các tờ khai có vi phạm thuộc phạm vi kiểm tra) và xử lý theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

– Thông báo kết quả kiểm tra

+ Nhóm kiểm tra đề xuất dự thảo Thông báo kết quả kiểm tra theo chỉ đạo Cục trưởng Cục Hải quan/Chi cục trưởng trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc kiểm tra;

+ Căn cứ nội dung dự thảo, kết quả kiểm tra và giải trình của người khai hải quan, Chi cục trưởng/Cục trưởng Cục Hải quan xem xét ký ban hành Thông báo kết quả kiểm tra theo mẫu số 06/2015-KTSTQ Phụ lục II Quy trình này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc kiểm tra.

+ Đối với trường hợp người khai hải quan không chấp hành quyết định kiểm tra, không cung cấp đủ hồ sơ tài liệu theo yêu cầu theo quy định tại điểm b.1 khoản 3 Điều 142 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 73 Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC, Cục trưởng Cục Hải quan/Chi cục trưởng ký Thông báo kết quả kiểm tra trong đó nêu rõ: hành vi không chấp hành của người khai hải quan và cơ quan hải quan sẽ xử lý theo quy định trên cơ sở hồ sơ, thông tin dữ liệu hiện có và áp dụng các biện pháp kiểm tra đối với các lô hàng tiếp theo của người khai hải quan.

– Đối với trường hợp Chi cục Hải quan đã kiểm tra tại cơ quan hải quan, nhóm kiểm tra đề xuất Chi cục trưởng Chi cục Hải quan: Đưa nội dung “đề nghị người khai hải quan có trách nhiệm khai đúng cho các lô hàng nhập khẩu tương tự tiếp theo…’’ trong Thông báo kết quả kiểm tra vàc chuyển thông tin cho bộ phận thông quan tại Chi cục để hướng dẫn người khai hải quan khai báo theo đúng quy định.

* Kết luận kiểm tra

Trình tự ban hành Bản kết luận kiểm tra thực hiện như sau:

– Dự thảo kết luận kiểm tra: Kết thúc kiểm tra, người có thẩm quyền kết luận kiểm tra có trách nhiệm chỉ đạo Đoàn kiểm tra lập dự thảo Bản kết luận kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan:

+ Từng thành viên đoàn kiểm tra chịu trách nhiệm theo nội dung được phân công kiểm tra; lập báo cáo bằng văn bản tổng hợp về kết quả kiểm tra, đề xuất phương án xử lý kết quả kiểm tra theo phạm vi công việc đã được phân công theo kế hoạch và theo chỉ đạo, yêu cầu của Trưởng đoàn.

+ Trên cơ sở quyết định kiểm tra, báo cáo của từng thành viên, các biên bản kiểm tra, hồ sơ, chứng từ tài liệu thu thập được, và căn cứ theo quy định pháp luật liên quan, đoàn kiểm tra thống nhất nội dung báo cáo của đoàn kiểm tra, dự thảo kết luận kiểm tra (từng thành viên có ý kiến ký ghi rõ họ tên vào trang cuối và cùng ký tắt trên từng trang của dự thảo, bản này được lưu hồ sơ) trước khi báo cáo người có thẩm quyền kết luận kiểm tra duyệt dự thảo kết luận kiểm tra.

Trưởng đoàn kiểm tra chịu trách nhiệm quyết định về toàn bộ nội dung dự thảo kết luận kiểm tra trình người có thẩm quyền kết luận kiểm tra

Đoàn kiểm tra hoàn thành dự thảo Bản kết luận kiểm tra tại trụ sở người khai hải quan, trình người có thẩm quyền ký kết luận xem xét dự thảo trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày kết thúc kiểm tra.

+ Trường hợp người có thẩm quyền kết luận kiểm tra không đồng ý với nội dung dự thảo kết luận kiểm tra, thì đoàn kiểm tra phải báo cáo tiếp, làm rõ những nội dung, vấn đề liên quan theo chỉ đạo của người có thẩm quyền hoặc có quyền bảo lưu ý kiến. Người có thẩm quyền kết luận kiểm tra quyết định về nội dung dự thảo cuối cùng, duyệt và gửi người khai hải quan theo quy định.

+ Chậm nhất 05 (năm) ngày kể từ ngày kết thúc việc kiểm tra theo Biên bản kiểm tra cuối cùng tại trụ sở người khai hải quan, người có thẩm quyền kết luận kiểm tra phải duyệt, hoàn thành bản dự thảo kết luận kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan theo mẫu số 05/2015-KTSTQ Phụ lục II Quy trình này, kiểm tra tất cả các trang dự thảo, ký tắt (xác nhận đã duyệt) và giao cho đoàn kiểm tra gửi cho người khai hải quan 01 bản theo một trong các hình thức sau: Gửi Fax/email; bằng công văn theo đường bưu chính; Giao trực tiếp cho người khai hải quan.

+ Dự thảo kết luận kiểm tra (kèm các báo cáo, đề xuất kết quả kiểm tra của thành viên đoàn kiểm tra (nếu có) phải được lưu hồ sơ kiểm tra để xác định trách nhiệm từng thành viên và trưởng đoàn kiểm tra.

– Giải trình của người khai hải quan:

+ Chậm nhất 10 (mười) ngày kể từ ngày kết thúc kiểm tra, người khai hải quan có quyền giải trình, đưa ra ý kiến về dự thảo kết luận kiểm tra (bằng văn bản hoặc làm việc trực tiếp với người ban hành quyết định kiểm tra liên quan đến nội dung giải trình, nội dung làm việc được ghi nhận tại biên bản làm việc theo mẫu số 12/2015-KTSTQ) theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 143 được sửa đổi, bổ sung tại khoản 74 Điều 1 Thông tư số 39/2018/TT-BTC.

Hết thời hạn trên mà người khai hải quan không thực hiện quyền giải trình theo quy định thì cơ quan hải quan thực hiện kết luận trên cơ sở hồ sơ, kết quả kiểm tra hiện có.

– Ban hành bản kết luận kiểm tra:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kết thúc kiểm tra, người có thẩm quyền kết luận kiểm tra có trách nhiệm:

+ Xem xét văn bản giải trình của người khai hải quan hoặc/và xem xét kết quả làm việc với đại diện có thẩm quyền của người khai hải quan trong trường hợp còn vấn đề cần làm rõ để xem xét ký ban hành bản kết luận kiểm tra.

+ Trường hợp dự thảo kết luận còn vấn đề cần làm rõ thì tiếp tục chỉ đạo làm rõ.

+ Ký ban hành “Bản kết luận kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan” theo mẫu số 05/2015-KTSTQ. Kết luận kiểm tra được đóng dấu giáp lai hoặc ký nháy từng trang.

Đối với trường hợp kết luận kiểm tra cần có ý kiến về chuyên môn của cơ quan có thẩm quyền:

Thời hạn gửi văn bản xin ý kiến của cơ quan chuyên môn.

+ Chậm nhất sau 10 ngày kể từ ngày kết thúc kiểm tra phải gửi văn bản xin ý kiến (trong trường hợp toàn bộ bản kết luận phải chờ xin ý kiến).

+ Chậm nhất sau 10 ngày kể từ ngày ký bản kết luận kiểm tra (trong trường hợp vẫn ban hành kết luận kiểm tra nhưng còn nội dung ghi nhận cần trao đổi ý kiến của cơ quan chuyên môn).

+ Trường hợp trong quá trình trao đổi tiếp tục phát sinh việc phải trao đổi với cơ quan khác hoặc phải trao đổi lại thì thời hạn có văn bản trao đổi theo quy chế xử lý văn bản của đơn vị và thời hạn tính theo các văn bản trao đổi cuối cùng.

Thời hạn ký ban hành kết luận là 15 ngày kể từ ngày nhận được văn bản ý kiến của cơ quan chuyên môn có thẩm quyền.

Hết thời hạn 30 ngày cơ quan chuyên môn không có ý kiến trả lời thì người có thẩm quyền ban hành bản kết luận kiểm tra chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày hết hạn 30 ngày (mốc bắt đầu tính theo ngày gửi văn bản xin ý kiến), nội dung kết luận kiểm tra và xử lý kết quả kiểm tra dựa trên kết quả kiểm tra và hồ sơ hiện có.

– Gửi bản kết luận cho người khai hải quan:

Người ký ban hành kết luận kiểm tra có trách nhiệm gửi cho người khai hải quan 01 bản kết luận kiểm tra và 01 bản lưu hồ sơ.

1.2.4. Xử lý kết quả kiểm tra

1.2.4.1. Quyết định ấn định thuế

Việc ấn định thuế thực hiện theo quy định tại Luật Quản lý thuế, Luật Hải quan, Luật Thuế xuất khẩu, nhập khẩu các văn bản hướng dẫn và các quy định của pháp luật có liên quan.

Đối với các trường hợp sau khi kiểm tra phát hiện vi phạm phải ấn định thuế lớn, trước khi ban hành quyết định ấn định thuế chính thức, người có thẩm quyền ký quyết định ấn định có thể xem xét gửi Phiếu báo tin (mẫu số 17/2015-KTSTQ) cho người khai hải quan về số thuế dự kiến, ngày dự kiến phải nộp để người khai hải quan có thời gian chuẩn bị tiền thuế nộp theo quy định.

Trường hợp quá 90 ngày kể từ ngày cơ quan hải quan ban hành quyết định ấn định thuế, người khai hải quan không nộp số tiền thuế đã ấn định thì áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật.

1.2.4.2. Xử phạt vi phạm hành chính và giải quyết khiếu nại

Việc xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động kiểm tra sau thông quan thực hiện theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan.

Việc giải quyết khiếu nại được thực hiện theo quy định pháp luật về khiếu nại; các văn bản, quy trình hướng dẫn việc thực hiện giải quyết khiếu nại của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan.

Trong kiểm tra sau thông quan, để đảm bảo nguyên tắc khách quan trong giải quyết khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại giao công chức/bộ phận (độc lập với đoàn kiểm tra/nhóm kiểm tra) thực hiện tham mưu giải quyết khiếu nại

1.2.5. Báo cáo, phản hồi, cập nhật thông tin và lưu trữ hồ sơ

– Báo cáo, phản hồi kết quả kiểm tra trong hệ thống kiểm tra sau thông quan:

+ Mẫu báo cáo sử dụng mẫu số 19/2019-KTSTQ và mẫu số 20/2019-KTSTQ

+ Thời gian chốt số liệu báo cáo: Từ ngày 01 của tháng tính đến hết ngày 15 và đến ngày cuối cùng trong tháng (đối với báo cáo tháng) hoặc đến ngày 31/12 hằng năm (đối với báo cáo).

– Cập nhật thông tin và lưu trữ hồ sơ:

Tất cả các bước trong suốt quá trình thực hiện quy trình kiểm tra sau thông quan từ khâu khi thu thập thông tin, đề xuất kiểm tra đến khi kết thúc kiểm tra, đánh giá sau kiểm tra đều phải cập nhật vào hệ thống. Công chức hoặc đơn vị phân công cập nhật phải chịu trách nhiệm về hậu quả nếu cập nhật không đúng quy định.

Cập nhật thông tin trên hệ thống gồm:

+ Cập nhật tại khâu thu thập xử lý thống

+ Cập nhật tại khâu đề xuất, thực hiện kiểm tra

+ Cập nhật tại khâu xử lý kết quả kiểm tra sau thông quan

– Lưu trữ hồ sơ:

Sau khi kết thúc quá trình thu thập thông tin, quá trình kiểm tra, toàn bộ hồ sơ, dữ liệu điện tử liên qua đến vụ việc phải lưu trữ hồ sơ để phụ vụ các quá trình quản lý, xử lý sau này.

Hồ sơ phải được lập, theo dõi thời gian diễn biến vụ việc từ khi bắt đầu đến khi kết thúc theo từng vụ việc

Hồ sơ đầy đủ, xét về mặt thời gian diễn biến vụ việc, phải bao gồm tất cả các văn bản, giấy tờ, tài liệu, số liệu, dữ liệu phát sinh từ khi bắt đầu vụ việc kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan đến khi vụ việc được giải quyết xong.

Nơi lưu trữ một bộ hồ sơ kiểm tra sau thông quan (bản gốc, bản chính) từ khi thu thập thông tin đến khi ban hành các quyết định hành chính liên quan đến xử lý kết quả kiểm tra là đơn vị trực tiếp thực hiện cuộc kiểm tra sau thông quan (Chi cục Hải quan, Chi cục Kiểm tra sau thông quan, Cục Kiểm tra sau thông quan).

Sơ đồ quy trình kiểm tra sau thông quan

1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động kiểm tra sau thông quan

1.3.1. Yếu tố chủ quan

Thứ nhất, việc trang bị kiến thức kế toán, kiểm toán cho đội ngũ công chức trực tiếp làm nhiệm vụ kiểm tra sau thông quan là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu, thể hiện sự chuẩn bị chu đáo về con người cho hoạt động kiểm tra sau thông quan. Theo yêu cầu, công chức làm nhiệm vụ kiểm tra sau thông quan đều phải được bồi dưỡng kiến thức về kế toán và kiểm toán. Đây là việc làm hết sức cần thiết để đảm bảo công tác kiểm tra sau thông quan được thay đổi về chất, đảm bảo cho đội ngũ công chức này được trang bị kiến thức đầy đủ hơn, căn bản hơn để tự tin, bãn lĩnh, chủ động trong công việc của mình.

Thứ hai, một vấn đề cần hết sức lưu ý nữa đó là Lãnh đạo Chi cục Kiểm tra sau thông quan phải tổ chức quản lý, điều hành như thế nào để công tác kiểm tra sau thông quan đạt hiệu quả mong muốn. Đặc biệt lãnh đạo cần tập trung vào hai vấn đề chính, đó là: làm tốt công tác thu thập, phân tích, xử lý thông tin và trang bị đầy đủ kỹ năng kiểm tra sau thông quan cho công chức thực hiện nhiệm vụ này, bởi vì thông tin và kỹ năng là hai yếu tố sống còn của hoạt động kiểm tra sau thông quan.

Thứ ba, ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp đối với hoạt động kiểm tra sau thông quan. Không phải doanh nghiệp nào cũng có hiểu biết đầy đủ về pháp luật, nhất là đối với lĩnh vực kiểm tra sau thông quan. Vì thế, không ít doanh nghiệp đã từng có chung thắc mắc đối với các đoàn kiểm tra của cơ quan hải quan là tại sao hàng hoá đã làm thủ tục hải quan đầy đủ tại khâu thông quan mà vẫn bị kiểm tra sau thông quan là như thế nào. Chính vì thế, việc tuyên truyền pháp luật và hướng cho doanh nghiệp hiểu để có ý thức chấp hành tốt pháp luật là một trong những yếu tố ảnh hưởng quan trọng, tạo điều kiện cho hoạt động kiểm tra sau thông quan được diễn ra thuận lợi như mong muốn.

1.3.2. Yếu tố khách quan

Thứ nhất, bối cảnh quốc tế và những vấn đề đặt ra cho Hải quan Việt Nam về kiểm tra sau thông quan.

– Các Khuyến nghị của Tổ chức Hải quan thế giới (WCO) về kiểm tra sau thông quan:

Tại Chuẩn mực 3.2 và 6.10 Chương 6 Phụ lục tổng quát Công ước Kyoto đã chỉ ra rằng cơ quan Hải quan phải thực hiện kiểm toán hoạt động của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cho mục đích kiểm tra giám sát của mình.

Tại Chuẩn mực 6.6 Chương 6 Phụ lục tổng quát Công ước Kyoto cũng đã nêu rõ: Để đảm bảo quản lý các hoạt động thương mại quốc tế ngày càng gia tăng và phát triển cả về số lượng và chất lượng trên toàn cầu và tạo điều kiện hơn nữa cho các doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu, cơ quan Hải quan ngày càng tăng cường các biện pháp kiểm tra giám sát dựa trên kết quả kiểm toán và sử dụng hệ thống sổ sách của doanh nghiệp. Các biện pháp giám sát này có thể được thực hiện từ các hoạt động kiểm toán sau thông quan cho tới tự đánh giá của doanh nghiệp.

– Khuyến nghị của Tổ chức Hải quan các nước ASEAN

Ngày 23/5/1997, Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan các nước ASEAN đã thống nhất viễn cảnh Hải quan ASEAN đến 2020 và đã được các nhà lãnh đạo ASEAN thông qua tại kỳ họp thượng đỉnh không chính thức lần hai tổ chức tại Kuala Lumpuar – Malaysia từ ngày 15-16/12/1997 với chủ đề: Một đối tác Hải quan ASEAN đạt chuẩn mực toàn cầu và xuất sắc về khả năng nghiệp vụ và các dịch vụ đồng nhất thông qua các thủ tục hài hoà nhằm thúc đẩy thương mại và đầu tư, nhằm bảo vệ sức mạnh và lợi ích của cộng đồng ASEAN. Trong đó, kiểm tra sau thông quan được đề cập đến với hai mục tiêu là áp dụng hệ thống kiểm tra sau thông quan và phát triển những hướng dẫn về kiểm tra sau thông quan của ASEAN dựa trên thực tế.

Thứ hai, quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về hiện đại hóa Hải quan.

Cùng với sự phát triển và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, chủ trương chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đã rõ ràng, cụ thể thông qua quan điểm về đường lối đối ngoại, phát triển kinh tế của đất nước tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, IX, X, XI. Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo của Đảng về hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển sản xuất trong nước, mở rộng thị trường xuất khẩu, cải cách thủ tục hành chính, thu hút đầu tư, tạo thuận lợi cho thương mại đòi hỏi ngành Hải quan phải nâng cao năng lực quản lý, đáp ứng yêu cầu của hải quan hiện đại: vừa đảm bảo hỗ trợ thông quan nhanh chóng cho hàng hoá xuất nhập khẩu, tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại quốc tế nhưng phải đảm bảo quản lý chặt chẽ hoạt động xuất nhập khẩu, chống buôn lậu và gian lận thương mại có hiệu quả, đảm bảo lợi ích và chủ quyền an ninh quốc gia. Cụ thể thủ tục hải quan phải đơn giản, minh bạch; thông quan hàng hoá xuất nhập khẩu nhanh, giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp, đẩy mạnh thủ tục hải quan điện tử; cung cấp thông tin phục vụ quản lý cho hoạt động xuất nhập khẩu một cách nhanh chóng, công khai.

Thứ ba, chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020

Ngày 25/3/2011 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định Số 448/QĐ-TTg về việc Phê duyệt Chiến lược phát triển Hải quan đến năm 2020, với mục tiêu tổng quát: Xây dựng Hải quan Việt Nam hiện đại, có cơ chế, chính sách đầy đủ, minh bạch, thủ tục hải quan đơn giản, hài hòa đạt chuẩn mực quốc tế, trên nền tảng ứng dụng công nghệ thông tin, xử lý dữ liệu tập trung và áp dụng rộng rãi phương thức quản lý rủi ro, đạt trình độ tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực Đông Nam Á. Xây dựng lực lượng Hải quan đạt trình độ chuyên nghiệp, chuyên sâu có trang thiết bị, kỹ thuật hiện đại, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả góp phần tạo thuận lợi cho các hoạt động thương mại hợp pháp, phát triển du lịch, thu hút đầu tư nước ngoài, đảm bảo an ninh quốc gia, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và nghĩa vụ hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

1.4. Kinh nghiệm kiểm tra sau thông quan của một số nước và giá trị tham khảo đối với Việt Nam

1.4.1. Kinh nghiệm kiểm tra sau thông quan của một số nước

Sau khi nghiên cứu các mô hình hoạt động kiểm tra sau thông quan các nước trên thế giới, các mô hình hoạt động kiểm tra sau thông quan sẽ đưa vào nghiên cứu, đó là: Nhật Bản, Hàn Quốc và ASEAN, đây là những mô hình đều có những điểm mạnh và điểm yếu riêng, được áp dụng phù hợp với bối cảnh hoạt động của từng nước, khu vực. Lý do lựa chọn mô hình của các nước này để nghiên cứu là mô hình của các nước tiên tiến trong khu vực (Nhật Bản), hoặc có điều kiện địa lý và kinh tế tương tự Việt Nam nhưng phát triển ở mức cao hơn (Hàn Quốc) và là một chuẩn mực theo khuyến nghị của khu vực (mô hình ASEAN).

1.4.1.1. Hoạt động kiểm tra sau thông quan Nhật Bản

Mô hình kiểm tra sau thông quan Nhật Bản có thể được gọi là mô hình kiểm tra sau thông quan ứng dụng quản lý rủi ro. Hải quan Nhật Bản được tổ chức theo cơ cấu Hải quan vùng, trực thuộc Bộ Tài chính. Mỗi vùng có một đơn vị chuyên trách về kiểm tra sau thông quan, trong đó cơ cấu tổ chức được chia thành 04 bộ phận: Bộ phận điều phối, Bộ phận trị giá, Đội kiểm tra trực tiếp và Bộ phận tình báo.

Quy trình nghiệp vụ được chia thành 3 bước: Lựa chọn đối tượng, kiểm tra thực tế, đánh giá kết quả kiểm tra. Tỉ lệ lựa chọn đối tượng kiểm tra dựa trên cơ sở quản lý rủi ro của Hải quan Nhật Bản được xem xét kỹ, dựa trên các chỉ tiêu đánh giá rủi ro, mà chỉ tiêu quan trọng nhất chính là kim ngạch nhập khẩu và số thuế phải nộp.

Hệ thống công cụ hỗ trợ có hiệu quả nhất và mang đặc trưng của Hải quan Nhật Bản là hệ quản lý rủi ro, được thực thi trên một nền tảng công nghệ thông tin hoàn hảo. Thêm vào đó, Hải quan Nhật Bản cũng có một số thẩm quyền trong lĩnh vực điều tra xác minh. Đồng thời nghiệp vụ kiểm toán cũng được Hải quan Nhật Bản hết sức coi trọng, như một nhân tố quyết định sự thành công của kiểm tra sau thông quan.

Thực tiễn hoạt động của Hải quan Nhật Bản cho thấy rằng, công tác kiểm tra sau thông quan sẽ đạt hiệu quả cao hơn, việc phát hiện vi phạm và xử lý sẽ dễ dàng hơn nếu cơ quan Hải quan không chỉ kiểm tra người khai hải quan mà còn kiểm tra các bên thứ ba có liên quan như Ngân hàng, đại lý thủ tục hải quan, người mua hàng nội địa… Cơ sở khoa học của vấn đề này là, trong rất nhiều trường hợp hàng hoá sau khi nhập khẩu không thuộc quyền sử dụng, sở hữu của người nhập khẩu. Khi đó, các thông tin chính xác của hàng hoá không còn được lưu giữ, và có thể không nằm trong sự kiểm soát của người nhập khẩu. Việc cơ quan Hải quan tiến hành tìm hiểu thông tin từ bên thứ ba có liên quan có thể sẽ cung cấp một cái nhìn đầy đủ hơn, chính xác hơn về giao dịch nhập khẩu cần kiểm tra. Ví dụ, cơ quan Hải quan có thể kiểm tra số tiền thực trả qua xác minh tại Ngân hàng.

Điểm mạnh của hoạt động kiểm tra sau thông quan Nhật Bản chính là khả năng ứng dụng tin học hoá ở mức độ cao nhất. Thêm vào đó, hệ thống các công cụ phụ trợ như quản lý rủi ro, kiểm toán và kiểm soát cũng được áp dụng một cách hết sức có hiệu quả, trên nền tảng một hệ thống quản lý tài chính minh bạch và hệ thống chế tài xử lý mạnh mẽ đối với các hành vi không tuân thủ.

Như vậy, những kinh nghiệm có thể được xem xét từ hoạt động kiểm tra sau thông quan của Nhật Bản là:

Một là, ứng dụng kỹ thuật quản lý rủi ro trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại là điểm quan trọng nhất trong áp dụng mô hình hoạt động kiểm tra sau thông quan.

Hai là, khả năng tập trung hoá xử lý dữ liệu là nhân tố cốt lõi của hệ thống thông tin phục vụ không chỉ kiểm tra sau thông quan, mà còn ứng dụng trong tất cả các khâu nghiệp vụ khác.

Ba là, cần có chế tài xử phạt với các hành vi không tuân thủ quy định về kiểm tra sau thông quan, như không lưu giữ giấy tờ, hồ sơ, chứng từ hoặc không chấp hành quyết định kiểm tra sau thông quan, không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về thuế xuất nhập khẩu và thuế khác.

1.4.1.2. Hoạt động kiểm tra sau thông quan Hàn Quốc

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG CHI TIET/ Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

“Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam “Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam “Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam “Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam“Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Nam

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *