Chính sách thu gom và xử lý chất thải rắn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

Chính sách thu gom và xử lý chất thải rắn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

Chính sách thu gom và xử lý chất thải rắn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

1. Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, để tồn tại trong cuộc canh tranh kinh tế quyết liệt của khu vực và toàn cầu, Việt Nam phải thực hiện Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá đất nước. Quá trình đó đã gây sức ép lớn tới môi trường, giải pháp đặt ra là chúng ta phải có sự kết hợp chặt chẽ quá trình phát triển với các vấn đề môi trường, coi lợi ích môi trường là một yếu tố phải cân nhắc tới khi hoạch định các chính sách phát triển. Cùng với sự phát triển kinh tế, các đô thị, các ngành sản xuất kinh doanh và dịch vụ ngày càng được mở rộng và phát triển nhanh chóng, nó đã tạo ra một số lượng lớn chất thải bao gồm: chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp, chất thải y tế, chất thải nông nghiệp, chất thải xây dựng… Nguy cơ ô nhiễm môi trường do chất thải gây ra đang trở thành vấn đề cấp bách đối với hầu hết các địa phương trong cả nước, trong khi công tác quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp chưa đáp ứng được đòi hỏi thực tế.

Tỉnh Quảng Ngãi nằm ở duyên hải Nam Trung Bộ và là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá với sự tập trung phát triển, mở rộng Khu kinh tế Dung Quất, hoàn thiện các Khu công nghiệp Tịnh Phong, Quảng Phú; hình thành và phát triển Khu công nghiệp Phổ Phong, các cụm Công nghiệp – Làng nghề…. Do đó, lượng chất thải phát sinh với ngày càng tăng về khối lượng và đa dạng, phức tạp về thành phần. Tuy nhiên, thực tế hiện nay việc thu gom và xử lý chất thải rắn ở tỉnh Quảng Ngãi chưa đáp ứng được mức độ gia tăng khối lượng cũng như chưa đảm bảo tính an toàn đối với con người và môi trường. Vấn đề quản lý CTR tại Quảng Ngãi vẫn còn nhiều bất cập như:

+ CTR sinh họat chưa được thu gom triệt để, rác còn rơi vãi trên đường phố, đổ bừa bãi xuống các kênh rạch, trên bãi biển.

+ CTR công nghiệp và Chất thải nguy hại được quan tâm quản lý nhưng chưa đúng mức.

+ Hệ thống thu gom chưa được qui họach, tính tóan đầy đủ.

+ CTR được chôn chưa đúng qui cách, công tác xử lý chất thải chưa phù hợp, chủ yếu bằng phương thức chôn lấp, phần lớn các chất thải rắn chưa được phân loại tại nguồn, thu gom lẫn lộn và vận chuyển về bãi chôn lấp, đốt rác tùy tiện dẫn đến gây ô nhiễm môi trường nước, không khí và đất gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng.

Từ những lý giải trên, có thể thấy rằng: Việc lựa chọn đề tài “Chính sách thu gom và xử lý chất thải rắn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn chính sách công là xuất phát từ nhu cầu cấp thiết của thực tế và có ý nghĩa thực tiễn.

2. Tình hình nghiên cứu

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu:

Phân tích, đánh giá thực trạng và chính sách thu gom, xử lý chất thải rắn ở tỉnh Quảng Ngãi (những mặt được, chưa được), phát hiện các vấn đề, nguyên nhân và đề xuất hoàn thiện các giải pháp thu gom, xử lý chất thải rắn phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới.

Nhiệm vụ nghiên cứu: Xác lập cơ sở lý luận, thực tiễn; Phân tích, đánh giá thực trạng, đưa ra các giải pháp về chính sách về thu gom, xử lý chất thải rắn ở tỉnh Quảng Ngãi.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu: Chính sách thu gom, xử lý chất thải rắn gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường, tập trung vào CTRSH, CTRCN, CTRYT.

Phạm vi nghiên cứu: Địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, Thời gian nghiên cứu: từ 2010 đến (2014).

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

 Đề tài vận dụng phương pháp các phương pháp phân tích, tổng hợp để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu. Kết hợp cùng với các phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp chuyên gia, phương pháp phân tích trong quá trình phân tích, đánh giá chính sách. 

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn luận văn

Ý nghĩa lý luận:Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận và nghiên cứu thực tiễn, rút ra bài học kinh nghiệm từ thực tiễn về chính sách thu gom, xử lý chất thải rắn.

Ý nghĩa thực tiễn: Cung cấp chứng cứ thực tiễn và đề xuất có giá trị tham khảo đối với các nhà quản lý về giải pháp chính sách thu gom, xử lý chất thải rắn tại tỉnh Quảng Ngãi; Đề xuất giải pháp đẩy mạnh thực hiện chính sách thu gom, xử lý chất thải rắn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương:

Chương 1. Một số cơ sở lý luận về quản lý chất thải rắn và thực tiễn về chính sách bảo vệ môi trường liên quan tới thu gom, xử lý chất thải rắn.

Chương 2. Thực trạng và thực hiện chính sách thu gom, xử lý chất thải rắn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.

Chương 3. Đề xuất một số giải pháp đẩy mạnh thực hiện chính sách thu gom, xử lý chất thải rắn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi.

Chương 1

MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC HIỆN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG LIÊN QUAN TỚI THU, GOM XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN

    1. 1.1. Khái niệm, phân loại chất thải rắn (CTR)
      1. 1.1.1. Một số khái niệm

– Môi trường

– Bảo vệ môi trường

– Chất thải

– Chất thải rắn

– Thu gom chất thải rắn

– Xử lý chất thải rắn

– Chất thải nguy hại

– Chất thải không nguy hại

– Quản lý chất thải

– Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp và công cụ thực hiện nhằm giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” (Đỗ Phú Hải, 2014).

– Chính sách thu gom, xử lý chất thải rắn là một bộ phận, lĩnh vực trong chính sách quản lý nói chung. Nó được hoạch định và tổ chức thực hiện nhằm giữ gìn, bảo vệ môi trường, góp phần kiểm soát ô nhiễm, hướng tới phát triển bền vững.

      1. 1.1.2. Nguồn gốc phát sinh và phân loại, thành phần chất thải rắn

1.1.2.1. Chất thải rắn sinh hoạt

Là những chất thải liên quan đến hoạt động sống của con người, phát sinh từ các hộ gia đình, các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các chợ, các nhà hàng, khách sạn, khu thương mại, cửa hàng tạp hóa…Thành phần rác thải bao gồm: thực phẩm, giấy các tông, plastic (nhựa) gỗ, thủy tinh, kim loại, da, cao su…Trong rác thải sinh hoạt còn được phân loại theo nguồn rác thải cụ thể hơn như: rác thải thương mại, rác thải đường phố và công viên, rác cơ quan, trường học, rác chợ, rác bệnh viện…

1.1.2.2. Chất thải rắn công nghiệp

Là chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Các nguồn phát sinh chất thải công nghiệp gồm: Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro, xỉ trong các nhà máy nhiệt điện; Các phế thải từ nhiên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất; Các phế thải trong quá trình công nghệ; Bao bì đóng gói sản phẩm.

1.1.2.3. Chất thải rắn y tế

Là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, xét nghiệm, chuẩn đoán, các hoạt động trong công tác phòng bệnh, các hoạt động nghiên cứu và đào tạo về y sinh học, bao gồm: các ống tiêm, kim chích, các y cụ, các loại mô và cơ quan người, băng thấm dịch, băng thấm máu, các loại thuốc được loại ra do quá hạn hoặc kém phẩm chất.

    1. 1.2. Tác động ảnh hưởng của chất thải rắn
      1. 1.2.1. Đối với môi trường sống và sức khoẻ cộng đồng

Từ việc thải các chất thải hữu cơ, xác chết động vật qua những trung gian truyền bệnh sẽ gây nên nhiều bệnh tật, nhiều lúc trở thành dịch.

      1. 1.2.2. Đối với môi trường không khí

Các CTR thường có bộ phận có thể bay hơi và mang theo mùi làm ô nhiễm không khí.

      1. 1.2.3. Đối với môi trường nước

Các CTR, nếu là chất thải hữu cơ, trong môi trường nước sẽ phân hủy một cách nhanh chóng tạo ra các hợp chất trung gian và sau đó là những sản phẩm cuối cùng như CH4, H2S, H2O, CO2. Tất cả các chất trung gian này đều gây mùi thối và là độc chất. Bên cạnh đó còn bao nhiêu vi trùng và siêu vi trùng làm ô nhiễm nguồn nước.

      1. 1.2.4. Đối với môi trường đất

Các chất thải hữu cơ còn được phân hủy trong môi trường đất trong hai điều kiện yếm khí và háo khí khi có độ ẩm thích hợp để rồi qua hàng loạt sản phẩm trung gian cuối cùng tạo ra H2O, CO2. Ô nhiễm này sẽ cùng với ô nhiễm kim loại nặng, chất độc hại theo nước trong đất chạy xuống mạch nước ngầm, làm ô nhiễm nước ngầm.

      1. 1.2.5. Đối với cảnh quan

Việc thu gom và vận chuyển rác thải không hết sẽ dẫn đến tình trạng tồn đọng chất thải trong các đô thị, làm mất mỹ quan, gây cảm giác khó chịu cho cả dân cư trong đô thị.

    1. 1.3. Quản lý chất thải rắn
      1. 1.3.1. Các nguyên tắc trong quản lý chất thải rắn

1.3.1.1. Nguyên tắc phòng ngừa

Nguyên tắc phòng ngừa luôn được coi là phương châm của hoạt động bảo vệ môi trường.

1.3.1.2. Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả chi phí (bồi thường, khắc phục)

Mục đích của việc áp dụng nguyên tắc này là:

– Định hướng hành vi tác động của các chủ thể vào môi trường theo hướng khuyến khích những hành vi tác động có lợi cho môi trường.

– Đảm bảo sự bình đẳng trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường.

– Tạo nguồn thu cho ngân sách, tạo nguồn tài chính cho hoạt động bảo vệ môi trường và thực hiện xu thế chung của hội nhập.

1.3.1.3. Nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền

Nguyên tắc này có nghĩa là tất cả những ai hưởng lợi do có được MT trong lành không bị ô nhiễm thì đều phải nộp phí.

1.3.1.4. Nguyên tắc 3R (giảm thiểu-Reduce, tái sử dụng-Reuse, tái chế-Recycle)

3R là viết tắt của các từ tiếng Anh: Reduce – Reuse – Recycle. Chúng có nghĩa tiếng Việt là Tiết giảm – Tái sử dụng –Tái chế nên còn được gọi là 3T. Đây là một nguyên tắc quản lý chất thải quen thuộc ở nhiều quốc gia trên thế giới trong việc bảo vệ MT.

      1. 1.3.2. Hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn

1.3.2.1. Hệ thống thu gom, vận chuyển

Thu gom CTR là quá trình thu nhặt rác thải từ các nhà dân, các công sở, cơ sở y tế hay từ những điểm thu gom, chất chung lên xe và chở đến địa điểm xử lý, chuyển tiếp, trung chuyển hay chôn lấp.

a. Các loại dịch vụ thu gom CTR

– Hệ thống thu gom CTR chưa, không phân loại tại nguồn

Phương pháp áp dụng cho các khu dân cư biệt lập thấp tầng

Phương pháp áp dụng cho các khu dân cư thấp tầng và trung bình

Phương pháp áp dụng cho các khu dân cư cao tầng

Phương pháp áp dụng cho các khu thương mại – công nghiệp

– Hệ thống thu gom CTR đã phân loại tại nguồn

– Hệ thống container di động (HSC – Hauled Container System)

– Hệ thống container cố định (SCS – Stationnary Container System)

b. Hệ thống, phương tiện vận chuyển

– Trạm trung chuyển có chức năng chính là chuyển CTR từ các xe thu gom và các xe vận chuyển nhỏ sang các phương tiện vận chuyển lớn hơn. Có 3 loại trạm trung chuyển: Trạm trung chuyển chất thải trực tiếp; Trạm trung chuyển kiểu tích lũy; Trạm trung chuyển kết hợp chất tải trực tiếp và chất tải tích lũy

– Hệ thống vận chuyển gồm nhiều phương tiện: trong những hẻm nhỏ vận chuyển rác bằng xe thô sơ và nhân viên thu gom bằng phương pháp thủ công.

1.3.2.2 Hệ thống xử lý chất thải rắn

a. Xử lý CTR bằng phương pháp cơ

b. Xử lý CTR bằng phương pháp ủ sinh học làm phân compost

c. Xử lý CTR bằng phương pháp thiêu đốt

d. Một số công nghệ xử lý rác khác như Xử lý chất thải bằng công nghệ ép kiện.

    1. 1.4. Các bên liên quan và sự phối kết hợp trong chính sách bảo vệ môi trường
      1. 1.4.1. Các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường

– Chính phủ

– Bộ/Sở Tài nguyên và Môi trường

– Bộ/Sở Xây dựng, Y tế

– Các Bộ/Sở ban ngành khác

      1. 1.4.2. Các tổ chức, cá nhân và cộng đồng

– Các doanh nghiệp, các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, các công ty công ích, các công ty tư nhân được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép hành nghề quản lý chất thải.

– Các tổ chức đoàn thể, cá nhân và cộng đồng dân cư trên địa bàn của mình.

      1. 1.4.3. Sự phối kết hợp giữa các bên

Mối quan hệ giữa các bên liên quan này được khái quát tại Hình 1.2.

Nhà nước (nhà quản lý)

Người phát thải Người thu gom, xử lý

– Cá nhân, hộ gia đình – Doanh nghiệp

– Sinh hoạt công cộng – HTX, tổ, đội

– Hoạt động sản xuất, kinh doanh

Hình 1.2: Mối quan hệ giữa các bên liên quan trong thu gom,

xử lý chất thải rắn

Nguồn: Nguyễn Danh Sơn, 2008

    1. 1.5. Kinh nghiệm thực tiễn quản lý CTR một số nước trên thế giới và trong nước
      1. 1.5.1. Kinh nghiệm thực tiễn quản lý CTR một số nước trên thế giới

Như Singapore, Thái Lanrất chú trọng đến việc thu gom, xử lý chất thải rắn, tạo môi trường xanh, sạch, đẹp. Không những là nhiệm vụ xây dựng nền móng cho quá trình CNH- HĐH, mà còn là sự đảm bảo cho phát triển nền kinh tế bền vững

      1. 1.5.2. Kinh nghiệm thu gom, xử lý chất thải rắn ở một số địa phương Việt Nam

Tại Hải Phòng và Hà Nội là một trong những địa phương thực hiện thu gom, xử lý chất thải rắn rất tốt trong việc thực hiện chính sách xã hội hóa trong thu gom và xử lý CTR, ban hành chính sách quản lý tổng hợp CTR nhằm vào giảm thiểu (Reduce), tái sử dụng (Reuse), tái chế (Recycle) chất thải trước khi thải bỏ vào môi trường và do vậy có tên gọi tắt là chính sách 3R.

      1. 1.5.3. Bài học kinh nghiệm rút ra

Thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy có thể rút ra một số kinh nghiệm trong công tác thu gom, xử lý CTR như sau:

– Chính phủ giữ vai trò chủ yếu trong việc đầu tư thu gom và xử lý CTR và chính phủ có vai trò kiểm tra, giám sát hoạt động này. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm hành chính đối với các doanh nghiệp tại các Khu công nghiệp không thực hiện đúng quy định xử lý rác thải.

– Từng bước đa dạng hóa và xã hội hóa cho đầu tư các lĩnh vực thu gom và xử lý CTR. Sự tham gia rộng rãi của các khu vực tư nhân, người dân vào thu gom và xử lý CTR là biện pháp hữu hiệu nhất để thực hiện dịch vụ này. Việc phân loại CTR từ CTR sinh hoạt, CTR công nghiệp, CTR Y tế rất quan trọng và việc phân loại chất thải tại nguồn còn góp phần giảm chi phí xử lý chất thải.

– Khuyến khích tái chế, tái sử dụng. Chất thải nếu biết tái chế, tái sử dụng một cách hợp lý thì đó là một nguồn tài nguyên hết sức quý giá, nhất là khi thế giới đang đứng trước nguy cơ cạn kiện nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tái chế, tái sử dụng chất thải là một trong những cách tiết kiệm tài nguyên, góp phần bảo vệ môi trường.

Chính sách thu gom và xử lý chất thải rắn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
Chính sách thu gom và xử lý chất thải rắn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

Chương 2

THỰC TRẠNG VÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1. Khái quát chung chính sách quốc gia về thu gom, xử lý chất thải rắn: Có một số Văn bản, chính sách chủ yếu liên quan tới quản lý chất thải rắn hiện nay đã được ban hành và thực hiện.

    1. 2.2. Chính sách thu gom, xử lý chất thải rắn ở tỉnh Quảng Ngãi
      1. 2.2.1. Giới thiệu chung về tỉnh Quảng Ngãi

– Điều kiện tự nhiên: Quảng Ngãi là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Quảng Ngãi có diện tích tự nhiên 5.152,69 km2, bằng 1,7% diện tích tự nhiên cả nước, bao gồm 14 huyện, thành phố, trong đó có 1 thành phố, 6 huyện đồng bằng ven biển, 6 huyện miền núi và 1 huyện đảo với dân số khoảng 1,3 triệu người.

– Tình hình kinh tế – văn hóa, xã hội

Tinh hình cơ cấu kinh tế – xã hội của tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực và khả quan như về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong giai đoạn 2011-2015 đạt 7,2% (Kế hoạch 14% – 15%). Về văn hóa – xã hội: Trong thời gian qua, đời sống văn hoá – xã hội và tinh thần của nhân dân từng bước được nâng lên; Cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động văn hóa được tăng cường, nhất là ở cơ sở.

– Xây dựng, phát triển đô thị

Phát triển đô thị là một trong ba nhiệm vụ đột phá của tỉnh Quảng Ngãi, tỉnh đã huy động nhiều nguồn vốn để tập trung đầu tư hạ tầng thành phố Quảng Ngãi, hạ tầng Khu kinh tế Dung Quất và hạ tầng đô thị các huyện.

– Công tác quản lý, khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên; quản lý, bảo vệ môi trường

Đã hoàn thành quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, cấp huyện đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất cấp tỉnh, huyện 5 năm thời kỳ đầu (2011-2015); hoàn thành quy hoạch sử dụng đất cấp xã gắn với xây dựng nông thôn mới được 155/164 xã, đạt 95%. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến nay cơ bản hoàn thành, đã cấp giấy chứng nhận lần đầu cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được 1.149.962 giấy/1.189.467 hồ sơ cần cấp, diện tích đã cấp giấy chứng nhận: 361.254,22ha/379.079,6ha cần cấp, đạt 95,3%.

      1. 2.2.2. Chính sách thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt

Trong những năm qua, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Quảng Ngãi rất quan tâm chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt công tác BVMT. Trên cơ sở một số văn bản, chính sách CTR của Chính phủ, các Bộ, UBND tỉnh đã cụ thể hóa bằng các chính sách về thu gom, xử lý CTRSH như sau:

– Quyết định số 303/QĐ-UBND ngày 05/3/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc phê duyệt Đề án Bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2013-2015 và định hướng đến năm 2020, với mục tiêu nâng tỷ lệ thhu gom chất thải rắn sinh hoạt trong tỉnh đạt trên 95% tổng lượng rác thải trên địa bàn, đảm bảo tần suất thu gom kịp thời đưa đi xử lý ở các cơ sở xử lý chất thải rắn trong tỉnh.

– Quyết định số 161/QĐ-UBND ngày 03/7/2013 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc phê duyệt Quy hoạch quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020, với mục tiêu xây dựng hệ thống quản lý chất thải rắn hiện đại, theo đó CTRSH được phân loại tại nguồn, thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý triệt để bằng những công nghệ tiên tiến và phù hợp, hạn chế tối đa chất thải thải ra ngoài gây ô nhiễm môi trường; nâng cao nhận thức của cộng đồng, hình thành lối sống thân thiện với môi trường.

– Quyết định 33/2011/QĐ-UBND ngà 30/7/2011 của UBND tỉnh Quảng Ngãi về việc ban hành mức thu phí vệ sinh trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Quyết định này quy định mức thu phí vệ sinh của từng đối tượng phát thải cụ thể trên địa bàn tỉnh.

2.2.3. Chính sách thu gom, xử lý chất thải rắn y tế

Thực hiện các Quyết định của Chính phủ, Bộ Y tế,Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi đã ban hành Quyết định số 935/QĐ-UBND ngày 05/7/2013 về việc phê duyệt Kế hoạch xử lý chất thải y tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2013-2015 nhằm giảm tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải y tế phát sinh tại các bệnh viện, cơ sở y tế tỉnh Quảng Ngãi, đảm bảo sức khỏe cộng đồng và góp phần phát triển kinh tế – xã hôi bền vững trong tỉnh.

      1. 2.2.4. Chính sách thu gom, xử lý chất thải rắn công nghiệp

Việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn công nghiệp sẽ do đơn vị chuyên trách chịu trách nhiệm. Chính sách trong lĩnh vực này quy định:

– Đối với chất thải công nghiệp thông thường: các cơ sở sản xuất công nghiệp có nhiệm vụ ký hợp đồng với đơn vị dịch vụ chuyên trách thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn công nghiệp trên cơ sở các yêu cầu quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.

– Đối với chất thải rắn công nghiệp nguy hại: phải được đảm bảo được phân loại tại cơ sở công nghiệp. Việc lưu trữ chất thải nguy hại phải tuân thủ theo các quy định về an toàn đối với chất thải nguy hại. Từ trạm trung chuyển, chất thải nguy hại sẽ được vận chuyển về khu xử lý chất thải rắn liên hợp hoặc chôn lấp tại ô chôn lấp chất thải nguy hại.

Các cơ sở công nghiệp tự chịu trách nhiệm thu gom, phân loại và vận chuyển các loại chất thải rắn hoặc thuê khoán các cơ sở tư nhân có chức năng thu gom, vận chuyển chất thải rắn đã được cơ quan quản lý nhà nước cho phép.

    1. 2.3. Thực trạng quản lý (thu gom, xử lý) chất thải rắn ở tỉnh Quảng Ngãi
      1. 2.3.1. Thực trạng chất thải rắn (phát sinh, thành phần, khối lượng)

2.3.1.1. Chất thải rắn sinh hoạt

Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt của tỉnh Quảng Ngãi chủ yếu là từ quá trình sinh hoạt, sản xuất và dịch vụ. Rác được sản sinh từ những nguồn như khu vực dân cư, khu thương mại, đô thị, khu công nghệ, các khu công cộng, khu xử lý và các khu vực sản xuất nông nghiệp.

2.3.1.2 Chất thải rắn y tế

Các loại chất thải y tế phát sinh trong quá trình hoạt động các các cơ sở y tế từ các nguồn chủ yếu sau:

Chất thải y tế nguy hại phát sinh từ các cơ sở y tế bao gồm: chất thải lây nhiễm (sắc nhọn, không sắc nhọn, lây nhiễm cao, mô bệnh phẩm); chất thải hóa học thường gặp trong y tế như dược phẩm bị hỏng hoặc quá hạn, hóa chất khử trùng, hóa chất chứa kim loại nặng; và các bình chứa áp suất. Hóa chất gây độc tế bào chưa xuất hiện do không có cơ sở y tế nào trong tỉnh áp dụng hóa trị liệu điều trị ung thư. Tại bệnh viện đa khoa tỉnh, một khối lượng nhỏ chất thải phóng xạ phát sinh từ hoạt động chẩn đoán và điều trị một số bệnh

2.3.1.3. Chất thải rắn công nghiệp

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi có khu kinh tế Dung Quất, 3 khu công nghiệp (KCN Tịnh Phong, KCN Quảng Phú, KCN Phổ Phong), 11 cụm công nghiệp, 22 làng nghề và hơn 3.000 doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh. Thành phần và khối lượng chất thải công nghiệp tỉnh Quảng Ngãi được tổng hợp ở Bảng 2.11 và 2.12.

Bảng 2.11: Thành phần của chất thải công nghiệp tỉnh Quảng Ngãi

TTNgành công nghiệpChất thải
1Hóa chất, phân hóa học, nhựa, tổng hợp, dượcCác chất hữ cơ, vô cơ, bụi hóa chất, bụi kim loại, các khí độc
2Các hóa chất cơ bảnCác chất hữu cơ và vô cơ, các axit, kiềm, các chất khí
3Sơn và mực inVOC: xăng, xylen, toluen… bụi vô cơ và hữu cơ
4PinBụi kim loại, các chất bay hơi, Hg
5Phân hóa họcKhí HF
6Thuốc bảo vệ thực vậtKhí xylen, Clo hoạt tính, cacbonat, dung môi
7Da và các sản phẩn daKhí axit, dung môi…
8Điện và điện tửBụi kim loại, khí hàn, khí hóa chất, dung môi, tẩy rửa
9Cơ khíBụi kim loại (Cu, Fe, Al…), khí hàn, khí hóa chất, dung môi, tẩy rửa
…………………………………………….
      1. 2.3.2. Thực hiện thu gom, xử lý chất thải rắn

2.3.2.1. Đối với chất thải rắn sinh hoạt

Trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi thực hiện, thu gom xử lý chất thải rắn sinh hoạt như sau: Công ty Cổ phần Đô thị Môi trường tỉnh Quảng Ngãi thực hiện thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi; huyện Tư Nghĩa; huyện Sơn Tịnh; KCN Quảng Phú; Công ty Cổ phần Cơ điện Môi trường tỉnh thực hiện thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn huyện Bình Sơn, toàn bộ Khu kinh tế Dung Quất; huyện Đảo Lý Sơn có Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt; Đối với các địa bàn huyện còn lại giao cho Đội vệ sinh môi trường của huyện thực hiện, ở xã thành lập các tổ thu gom rác tự quản và thực hiện công tác thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, như sau:

      1. 2.3.2.2. Đối với chất thải rắn y tế

Hiện bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi có một lò đốt rác công suất 500kg/mẻ, lượng tro sau quá trình đốt được chuyển đến bãi chôn lấp tập trung Nghĩa Kỳ. Các bệnh viện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Mộ Đức, Đặng Thùy Trâm (Đức Phổ), Sơn Hà, Tư Nghĩa có lò đốt công suất từ 15-20kg/giờ; hai bệnh viện chuyên khoa tâm thần và lao phổi đang tiến hành lắp đặt lò đốt công suất 20kg/giờ; Các bệnh viện còn lại chưa có lò đốt, xử lý bằng phương pháp chôn lấp làm ảnh hưởng đến môi trường đất và nước. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh các phòng khám đa khoa, trạm y tế và phòng khám tư nhân rác thải y tế cũng chưa được xử lý triệt để, các hình thức xử lý rác ở đây là chôn lấp và đốt thủ công.

2.3.2.3. Đối với chất thải rắn công nghiệp

Nhìn chung, chất thải rắn công nghiệp tại các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh, các đơn vị sản xuất, kinh doanh có khu xử lý chất thải, tuy nhiên không đạt về tiêu chuẩn bảo vệ môi trường. Riêng đối với khu công nghiệp trên địa bàn Khu Kinh tế Dung Quất được Công ty Cổ phần Cơ điện Môi trường Lilama thu gom, vận chuyển đúng theo quy trình cho từng loại chất thải nguy hại, quá trình thu gom thực hiện theo đúng quy định của nhà nước về quản lý chất thải nguy hại. Chất thải trước khi thu gom, vận chuyển đã được dán nhãn mác, kiểm tra chặt chẽ đảm bảo an toàn trong suốt quá trình thực hiện.

      1. 2.3.3. Đánh giá thực hiện chính sách thu gom và xử lý chất thải rắn ở tỉnh Quảng Ngãi

2.3.3.1. Thực hiện chính sách xã hội hóa

UBND tỉnh đã triển khai, chỉ đạo và định hướng các hoạt động BVMT theo phương châm: Nhà nước và nhân dân cùng làm; kêu gọi sự ủng hộ và tham gia của các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, các cá nhân trên địa bàn thành phố. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi có sự tham gia của Công ty Cổ phần Cơ điện Môi trường Lilama, Công ty Cổ phần Môi trường Đô thị tỉnh Quảng Ngãi cùng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải

2.3.3.2. Thực hiện chính sách hỗ trợ

a. Về tài chính

Ngân sách tỉnh hàng năm đã bố trí khoảng 30 tỷ đồng trợ cấp có mục tiêu cho các huyện để thực hiện bảo vệ môi trường như các chi phí mua sắm trang thiết bị, dụng cụ thu gom, vận chuyển và bù đắp một phần chi phí thu gom, xử lý chất thải rắn cho Công ty thu gom trên địa bàn đó.

b. Về đất đai

Tỉnh Quảng Ngãi đã quy hoạch các bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh đến năm 2020 với diện tích 16ha và đã được phê duyệt tại Quyết định số 161/QĐ-UBND ngày 03/7/2013.

c. Về đào tạo nâng cao hiểu biết, nhận thức

Công tác đào tạo, tập huấn, tuyên truyền về BVMT và tác hại của chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn y tế, chất thải rắn công nghiệp được UBND tỉnh Quảng Ngãi rất quan tâm, chú trọng. Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn ngắn hạn cho cán bộ các cấp quận, huyện, xã, phường và tuyên truyền hoạt động bảo vệ MT đến các đối tượng.

2.3.3.3. Thực hiện quy hoạch bãi chôn lấp chất thải rắn: Tỉnh Quảng Ngãi đã quy hoạch và thực hiện thu gom, xử lý chất thải rắn tại các bãi chôn lấp

2.3.3.4. Đánh giá về các mặt được và chưa được trong thực hiện chính sách quản lý chất thải rắn

* Mặt được:

– Công tác xã hội hóa hoạt động BVMT ở tỉnh Quảng Ngãi bước đầu hình thành mang tính tự phát, quy mô nhỏ, hầu hết các xã, phường, thị trấn đã thành lập các mô hình tự quản BVMT trong cộng đồng dân cư. Đã thực hiện nhiều dự án xã hội hóa, thu hút các Công ty tham gia cùng hoạt động như Công ty Cổ phần Đô thị Môi trường; Công ty Cổ phần Cơ điện Môi trường Lilama thực hiện xử lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi.

– Kinh phí ngân sách tỉnh Quảng Ngãi hàng năm đã bố trí vào sự nghiệp môi trường cho công việc đầu tư mua sắm các trang bị thu gom, vận chuyển và chôn lấp chất thải rắn tại các địa phương

– Công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về bảo vệ môi trường: Hàng năm, UBND tỉnh chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp với các Sở, ban, ngành có liên quan định kỳ tổ chức thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

– Cùng với sự phát triển của tỉnh Quảng Ngãi, lượng CTRSH, CTRCN, CTRYT cũng phát sinh ngày càng tăng, tỉnh Quảng Ngãi đã đưa ra nhiều tiêu chí, kế hoạch, chương trình hành động, chính sách…để triển khai thực hiện.

* Mặt chưa được:

– Đối với công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường, quản lý CTR:

+ Một số địa phương trên địa bàn tỉnh chưa nhận thức đúng mức, đầy đủ tầm quan trọng của công tác bảo vệ môi trường, quản lý CTR .

+ Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường hiệu quả chưa cao. Ý thức bảo vệ môi trường vẫn chưa thành thói quen, nếp sống của đa số dân cư.

– Đối với việc thực hiện xã hội hóa và đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường, xử lý chất thải rắn:

Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, các địa phương trong việc giải quyết các vấn đề về môi trường chưa chặt chẽ, thường xuyên, cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ, khuyến khích các thành phần kinh tế, các tổ chức, cá nhân tham gia và đầu tư vào các hoạt động bảo vệ môi trường, xử lý chất thải rắn chưa sát thực tế nên việc thực hiện xã hội hóa hiệu quả chưa cao. Đầu tư từ các tổ chức, cá nhân cho việc bảo vệ môi trường vẫn còn rất hạn chế chưa đáp ứng được các yêu cầu bảo vệ môi trường.

– Đối với việc thực hiện phân loại rác thải tại nguồn: Hiện nay, chưa thực hiện thành công phân loại rác thải tại nguồn, chưa tận dụng được nguồn tài nguyên CTR do chưa đủ chính sách và chưa đủ kinh phí.

– Công tác kiểm tra, thanh tra thực thi pháp luật của cơ quan có chức năng còn nhiều hạn chế, các chế tài quy định về xử phạt đối với các hành vi vi phạm về BVMT đối với CTR còn chưa đủ sức răn đe, mức thi hành cưỡng chế có hiệu lực chưa cao dẫn đến hiệu quả quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra.

* Nguyên nhân:

– Vấn đề xã hội hóa hoạt động BVMT, QLCTR đã có nhưng chưa cao, do:

+ Kinh tế chất thải chưa được đánh giá đúng mức.

+ Chưa có hướng dẫn về định mức kinh tế, thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải.

+ Cơ chế, chính sách, tổ chức chưa được tổng kết, đánh giá để nhân rộng điển hình và rút kinh nghiệm.

– Hiện tại, hoạt động BVMT, quản lý CTR chủ yếu từ nguồn kinh phí của Nhà nước nên chưa thể đáp ứng tốt các mục tiêu quản ký về môi trường. Các ngành, các cấp, đoàn thể và cộng đồng chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của XHH hoạt động BVMT, quản lý CTR.

– Trong triển khai thực hiện chủ trương XHH còn chậm, không đồng bộ, chưa có cơ chế, giải pháp cụ thể để thu hút, huy động tối đa các nguồn lực khác ngoài công lập tham gia hoạt động BVMT, quản lý CTR.

Chương 3

MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH THỰC HIỆN

CHÍNH SÁCH THU GOM, XỬ LÝ CHẤT THẢI RẮN

TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NGÃI

    1. 3.1. Quan điểm, mục tiêu và định hướng chính sách quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2020
      1. 3.1.1. Quan điểm và mục tiêu

– Quan điểm

(i) Quản lý chất thải rắn là một nhiệm vụ quan trọng trong bảo vệ môi trường, phòng ngừa, giảm thiểu phát sinh và phân loại chất thải tại nguồn là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu, tăng cường tái sử dụng, tái chế để giảm khối lượng chất thải phải chôn lấp.

(ii) Xã hội hóa được khuyến khích và tạo điều kiện phát triển. Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, huy động tối đa mọi nguồn lực và tăng cường đầu tư cho công tác quản lý chất thải rắn. Đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia quản lý chất thải rắn.

(iii) Đảm bảo tiếp cận liên vùng, liên đô thị trong quy hoạch xây dựng các khu xử lý chất thải rắn và phù hợp với Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và các quy hoạch khác có liên quan.

(iv) Khuyến khích áp dụng công nghệ tiên tiến trong tái chế, tái sử dụng chất thải rắn nhằm xử lý triệt để ô nhiễm môi trường và tăng hiệu quả sử dụng đất.

– Mục tiêu

Đến năm 2020, đảm bảo đạt được các mục tiêu cụ thể như sau:

+ Trên 95% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường, trong đó 85% được tái chế, tái sử dụng, thu hồi năng lượng hoặc sản xuất phân hữu cơ.

+ 100% tổng khối lượng chất thải công nghiệp không nguy hại và nguy hại phát sinh được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường.

+ 100% tổng khối lượng chất thải y tế không nguy hại và nguy hại phát sinh được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường.

+ 80% tổng khối lượng chất thải xây dựng phát sinh tại đô thị được thu gom xử lý, trong đó 50% được thu hồi để tái sử dụng hoặc tái chế.

Chính sách thu gom và xử lý chất thải rắn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi
Chính sách thu gom và xử lý chất thải rắn từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi

+ Trên 40% bùn bể phốt phát sinh tại đô thị được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường.

+ Trên 50% lượng chất thải rắn phát sinh tại các điểm dân cư nông thôn và 80% lượng chất thải rắn phát sinh tại các làng nghề được thu gom và xử lý đả bảo môi trường.

      1. 3.1.2. Định hướng chính sách

– Cải tiến hệ thống thu gom, nâng cao hiệu quả công tác quản lý chất thải rắn, lựa chọn công nghệ thích hợp để xử lý, tái chế các loại chất thải rắn thông thường, hạn chế chôn lấp.

– Tăng cường trách nhiệm của chính quyền địa phương, các đoàn thể, cộng đồng dân cư trong công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn.

    1. 3.2. Giải pháp tăng cường quản lý chất thải và đẩy mạnh thực hiện chính sách thu gom và xử lý chất thải rắn ở tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới.
      1. 3.2.1. Tăng cường xã hội hóa các hoạt động thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp, chất thải rắn y tế
      2. 3.2.2. Thúc đẩy hoạt động 3R (giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế)
      3. 3.2.3. Nâng cao vai trò của các tổ chức, cộng đồng tham gia quản lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp, chất thải rắn y tế
      4. 3.2.4. Nâng cao năng lực hoạt động của bộ máy tổ chức quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường
      5. 3.2.5. Các giải pháp khác

KẾT LUẬN

Trong thời gian qua, tỉnh Quảng Ngãi đã nỗ lực, quan tâm trong công tác quản lý bảo vệ môi trường, quản lý CTR như đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức cộng đồng về bảo vệ môi trường, lôi cuốn toàn thể nhân dân tích cực tham gia bảo vệ môi trường; đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động bảo vệ môi trường dưới mọi hình thức, phát động phong trào nhà nước và nhân dân cùng làm, huy động mọi nguồn nhân lực, vật lực để xử lý ô nhiễm môi trường và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý các trường hợp có hành vi o nhiễm, hủy hoại môi trường. Tuy nhiên, vẫn còn một số vấn đề chưa đáp ứng được với nhu cầu thực tế, chưa giải quyết được tình trạng nước rỉ rác qua các kênh, mương, mạch nước gầm nên tình trạng ô nhiễm môi trường xảy ra ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng dân cư, vì vậy còn có những hạn chế, tồn tại như sau:

– Nguồn kinh phí đầu tư cho công tác bảo vệ, xử lý môi trường còn hạn hẹp chủ yếu là nguồn kinh phí ngân sách địa phương;

– Thể chế chính sách về quản lý CTR chưa cụ thể, hoàn thiện;

– Công tác xã hội hóa, tư nhân hóa và huy động cộng đồng tham gia quản lý CTR còn hạn chế; chưa có cơ chế, chính sách để thu hút sự đầu tư nhiều của các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong công tác xã hội hóa;

– Các cấp lãnh đạo ở các địa phương chưa thực sự quan tâm đúng mức đối với lĩnh vực môi trường, nên hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải, chất thải rắn chưa được chú ý nhiều, một vài nơi còn làm việc qua loa, chiếu lệ mang tính hình thức. Những địa phương làm tốt công tác này nhưng chưa tổng kết, để nhân rộng mô hình ra tất cả các xã trên địa bàn huyện do thiếu kinh phí.

– Các hoạt động cộng đồng tham gia quản lý CTR còn mang nhiều tính phong trào.

– Ý thức chấp hành của người dân ở vài nơi chưa cao, mặt khác ở các địa phương chưa có chế tài xử lý vi phạm hành chính đối với những trường hợp vứt rác bừa bãi, không đúng nơi quy định. Do đó, để công tác quản lý CTR đạt được kết quả ngày càng tốt hơn, tỉnh Quảng Ngãi cần có những bước đi thích hợp, có chính sách, cơ chế, giải pháp khoa học đồng bộ và phù hợp, trước hết tập trung vào:

– Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách về BVMT nói chung và quản lý CTR nói riêng theo hướng giảm thiểu lượng rác chôn lấp, tăng cường tỷ lệ tái chế, tái sử dụng;

– Tăng cường hỗ trợ nguồn kinh phí cho hoạt động quản lý CTR, xây dựng văn bản, chính sách, cơ chế, giải pháp cụ thể để thu hút, huy động tối đa các nguồn lực khác ngoài công lập tham gia hoạt động BVMT, quản lý CTR.

– Đẩy mạnh chủ trương xã hội hoá lĩnh vực bảo vệ môi trường, nhằm huy động nhiều nguồn lực, kinh phí để tổ chức thực hiện tốt hoạt động này trên địa bàn của từng huyện. Tổ chức đấu thầu rộng rãi đối với hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải, chất thải rắn.

– Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức người dân trong việc bảo vệ môi trường nói chung và trong công tác phân loại rác thải nói riêng. Nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị – xã hội và cộng đồng dân cư trong BVMT nói chung và quản lý CTR nói riêng./.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\LUAT HINH SU DOT 2\CHINH SACH CONG\VU THI KIEU VAN\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *