Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong cho đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Quảng Ngãi

Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong cho đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Quảng Ngãi

Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong cho đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Quảng Ngãi

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Quá trình toàn cầu hóa làm tăng thêm mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế trên thế giới. Xu hướng tự do hóa trong lĩnh vực tài chính ngân hàng cũng không ngoại lệ, toàn cầu hóa trong lĩnh vực tài chính ngân hàng đã tạo ra cơ hội cho các ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh trên phạm vi toàn cầu, giúp cho các ngân hàng gia tăng thu nhập, hạn chế được những rủi ro tổn thất do những điều kiện kinh tế, chính trị trong nước. Tuy nhiên, cùng với cơ hội của hội nhập kinh tế thế giới trong lĩnh vực tài chính ngân hàng thì sự canh tranh giữa các tổ chức, tập đoàn tài chính ngày càng gây gắt và khốc liệt hơn và cũng tạo ra một thị trường tài chính rủi ro hơn.

Thời gian qua, cuộc khủng hoảng tín dụng tại Mỹ là khởi nguồn cho cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Các quốc gia phải thực hiện cải cách, xây dựng hệ thống quản lý tài chính và cơ chế phòng ngừa rủi ro tài chính quốc tế, công khai, minh bạch trong hoạt động ngân hàng để tránh những nguy cơ biến động mạnh của thị trường tài chính, hoạt động tuân theo quy luật chung của thị trường.

Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng tại Việt Nam, lợi nhuận từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng chủ yếu trong thu nhập của các ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động này luôn tiềm ẩn rủi ro cao, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế mới nổi như Việt Nam bởi hệ thống thông tin thiếu minh bạch và không đầy đủ, trình độ quản trị rủi ro còn nhiều hạn chế, tính chuyên nghiệp của nhân viên ngân hàng chưa cao…

Tại TP.Quảng Ngãi đã chứng kiến sự phát triển ồ ạt các mạng lưới dịch vụ tài chính ngân hàng. Theo thống kê của ngân hàng nhà nước chi nhánh Quảng Ngãi, toàn thành phố có hơn 55 chi nhánh ngân hàng cấp 1 và 200 phòng, điểm giao dịch, quỹ tiết kiệm. Ngoài ra còn có hơn 10 tổ chức cho thuê tài chính, công ty mua bán nợ…

Vì vậy, hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng trong cả nước nói chung và TP.Quảng Ngãi nói riêng đã trở nên khốc liệt hơn và cũng tạo nhiều rủi ro hơn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Trong bối cảnh đó, không một ngân hàng hay một tổ chức tài chính nào có thể tồn tại lâu dài mà không có hệ thống quản trị rủi ro hữu hiệu. Việc xây dựng hệ thống quản trị rủi ro nói chung và quản trị rủi ro tín dụng nói riêng có vai trò sống còn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.

Hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại (NHTM) là hoạt động kinh doanh mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho Ngân hàng nhưng cũng là hoạt động có rủi ro cao. Hiện nay, rủi ro trong hoạt động cho vay vẫn là loại rủi ro chiếm tỷ trọng lớn nhất, thường có tác động lớn và ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của mỗi Ngân hàng. Ngoài ra, nó còn có thể ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.

Hoạt động cho vay luôn gắn liền với rủi ro. Đây là một thực tế khách quan. Chúng ta không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro cho vay mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa hay giảm thiểu thiệt hại khi rủi ro cho vay xảy ra.

Trong điều kiện nền kinh tế đối mặt với nhiều khó khăn như tăng trưởng thấp, lãi suất cao, tồn kho của doanh nghiệp vừa và nhỏ lớn làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ, điều này gây tác động không nhỏ đến hoạt động cho vay Ngân hàng, nhất là hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ, những khách hàng thường xuyên của Ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ hoặc phá sản, dẫn đến nợ xấu Ngân hàng gia tăng.

Xuất phát từ nhận thức trên và nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề, Em xin chọn đề tài “Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong cho đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Quảng Ngãi” cho luận văn tốt nghiệp của mình.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

– Nghiên cứu những vấn đề lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại.

– Đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Quảng Ngãi.

– Trên cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng quản trị rủi ro tín dụng, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Quảng Ngãi.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Hệ thống hóa được những vấn đề cơ bản về tín dụng và rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại, về quan niệm, quy trình quản trị rủi ro tín dụng cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản trị rủi ro tín dụng hệ thống ngân hàng thương mại.

– Đã phân tích, đánh giá được nguyên nhân gây ra rủi ro và thực trạng công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Quảng Ngãi.

Luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Quảng Ngãi.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhận dạng, đo lường, phân tích các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng và đề ra các giải pháp nhằm hạn chế, phòng ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Quảng Ngãi.

– Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu giữa lý luận và thực tế nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong thời gian lấy từ năm 2013 đến 2015 tại Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Quảng Ngãi, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro tín dụng.

Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong cho đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Quảng Ngãi
Nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong cho đối với khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông – Chi nhánh Quảng Ngãi

4. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:

– Phương pháp thống kê

– Phương pháp so sánh

– Phương pháp phân tích

– Phương pháp tổng hợp

– Phương pháp chuyên gia

5. Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương.

Chương 1: Lý luận về nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM

Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Phương Đông – chi nhánh Quảng Ngãi

Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng TMCP Phương Đông – chi nhánh Quảng Ngãi

6. Tổng quan nghiên cứu đề tài

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG

      1. 1.1.1. Rủi ro tín dụng

1.1.1.1. Khái niệm

Rủi ro tín dụng theo định nghĩa của A. Saunder và H.Lange là: “Khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể thực hiện được đầy đủ về cả số lượng và thời hạn”. (Financial Institutions management-A Modern Perpective)

Theo Timothy W.Kock: “Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn, có nghĩa là là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận.Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn” (Bank Management, University of South Carolina, The Dryden Press, 1995)

Còn theo Henie Van Greuning và Sonja Brajovic Bratanovic thì: “Rủi ro tín dụng là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng, đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ, điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng” (Analyzing Banking Risk, The World Bank).

Rủi ro tín dụng được định nghĩa theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN Việt nam là: “Khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.

Tóm lại: Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh khi một khoản cho vay không được thanh toán hoặc sẽ không được thanh toán đúng hạn, giữa rủi ro tín dụng và chất lượng danh mục cho vay của ngân hàng có một mối quan hệ chặt chẽ, một ngân hàng có số lượng các khoản cho vay không thu hồi được nhiều một các bất thường được coi như có danh mục cho vay với mức độ rủi ro tín dụng cao. Do đó, cách phòng ngừa rủi ro tín dụng tốt nhất là thực hiện tốt việc quản lý danh mục cho vay, bao gồm cả việc xây dựng các chuẩn mực cấp tín dụng và chính sách đa dạng hóa phù hợp.

1.1.1.2. Đặc điểm của rủi ro tín dụng

  • Tính tất yếu: Rủi ro tín dụng luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng, điều này có nguyên nhân từ việc thông tin bất cân xứng giữa bên đi vay và bên cho vay, dẫn đến việc người cho vay không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một các toàn diện, kịp thời và hiệu quả.
  • Tính gián tiếp: Trong chu trình tín dụng, đồng vốn ra khỏi két ngân hàng khi tiến hành giải ngân và chuyển giao quyền sử dụng cho khách hàng, chu trình kết thúc khi đồng vốn quay trở lại két, rủi ro thực tế chỉ xảy ra ở giai đoạn sử dụng vốn khi khách hàng gặp rủi ro trong quá trình kinh doanh, khi đó rủi ro từ phía khách hàng gián tiếp tác động đến ngân hàng.
  • Tính phức tạp và đa dạng: Sự đa dạng thể hiện ở mức độ phức tạp về nguyên nhân, hình thức và hậu quả của rủi ro tín dụng do tính chất trung gian tài chính của ngành ngân hàng.

1.1.1.3. Phân loại rủi ro tín dụng

Có nhiều tiêu chí để phân loại RRTD tùy theo mục đích yêu cầu nghiên cứu nhưng phổ biến nhất là cách phân loại theo nguyên nhân phát sinh rủi ro và phân loại theo tính khách quan hay chủ quan, phân loại theo nguồn gốc hình thành hay phân loại theo ngành nghề kinh doanh.

Phân loại rủi ro tín dụng theo nguyên nhân phát sinh rủi ro

Sơ đồ 1.1. Phân loại RRTD theo nguyên nhân phát sinh

  • Rủi ro giao dịch: là rủi ro liên quan đến một khoản cho vay cụ thể mỗi khi ngân hàng ra quyết định cấp một khoản tín dụng mới cho khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro xét duyệt, rủi ro đảm bảo và rủi ro kiểm soát;
  • Rủi ro danh mục tín dụng: là rủi ro có liên quan đến sự kết hợp nhiều khoản tín dụng trong danh mục tín dụng của ngân hàng, nó có thể phát sinh do đặc thù cá biệt của từng loại doanh nghiệp vừa và nhỏ, ví dụ cho vay tín chấp thì rủi ro cao hơn so với cho vay có đảm bảo bằng bất động sản là nhà ở; rủi ro này cũng có nguyên nhân từ sự thiếu đa dạng hóa mà chỉ tập trung vào một hoặc một số lĩnh vực có rủi ro cao. Rủi ro danh mục bao gồm rủi ro cá biệt và rủi ro tập trung.

Phân loại rủi ro tín dụng theo phạm vi rủi ro

Sơ đồ 1.2. Phân loại RRTD theo phạm vi rủi ro

  • Rủi ro thuộc về người đi vay: bao gồm rủi ro tài chính và rủi ro kinh doanh. Trong đó, rủi ro tài chính được đánh giá thông qua tình trạng tài chính của người vay bao gồm khả năng thanh khoản, độ lớn các khoản phải thu, lợi nhuận, dòng tiền và các chỉ số tài chính khác…, và rủi ro kinh doanh là rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh của người vay, để xem xét rủi ro kinh doanh, cần phân tích mối quan hệ của người vay với môi trường kinh doanh như sơ đồ 1.3

Môi trường kinh doanh chung

Rủi ro trong nội bộ tổ chức

Rủi ro thuộc ngành nghề

Rủi ro kinh doanh

Sơ đồ 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro kinh doanh

  • Rủi ro thuộc về người cho vay: bao gồm: rủi ro thuộc về thủ tục liên quan đến quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay và rủi ro tài liệu liên quan đến việc xác định tính hợp pháp, hợp lệ của các loại hồ sơ do người đi vay cung cấp.

Phân loại rủi ro tín dụng theo các tiêu chí khác

  • Rủi ro bên trong: là rủi ro đến từ hai phía ngân hàng và người đi vay, có thể kiểm soát được. Trong đó, rủi ro do chủ quan từ phía ngân hàng bao gồm rủi ro do chính sách tín dụng không hợp lý, rủi ro trong quá trình thẩm định, rủi ro trong quá trình giám sát tín dụng, rủi ro do đạo đức cán bộ, và rủi ro trong việc áp dụng các công cụ phòng chống rủi ro tín dụng. Bên cạnh rủi ro do chủ quan từ phía ngân hàng là rủi ro chủ quan về phía khách hàng bao gồm rủi ro do năng lực định hướng chiến lược yếu dẫn đến các quyết định đầu tư sai lầm, rủi ro do năng lực quản lý yếu kém, thiếu giám sát trong quá trình sản xuất kinh doanh dẫn đến kết quả thực hiện dự án không đạt mục tiêu đề ra, rủi ro do đồng vốn không sử dụng đúng mục đích như đã thiết kế ban đầu kéo theo những khó khăn trong kiểm soát dòng vốn cũng như kiểm soát rủi ro của đồng vốn, và rủi ro do sử dụng công nghệ lạc hậu, tiêu tốn quá nhiều nguyên liệu, nhiên liệu đầu vào trong khi sản phẩm đầu ra không hợp thị hiếu, không được thị trường chấp nhận.
  • Rủi ro bên ngoài: là rủi ro do các tác động từ bên ngoài, xảy ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của khách hàng, do tính chất bất thường của nó nên loại rủi ro này không thể kiểm soát được, rủi ro bên ngoài bao gồm rủi ro do tình hình chính trị bất ổn định, rủi ro do gặp chu kỳ kinh tế suy thoái, sản phẩm làm ra không tiêu thụ được do sức mua yếu, tồn kho cao và kéo dài dẫn đến suy giảm vốn kinh doanh, rủi ro do nền kinh tế bất ổn: Bao gồm việc thay đổi quá nhanh của chính sách thuế, vấn đề lạm phát, thất nghiệp hay tỷ giá…, rủi ro do các văn bản luật không nhất quán, mâu thuẫn hay không rõ ràng, rủi ro do ảnh hưởng của hàng nhập lậu làm cho hàng hóa sản xuất ra không cạnh tranh nổi về giá cả, và rủi ro do sự đổ vỡ của đối tác, nhà cung cấp của doanh nghiệp vừa và nhỏ dẫn đến nguồn cung nguyên vật liệu bị gián đoạn, công nợ bị kéo dài ảnh hưởng đến dòng tiền của doanh nghiệp vừa và nhỏ.

1.1.1.4. Hậu quả của rủi ro tín dụng

Đối với ngân hàng bị rủi ro, do không thu hồi được nợ (gốc, lãi và các loại phí) dẫn đến việc nguồn vốn cho vay bị thất thoát, lãi suất đầu ra thực tế (tổng thu từ hoạt động tín dụng/tổng dư nợ) bị giảm sút trong khi ngân hàng vẫn phải thực hiện nghĩa vụ chi trả lãi tiền gửi cho khách hàng, lãi suất đầu vào thực tế (chi phí trả lãi/tổng nguồn vốn huy động) cố định làm cho chênh lệch lãi suất đầu vào – đầu ra bị suy giảm, làm giảm lợi nhuận của ngân hàng. Nợ xấu cao dẫn đến các khoản trích lập dự phòng rủi ro tín dụng xác lập cao, làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, trong một số trường hợp nếu nợ xấu quá cao sẽ làm cho việc kinh doanh của ngân hàng thua lỗ. Nợ xấu cao dẫn đến uy tín của ngân hàng bị giảm sút, người dân sẽ cảm thấy không yên tâm khi gửi tiền vào một ngân hàng có mức độ rủi ro cao, điều này làm cho việc huy động vốn gặp nhiều khó khăn.

Đối với hệ thống ngân hàng, nếu hiện tượng mất thanh khoản xảy ra ở một ngân hàng không được Ngân hàng Trung ương và các cơ quan hữu quan đối phó kịp thời thì rất dễ xảy ra tình huống người dân đồng loạt rút tiền tại các ngân hàng và gây nên tác động dây chuyền, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn.

Đối với nền kinh tế, rủi ro tín dụng của ngân hàng dẫn đến vốn bị vùi lấp ở những dự án xấu, thiếu vốn cho những dự án tốt phát huy hiệu quả kinh tế. Khi uy tín của ngân hàng giảm sút, kéo theo việc hệ thống ngân hàng sẽ mất chức năng trung gian tài chính, tiền sẽ không được luân chuyển từ nơi thừa sang nơi cần vốn, sức sản xuất của nền kinh tế bị suy giảm, hàng hóa sản xuất không đủ yêu cầu, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp và đời sống kém ổn định. Trong xu thế kinh tế hội nhập toàn cầu như hiện nay, bất ổn ở một quốc gia, một khu vực kinh tế cũng dẫn đến bất ổn ở những khu vực khác trên thế giới.

      1. 1.1.2. Quản trị RRTD trong cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ của NHTM

1.1.2.1. Khái niệm về quản trị rủi ro và quản trị rủi ro tín dụng

Quản trị trong một NHTM có thể khác nhau về cách thức tổ chức, vận hành nhưng đều liên quan đến 3 chức năng quản trị chính như sau: quản trị chiến lược, quản trị hoạt động và quản trị rủi ro, ba chức năng này không độc lập hoàn toàn và có thể hiểu như sau: chức năng quản trị chiến lược bao gồm các hoạt động nhằm tìm ra sứ mạng, mục tiêu và nhiệm vụ của tổ chức, kế hoạch triển khai các chiến lược cũng như việc đánh giá việc thực hiện các chiến lược đó. Chức năng quản trị hoạt động bao gồm các hoạt động nhằm hướng tổ chức đến nhiệm vụ của nó, đối với NHTM, quản trị hoạt động là việc làm sao để ngân hàng có thể cung cấp các dịch vụ tài chính một cách tốt nhất. Chức năng quản trị rủi ro trong NHTM là tất cả những hoạt động là sao cho việc đạt sứ mạng của tổ chức một cách trực tiếp và dễ dàng.

Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình tiếp cận RRTD một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng bất lợi do rủi ro tín dụng gây ra.

Mục tiêu tối cao của quản trị rủi ro tín dụng là giảm thiểu tác động của RRTD, tuy nhiên không thể né tránh hay giảm thiểu toàn bộ rủi ro do những hạn chế về tài chính, hạn chế về trình độ thực tiễn của bản thân mỗi ngân hàng, do đó phải chấp nhận RRTD ở một giới hạn có thể chịu đựng được, sau đó mới lựa chọn một các có hệ thống các phương pháp tiếp cận có hiệu quả để hạn chế rủi ro ở mức dưới giới hạn đó.

RRTD được đánh giá thông qua: tần suất-sự kiện xảy ra thường xuyên như thế nào và tác động – mức độ thiệt hại do sự kiện gây ra, có thể chia thành 4 nhóm như sau: tần suất thấp/tác động thấp là loại rủi ro dễ quản trị nhất; tần suất thấp/tác động cao là loại rủi ro khó quản trị nhất do yếu tố bất thường, khó dự đoán và khi xảy ra sẽ gây tổn thất nặng nề nhất; tần suất cao/tác động thấp có thể được quản lý để nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách đưa yếu tố đề phòng các tổn thất này vào cơ chế xây dựng giá sản phẩm; và tần suất cao/tác động cao là mục tiêu chính của quản trị vì nếu không kiểm soát đươc rủi ro loại này có thể gây tổn thất nặng nề thậm chí đổ vỡ cả ngân hàng.

Quản trị rủi ro tín dụng bao gồm các bước:

  • Nhận dạng rủi ro tín dụng: là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các RRTD có thể xảy đến cho ngân hàng, các hoạt động nhận dạng nhằm phát triển các thông tin lưu trữ về nguồn rủi ro, các mối hiểm họa và các đối tượng gánh chịu rủi ro.
  • Đo lường rủi ro tín dụng: là việc đánh giá rủi ro tín dụng thông qua hai yếu tố tần suất xuất hiện và mức độ nghiêm trọng của từng loại RRTD. Các loại mô hình dùng để đo lường RRTD bao gồm: mô hình định tính và mô hình định lượng.
  • Kiểm soát rủi ro tín dụng: là việc sử dụng các kỹ thuật, công cụ, chiến lược và những chương trình nhằm cố gắng né tránh, đề phòng, hạn chế và nói cách khác là kiểm soát tần suất và độ lớn của những tổn thất và những ảnh hưởng không mong muốn khác của RRTD, kiểm soát rủi ro còn bao gồm cả những phương pháp nhằm hoàn thiện các kiến thức và sự hiểu biết của các bộ phận bên trong ngân hàng về RRTD.
  • Tài trợ rủi ro tín dụng: là việc sử dụng các nguồn lực tài chính cả trong và ngoài ngân hàng để bù đắp các tổn thất của các khoản cấp tín dụng sau khi đã xảy ra rủi ro.

1.1.2.2. Nhận dạng RRTD đối với cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ

Một số phương pháp nhận dạng RRTD trong cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ thường dùng là phân tích báo cáo cáo tài chính, nghiên cứu số liệu tổn thất quá khứ, phương pháp thông qua tư vấn bên trong và bên ngoài, và ngoài ra có nhiều phương pháp nhận dạng khác nhưng do phạm vi của đề tài có giới hạn nên chỉ đề cập đến một số phương pháp sau:

  • Phương pháp phân tích báo cáo tài chính

Phân tích hoạt động tài chính doanh nghiệp vừa và nhỏ là việc vận dụng tổng thể các phương pháp phân tích khoa học để đánh giá chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ, giúp cho người phân tích nắm được thực trạng tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ, dự đoán được chính xác các chỉ tiêu tài chính trong tương lai cũng như rủi ro tài chính mà doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể gặp phải; qua đó, đề ra các quyết định phù hợp. Khi phân tích báo cáo tài chính, người phân tích phải xem xét 2 khía cạnh: sự đầy đủ và chất lượng của thông tin. Các thông tin tài chính được cung cấp càng đầy đủ và chính xác thì việc phân tích càng dễ dàng và kết quả đưa ra càng chính xác.

Mục tiêu của phân tích tài chính phải xác định rõ thực trạng hiện tại của doanh nghiệp vừa và nhỏ và dự đoán hoạt động và tình hình tương lai của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Để thực hiện được các mục tiêu trên, người phân tích phải thực hiện các kỹ thuật sau:

  • Phân tích bảng tổng kết tài sản: bảng tổng kết tài sản là bức tranh về tình hình tài chính tại một thời điểm nhất định, ở đây có hai điểm cần chú ý là: doanh nghiệp vừa và nhỏ đang sở hữu những loại tài sản nào và chúng được định giá ra sao;
  • Phân tích vốn lưu động: vốn lưu động là một chỉ số tài chính đo lường hiệu quả hoạt động cũng như năng lực tài chính trong ngắn hạn của doanh nghiệp vừa và nhỏ (Vốn lưu động = Tổng tài sản ngắn hạn – Tổng nợ ngắn hạn), phân tích vốn lưu động cho biết liệu doanh nghiệp vừa và nhỏ có đủ khả năng chi trả cho các nghĩa vụ nợ ngắn hạn của mình hay không (vốn lưu động dương hay âm);
  • Phân tích tình hình vốn tự có: vốn tự có là phần sử dụng để chống đỡ lại những rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ, trước khi cho vay, CBTD phải đặt câu hỏi: doanh nghiệp vừa và nhỏ cần phải có bao nhiêu vốn tự có để đảm bảo hoạt động an toàn;
  • Phân tích báo cáo thu nhập: thu nhập của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong một khoảng thời gian thể hiện khả năng sinh lời của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong khoảng thời gian đó, để đánh giá tương đối chính xác chỉ tiêu này cần phải có số liệu thu nhập của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ít nhất 2 đến 3 năm liền kề;
  • Phân tích kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp vừa và nhỏ: một bộ báo cáo kế hoạch kinh doanh thường có 3 dạng: báo cáo thu nhập tạm tính, dự kiến dòng tiền mặt và bảng tổng kết tài sản tạm tính, số liệu do doanh nghiệp vừa và nhỏ cung cấp là số ước tính và CBTD phần phải xem xét lại tính khả thi của các ước tính đó;
  • Phân tích nội bộ: thông qua việc so sánh nội bộ, tức là so sánh tình trạng và hoạt động hiện trạng của doanh nghiệp vừa và nhỏ so với tình trạng và hoạt động trước kia của nó, việc so sánh này cho thấy hướng đi và mức độ tăng trưởng hay suy giảm của doanh nghiệp vừa và nhỏ;

– Phân tích ngoại vi: để biết các chỉ số tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ là cao hay thấp, tốt hay xấu thì cần so sánh với chỉ số trung bình của các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng ngành có quy mô tương đương (so sánh với chỉ số trung bình ngành);

  • Phân tích chỉ số: phân tích chỉ số là công cụ tốt nhất để đánh giá hoạt động tài chính của doanh nghiệp vừa và nhỏ, các chỉ số nói lên mối quan hệ giữa các số liệu báo cáo tài chính khác nhau, xu hướng và các biến động ảnh hưởng đến rủi ro, cơ hội và hiệu quả của doanh nghiệp vừa và nhỏ.
  • Phương pháp nghiên cứu số liệu tổn thất trong quá khứ

Phương pháp này sử dụng các thông tin tích lũy được từ hệ thống báo cáo RRTD của ngân hàng, khi số liệu lưu trữ đủ lớn, người ta có thể sử dụng thông tin này dự báo các rủi ro trong tương lai bằng hàm xu thế hay phương pháp khai triển tổn thất, việc nghiên cứu số liệu tổn thất trong quá khứ còn có tác dụng trong việc xây dựng chính sách tín dụng trong đó có những giới hạn tín dụng nhằm hạn chế cho vay vào những những ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh, vùng địa lý có RRTD cao đã từng xảy ra trong quá khứ.

  • Phương pháp thông qua tư vấn bên trong và bên ngoài

Tư vấn bên trong ngân hàng: thông qua tiếp xúc với các cán bộ quản lý và nhân viên ở các bộ phận trực tiếp với khách hàng, các nhà quản trị có được những hiểu biết đầy đủ về các hoạt động và các tổn thất có thể có từ những hoạt động này;

Tư vấn bên ngoài ngân hàng: thông qua tư vấn, các nhà quản trị rủi ro có thể nắm bắt thêm những thông tin cần thiết, độc lập về mối hiểm họa và nguy cơ rủi ro đối với ngân hàng từ nguồn tin bên ngoài, các nhà tư vấn có thể là các công ty xếp hạng tín dụng chuyên nghiệp, các công ty kiểm toán hoặc các cổ đông, luật sư hay các chuyên viên thống kê.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\LUẬN VĂN THẠC SĨ CÁC ĐẠI HỌC KHÁC\KHO SỐ 1\Quản trị rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng TMCP Phương Đông\THAM KHẢO/ LUAN VAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *