Áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền từ thực tiễn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre
MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, chăm sóc sức khỏe nhân dân đã trở thành vấn đề cốt lõi của quốc gia, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm từ khâu phòng bệnh đến chữa bệnh, hoàn thành sứ mạng chăm lo sức khỏe nhân dân. Cụ thể, các nguồn lực cho y tế ngày càng mạnh, chỉ số sức khỏe nhân dân không ngừng cải thiện, nhiều căn bệnh hiểm nghèo dần được đẩy lùi, nền y học Việt Nam đã có vị thế trên trường quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt đuợc thì công tác khám chữa bệnh Y học cổ truyền còn bộc lộ một số hạn chế nhất định mà nguyên nhân phải kể đến là sự yếu kém trong công tác quản lý của nhà nước về khám chữa bệnh Y học cổ truyền. Bên cạnh đó, sự phát triển của xã hội kéo theo sự ô nhiễm môi trường, những vấn đề về vệ sinh an toàn thực phẩm và cảnh báo về hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu… luôn là mối đe dọa đến sức khỏe con người làm cho diễn biến bệnh tật ngày càng phức tạp. Chính vì vậy, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền là một việc làm cấp bách hiện nay góp phần đáng kể cho sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre, trong những năm qua, công tác khám chữa bệnh Y học cổ truyền đã có nhiều bước chuyển biến tích cực. Hệ thống cơ sở khám chữa bệnh Y học cổ truyền ngày càng được củng cố, hoàn thiện; đội ngũ thầy thuốc ngày càng được nâng cao về số lượng lẫn chất lượng; các dịch vụ khám chữa bệnh Y học cổ truyền ngày càng phong phú, đa dạng; cơ sở vật chất, trang thiết bị ngày càng được trang bị đầy đủ, hiện đại. Chính vì thế chất lượng khám chữa bệnh Y học cổ truyền ngày càng được nâng cao, đáp ứng được một phần nhu cầu chăm sức khỏe cho nhân dân Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre nói riêng và các tỉnh lân cận nói chung.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác khám chữa bệnh Y học cổ truyền tại cũng còn nhiều bất cập, hạn chế gây ảnh hưởng đến chất lượng
khám chữa bệnh Y học cổ truyền của nhân dân, đặc biệt là hoạt động áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền. Những hạn chế của hoạt động này chủ yếu xoay quanh các vấn đề về tổ chức mạng lưới khám chữa bệnh Y học cổ truyền; xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý y tế; hoạt động xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản, các cơ chế, chính sách, quy trình, thủ tục khám chữa bệnh Y học cổ truyền; công tác đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị; công tác thành tra, kiểm tra….Tôi cho rằng nếu không có những giải pháp khả thi để khắc phục những hạn chế nêu trên thì hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre chưa thể đạt được các mục tiêu mà ngành và Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre đặt ra.
Để góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và thực tiễn của hoạt động áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền trên địa bàn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre trong những năm qua. Từ đó chỉ ra được những kết quả đạt được cũng như tồn tại, hạn chế, phân tích nguyên nhân của những tồn tại hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác này, tôi chọn đề tài “Áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền từ thực tiễn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Hành chính.
Tình hình nghiên cứu của đề tài
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn để trên cơ sở đó đề xuất các quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền trên địa bàn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nêu trên, đề tài tập trung vào các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Một là, phân tích những cơ sở lý luận liên quan đến công tác áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre nói riêng cũng như cả nước nói chung;
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật và thực tiễn, kết quả công tác áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre; các yêu cầu cần phải nâng cao hiệu quả công tác này;
Ba là, đề xuất các quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả,
ngày càng hoàn thiện hơn trong công tác áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền chăm sóc sức khỏe người dân trên địa bàn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền từ thực tiễn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre.
- Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài này, tôi chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền theo những quy định của pháp luật Việt Nam trên địa bàn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre. Những kết quả đạt được, tồn tại cũng như tìm ra những nguyên nhân dẫn đến tồn tại. Từ đó kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền từ năm 2010- 2015 tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận
Đề tài đã vận dụng các phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Phương pháp này được vận dụng trong suốt quá trình nghiên cứu để làm sáng tỏ bản chất và tìm ra mối liên hệ phổ biến của vấn đề được đề cập.
- Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài còn sử các phương pháp cụ thể sau:
- Một là, phương pháp phân tích, được vận dụng để phân tích, đánh giá thực trạng của vấn đề, nguyên nhân của những tồn tại hạn chế, sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền.
- Hai là, phương pháp tổng hợp được vận dụng để tổng hợp thông tin, tư liệu viết luận văn khoa học.
- Ba là, phương pháp hệ thống, được vận dụng để nghiên cứu hệ thống
văn bản quy định, hướng dẫn các hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền; xây dựng bố cục của của luận văn.

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận
Đề tài là sản phẩm phản ánh thực trạng áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền trên địa bàn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre. Trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng công tác khám chữa bệnh Y học cổ truyền, phục vụ yêu cầu phát triển của khu vực nói riêng và của đất nước nói chung.
- Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài còn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo, áp dụng để tổ chức các hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền tại tỉnh, khác. Ngoài ra còn có thể dùng làm tài liệu giảng dạy, học tập, tham khảo, nghiên cứu của giảng viên, sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp có đào tạo ngành Y – Dược hoặc liên quan đến hoạt động Y tế.
Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 03 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý của áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền.
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền từ thực tiễn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khám chữa bệnh Y học cổ truyền từ thực tiễn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ
CỦA ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ KHÁM CHỮA BỆNH Y HỌC CỔ TRUYỀN
bệnh
- Khái niệm, đặc điểm và vai trò áp dụng pháp luật về khám chữa
- Một số khái niệm
- Khái niệm, đặc điểm và vai trò áp dụng pháp luật về khám chữa
Trong thời kì nguyên thủy, do khoa học chưa phát triển, con người bất lực
trước sức mạnh của thiên nhiên, họ cho rằng bệnh là sự trừng phạt của các thế lực siêu nhiên (ma, thánh, trời…). Vì vậy, người nguyên thủy chữa bệnh bằng cách dâng cúng các lễ vật để cầu xin hoặc dùng bùa,…Tuy nhiên, thời gian này người nguyên thủy cũng đã biết dùng thảo dược để chữa một số bệnh. Đến thời kì cổ đại xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về bệnh. Y học Trung Quốc cho rằng bệnh là do rối loạn âm dương, có thay đổi quy luật tương sinh, tương khắc của ngũ hành, Y học Ai Cập quan niệm rằng sự sống là do chất khí, và hô hấp là do thu chất khí vào cơ thể, khi chất khí trong sạch thì khỏe mạnh, chất khí dơ bẩn thì sinh ốm đau, bệnh tật.
Thời kì trung cổ, các thầy dòng, cha cố quan niệm bệnh là sự trừng phạt của đấng tối cao đối với những tội lỗi mà con người đã gây ra. Thời phục hưng (thế kỉ XVI – XVII) xã hội thoát khỏi thần quyền, y học cùng với các ngành khoa học khác như thiên văn học, toán học… đã đem đến cho y học quan niệm khác về bệnh, bệnh là một rối loạn hóa học trong cơ thể. Thế kỉ XVIII – XIX là thời kì phát triển của y học hiện đại với sự xuất hiện của nhiều quan niệm về bệnh dựa trên các học thuyết nổi tiếng như học thuyết bệnh lý tế bào của Wirchow (nguyên nhân của bệnh là tổn thương ở tế bào) và học thuyết rối loạn hằng định nội môi của Claud Benard (bệnh là do rối loạn hoặc tan vỡ cơ chế điều hòa của cơ thể sống trước sự thay đổi của ngoại cảnh). Thế kỉ XX là thế kỉ của điện tử, của các chất cao phân tử, của sinh học. Vì thế khái niệm về bệnh
cũng rất mới so với các thế kỷ trước. Các nhà y học định nghĩa về bệnh và khám, chữa bệnh như sau:
Bệnh là bất kì sự sai lệch hoặc tổn thương nào về cấu trúc và chức năng của bất kì cơ quan, bộ phận, hệ thống nào của cơ thể biểu hiện bằng một triệu chứng đặc hiệu giúp cho thầy thuốc có thể chuẩn đoán xác định và chuẩn đoán phân biệt, mặc dù nhiều khi chưa rõ nguyên nhân, bệnh lý học và tiên lượng. [35].
Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận [11]. Quy trình thực hiện khám bệnh bắt đầu là hỏi, nhìn, sờ, gõ, nghe trong Y học hiện đại (Tây y) hoặc Tứ chẩn là Vọng chẩn (nhìn), Văn chẩn (nghe), Vấn chẩn (hỏi) và Thiết chẩn (sờ nắn, bắt mạch) trong Y học cổ truyền. Một khi đã có chẩn đoán sơ bộ từ việc thăm khám lâm sàng nói trên, bác sĩ có thể quyết định điều trị ngay hoặc đề nghị một số xét nghiệm cận lâm sàng khác để xác định chẩn đoán hoặc loại trừ chẩn đoán. Các xét nghiệm cận lâm sàng thường được dùng trong chẩn đoán là huyết học, sinh hóa, hình ảnh học, vi sinh vật học, tế bào học, giải phẫu bệnh, thăm dò chức năng và có thể là các xét nghiệm cao cấp hơn như di truyền học. Các tư liệu về lâm sàng và cận lâm sàng được lưu giữ trong bệnh án của người bệnh góp phần vào chẩn đoán và theo dõi điều trị. [36].
Như vậy, hiểu một cách đơn giản: khám bệnh là việc xem xét tình trạng cơ thể người bệnh để nghiên cứu triệu chứng mà đoán bệnh và định cách điều trị. Khám bệnh liên quan trực tiếp đến sức khỏe, vốn quý nhất của con người nên nó mang đặc điểm sau đây:
Một là, khám bệnh là một công tác khoa học: ngoài kiến thức y học mà tất cả các thầy thuốc bắt buộc phải có đầy đủ, còn phải có một quan niệm biện chứng con người là một khối thống nhất trong đó mỗi bộ phận đều có liên quan hữu cơ với nhau, vì thế không chỉ khám đơn độc bộ phận có bệnh mà luôn luôn phải khám toàn bộ cơ thể.
Hai là, khám bệnh là một công tác kỹ thuật: khám bệnh phải theo đúng quy tắc khám và kỹ thuật khám mới phát hiện được đúng triệu chứng (ví dụ: khi nghe các tiếng không bình thường ở tim, ở phổi, khi sờ lá lách hoặc gan mấp mé bờ sườn, hoặc khi gõ phản xạ gân…)
Theo các nhà y học thì chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh. Ngày nay mặc dù sự tiến bộ và phát triển của các phương pháp cận lâm sàng, vai trò của khám bệnh lâm sàng vẫn quan trọng vì nó cho hướng chẩn đoán để từ đó có các chỉ định làm các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết, tránh tình trạng làm tràn lan hoặc ngược lại không làm những xét nghiệm cần thiết.
Như vậy, có thể hiểu một cách đầy đủ nhất, chữa bệnh là phương pháp điều trị khỏi bệnh hoặc làm giảm bớt đau đớn, khó chịu cho người bệnh. Tại Việt Nam, Y học cổ truyền dân tộc giữ một vị trí quan trọng cùng với y học hiện đại trong chữa bệnh, đặc biệt trong điều trị các bệnh mạn tính, cho các đối tượng người cao tuổi, trẻ em, … Có rất nhiều phương pháp chữa bệnh như: chữa bằng thuốc, bằng ăn uống, bằng tâm lí, vật lí, châm cứu, nước khoáng, bùn khoáng, lao động, thể dục,…
Theo lý thuyết hệ thống thì Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ thống”. Thông thường, quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh…Trên cơ sở đó, có thể hiểu quản lý khám chữa bệnh Y học cổ truyền là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong quá trình tiến hành các hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền nhằm đạt tới mục tiêu đã đặt ra. Như vậy nội hàm khái niệm quản lý khám chữa bệnh Y học cổ truyền được hiểu như sau:
Một là, quản lý khám chữa bệnh Y học cổ truyền là sự tác động giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Trong đó chủ thể quản lý là những tổ chức và cá nhân, những
nhà quản lý cấp trên, còn đối tượng quản lý hay còn gọi là khách thể quản lý là những tổ chức, cá nhân, nhà quản lý cấp dưới, cũng như các tập thể, cá nhân người lao động. Sự tác động trong mối quan hệ quản lý mang tính hai chiều và được thực hiện thông qua các hoạt động tổ chức, lãnh đạo, lập kế hoạch, kiểm tra điều chỉnh…
Hai là, chủ thể quản lý và đối tượng quản lý cấu thành hệ thống quản lý. Một hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền hay một cơ quan nhà nước đều xem như một hệ thống với hai phân hệ chủ yếu: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý. Trong nhiều trường hợp mỗi phân hệ có thể được coi như một hệ thống phức tạp.
Ba là, quản lý khám chữa bệnh Y học cổ truyền là quá trình lựa chọn và thiết kế hệ thống chức năng, nguyên tắc, phương pháp, cơ chế, công cụ, cơ cấu tổ chức, đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và bảo đảm nguồn lực thông tin, vật chất cho các quyết định quản lý được thực thi.
Bốn là, mục tiêu của quản lý khám chữa bệnh Y học cổ truyền là huy động tối đa các nguồn lực, mà trước hết là nguồn lực lao động và sử dụng hiệu quả để phát triển kinh tế phục vụ lợi ích con người.
Áp dụng pháp luật là sự chỉ huy, điều hành xã hội của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. Áp dụng pháp luật là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước. Đó chính là hoạt động quản lý gắn liền với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước-bộ phận quan trọng của quyền lực chính trị trong xã hội, có tính chất cưỡng chế đơn phương đối với xã hội. Áp dụng pháp luật được hiểu trước hết là hoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước thực thi quyền lực nhà nước. [11].
Từ những phân tích trên có thể đi đến kết luận “Áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền là sự chỉ huy, điều hành hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền của các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp và tư pháp) để thực thi quyền lực nhà nước, thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn
của nhà nước”
Áp dụng pháp luật khám chữa bệnh Y học cổ truyền là dạng quản lý mà trong đó, chủ thể quản lý chính là nhà nước. Đó là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước bộ máy hành chính nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người trong lĩnh vực hoạt động y tế. Quản lý là sự tác động có định hướng và tổ chức của chủ thể quản lý lên một đối tượng quản lý bằng các phương thức nhất định để đạt tới những mục tiêu nhất định.
Đặc điểm của áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền
Thứ nhất, áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước.
Quyền lực nhà nước trong quản lý khám chữa bệnh Y học cổ truyền trước hết thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng là văn bản quản lý hành chính nhà nước. Bằng việc ban hành văn bản, chủ thể quản lý hành chính nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách pháp luật nhằm định hướng cho hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật; dưới dạng quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước và của cấp trên thành những quy định chi tiết để có thể triển khai thực hiện trong thực tiễn; dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia; dưới những dạng mệnh lệnh chỉ đạo cấp dưới trong hoạt động, nhằm tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn; dưới dạng những thông tin hướng dẫn đối lập với cấp dưới nhằm đảm bảo sự thống nhất, có hệ thống của bộ máy hành chính nhà nước.
Bên cạnh đó, quyền lực nhà nước còn thể hiện trong việc các chủ thể có thẩm quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo đảm thực hiện ý chí nhà nước, như các biện pháp về tổ chức, về kinh tế, tuyên truyền giáo dục, thuyết phục cưỡng chế… Chính những biện pháp này là sự thể hiện tập trung và rõ nét
của sức mạnh nhà nước, một bộ phận tạo nên quyền lực nhà nước, nhờ đó ý chí của chủ thể quản lý hành chính nhà nước được bảo đảm thực hiện.
Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt hoạt động quản lý hành chính với những hoạt động quản lý không mang tính quyền lực nhà nước, nhu quản lý trong nội bộ của các đảng phái chính trị, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp… Trong các hoạt động quản lý phi nhà nước, quyền lực cũng được sử dụng nhưng không phải là quyền lực nhà nước, chỉ tác động trong nội bộ tổ chức, nhằm đạt mục tiêu của tổ chức trong khuôn khổ pháp luật; các chủ thể quản lý cũng thể hiện ý chí và sử dụng sức mạnh của mình để bảo đảm thực hiện ý chí đó, tuy nhiên họ chỉ nhân danh cá nhân hay tổ chức mình mà không nhân danh nhà nước.
Thứ hai, áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có quyền năng hành pháp.
Cách hiểu phổ biến hiện nay thì nhà nước có ba quyền năng: lập pháp, hành pháp và tư pháp.Trong đó, quyền năng hành pháp trước hết và chủ yếu thuộc về các cơ quan hành chính nhà nước, tuy nhiên trong rất nhiều hoạt động khác như: việc ổn định tổ chức nội bộ của các cơ quan nhà nước, hoạt động quản lý được tiến hành bởi các bộ…Trong những trường hợp này quyền năng hành pháp cũng thể hiện rõ nét và nếu xét về bản chất thì tương đồng với hoạt động hành pháp của các cơ quan hành chính nhà nước. Do dó, có thể kết luận chủ thể quản lý hành chính nhà nước là các chủ thể mang quyền lực nhà nước trong lĩnh vực hành pháp, bao gồm: cơ quan hành chính nhà nước và công chức của những cơ quan này; thủ trưởng của các cơ quan nhà nước; các công chức nhà nước, cá nhân hoặc tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền quản lý hành chính đối với một số loại việc nhất định. Và như vậy, quản lý hành chính nhà nước có đối tượng tác động là các quan hệ xã hội phát sinh trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ quan trọng tới ít quan trọng, từ phổ biến tới cá biệt, phát sinh trong đời sống dân cư, đời sống pháp luật và trong nội bộ của các cơ quan nhà nước. Trong khi đó hoạt động lập pháp, tư pháp chỉ phát sinh trong phạm vi
tương đối hẹp, có đối tượng tác động là những quan hệ xã hội quan trọng.
Thứ ba, áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ.
Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động hành pháp, bộ máy các cơ quan hành pháp được tổ chức thành một khối thống nhất từ Trung ương tới địa phương, đứng đầu là Chính phủ, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả, tránh được sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau. Tuy nhiên, do mỗi địa phương đều có những nét đặc thù riêng về điều kiện kinh tế – xã hội, nên để có thể phát huy tối đa những yếu tố của từng địa phương, tạo sự năng động sáng tạo trong quản lý điều hành, bộ máy hành chính còn được tổ chức theo hướng phân cáp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động sáng tạo cho chính quyền địa phương.
Để cùng lúc đạt được hai mục đích này, nguyên tắc “ hai chiều lệ thuộc” được sử dụng như một giải pháp hữu hiệu trong việc tổ chức bộ máy hành chính nhà nước. Theo đó, loại trừ Chính phủ là cơ quan đứng đầu bộ máy hành chính nhà thì mỗi cơ quan khác trong bộ máy này đều lệ thuộc vào hai cơ quan: một cơ quan theo chiều dọc để đảm bảo sự thống nhất của bộ máy; một cơ quan theo chiều ngang để đảm bảo sự chủ động của mỗi cấp quản lý. Vấn đề căn bản được đặt ra trong việc tổ chức bộ máy hành chính nhà nước là xác định hợp lý thẩm quyền của mỗi cấp quản lý, vừa tránh được sự chồng chéo chức năng, vừa không bỏ lọt những lĩnh vực cần quản lý; vừa bảo đảm sự điều hành xuyên suốt, thống nhất trong bộ máy, vừa tạo ra được sự chủ động, sáng tạo của mỗi cấp quản lý, có như vậy mới vừa bảo đảm thống nhất lợi ích chung của nhà nước, vừa đảm bảo lợi ích của từng địa phương.
Thứ tư, hoạt động áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền có tính chấp hành và điều hành.
Tính chấp hành và điều hành của hoạt động áp dụng pháp luật thể hiện
trong việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng tạo của chủ thể quản lý thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn…, trên cơ sở quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật. Tính điều hành của hoạt động quản lý hành chính nhà nước thể hiện trong việc chủ thể có thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội. Trong quá trình đó, các chủ thể này, không chỉ tự mình thực hiện pháp luật mà quan trọng hơn cả chúng đảm nhận chức năng chi đạo nhằm vận hành hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo một quy trình thống nhất; tổ chức để mọi đối tượng có liên quan thực hiện pháp luật nhằm hiện thực hóa các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ quản lý.
Như vậy, trong mỗi hoạt động quản lý hành chính nhà nước, tính chấp hành và tính điều hành luôn đan xen, song song tồn tại, tạo nên sự đặc thù của hoạt động quản lý hành chính nhà nước, nhờ đó có thể phân biệt với hoạt động lập pháp và tư pháp: trong lập pháp, chấp hành là để xây dựng pháp luật làm cho pháp luật ngày càng hoàn thiện hơn; trong tư pháp, chấp hành là để bảo vệ pháp luật tránh khỏi sự xâm hại; còn trong quản lý hành chính, chấp hành là để tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội.
Thứ năm, áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền là hoạt động mang tính liên tục.
Khác với hoạt động lập pháp và tư pháp, quản lý hành chính nhà nước luôn cần có tính liên tục, kịp thời và linh hoạt để đáp ứng sự vận động không ngừng của đời sống xã hội. Chính điểm đặc thù này được coi là một cơ sở quan trọng trong việc xác lập quy định về tổ chức và hoạt động, quy chế công chức, công vụ của bộ máy hành chính nhà nước; tạo ra bộ máy hành chính gọn nhẹ, có sự linh hoạt trong tổ chức, có đội ngũ công chức năng động sáng tạo, quyết đoán và chịu sự ràng buộc trách nhiệm đối với hoạt động của mình. Tính tất yếu của sự hình thành và phát triển hoạt động khám, chữa bệnh
Con người là nguồn tài nguyên quan trọng nhất quyết định sự phát triển của đất nước, trong đó Sức khỏe là vốn quý nhất của con người và toàn xã hội, đây cũng là niềm hạnh phúc nhất của mỗi người, mỗi gia đình.Vì vậy đầu tư cho Sức khỏe chính là sự đầu tư cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống cho mỗi cá nhân và mỗi gia đình.
Đã từ lâu, con người đã nhận thức được qui luật diễn biến tình trạng sức khỏe trải qua các giai đoạn khác nhau: khỏe mạnh, ốm đau, tàn tật, tử vong.
Trong những hoàn cảnh nhất định, nhiều người có thể hy sinh sự sống của mình vì người khác, vì cộng đồng, cũng có những người tự tìm đến cái chết do bệnh tâm thần hoặc bế tắc trong cuộc sống nhưng về cơ bản, con người tham sống sợ chết. Một khi bị ốm đau, tai nạn, rủi ro… dù nhẹ hay nặng đều cũng có ảnh hưởng đến tinh thần người bệnh, các hiện tượng tâm lý bị ảnh hưởng do đó người bệnh thường lo âu, buồn phiền, nhân cách bị thay đổi, trở nên khó tính… Tuy bệnh diễn ra trong cơ thể người bệnh nhưng người bệnh lại không hiểu nguyên nhân cũng như cách điều trị nên cần sự hỗ trợ của người khác – người am hiểu về bệnh đang diễn ra trong cơ thể họ và có khả năng cứu sống họ, giúp họ phục hồi sức khỏe như cũ, không bị di chứng gây nên tàn tật…
Mỗi chúng ta đều bị tác động tác của rất nhiều yếu tố của môi trường bên trong và bên ngoài, tự nhiên và xã hội. Dưới sự tác động đó tùy vào thể trạng, sự thích nghi của mỗi người mà có hay không có tình trạng bệnh tật xảy ra.Chính nhu cầu cần được chăm sóc sức khỏe như thế dẫn đến sự ra đời của Ngành Y tế và những người chuyên làm công tác khám chữa bệnh Y học cổ truyền.
Trong tình hình kinh tế – xã hội và nền khoa học kỹ thuật càng phát triển thì bệnh tật cũng ngày gia tăng. Một trong những nguyên nhân chính là do thức ăn của con người ngày càng xa rời tự nhiên như sử dụng hoá chất, chất kích thích, chất phụ gia, thực phẩm bẩn, thực phẩm không rõ nguồn gốc, trực tiếp cũng như gián tiếp trong thực phẩm hàng ngày, nhất là đối với ngành chế biến thịt, kỹ nghệ chăn nuôi gia súc với nhiều mục đích lợi nhuận kinh tế khác nhau đã đưa đến cho nhân loại nhiều chứng bệnh nan y, bệnh ung thư… gia tăng ngày càng khốc liệt.
Bên cạnh đó là những tác nhân gây ô nhiễm môi trường, thay đổi khí hậu toàn cầu, đã gián tiếp gây các thiên tai, đại họa, đại dịch cho con người. Do đó, lĩnh vực y tế nói chung, khám chữa bệnh Y học cổ truyền nói riêng ngày càng khẳng định được tầm quan trọng của mình trong công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Thông qua sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta, hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền ngày càng phát triển và góp phần đáng kể vào sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân
Vai trò áp dụng pháp luật về công tác khám, chữa bệnh
Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức, điều hành các hoạt động dựa trên những quy luật khách quan nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định.
Từ khi xuất hiện thì phần lớn các công việc của xã hội do nhà nước quản lý, nhà nước điều chỉnh các quan hệ xã hội được xem là quan trọng và cần thiết. Phù hợp với quan niệm như vậy, áp dụng pháp luật được hiểu theo hai nghĩa rộng và hẹp.
Theo nghĩa rộng, áp dụng pháp luật là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước đối với xã hội và hành vi con người, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Còn theo nghĩa hẹp, áp dụng pháp luật đồng nghĩa với quản lý hành chính nhà nước, được xem là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ áp dụng pháp luật. Cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật trong từng giai đoạn lịch sử thì áp dụng pháp luật cũng được hình thành và giữ vai trò tất yếu cho sự tiếp tục phát triển của xã hội đến ngày nay.
Thứ nhất, quản lý là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống xã hội, xã hội phát triển càng cao thì vai trò của việc quản lý ngày càng quan trọng và sự hoàn thiện hơn phù hợp với thực tiễn, phạm vi quản lý ngày càng lớn và nội dung ngày càng đa dạng, phức tạp thì áp dụng pháp luật về khám, chữa bệnh góp
phần quản lý hoạt động khám, chữa bệnh đi vào nề nếp, ổn định đồng thời cung cấp được những dịch vụ khám, chữa bệnh tốt nhất đến người dân.
Thứ hai, áp dụng pháp luật về khám, chữa bệnh ngày càng hướng đến sự hài lòng, đáp ứng nhu cầu kỹ thuật cao nhằm mục đích tối ưu phục vụ tôt người bệnh. Giảm thiểu được những rủi ro mà người bệnh gánh chịu trong quá trình điều trị khám, chữa bệnh.
Thứ ba, áp dụng pháp luật về khám, chữa bệnh trong xã hội hiện đại ngày nay, khám chữa bệnh Y học cổ truyền là một hoạt động rất phổ biến và ngày càng phát triển. Bên cạnh đó, hoạt động này cũng đã và đang phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc cần phải giải quyết. Để duy trì và phát triển hoạt động này đạt được mục tiêu và yêu cầu nhất định thì vai trò áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước là rất quan trọng.
Tóm lại, áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền là việc Nhà nước thực hiện quyền áp dụng pháp luật của mình chủ yếu bằng các quy định của pháp luật để điều chỉnh toàn bộ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, nhằm duy trì và phát triển hoạt động này đạt được mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
Trong khi đó, khu vực y tế nhà nước ngày càng trở nên bất cập trong việc đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh Y học cổ truyền của nhân dân về số lượng và chất lượng. Thực hiện chủ trương nền kinh tế nhiều thành phần, Nhà nước ta đã cho phép y tế tư nhân tham gia ngày càng nhiều trong lĩnh vực khám chữa bệnh Y học cổ truyền để chia sẻ gánh nặng với y tế Nhà nước. Đây là một kênh đầy tiềm năng về vốn cho y tế cần được khai thác nhưng trên thực tế cũng đã phát sinh nhiều bất cập. Do vậy, vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực y tế không còn đơn thuần như trước kia (duy nhất cung cấp và quản lý dịch vụ chăm sóc sức khỏe) mà chuyển dần sang mảng điều tiết, giám sát hoạt động của cả hệ thống y tế.
Nhà nước có đầy đủ những công cụ, kỹ thuật và đội ngũ nhân lực sẽ từng bước khắc phục được những hạn chế, phát huy được những thế mạnh, nhằm đảm bảo mọi hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền phát triển phù hợp với định hướng của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần phát huy nguồn lực con người, xây
dựng một đất nước giàu có, vững mạnh.
Nội dung, phương thức của áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền
Nội dung của áp dụng pháp luật về khám, chữa bệnh
Theo Điều 5, Luật Khám bệnh, chữa bệnh do Quốc hội thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2009 quy định trách nhiệm áp dụng pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh như sau:
- Chính phủ thống nhất áp dụng pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh. Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện áp dụng pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Xây dựng và ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật về khám bệnh, chữa bệnh; chiến lược phát triển, quy hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
- Chỉ đạo hướng dẫn, tuyên truyền và tổ chức triển khai thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh; chiến lược phát triển, quy hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
- Quản lý thống nhất việc cấp, cấp lại, thu hồi chứng chỉ hành nghề và giấy phép hoạt động;
- Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về người hành nghề và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh;
- Tổ chức đào tạo, đào tạo liên tục, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực; hướng dẫn việc luân phiên người hành nghề; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong khám bệnh, chữa bệnh;
- Thực hiện hợp tác quốc tế về khám bệnh, chữa bệnh; thừa nhận chứng chỉ hành nghề giữa các nước; hướng dẫn khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo; hợp tác chuyên gia, chuyển giao kỹ thuật và phương pháp chữa bệnh mới.
- Bộ Quốc phòng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ chức
thực hiện và hướng dẫn việc khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý theo quy định của Luật này và phù hợp với điều kiện thực tế của quân đội.
- Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Y tế thực hiện áp dụng pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.
- Ủy ban nhân dân tỉnh, trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện áp dụng pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi địa phương.
Trong bối cảnh phát triển và hội nhập quốc tế hiện nay, trước những đòi hỏi của thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội, hệ thống pháp luật về y tế ở nước ta đã không ngừng được hoàn thiện các chính sách của Đảng trong lĩnh vực khám chữa bệnh Y học cổ truyền, thời gian qua Nhà nước ta đã ban hành một loạt các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, chế độ chăm sóc sức khỏe được chính thức thừa nhận trong Hiến pháp năm 1959 và tiếp tục được thừa nhận ở các bản Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001). Hiện nay, quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ được quy định tại Điều 61, Hiến pháp 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) “Công dân có quyền được hưởng chế độ bảo vệ sức khoẻ.
Thứ hai, Nhà nước quy định chế độ viện phí, chế độ miễn, giảm viện phí”. Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, Nhà nước ta đã ban hành Luật Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân 1989. Đây là đạo luật đầu tiên điều chỉnh công tác y tế của nước ta, đã tạo cơ sở pháp lý hết sức quan trọng cho mọi hoạt động của ngành y tế nói riêng và của toàn xã hội nói chung trong sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân.
Thứ ba, về vấn đề khám bệnh chữa bệnh đã được quy định tại các Luật, Pháp lệnh chuyên sâu như: Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân ngày 25/02/2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về hành nghề y tư nhân (nay đã hết hiệu lực); Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến,
lấy xác ngày 29/11/2006. Đặc biệt Luật Khám bệnh, chữa bệnh ngày 23/11/2009 ra đời đã thể chế hóa các quy định trong hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền, tạo hành lang pháp lý khá đầy đủ cho hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền của các tổ chức, cá nhân, góp phần vào sự phát triển của công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, là một dấu ấn quan trọng trong lịch sử ngành y tế.
Thứ tư, các văn bản hướng dẫn cũng đã được ban hành góp phần đưa quy định của luật vào thực tiễn: Nghị định 96/2011/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính về khám bệnh, chữa bệnh, Thông tư 41/2011/TT-BYT của Bộ Y tế về việc hướng dẫn cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.Nghị định 87/2011/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều Luật khám bệnh, chữa bệnh, Nghị định 102/2011/NĐ-CP quy định về bảo hiểm trách nhiệm trong khám, chữa bệnh đối với cơ sở y tế. Bên cạnh đó phải kể đến văn bản quan trọng của Quốc hội trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe nhân dân là Nghị quyết 18/2008/QH12 về đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật xã hội hóa để nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân.Trong Nghị quyết, Quốc hội đã giao cho Chính phủ một số nhiệm vụ cơ bản nhằm đẩy mạnh thực hiện chính sách, pháp luật xã hội hóa để nâng cao chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Công tác khám chữa bệnh Y học cổ truyền ngày nay đã được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm cụ thể là các quan điểm, chính sách của Đảng về khám chữa bệnh Y học cổ truyền được quy định rõ tại Điều 4 của Luật Khám bệnh, chữa bệnh. Có thể nói đây là cơ sở pháp lý quan trọng để Nhà nước ta tiếp tục triển khai trong các văn bản dưới luật, góp phần đưa chính sách của Đảng đi vào thực tế và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh Y học cổ truyền nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân.
Theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh quy định chức năng, nhiệm vụ của Bộ Y tế tham mưu giúp Chính phủ thực hiện chức năng áp dụng pháp luật về chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân gồm: Y tế dự phòng, khám, chữa bệnh; phục hồi chức năng; y dược cổ truyền; thuốc phòng bệnh;
chữa bệnh cho người; mỹ phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm; trang thiết bị y tế; dân số; bảo hiểm y tế; đồng thời hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ y tế.
Đồng thời cũng quy định quyền và nghĩa vụ của người bệnh, người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; điều kiện đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; quy định chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh; áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh, chữa bện; sai sót chuyên môn kỹ thuật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp trong khám bệnh, chữa bệnh; điều kiện bảo đảm công tác khám bệnh, chữa bệnh.
Người bệnh có quyền được khám bệnh, chữa bệnh có chất lượng phù hợp với điều kiện thực tế: Được tư vấn, giải thích về tình trạng sức khỏe, phương pháp điều trị và dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với bệnh; Được tôn trọng bí mật riêng tư; Được tôn trọng danh dự, bảo vệ sức khỏe trong khám bệnh, chữa bệnh; được từ chối chữa bệnh và ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (Được ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi chưa kết thúc điều trị nhưng phải cam kết tự chịu trách nhiệm bằng văn bản về việc ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trái với chỉ định của người hành nghề, trừ trường hợp bắt buộc chữa bệnh theo quy định của pháp luật)
Người bệnh có nghĩa vụ tôn trọng và không được có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, sức khỏe, tính mạng của người hành nghề khám, chữa bệnh và nhân viên y tế khác; chấp hành các quy định trong khám bệnh, chữa bệnh; chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh (Người bệnh có trách nhiệm chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh, trừ trường hợp được miễn, giảm theo quy định của pháp luật. Trường hợp người bệnh tham gia bảo hiểm y tế thì việc thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.)
Người hành nghề có quyền được hành nghề theo đúng phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trong chứng chỉ hành nghề. Quyền từ chối khám bệnh, chữa
bệnh nếu trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh mà tiên lượng bệnh vượt quá khả năng hoặc trái với phạm vi hoạt động chuyên môn của mình, nhưng phải báo cáo với người có thẩm quyền hoặc giới thiệu người bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác để giải quyết. Trong trường hợp này, người hành nghề vẫn phải thực hiện việc sơ cứu, cấp cứu, theo dõi, chăm sóc, điều trị người bệnh cho đến khi người bệnh được chuyển đi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác …..
Người hành nghề có quyền được nâng cao năng lực chuyên môn; được bảo vệ khi xảy ra tai biến đối với người bệnh; được bảo đảm an toàn khi hành nghề.
Người hành nghề có nghĩa vụ đối với người bệnh: Kịp thời sơ cứu, cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh cho người bệnh, trừ trường hợp trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh mà tiên lượng bệnh vượt quá khả năng hoặc trái với phạm vi hoạt động chuyên môn của mình. Được từ chối khám bệnh, chữa bệnh nếu việc khám bệnh, chữa bệnh đó trái với quy định của pháp luật hoặc đạo đức nghề nghiệp. Tôn trọng các quyền của người bệnh, có thái độ ân cần, hoà nhã với người bệnh. Đối xử bình đẳng với người bệnh, không để lợi ích cá nhân hay sự phân biệt đối xử ảnh hưởng đến quyết định chuyên môn của mình. Chỉ được yêu cầu người bệnh thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh đã niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có quyền thực hiện các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật khám bệnh, chữa bệnh. Được thu các khoản chi phí khám bệnh, chữa bệnhtheo quy định của pháp luật. Được hưởng chế độ ưu đãi khi thực hiện các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật.
Trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh: Tổ chức việc cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh kịp thời cho người bệnh. Thực hiện quy định về chuyên môn kỹ thuật và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Công khai thời gian làm việc, niêm yết giá dịch vụ và thu theo đúng giá đã niêm yết….
Phương thức áp dụng pháp luật trong lĩnh vực khám, chữa bệnh
Một là, xây dựng, ban hành chiến lược, chương trình quốc gia, kế hoạch hằng năm giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế. Trong đó tập trung xây dựng, ban hành hệ thống văn bản quản lý khám chữa bệnh Y học cổ truyền; các chính sách về y tế. “Chính sách công là một chuỗi các quyết định hoạt động của Nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề đặt ra trong đời sống kinh tế – xã hội theo mục tiêu xác định” và xây dựng, ban hành kế hoạch về y tế.
Hiện nay, hệ thống pháp luật về y tế gồm 1137 văn bản quy phạm pháp luật trực tiếp và gián tiếp điều chỉnh các hoạt động y tế. Như vậy,Ngành Y tế đã có được một hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh để điều chỉnh các quan hệ xã hội nảy sinh liên quan đến lĩnh vực y tế như: Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989, Luật Dược năm 2005, Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) năm 2006, Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, Luật Bảo hiểm Y tế năm 2008, ngày 23 tháng 11 năm 2009, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Luật Khám bệnh, chữa bệnh Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2011, Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm y tế năm 2014 cùng hàng loạt các VBQPPL khác hướng dẫn thi hành các luật, pháp lệnh trên.
Trong lĩnh vực y tế, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành khá nhiều chiến lược như: Chiến lược quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn đến năm 2030, Chiến lược Dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2020.. Đây là các chiến lược mang tính tổng thể về Ngành Y tế. Tuy nhiên, trong từng lĩnh vực, Thủ tướng Chính phủ lại ban hành các chiến lược riêng như Chiến lược quốc gia về phát triển ngành dược giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, Chiến lược về Chăm sóc sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 và một số chiến lược khác. Như vậy, việc ban hành các chiến lược trên dẫn đến chồng chéo về mục tiêu, giải pháp và làm cho
việc triển khai thực hiện bị phân tán.
Bên cạnh đó, về quy hoạch, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 nhưng sau đó lại chuẩn bị có thêm quy hoạch khác như Quy hoạch phát triển 5 bệnh viện tuyến Trung ương… dẫn đến tính thống nhất của hệ thống quy hoạch bị thay đổi. Mặt khác, một số địa phương cũng không tuân thủ đúng quy hoạch này làm cho công tác quy hoạch bị ảnh hưởng.
Về chương trình mục tiêu quốc gia, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Dân số – Kế hoạch hóa gia đình giai đoạn 2012- 2015, Chương trình mục tiêu y tế quốc gia, Chương trình mục tiêu quốc gia vệ sinh an toàn thực phẩm; Chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống HIV/AIDS giai đoạn 2012-2015. Các chương trình mục tiêu quốc gia đã góp phần tăng thêm nguồn kinh phí cho việc thực hiện các mục tiêu trọng điểm về y tế mà Nhà nước cần giải quyết nhưng theo Kế hoạch cải cách tài chính công đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì dần dần Nhà nước sẽ cắt bỏ khoản chi này vì việc thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trên thường dễ làm cho các địa phương ỷ lại vào nguồn tài chính từ Trung ương mà không chịu đầu tư cho y tế từ ngân sách của tỉnh.
Hai là, Nhà nước là nòng cốt, kết hợp xã hội hóa trong giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.
Hoạt động y tế là một trong những hoạt động thể hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta nên Nhà nước phải giữ vai trò nòng cốt trong việc định hướng cũng như thực thi các chính sách, pháp luật về y tế. Để thể hiện vai trò nòng cốt này, Nhà nước đã tập trung ngân sách trong khả năng có thể cho lĩnh vực y tế để chi cho phát triển hệ thống y tế công, trong đó có xây dựng cơ bản, trang thiết bị, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực y tế. Tuy nhiên, do ngân sách không đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành y tế nên Nhà nước đã thực hiện chủ trưởng xã hội hóa công tác y tế nhằm huy động các nguồn lực của xã hội tham gia, đặc biệt là đầu tư vào lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh. Thực
hiện Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao, tới nay, hầu hết các bệnh viện công lập sẽ được chuyển sang hoạt động theo cơ chế cung ứng dịch vụ, cơ chế tự chủ cung ứng dịch vụ công ích, không bao cấp tràn lan và không nhằm mục đích lợi nhuận, đồng thời phát triển mạnh các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân, trong đó có phát triển các bệnh viện tư nhân. Việc xã hội hóa này đã tác động gián tiếp đến hành vi của các đối tượng quản lý thông qua việc sử dụng những đòn bẩy kinh tế tác động đến lợi ích của con người nhằm tạo điều kiện vật chất thuận lợi cho hoạt động có hiệu quả của đối tượng quản lý phát huy năng lực sáng tạo, chọn cách tốt nhất để hoàn thành nhiệm vụ. Rõ ràng, chủ trương này chủ yếu dựa vào các lợi ích vật chất, các đòn bẩy kinh tế để dung hoà các lợi ích của đội ngũ CCVC y tế, của tập thể và của Nhà nước bằng cách xác lập cơ chế tự chủ tài chính cho các cơ sở KCB công, nâng cao chất lượng, tinh thần thái độ phục vụ người bệnh, phát triển y tế tư nhân, từng bước thực hiện BHYT toàn dân để thúc đẩy việc dành ngân sách y tế chi cho người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và các đối tượng chính sách. Đây là phương pháp cơ bản, là động lực thúc đẩy mọi hoạt động quản lý trong lĩnh vực y tế.
Tuy nhiên, chủ trương xã hội hóa cũng đặt ra nhiều vấn đề cần suy nghĩ như chế độ tự chủ về tài chính đã làm cho một số bệnh viện công lạm dụng kỹ thuật cận lâm sàng, giữ người bệnh… dẫn đến quá tải ở tuyến trên hay liên doanh, liên kết đặt trang thiết bị dẫn đến vấn đề đa sở hữu trong nội bộ bệnh viện, vấn đề minh bạch hóa tài chính công cũng khó xác định. Bên cạnh đó, việc tự chủ về nhân lực cũng ảnh hưởng đến cơ cấu bác sỹ với điều dưỡng viên, kỹ thuật viên. Một số bệnh viện chủ yếu tuyển dụng bác sỹ mà ít tuyển dụng điều dưỡng viên nên vấn đề chăm sóc người bệnh toàn diện cũng bị ảnh hưởng. Mặt khác, xã hội hóa cũng chỉ tập trung nhiều ở khu vực khám bệnh, chữa bệnh mà ít phát huy ở khu vực dự phòng vì lý do lợi nhuận. Một vấn đề nữa cũng được đặt ra là trong lĩnh vực y tế công, các khuyết tật xã hội nảy sinh nhiều hơn so với khu vực tư nhân như vấn đề thái độ phục vụ người bệnh, vấn đề y đức, vấn đề
xây dựng cơ bản, đấu thầu thuốc…
Ba là, Nhà nước là người tổ chức, chịu trách nhiệm cao nhất về chất lượng, hiệu quả giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.
Nhà nước trong bất kỳ thể chế chính trị nào, hình thái tổ chức nào cũng đều là người tổ chức và chịu trách nhiệm cao nhất về chăm sóc sức khỏe cho người dân và Việt Nam cũng vậy. Tuy nhiên, tuy theo mô hình tổ chức nhà nước, vấn đề trách nhiệm thực hiện được phân công khác nhau. Mô hình nhà nước Việt Nam là đơn nhất nên việc phân công trách nhiệm cũng khác nhau. Bộ trưởng Bộ Y tế là tư lệnh ngành nhưng không phải là người chịu trách nhiệm duy nhất về vấn đề chất lượng, hiệu quả của công tác y tế. Do đó, phải thực hiện nguyên tắc “Kết hợp áp dụng pháp luật theo ngành với áp dụng pháp luật theo lãnh thổ”. Xuất phát từ việc phân định chức năng khác nhau giữa chính quyền Trung ương và chính quyền địa phương.Chính quyền địa phương có hai tư cách, đó là người thực hiện quyền làm chủ trực tiếp trong phạm vi địa phương của nhân dân sống và làm việc trên đơn vị hành chính-lãnh thổ, đại biểu cho quyền lợi của nhân dân ở địa phương và một bộ phận của quyền làm chủ trên phạm vi cả nước của nhân dân sống và làm việc trên lãnh thổ, là bộ phận của quyền lực nhà nước thống nhất không phân chia, tức là người đại diện của Nhà nước trung ương ở địa phương. Do đó, chính quyền địa phương vừa phải phục tùng vừa phải làm chủ, tính chủ động sáng tạo rất cao của chính quyền và của nhân dân ở địa phương; vừa phục tùng và bảo đảm lợi ích chung của Nhà nước, vừa bảo đảm lợi ích của địa phương; hai mặt kết hợp hài hòa trên lãnh thổ, trong cùng một thể thống nhất.
Chức năng quản lý của Nhà nước Trung ương là quản lý toàn diện, (thẩm quyền chung của Chính phủ) hoặc ngành, lĩnh vực (thẩm quyền riêng của Bộ) trên phạm vi cả nước. Còn chức năng áp dụng pháp luật của chính quyền địa phương theo thẩm quyền chung là quản lý trên phạm vi đơn vị hành chính – lãnh thổ. Hai loại chức năng đó không tách biệt nhau; không phải Bộ chỉ quản lý theo ngành mà không có trách nhiệm quản lý theo lãnh thổ cũng như không phải
chính quyền địa phương chỉ quản lý theo lãnh thổ tách khỏi quản lý ngành.
Trên cơ sở xác định nội dung áp dụng pháp luật theo ngành, áp dụng pháp luật theo lãnh thổ và phân tích chức năng áp dụng pháp luật về y tế cho thấy nhất thiết phải kết hợp áp dụng pháp luật theo ngành với áp dụng pháp luật theo lãnh thổ. Trên cơ sở phân định rõ ràng chức năng quản lý, các quy định về phân công, phân cấp và xây dựng nội dung, mức độ quản lý theo lãnh thổ; nội dung, mức độ kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ nhằm phát huy cao độ nhất hiệu quả sử dụng nguồn lực của cả nước, của từng vùng kinh tế, từng địa phương trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm thống nhất lợi ích quốc gia và lợi ích từng địa phương trong sự phát triển một cách có lợi nhất những lợi thế của địa phương. Sự kết hợp và thống nhất hai mặt quản lý chủ yếu được thể hiện trên các phương diện như sự tổ chức sự điều hòa, phối hợp các hoạt động y tế trên phạm vi cả nước cũng như trên từng đơn vị hành chính lãnh thổ, nhằm xây dựng và phát triển hệ thống y tế một cách đồng bộ; quản lý công việc chung, lợi ích chung của Nhà nước về sự nghiệp y tế, kết hợp hài hòa lợi ích chung cả nước và lợi ích của từng địa phương; quản lý và phục vụ tốt những tổ chức và hoạt động của các cơ quan y tế trực thuộc Bộ Y tế và các bộ, ngành khác đóng trên trên lãnh thổ để cũng chăm lo cho sức khỏe của nhân dân địa phương và song trùng trách nhiệm áp dụng pháp luật giữa Bộ Y tế với UBND . Sự kết hợp giữa quản lý theo ngành của các cơ quan áp dụng pháp luật ở trung ương và quản lý trên đơn vị hành chính lãnh thổ của chính quyền địa phương về y tế được pháp luật quy định; các cơ quan nhà nước trung ương và địa phương chấp hành không được tùy tiện, thay đổi hay làm trái.
Tuy nhiên, vấn đề ai, tổ chức chịu trách nhiệm cao nhất nếu xảy ra những vấn đề về y tế lại cần phải bàn luận thêm như: Chế độ tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, kỷ luật công chức, viên chức y tế; chế độ tài chính dành cho công tác y tế; tổ chức thi hành pháp luật về y tế
Mô hình hệ thống tổ chức nhà nước hiện nay là phân chia quyền lực giữa trung ương và địa phương theo nguyên tắc song trùng trực thuộc: Các cơ sở y tế
vừa trực thuộc Bộ về quản lý chuyên môn y tế, vừa trực thuộc lãnh đạo địa phương về tổ chức, nhân lực, tài chính…. Mô hình này còn được gọi là mô hình Xô viết (Bộ thì quản lý ngành dọc, địa phương quản lý ngành ngang). Song trùng trực thuộc thì chế độ trách nhiệm phải được xác lập song trùng. Tuy nhiên, trên thực tế, việc xác định trách nhiệm công vụ chưa rõ ràng, cụ thể, minh bạch nên khi có vấn đề xảy ra, việc quy trách nhiệm công vụ không dễ. “Vừa qua, quá bức xúc trước cách quản lý của một giám đốc sở, một Bộ trưởng cũng chỉ làm được một việc duy nhất là “dọa” sẽ đề nghị cách chức. Trong một mô hình như vậy, quy trách nhiệm cho Bộ trưởng không chỉ rất khó khăn, mà còn rất không công bằng”. Như vậy, vấn đề đặt ra là cần thiết phải luật hóa trách nhiệm công vụ để quy trách nhiệm tập thể, cá nhân (Bộ trưởng, Giám đốc Sở, UBND…) một cách cụ thể, rõ ràng, minh bạch trên cơ sở giám sát của nhân dân và các cơ quan chức năng theo mô hình tổ chức nhà nước đã được Hiến định hiện nay.
Bốn là, quản lý theo pháp luật kết hợp thuyết phục, động viên, khuyến khích các chủ thể tham gia giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.
Để xây dựng nền y tế Việt Nam công bằng, hiệu quả và phát triển, đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khoẻ (CSSK) ngày càng đa dạng với chất lượng ngày càng cao của nhân dân đòi hỏi phải tăng cường hiệu lực, hiệu quả của việc QLNN bằng pháp luật, góp phần đưa các hoạt động y tế vào trật tự, kỷ cương, kỷ luật và phát triển ổn định. Bên cạnh việc đưa pháp luật về y tế vào cuộc sống, phải gắn thuyết phục, động viên, khuyến khích các chủ thể tham gia giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.
Phương pháp giáo dục, thuyết phục được áp dụng chủ yếu trên cơ sở đặc thù của ngành y tế là nhân đạo, liên quan trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng con người nên phải đặc biệt coi trọng giáo dục tư tưởng về hành nghề y trên cơ sở y đức, y đạo. Đây là phương pháp luôn được đặt lên hàng đầu, phải làm thường xuyên, liên tục và nghiêm túc. Như đã phân tích về đặc trưng của các hoạt động y tế trên đây, dịch vụ y tế cũng có sự khác biệt so với các dịch vụ, hàng hóa thông thường khác. Người bệnh thường phó mặc sức khỏe, bệnh tật của mình,
tin tưởng vào thầy thuốc và nhân viên y tế, kể cả mua thuốc chữa bệnh. Do đó, cần biểu dương kịp thời các cá nhân, tổ chức có nhiều thành tích xuất sắc, đóng góp cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân bằng các hình thức khen thưởng thích hợp, tạo thành phong trào thi đua trong toàn ngành y tế. Bên cạnh đó, mặt trái của phát triển kinh tế thị trường có nguy cơ làm phai mờ giá trị đạo đức cao quí của người thầy thuốc như tinh thần, thái độ phục vụ người bệnh, nhận tiền hoặc các lợi ích vật chất khác của người bệnh, các hành vi cản trở hoặc gây khó khăn cho người hành nghề y, dược tư nhân… Các hành vi trên đã và đang gây tác hại xấu đến uy tín của ngành y tế hoặc làm tổn hại đến sức khoẻ, tính mạng của người dân. Bởi vậy, để hạn chế những bất cập này, một mặt, các hoạt động y tế cần phải được pháp luật quy định hết sức cụ thể để kiểm soát và ngăn chặn, đưa toàn bộ hoạt động này vào trật tự, kỷ cương, kỷ luật. Mặt khác cần phải không ngừng giáo dục, nâng cao y đức vì nghề y là một nghề đặc biệt, cần được tuyển chọn, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ đặc biệt. Mỗi công chức, viên chức ngành y tế phải không ngừng nâng cao đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn, xứng đáng với sự tin cậy và tôn vinh của xã hội, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Người thầy thuốc giỏi đồng thời phải là người mẹ hiền”.
Năm là, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm; tôn vinh các tập thể, cá nhân có thành tích trong giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế
Kiểm tra việc thực hiện pháp luật về y tế là một biện pháp quan trọng để bảo đảm việc tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, khắc phục, phòng ngừa những vi phạm pháp luật. Kiểm tra nhằm mục đích nhắc nhở, giáo dục cho CCVC Y tế tôn trọng, chấp hành nghiêm chỉnh theo pháp luật; phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong các VBQPPL để đề nghị bổ sung, sửa đổi, phát hiện những hành vi sai lệch trong việc thực hiện pháp luật; có biện pháp uốn nắn, khắc phục và phát hiện những việc làm vi phạm pháp luật; có biện pháp xử lý nghiêm minh, kịp thời; đồng thời phát hiện những điển hình thực hiện pháp luật tốt để động viên, khen thưởng.
Thanh tra là chức năng thiết yếu của cơ quan áp dụng pháp luật nhằm làm tốt công tác quản lý, giúp cho việc thực thi pháp luật được tiến hành một cách có hiệu quả. Việc thanh tra các hoạt động y tế tập trung vào những vấn đề chủ yếu như tiến hành thường xuyên các hoạt động thanh tra chuyên ngành về y tế theo thẩm quyền, tập trung vào các chế độ, quy tắc chuyên môn, kỹ thuật y tế, các thủ tục hành chính trong KCB, các hoạt động của các cơ sở y, dược tư nhân và khi phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật về y tế, cơ quan thanh tra y tế, thanh tra viên y tế và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt phải xử lý nghiêm, kịp thời và công bằng các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động y tế, bảo đảm trật tự, kỷ cương; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan đến y tế.
Các hành vi vi phạm pháp luật gắn với từng loại trách nhiệm pháp lý khác nhau như sau: Tội phạm và trách nhiệm hình sự; vi phạm pháp luật dân sự và trách nhiệm dân sự; vi phạm hành chính và trách nhiệm hành chính; vi phạm kỷ luật và trách nhiệm kỷ luật. Tiếp cận dưới góc độ khoa học quản lý hành chính công nên Luận án này không nghiên cứu vấn đề xử lý trách nhiệm hình sự và xử lý trách nhiệm bồi thường dân sự.
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế là những hành vi do tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về QLNN trong lĩnh vực y tế mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính. Việc xử phạt vi phạm hành chính (XPVPHC) trong lĩnh vực y tế phải dựa trên cơ sở của pháp luật hiện hành về XPVPHC liên quan đến y tế dự phòng, ATTP, KCB, thuốc, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế. Việc XPVPHC trong lĩnh vực y tế phải theo đúng các hành vi vi phạm, hình thức và mức phạt.
Xử lý kỷ luật đối với CCVC là một trong những công cụ, biện pháp quản lý của Nhà nước trong quá trình xây dựng, phát triển và sử dụng đội ngũ CCVC. Việc xử lý kỷ luật đối với CCVC phải bảo đảm theo đúng các hình thức kỷ luật, bảo đảm khách quan, công bằng, nghiêm minh, đúng thời hiệu và theo đúng các
trình tự, thủ tục quy định của pháp luật về CCVC.
Sáu là, tôn vinh các tập thể, cá nhân có thành tích trong giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.
Việc tôn vinh thành tích trong giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế được thể hiện qua các phong trào thi đua yêu nước và khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân. Tuy nhiên, phương thức này cần phải xem xét một cách nghiêm túc vì phần lớn khen thưởng không qua phong trào thi đua và nếu có phát động thi đua thì lại hình thức nên không linh thiêng hóa việc tôn vinh.
Các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng pháp luật về khám, chữa bệnh
Việc nhận thức đầy đủ các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền có ý nghĩa quan trọng trong quá trình áp dụng pháp luật đối với khám chữa bệnh Y học cổ truyền Khám chữa bệnh Y học cổ truyền là một hoạt động xã hội diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi từ những quốc gia lạc hậu, nghèo nàn đến những quốc gia hiện đại, có nền kinh tế phát triển Vì vậy, các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này khác nhau ở những quốc gia khác nhau trong từng thời điểm khác nhau.Đây là cơ sở để nhà nước thực hiện những biện pháp thích hợp để công tác áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền ngày càng phát triển, phục vụ tốt hơn cho nhu cầu của nhân dân. Có thể nêu một vài nhân tố sau:
Một là, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về khám chữa bệnh Y học cổ truyền
Xuất phát từ đặc điểm phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu chăm sóc Sức khỏe của nhân dân trong giai đoạn mới, nghị quyết Trung Ương IV của Ban chấp hành TW Đảng khóa VII về 1 số vấn đề cấp bách trong công tác chăm sóc Sức khỏe nhân dân đã khẳng định quan điểm của Đảng bao gồm:
Thứ nhất, sức khỏe và con người: Con người là nguồn tài nguyên quan trọng nhất quyết định sự phát triển của đất nước, trong đó Sức khỏe là vốn quý nhất của con người và toàn xã hội, đây cũng là niềm hạnh phúc nhất của mỗi người, mỗi gia đình. Vì vậy đầu tư cho sức khỏe chính là sự đầu tư cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống cho mỗi cá
nhân và mỗi gia đình.
Thứ hai, Nhà nước XHCN đảm bảo cho mọi người được Sức khỏe phù hợp với khả năng kinh tế của đất nước, đồng thời có chính sách khám Sức khỏe miễn phí và giảm phí với người có công với nước, người nghèo, người sống ở vùng có nhiều khó khăn và đồng bào dân tộc ít người.
Đây là nhân tố có tính chất quyết định, bao trùm lên các nhân tố còn lại. Thật vậy, hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền ở một quốc gia phải được Nhà nước định hướng, quản lý cho phù hợp với thực tiễn đất nước. Bằng các công cụ quản lý như chủ trương, chính sách pháp luật… Nhà nước sẽ tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý đã đề ra. Vì vậy, các chính sách, pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền đúng đắn, phù hợp với các quy luật khách quan cũng như điều kiện, hoàn cảnh thực tế của đất nước sẽ được mọi người ủng hộ, dễ dàng triển khai trên thực tế làm cho hoạt động này ngày càng phát triển và khi đó công tác áp dụng pháp luật đối với lĩnh vực khám chữa bệnh Y học cổ truyền sẽ hiệu quả hơn.
Hai là, cơ cấu, diễn biến bệnh tật trong cộng đồng; tiến bộ khoa học kĩ thuật về y tế
Cơ cấu, diễn biến bệnh tật luôn biến đổi theo thời gian và theo tình hình phát triển của đất nước. Việc xác định cơ cấu, diễn biến bệnh tật sẽ là cơ sở khoa học giúp cho công tác phòng bệnh, xây dựng kế hoạch cấp cứu và điều trị để giúp hạ thấp tối đa tần suất mắc bệnh và tỉ lệ tử vong. Sự tiến bộ khoa học kỹ thuật mang đến y học những thành tựu rực rỡ, giúp con người chẩn đoán chính xác bệnh và điều trị hiệu quả hơn. Một quốc gia có cơ cấu, diễn biến bệnh tật phức tạp, khoa học kĩ thuật y tế lạc hậu sẽ là gánh nặng cho ngành y tế, ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế đất nước.
Ba là, đặc điểm địa lí, dân cư
Việc phân bố dân cư đóng vai trò quan trọng quyết định bố trí mạng lưới các cơ sở y tế khám chữa bệnh Y học cổ truyền ở một địa phương hay khu vực nào đó. Những vùng có điều kiện địa lí thuận lợi, mật độ dân số cao thường được đầu tư xây dựng mạng lưới cơ sở khám chữa bệnh Y học cổ truyền nhiều hơn, hiện đại hơn nên người dân
được chăm sóc sức khỏe khi ốm đau, bệnh tật cũng sẽ tốt hơn. Cũng vì lý do này khiến cho một số vùng ít được đầu tư về y tế nên khi có nhu cầu người dân phải đi đến các cơ sở khám chữa bệnh Y học cổ truyền ở xa hiện đại hơn gây quá tải, phiền hà, tốn kém, nếu không có điều kiện họ đành chấp nhận sống chung với bệnh tật.
Bốn là, nguồn lực y tế
Nguồn lực y tế nói chung khám chữa bệnh Y học cổ truyền nói riêng bao gồm nhân lực, kinh phí đầu tư y tế, cơ sở vật chất (bao gồm cả thuốc) phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt động chăm sóc sức khỏe. Việc xác định vai trò của các nguồn lực y tế có ý nghĩa quan trọng, trên cơ sở đó có các biện pháp quản lý phù hợp nhằm củng cố, phát huy vai trò các nguồn lực phục vụ cho y tế được tốt hơn.
Nguồn nhân lực (hay nguồn lực con người) là một nguồn lực quan trọng bên cạnh các nguồn lực khác (tài chính, khoa học – công nghệ, tài nguyên thiên nhiên), luôn cần thiết cho mọi sự phát triển. Không như các ngành, lĩnh vực khác muốn phát triển nhanh phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, ngành y hoạt động dựa vào con người là chính, con người đóng vai trò chủ chốt từ khâu phòng bệnh đến khám chữa bệnh Y học cổ truyền. Ngành y tế của một quốc gia muốn phát triển thì phải chú trọng đầu tư nguồn nhân lực y tế không chỉ ở số lượng, trình độ chuyên môn mà ở cả đạo đức nghề nghiệp. Nguồn nhân lực y tế thiếu một trong các yếu tố vừa kể sẽ ảnh hưởng rất lớn toàn bộ hoạt động y tế trong đó có hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền.
Kết luận Chương 1
Hoạt động y tế là một trong những hoạt động thể hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta nên Nhà nước phải giữ vai trò nòng cốt trong việc định hướng cũng như thực thi các chính sách, pháp luật về y tế.. Để thể hiện vai trò nòng cốt này, Nhà nước đã tập trung ngân sách trong khả năng có thể cho lĩnh vực y tế để chi cho phát triển hệ thống y tế công, trong đó có xây dựng cơ bản, trang thiết bị, đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực y tế.. Do vậy, việc tăng cường hiệu quả, hiệu lực của công tác áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền là
tất yếu khách quan của bất kỳ quốc gia có chủ quyền.
Nội dung chương này đã nghiên cứu được những vấn đề lý luận về áp dụng pháp luật về hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền như các khái niệm, phạm trù liên quan về công tác áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền; vai trò của áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền, thể hiện ở việc tạo thuận lợi cho hoạt động chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân, thúc đẩy việc chăm sóc và nâng cao việc khám chữa bệnh Y học cổ truyền góp phần bảo vệ sức khỏe, an sinh xã hội. Bên cạnh đó, thông qua công tác thống kê, cung cấp kịp thời số liệu, thông tin cần thiết để phục vụ công tác quản lý, điều hành của Nhà nước; phân tích các yếu tố, cả về chủ quan lẫn khách quan có tác động, ảnh hưởng sâu sắc đến hiệu quả, hiệu lực áp dụng pháp luật đối với hoạt động khám chữa bệnh Y học cổ truyền.
Những vấn đề trên là những cơ sở lý luận quan trọng, sẽ giúp chúng ta có một góc nhìn toàn diện hơn, khách quan hơn về công tác áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền, để từ đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác này.
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\LUẬN VĂN THẠC SĨ CÁC ĐẠI HỌC KHÁC\KHO SỐ 1\Quy định pháp luật về hoạt động khám bệnh, chữa bệnh Y học cổ truyền – Thực tiễn tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre\THAM KHẢO/ THỰC TIỄN ĐÀ NẴNG
Áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền từ thực tiễn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre Áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền từ thực tiễn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre Áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền từ thực tiễn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre Áp dụng pháp luật về khám chữa bệnh Y học cổ truyền từ thực tiễn Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bến Tre


