Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với khám chữa bệnh Y học cổ truyền từ thực tiễn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre

Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với khám chữa bệnh Y học cổ truyền từ thực tiễn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre

Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với khám chữa bệnh Y học cổ truyền từ thực tiễn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Sau hơn 25 năm thực hiện Nghị quyết số 90/CP (21/8/1997) về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa của Chính phủ, nhiều cá nhân, tổ chức đã tích cực hưởng ứng bỏ vốn hàng để xây dựng bệnh viện, phòng khám tư. Đến nay, hệ thống các cơ sở KCB (KCB), hành nghề y dược tư nhân (YTN) đã phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng với nhiều dịch vụ đa dạng, phong phú. Nhờ hệ thống các cơ sở y tế tư nhân nên người dân có điều kiện thuận lợi để chăm sóc sức khỏe dù ở bất kỳ địa phương nào. Với chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao, một số cơ sở dần tạo được niềm tin đối với người bệnh, thu hút đông đảo bệnh nhân, từ đó, tạo tác dụng tích cực giúp giảm tình trạng quá tải tại các đơn vị y tế công lập.

Nghị quyết số 20-NQ/TW Nghị quyết Trung ương 6 khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: “Đầu tư cho bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là đầu tư cho phát triển. Nhà nước ưu tiên đầu tư ngân sách và có cơ chế, chính sách huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân; tổ chức cung cấp dịch vụ công, bảo đảm các dịch vụ cơ bản, đồng thời khuyến khích hợp tác công – tư, đầu tư tư nhân, cung cấp các dịch vụ theo yêu cầu” [2].

Bên cạnh những kết quả đã đạt được thì hoạt động của một số cơ sở khám chữa bệnh tư (CSKCBT) còn nhiều bất cập như: về chi phí: một số cơ sở dù không có giấy phép hành nghề nhưng vẫn hoạt động y dược trái phép; một số cơ sở còn nghèo nàn về cơ sở vật chất, thiếu thốn trang thiết bị, chất lượng các dịch vụ chưa cao; chi phí ở y tế tư nhân cao hơn so với y tế công; chất lượng dịch vụ KCB khu vực tư nhân kém hơn khu vực y tế công. Mặc dù chi phí của khu vực y tế tư nhân cao hơn, nhưng chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh không cao hơn; vấn đề đạo đức nghề nghiệp chưa được chú trọng đúng mức; những hạn chế, bất cập trong việc quản lý, thực hiện các chính sách về y tế tư nhân; hiện tượng trục lợi quỹ BHYT tại các cơ sở y tế ngoài công lập còn diễn ra nhiều.

Bên cạnh đó công tác QLNN đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềncòn nhiều tồn tại như: 1) hệ thống văn bản quy định về thực hiện, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này chưa đủ răn đe; 2) việc triển khai và thực hiện các chính sách pháp luật về y tế khiến hệ thống y tế ngoài công lập gặp rất nhiều khó khăn; tổ chức và thực hiện văn bản chưa đảm bảo tính hiệu lực, hiệu quả; 3) công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo còn hạn chế; 4) việc xử phạt vi phạm trong lĩnh vực KCBT còn chưa mạnh để răn đe,…Ngoài ra, chúng ta chưa có chính sách đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềnnên chưa có sự công bằng giữa cơ sở y tế tư nhân và y tế nhà nước; sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ đối với các BVT hầu như không có…Thực trạng trên gây ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân; nhiều vụ việc đáng tiếc sảy ra liên quan đến tính mạng của bệnh nhân; đồng thời, gây khó khăn cho công tác quản lý của các cơ quan chức năng.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ các vấn đề kinh tế, xã hội, y tế tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre cũng đang phát triển. Theo báo cáo của Hiệp hội Bệnh viện tư nhân (BVT), hiện nay cả nước có trên 170 bệnh viện tư nhân, hơn 30.000 phòng khám tư nhân và cơ sở dịch vụ y tế. Theo Báo cáo của Sở Y tế Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre, hiện trên địa bàn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre tính đến tháng 6/2018 có 35 BVT, phòng khám đa khoa 165, phòng khám chuyên khoa là 2641, phòng y học cổ truyền là 685, tổng có 3526 cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềntrên địa bàn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre [76]. Các cơ sở khám chữa bệnh có yếu tố người nước ngoài tham gia KCB ở cả lĩnh vực Đông y và Tây y đều có hành vi vi phạm Luật Khám chữa bệnh, pháp lệnh quảng cáo, KCB không đúng với phạm vi chuyên môn đã được cấp phép, người nước ngoài làm công việc chuyên môn chưa được phép của Sở Y tế Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre, quảng cáo giới thiệu phòng khám không đúng với nội dung đăng ký đã được Sở Y tế Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre phê duyệt, sử dụng dược phẩm chưa được phép của Bộ Y tế cho bệnh nhân.

Bên cạnh những cơ sở chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật thì còn một số cơ sở dù không có giấy phép hành nghề nhưng vẫn hoạt động y dược trái phép. Một số cơ sở còn nghèo nàn về cơ sở vật chất, tay nghề đội ngũ y bác sĩ chưa đáp ứng được yêu cầu, thiếu thốn trang thiết bị, chất lượng các dịch vụ chưa cao… Thực trạng trên gây ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân; đồng thời, gây khó khăn cho công tác quản lý của các cơ quan chức năng.

Ngoài ra, khám chữa bệnh Y học cổ truyền hành nghề vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn cho phép; lạm dụng cận lâm sàng; sai phạm về quảng cáo, vượt

quá phạm vi chuyên môn cho phép, lợi dụng lòng tin của người dân để quảng cáo không đúng khả năng chuyên môn, không đúng với nội dung quảng cáo. Ngoài các sai phạm về quảng cáo và công tác QLNN, việc xảy ra liên tiếp những vụ việc sai phạm, tiêu cực trong ngành y thời gian qua còn có nguyên nhân do vấn đề y đức: việc thực hiện quy tắc ứng xử trong đội ngũ y bác sĩ, dù đã được tập huấn nhiều, song vẫn chưa nghiêm. Thực tiễn trên đã gây nên tai biến y khoa ngoài ý muốn ở mọi lúc, mọi nơi và những hậu quả nghiêm trọng liên quan đến tính mạng con người.

Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre là trung tâm chính trị, hành chính quốc gia; là trung tâm phát triển về kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học kỹ thuật của cả nước. Có thể nói Tp. Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre và Tp. Hồ Chí Minh là 2 trung tâm dịch vụ lớn nhất cả nước; là điểm có sức thu hút đầu tư trong tất cả các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực y tế, nhưng các thủ tục hành chính, các chính sách đưa ra cho lĩnh vực này còn nhiều hạn chế. Đó là rào cản đối với các nhà đầu tư, đối với hoạt động của các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềnhiện nay.

Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với khám chữa bệnh Y học cổ truyền, từ thực tiễn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre” làm luận án Tiến sĩ Luật.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Mục đích tổng quát

Làm rõ những vấn đề lý luận quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở KCB tư; đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với khám chữa bệnh Y học cổ truyền trên địa bàn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre; đưa ra quan điểm và giải pháp tăng cường QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềnnói chung, trên địa bàn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre nói riêng.

Mục đích cụ thể

Đánh giá những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến QLNN bằng pháp luật đối với các, cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềnxác định được câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu.

Hình thành được khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền; các yếu tố tác động và kinh nghiệm QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềnmột số nước và một số địa phương; giá trị tham khảo cho Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre.

Chỉ ra ưu điểm, hạn chế của QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềnở Việt Nam nói chung và Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre nói riêng

Đưa ra quan điểm và đề xuất các giải pháp tăng cường QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềnthực hiện chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nêu trên, Luận án có các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, khảo cứu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài nghiên cứu, chỉ ra những kết quả, nội dung kế thừa, phát triển, những khoảng trống của các công trình đó, những nội dung mới Luận án tiếp tục giải quyết.

Thứ hai, làm rõ cơ sở lý luận về QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền: Khái niệm, đặc điểm, vai trò QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền; nội dung QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền trong việc xây dựng và ban hành pháp luật; tổ chức thực hiện pháp luật để quản lý các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền; xử lý đối với các vi phạm pháp luật về dịch vụ YTN.

Thứ ba, phân tích thực tiễn QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền: khái quát các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền trên địa bàn Tp. Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre; thực tiễn quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền Tp. Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre (công tác xây dựng và ban hành văn bản; công tác tổ chức và thực hiện pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền; thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềntrên địa bàn .

Thứ tư, đưa ra quan điểm, giải pháp nhằm tăng cường QLNN bằng PL đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềnhiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với khám chữa bệnh Y học cổ truyền từ thực tiễn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre
Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với khám chữa bệnh Y học cổ truyền từ thực tiễn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền, bao gồm nội dung của pháp luật, thực hiện pháp luật và những giải pháp tăng cường QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền.

Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung: Luận án nghiên cứu quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với tổ chức và hoạt động của các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền.

Luận án nghiên cứu QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềncủa các cơ quan quản lý hành chính nhà nước (CQQLHCNN); Luận án không nghiên cứu hoạt động của các cơ quan lập pháp và tư pháp trong lĩnh vực này.

Luận án tập trung nghiên cứu QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền trên địa bàn Tp. Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre; còn QLNN đối với các bệnh viện công lập và cơ sở dịch vụ y tế công, các cửa hàng thuốc tư nhân không thuộc phạm vi nghiên cứu trong Luận án.

Về không gian: Luận án không chỉ nghiên cứu trên địa bàn Tp. Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre mà còn còn nghiên cứu một số địa phương khác.

Về thời gian: Luận án nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềntừ năm 2003 – khi có Pháp lệnh về hành nghề Y, dược tư nhân.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Phương pháp luận

Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở các quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về xã hội hóa y tế, giáo dục.

Phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng tổng hợp các phương pháp: Phân tích, tổng hợp, lôgic – lịch sử, hệ thống, so sánh, điều tra, khảo sát, tổng kết thực tiễn, phương pháp chuyên gia và phương pháp điều tra xã hội học.

Phương pháp thu thập thông tin, dữ kiện cấp 2 trên cơ sở các tài liệu hay các tuyên bố đã được công bố chứ không phải do chính tác giả trực tiếp thu thập lần đầu. Phương pháp này được sử dụng trong toàn bộ các chương của luận án và tập trung nhiều nhất ở chương tổng quan tình hình nghiên cứu. Phương pháp này được sử dụng trong việc khảo cứu các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài, phân tích những nội dung chính, phương pháp được sử dụng và các kết luận đã đạt được cũng như những điểm cần tiếp tục nghiên cứu trong các nghiên cứu trước đó. Qua việc sử dụng phương pháp này, tác giả đã chứng minh được khoảng trống cần nghiên cứu chính của đề tài luận án.

Phương pháp lôgic – lịch sử: Vấn đề quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền qua từng giai đoạn. Mỗi giai đoạn, các lý thuyết và kết quả ứng dụng lại có những bước tiến nhất định. Do vậy, tác giả sử dụng phương pháp này để

nghiên cứu lịch sử hình thành lý thuyết có liên quan đến quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền; phân tích, làm rõ bản chất của các khái niệm và tính ứng dụng của các lý thuyết nghiên cứu mỗi giai đoạn trong việc hoàn thiện quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền.

Phương pháp thống kê, mô tả: Thông tin định lượng thu thập được từ các tài liệu thống kê về quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền được sử dụng xử lý, sắp xếp và mô phỏng dưới dạng bảng biểu, sơ đồ để minh chứng cho các bằng chứng định lượng về các phân tích hay nhận định quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền. Phương pháp này được sử dụng nhiều nhất ở phần phân tích thực trạng.

Phân tích, tổng hợp: Đó là trong quá trình nghiên cứu, tác giả lập luận từng vấn đề, chỉ ra nội dung chính, sau đó vận dụng các biện pháp nêu giả thuyết, so sánh, đối chiếu các nội dung. Sau đó tác giả rút ra cái chung từ sự phân tích. Tổng hợp được tác giả áp dụng cuối mỗi nội dung, kết luận chương.

Quy nạp, diễn dịch: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đi từ cái riêng đến cái chung, từ những sự vật đơn lẻ cho đến các nguyên lý phổ biến. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng phương pháp diễn dịch trong việc nghiên cứu QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền. Trên cơ sở số liệu tác giả thu thập được, tác giả tổng hợp thành những nhận định, đánh giá trong các chương của Luận án.

Phương pháp điều tra xã hội học: Đó là phương pháp thu thập thông tin phục vụ cho một chủ đề xã hội được nêu trong chương trình nghiên cứu. Trong luận án, điều tra xã hội học được tác giả sử dụng trong chương 3 nhằm lấy ý kiến của các chuyên gia, CBCCVC quản lý nhà nước trong lĩnh vực YTN.

Phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác: Để tăng thêm độ tin cậy của các thông tin đã thu thập được, nghiên cứu sinh còn sử dụng thêm một số phương pháp bổ trợ khác như: so sánh, quy nạp diễn giải.

Đóng góp mới về khoa học của luận án

Đóng góp mới về lý luận

Thứ nhất, luận án làm sáng tỏ và sâu sắc thêm những vấn đề lý luận QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền. Luận án đưa ra một số khái niệm, kết luận mang tính khoa học, góp phần hoàn thiện lý luận và là cơ sở để xây dựng, thực thi pháp luật về KCBT.

Thứ hai, luận chứng cụ thể hơn, khoa học hơn về nội hàm các nội dung của công tác QLNN bằng pháp luật đối với các, cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềnlàm cơ sở cho việc hình thành lý luận về QLNN bằng PL đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền.

Thứ ba, luận án phân tích quan điểm về y tế, tăng cường pháp luật về hành nghề YTN.

Đóng góp mới về thực tiễn

Một là, Luận án đánh giá thực tiễn QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền; chỉ ra những hạn chế của pháp luật về quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với khám chữa bệnh Y học cổ truyền.

Hai là, Luận án đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật đối với các, cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềngiải pháp tăng cường QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềnhiện nay.

Ba là, Luận án là công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu, có giá trị về lý luận cũng như thực tiễn là cơ sở để phát triển các nghiên cứu tiếp theo.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án là những bổ sung khái niệm, xác định đặc điểm, vai trò của QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền, góp phần nâng cao nhận thức lý luận về vai trò, giá trị của pháp luật về QLNN đối với lĩnh vực y tế nói chung, KCB trong các cơ sở tư nhân nói riêng.

Luận án dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và học tập môn pháp luật về y tế trong hệ thống các học viện, đại học Y, trung cấp Y; làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy tại các lớp đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác tổ chức cán bộ các cơ sở KCB nhất là tư nhân; tài liệu tham khảo cho các trường luật và các cơ quan QLNN.

Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận án gồm 4 chương:

Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu.

Chương 2. Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với khám chữa bệnh Y học cổ truyền.

Chương 3. Thực trạng quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với khám chữa bệnh Y học cổ truyền, từ thực tiễn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre.

Chương 4. Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với khám chữa bệnh Y học cổ truyền, từ thực tiễn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre.

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Tình hình nghiên cứu

Tình hình nghiên cứu trong nước

Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Đánh giá tình hình nghiên cứu

Những vấn đề đặt ra được tiếp tục nghiên cứu

Vấn đề tiếp tục nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu

Luận án được triển khai với các câu hỏi về khía cạnh lý luận, thực tiễn về quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền để làm rõ mục đích của luận án, đó là:

  1. Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềngồm các nội dung gì? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền?
  2. Thực tiễn quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền trên địa bàn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre hiện nay?
  3. Các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền trên địa bàn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre là gì?

Giả thuyết nghiên cứu

Trên cơ sở nhận thức và các khảo sát, luận án sẽ thu thập, xử lý thông tin nhằm kiểm chứng các giả thuyết sau:

Giả thuyết 1. Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền

không được chú trọng thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng KCB, ảnh hưởng đến việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân; không thực hiện được định hướng phát triển mạng lưới y tế; không bảo vệ được quyền, lợi ích của đội ngũ y bác sĩ và người bệnh.

Giả thuyết 2. Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềnđể đảm bảo cho các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềnphát triển theo hướng: đồng bộ, tạo môi trường bình đẳng cả về hỗ trợ, chuyển giao chuyên môn kỹ thuật giữa các cơ sở KCB công và tư.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềntrở thành một vấn đề cấp thiết, quan trọng đối với việc KCB cho nhân dân hiện nay. Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềnđã và đang thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý, các nhà lập chính sách trong và ngoài nước. Tuy nhiên, cho đến nay tại Việt Nam rất ít các công trình nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về vấn đề QLNN bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềndưới góc độ khoa học Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Đây là cơ sở để đề tài “Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với khám chữa bệnh Y học cổ truyền, từ thực tiễn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre” được lựa chọn và kế thừa một cách chọn lọc những kết quả nghiên cứu trước đây, đồng thời góp phần lấp đầy những “khoảng trống” như đã đề cập ở trên.

Qua nghiên cứu, phân tích các công trình có liên quan đến đề tài, những kết quả này là những gợi ý quan trọng cho đề tài nghiên cứu “Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với khám chữa bệnh Y học cổ truyền, từ thực tiễn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre” có thể kế thừa, phân tích một cách hệ thống và sâu hơn thực trạng cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềnnói chung, trên địa bàn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre nói riêng. Bên cạnh đó, khái quát tình hình nghiên cứu về quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềnở Việt Nam hiện nay có thể thấy một số vấn đề như sau:

Thứ nhất, hiện nay hoạt động KCBT là vấn đề được nhiều người quan tâm vì

nó liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của người dân, song các công trình đã nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở các bài báo, tham luận, luận văn, chưa có công trình nào nghiên cứu khoa học, toàn diện về quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyềnhiện nay, nhất là đối với địa bàn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre.

Thứ hai, một số nghiên cứu đã tiến hành các cuộc điều tra thực nghiệm nhưng chưa sử dụng nhiều các lý thuyết khoa học nhất là lý thuyết luật học để biện giải những vấn đề liên quan đến KCBT.

Thứ ba, các nghiên cứu cũng như phần lớn các bài viết dựa trên các số liệu thống kê của các cơ quan chức năng, ít dựa trên các bằng chứng thực nghiệm có độ tin cậy cao, nên kết quả chưa phản ánh một cách hệ thống và đầy đủ các khía cạnh bản chất của quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền.

Thứ tư, các bài viết cũng như các công trình nghiên cứu đều nhận định một cách chung về y tế, pháp luật đối với y tế; quản lý nhà nước đối với y tế tư nhân, chưa đề cập đến quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với các cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền. Do vậy, các công trình là tài liệu tham khảo để tác giả tiếp tục hoàn thiện Luận án của mình.

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI KHÁM CHỮA BỆNH Y HỌC CỔ TRUYỀN

Khái niệm, đặc điểm, vai trò quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với khám chữa bệnh Y học cổ truyền

Khái niệm quản lý nhà nước đối với khám chữa bệnh Y học cổ truyền

        1. Cơ sở khám chữa bệnh tư

Hệ thống y tế gồm hệ thống y tế công lập và hệ thống y tế ngoài công lập. Trong hệ thống y tế ngoài công lập có nhiều loại hình hoạt động trong đó hành nghề YTN là một loại hình hoạt động.

Hành nghề YTN bao gồm hoạt động của các chủ thể cung cấp các dịch vụ về sức khỏe ngoài quyền sở hữu của nhà nước. Họ có thể hoạt động vì mục đích lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận, cung cấp các loại dịch vụ khám chữa bệnh. Các tổ chức hành nghề YTN bao gồm: Bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa, phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa, nhà hộ sinh, cơ sở dịch vụ y tế, cơ sở dịch vụ vận chuyển người bệnh trong nước, ra nước ngoài và các hình thức dịch vụ y tế khác.

Khi đời sống xã hội phát triển, thì các dịch vụ y tế, nhất là y tế tư nhân ngày càng phát triển, các loại hình dịch vụ theo yêu cầu cũng phát triển theo. Song, để đảm bảo an toàn cho sức khỏe và tạo điều kiện thuận lợi cho việc KCB của nhân dân; thực hiện chính sách xã hội hóa và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ y tế, nhà nước cần thống nhất quản lý và đưa việc hành nghề YTN vào hoạt động theo pháp luật.

Hơn nữa, hành nghề YTN là một loại hình dịch vụ đặc biệt. Y tế tư nhân là biểu hiện của kinh tế tư nhân trong lĩnh vực dịch vụ y tế, đó là loại hình mang tính kinh doanh, kinh doanh dược, vacxin, sinh phẩm y tế, thiết bị y tế theo quy định của nhà nước mà cá nhân hoặc một tổ chức tư nhân đứng ra tổ chức KCB.

Để được hành nghề theo đúng quy định của Luật KCB thì người hành nghề phải có đủ các điều kiện về văn bằng chuyên môn và đáp ứng điều kiện về thời gian thực hành liên tục tại các cơ sở y tế. Khi có đầy đủ các điều kiện trên thì họ được đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề khám chữa bệnh. Khi được cấp chứng chỉ hành nghề KCB thì họ mới được hành nghề KCB.

Theo Luật KCB thì cơ sở KCB là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ KCB; Người hành nghề KCB là người đã được cấp chứng chỉ hành nghề và thực hiện KCB (sau đây gọi chung là người hành nghề) [63].

Như vậy, có thể hiểu KCBT là một loại hình khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân do các tổ chức, cá nhân (khu vực ngoài nhà nước) thực hiện trên cơ sở có sự quản lý, kiểm tra của nhà nước góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và đáp ứng nhu cầu KCB, CSSK của nhân dân. Song để hoạt động y tế tư nhân phát triển theo đúng chủ trương của Đảng và Nhà nước cần sự can thiệp, chính sách và có sự quản lý của nhà nước.

Ngoài ra, có thể kể đến một số khái niệm có liên quan đến KCB như: KCB, chứng chỉ hành nghề KCB, giấy phép hoạt động KCB [63]. Ở Việt Nam, các khái niệm trên được quy định tại Luật KCB năm 2009 [63]. Do vậy, cá nhân, tổ chức muốn hành nghề KCB đều phải có chứng chỉ hành nghề KCB và chỉ những người có chứng chỉ này mới được thực hiện KCB và được pháp luật bảo vệ.

Theo quy định, muốn được cấp chứng chỉ hành nghề thì người hành nghề ngoài các quy định về văn bằng chuyên môn, lý lịch, sức khỏe, thời gian thực hành,… thì người hành nghề còn phải cập nhật kiến thức y khoa liên tục. Cập nhật kiến thức y khoa là người hành nghề tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, hội nghị, hội thảo về y khoa thuộc lĩnh vực hành nghề theo chương trình do Bộ Y tế phê duyệt hoặc công nhận và được cấp giấy chứng nhận theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

Trong trường hợp người hành nghề không cập nhật kiến thức y khoa liên tục trong thời gian 02 năm liên tiếp thì chứng chỉ hành nghề bị thu hồi, đình chỉ [63 ].

Luật pháp của nhiều quốc gia đều quy định, mọi cá nhân, tổ chức khi có đầy đủ các điều kiện về chuyên môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực đều được phép thành lập cơ sở YTN.

Ở Việt Nam, cơ sở YTN là cơ sở do cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh, quản lý và điều hành [92]. Tuy nhiên, sau khi thành lập, các cơ sở KCB đi vào hoạt động cần có giấy phép hoạt động khám chữa bệnh.

Giấy phép hoạt động KCB là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cơ sở KCB có đủ điều kiện hoạt động theo quy định của Luật Khám chữa bệnh (sau đây gọi chung là giấy phép hoạt động) [63].

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, giấy phép hoạt động KCB được Bộ trưởng Bộ Y tế cấp, cấp lại, điều chỉnh và thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở KCB thuộc Bộ Y tế, bệnh viện tư nhân hoặc Giám đốc Sở Y tế cấp, cấp lại, điều chỉnh và thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở KCB trên địa bàn.

Như vậy, cá nhân, tổ chức thực hiện KCB thì phải có chứng chỉ hành nghề KCB và được cấp giấy phép hoạt động. Những cá nhân, tổ chức không có các loại giấy tờ trên mà vẫn hành nghề thì được coi là hành nghề “chui”.

Cơ sở khám chữa bệnh bằng y học cổ truyền là một loại hình khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân do tư nhân thực hiện trên cơ sở có sự quản lý, kiểm tra của nhà nước góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và đáp ứng nhu cầu KCB, chăm sóc sức khỏe và thẩm mỹ của nhân dân. Do vậy, hoạt động này được đặt dưới sự quản lý của nhà nước nhằm đảm bảo cho hoạt động của khu vực tư nhân trong KCB &CSSKND được diễn ra theo đúng quy định của pháp luật và định hướng của nhà nước; bảo đảm tính mạng của người dân và đội ngũ y bác sĩ trong các BVT được đảm bảo an toàn.

Hành nghề YTN là một bộ phận của ngành y tế. Nếu như ngành y tế có vai trò lớn trong việc CSSKND thì hành nghề YTN có vai trò đắc lực giải quyết những khó khăn, nan giải mà y tế công chưa có điều kiện đáp ứng, giúp nhân dân được chăm sóc sức khoẻ tốt hơn nhất là trong việc tránh sự quá tải cho khu vực y tế Nhà nước. Góp phần hoàn thiện mạng lưới y tế rộng khắp với những hình thức tổ chức và hoạt động phong phú, đa dạng, tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa y tế nhà nước và YTN.

Qua phân tích có thể thấy, vai trò của hành nghề YTN được thể hiện ở những điểm sau:

Thứ nhất, hành nghề YTN giúp cho người dân có nhiều cơ hội tiếp cận và lựa chọn các dịch vụ chăm sóc, theo dõi sức khỏe thường xuyên cho mình nhằm phát hiện sớm bệnh tật.

Thứ hai, hành nghề YTN không chỉ có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp CSSKND mà nó còn góp phần không thể thiếu trong sự phát triển kinh tế – xã hội.

Thứ ba, việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho con người nhằm mang đến cho con người có sức khỏe tốt và chỉ có sức khỏe tốt mới làm ra của cải vật chất, góp phần tạo ra nguồn lực cơ bản cho sự phát triển của xã hội trong tương lai.

Thứ tư, hoạt động hành nghề YTN đáp ứng yêu cầu của hoạt động CSSKND. Với bất kỳ ai, ở vị thế xã hội nào đều có nhu cầu chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ. Trong một khía cạnh nhất định, những nhu cầu này tăng lên theo sự phát triển của đời sống vật chất và tinh thần. Chính vì vậy, khi đời sống vật chất và tinh thần được nâng cao thì nhu cầu sống khoẻ mạnh, nhu cầu làm đẹp cũng tăng lên. Hệ thống YTN ra đời đáp ứng những yêu cầu chính đáng đó khi mà y tế Nhà nước không đủ sức tự đảm bảo sự cung cấp của mình.

Thứ năm, hành nghề YTN góp phần mang lại một sức khoẻ tốt – nhân tố cơ bản nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm dịch vụ, là đòi hỏi bắt buộc đối với nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Thứ sáu, BVT là một trong các thành phần kinh tế ngoài nhà nước cùng tham gia cung cấp các dịch vụ y tế, tham gia vào lực lượng xã hội để bổ khuyết cho khu vực y tế công, phục vụ cho các đối tượng có điều kiện trong xã hội. Bên cạnh đó, việc tham gia vào các hoạt động y tế chăm sóc sức khỏe cho nhân dân thì việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe đòi hỏi phải tính đến yếu tố lợi nhuận, vì đó là điều kiện sống còn của các BVT tồn tại và phát triển. Tuy vậy, trong khi cung cấp các dịch vụ y tế trên thị trường, họ phải tính đến nhu cầu ngày càng cao của người bệnh, do đó phải áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để các dịch vụ có chất lượng cao, thu hút được bệnh nhân đến điều trị tại bệnh viện, đáp ứng được nhu cầu đa dạng của các tầng lớp trong xã hội, góp phần cùng với y tế nhà nước chăm sóc sức khỏe nhân dân. Do vậy, Nhà nước cần hỗ trợ và thu hút các nhà đầu tư để phát triển hệ thống BVT. Đồng thời, nhà nước phải kiểm soát và định hướng cho BVT hoạt động đúng định hướng, tránh xu hướng thương mại hóa công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân.

Dịch vụ y tế tư nhân có vai trò quan trọng trong phát triển hệ thống y tế. Nói đến vai trò của y tế tư, người ta đều thấy y tế tư đã thể hiện vai trò trong các khía cạnh sau: i) Chia sẻ trách nhiệm với y tế công giải quyết các gánh nặng y tế kể cả ở tuyến y tế cơ sở. ii) Giúp người bệnh có được nhiều cơ hội lựa chọn thầy thuốc và

cơ sở dịch vụ, iii) Tạo ra nhiều cơ hội phát triển công nghệ cao trong y tế và góp phần vào đào tạo cán bộ, đặc biệt là các chuyên gia kỹ thuật cao [112].

Trên thực tế, ở Việt Nam hiện nay, khu vực tư nhân đang bị coi là đối tượng mà y tế công phải đối phó nhiều hơn là xem họ như đối tác có thể hợp tác nhằm thúc đẩy chất lượng, hiệu quả và công bằng trong chăm sóc sức khỏe. Vì vậy, thời gian tới nhà nước cần thay đổi quan điểm trong quản lý y tế tư nhân, cần chuyển từ quan điểm mang tính kiểm soát sang quan điểm hợp tác và khuyến khích đối với y tế tư nhân.

        1. Quản lý nhà nước bằng pháp luật

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\LUẬN VĂN THẠC SĨ CÁC ĐẠI HỌC KHÁC\KHO SỐ 1\Quy định pháp luật về hoạt động khám bệnh, chữa bệnh Y học cổ truyền – Thực tiễn tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre\THAM KHẢO/ QUẢN LÝ KHÁM CHỮA BỆNH

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *