Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ

Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ

Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ

1. Tính cấp thiết của đề tài

Giao thông có vai trò quan trọng trong phát triển KT-XH của quốc gia, địa phương. Sau công cuộc đổi mới đất nước, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta luôn dành sự quan tâm rất lớn cho đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông. Tại Đại hội lần thứ XII, XIII của Đảng đã xác định đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại là 01 trong 03 nhiệm vụ đột phá chiến lược. Trong đó, việc phát triển hạ tầng giao thông là định hướng, nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu.

Tam Kỳ là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam, là trung tâm chính trị, hành chính của tỉnh. Trải qua các thời kỳ, thành phố ngày càng mở rộng. Theo đó, hệ thống hạ tầng giao thông được tỉnh, thành phố quan tâm đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển. Đặc biệt, trong những năm gần đây, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần lần thứ XII, XIII; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam lần thứ XXI, XXIII, đầu tư phát triển hạ tầng giao thông trên địa bàn thành phố Tam Kỳ được coi là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong đột phá chiến lược về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Theo đó, các nguồn vốn đã được huy động (ngân sách trung ương, ngân sách tỉnh, ngân sách thành phố) để đầu tư hoàn thiện nhiều tuyến đường giao thông đối ngoại (như: tuyến đường ven biển 129 kết nối 05 địa phương từ sân bay Chu Lai đi Hội An để kết nối đường ven biển Hội An – thành phố Đà Nẵng: Tam Kỳ, Núi Thành, Thăng Bình, Duy Xuyên, Hội An với tổng mức đầu tư 7.129 tỷ đồng; đường Đà Nẵng 451 tỷ đồng…), các trục đường chính đô thị (đường Nguyễn Tất Thành 1.378 tỷ đồng; hoàn thiện đường Phan Châu Trinh 526 tỷ đồng; đường Duy Tân 331 tỷ đồng, đường N10 217 tỷ đồng…), các tuyến giao thông trong khu dân cư, chỉnh trang đô thị (đường bao Nguyễn Hoàng 550 tỷ đồng…), các tuyến ĐH, giao thông nông thôn với tổng vốn đầu tư gần 5.000 tỷ đồng. Nhờ đó, đã góp phần thay đổi diện mạo của thành phố, tạo điều kiện thuận lợi trong việc xúc tiến, thu hút các DAĐT, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Tuy nhiên, công tác QLNN về ĐTXD hệ thống giao thông từ NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ vẫn còn những mặt hạn chế cần được quan tâm như: Quy hoạch hệ thống hạ tầng giao thông và quy hoạch hệ thống hạ tầng kỹ thuật thành phố thiếu đồng bộ; việc huy động các nguồn vốn để đầu tư hạ tầng giao thông của thành phố vẫn còn hạn chế, nhất là nguồn vốn ngân sách thành phố Tam Kỳ, chưa đáp ứng so với yêu cầu phát triển; KHĐT hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn ngân sách thành phố còn manh mún, đầu tư thiếu đồng bộ; công tác quản lý chất lượng công trình còn có những mặt hạn chế, một số công trình đầu tư thiếu tính thẩm mỹ; tiến độ thực hiện một số dự án kéo dài; công tác BTGPMB, hỗ trợ, tái định cư còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc; tiến độ giải ngân vốn đầu tư còn chậm…

Do vậy, yêu cầu đặt ra cần thực hiện tốt công tác QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông từ NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ nhằm mang lại hiệu quả KT-XH có ý nghĩa vô cùng quan trọng, càng mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

Với những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn Thạc sỹ, chuyên ngành Quản lý kinh tế.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng để đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

2.2. Mục tiêu cụ thể

– Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận liên quan đến công tác QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN.

– Phân tích, đánh giá thực trạng công tác QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ thời gian qua.

– Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ đến năm 2030.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận về công tác QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN và thực hiện công tác này trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Không gian nghiên cứu: Trên địa bàn thành phố Tam Kỳ.

– Thời gian nghiên cứu: Đề tài tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng trong công tác QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ giai đoạn 2018-2022 và đề xuất các giải pháp cho vấn đề này đến năm 2030.

– Nội dung nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu công tác QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông đường bộ bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ do địa phương quản lý, đầu tư (không bao gồm công tác QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông đường bộ bằng nguồn vốn NSNN do trung ương, tỉnh trực tiếp quản lý, đầu tư).

Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ
Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ

4. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp thu thập dữ liệu

– Thu thập dữ liệu thứ cấp:

+ Các thông tin được thu thập từ UBND, HĐND thành phố Tam Kỳ, Chi cục Thống kê, các phòng, ban chuyên môn thành phố, một số Sở, ban, ngành của tỉnh liên quan.

+ Sử dụng nguồn số liệu thứ cấp khác đã công bố từ các luận văn, đề tài nghiên cứu, các giáo trình của các môn học có liên quan của các tác giả để phục vụ cho nghiên cứu.

– Thu thập dữ liệu sơ cấp: Thông qua khảo sát, phỏng vấn các cá nhân, tổ chức về công tác QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN để làm rõ thực trạng trên địa bàn thành phố bằng bảng câu hỏi chuẩn bị sẵn (phần phụ lục). Phiếu điều tra khảo sát cơ sở áp dụng thang đo Likert 5. Với mục đích thu thập, đánh giá mức độ hài lòng của các đối tượng được khảo sát đối với công tác QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông, cụ thể:

Từ 1.00 – 1.80: Rất không đồng ý.

Từ 1.81 – 2.60: Không đồng ý.

Từ 2.61 – 3.40: Không đồng ý cũng không phản đối.

Từ 3.41 – 4.20: Đồng ý.

Từ 4.21 – 5.00: Rất đồng ý.

Trong luận văn này, học viên sử dụng công thức lấy mẫu theo phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA), với n là cỡ mẫu: N = 5* số biến đo lường tham gia EFA. Áp dụng phương pháp trên, bảng khảo sát của học viên có 32 câu hỏi sử dụng thang đô Likert 5 mức độ, tương ứng với 32 biến quan sát thuộc các nhân tố khác nhau. Áp dung tỷ lệ 5:1, cỡ mẫu tối thiểu là 32 x 5 = 160 mẫu.

Việc khảo sát được tiến hành bằng bằng bảng câu hỏi chi tiết, gồm 170 phiếu khảo sát được gửi trực tiếp cho các đối tượng gồm:

– Nhóm đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức có liên quan đến công tác QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông đang sinh sống và làm việc tại thành phố Tam Kỳ là 115 phiếu, cụ thể:

+ (1) Tại các phòng, ban của thành phố (30 phiếu), gồm: Văn phòng HĐND và UBND, các Ban của HĐND thành phố (5 phiếu); Phòng Quản lý đô thị (5 phiếu), Phòng Tài chính – Kế hoạch (5 phiếu); Phòng Thanh tra (5 phiếu); Ban Quản lý dự án ĐTXD thành phố Tam Kỳ (10 phiếu);

+ (2) Tại các xã, phường của thành phố Tam Kỳ (85 phiếu): An Mỹ (13 phiếu), Tân Thạnh (10 phiếu), Phước phiếu Hoà (9 phiếu), An Sơn (7 phiếu), An Phú (6 phiếu), An Xuân (6 phiếu); Hoà Hương (6 phiếu), Hoà Thuận (6 phiếu), Trường Xuân (6 phiếu), Tam Ngọc (4 phiếu), Tam Thăng (4 phiếu), Tam Phú (4 phiếu), Tam Thanh (4 phiếu).

– Các cá nhân, đại diện các doanh nghiệp hoạt động tư vấn, xây dựng hạ tầng giao thông trên địa bàn thành phố Tam Kỳ (55 phiếu).

Thời gian tiến hành khảo sát: Trong 1,5 tháng, từ ngày 01/3/2023 đến 15/4/2023. Số phiếu nhận lại sau khi khảo sát là 160 phiếu.

Dữ liệu thu thập, được xử lý sử dụng đánh giá, nhận xét về thực trạng công tác QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tìm ra những ưu điểm và hạn chế để có cơ sở đề xuất các giải pháp cải thiện công tác này theo như mục tiêu của luận văn.

4.2. Phương pháp tổng hợp, phân tích

– Phương pháp thống kê mô tả: Phân tích chỉ số, phân tích tỷ lệ, phân tích số trung bình được dùng để mô tả thực trạng tình hình QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông đường bộ bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

– Phương pháp so sánh: Thông tin, số liệu sau khi được thu thập sẽ được tiến hành phân tích, so sánh giữa các năm khác nhau để xác định xu hướng biến động, diễn biến tình hình QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông đường bộ bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

– Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp những thông tin thu thập được, tiến hành phân tích thực trạng trong công tác QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ trong giai đoạn 2018-2022. Chỉ ra thành công, những tồn tại, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế. Từ đó, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện trong công tác quản lý ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ thời gian đến.

5. Tổng quan các công trình, tài liệu nghiên cứu:

6. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được trình bày theo 3 chương

Chương 1. Cơ sở lý luận về QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN.

Chương 2. Thực trạng QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện công tác QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN QLNN VỀ ĐTXD HẠ TẦNG GIAO THÔNG BẰNG NVNSNN

1.1. KHÁI QUÁT QLNN VỀ ĐTXD HẠ TẦNG GIAO THÔNG BẰNG NVNSNN

1.1.1. Khái niệm QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN

a. Khái niệm về đầu tư

“Đầu tư là một khái niệm mà hiện nay có rất nhiều cách phát biểu khác nhau tùy theo quan điểm và cách nhìn nhận vấn đề trong hoạt động đầu tư. Đầu tư là việc sử dụng phối hợp các nguồn lực nhằm đem lại lợi ích cho CĐT trong tương lai. Theo quan điểm của doanh nghiệp, đầu tư là hoạt động sử dụng vốn vào hoạt động sản xuất kinh doanh với mục tiêu thu được lợi nhuận. Theo quan điểm của Nhà nước, đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực, để từ đó thu được các hiệu quả kinh tế xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia. Tất cả những hành động sử dụng vốn, các nguồn lực để tiến hành các hoạt động trên đây đều nhằm mục đích là thu được lợi ích về tài chính, về kinh tế – xã hội trong tương lai. Do đó xét trên góc độ từng cá nhân hoặc tổ chức đã bỏ vốn ra thì các hành động này đều được gọi là đầu tư”[4, tr.5].

b. Khái niệm về ĐTXD hạ tầng giao thông từ NVNSNN

“ĐTXD hạ tầng giao thông từ NSNN là sự phối hợp những hoạt động nhằm sử dụng nguồn vốn NSNN để xây dựng các công trình HTGT đáp ứng các mục tiêu đầu tư đã được xác định trong một khoảng thời gian với nguồn kinh phí nhất định trong khuôn khổ các quy định về quản lý hiện hành của nhà nước về ĐTXD và NSNN”[ 3, tr.78].

c. Khái niệm QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông từ NVNSNN

“QLNN là một dạng quản lý do nhà nước làm chủ thể, định hướng điều hành, chi phối… để đạt được mục tiêu kinh tế – xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định. QLNN là một dạng quản lý xã hội bằng quyền lực nhà nước, ý chí nhà nước, thông qua bộ máy nhà nước làm thành hệ thống tổ chức điều khiển quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt được mục tiêu kinh tế – xã hội nhất định, theo những thời gian nhất định với hiệu quả cao”[8, tr.28].

“QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông từ NSNN là sự quản lý của Nhà nước trên cơ sở phối hợp những hoạt động nhằm sử dụng nguồn vốn NSNN để xây dựng các công trình giao thông đáp ứng các mục tiêu đầu tư đã được xác định trong một khoảng thời gian với nguồn kinh phí nhất định trong khuôn khổ các quy định về quản lý hiện hành của nhà nước về ĐTXD và NSNN”[12, tr.29].

1.1.2. Đặc điểm QLNN về ĐTXDC hạ tầng giao thông bằng NVNSNN

– ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN là quá trình mà Nhà nước sử dụng nguồn vốn ngân sách thực hiện ĐTXD hạ tầng giao thông phục vụ cho mục tiêu phát triển của địa phương (quốc gia đó). Các hoạt động ĐTXD các công trình, dự án giao thông được Nhà nước quản lý toàn bộ theo quy định của pháp luật đảm bảo việc đầu tư các công trình, dự án hạ tầng giao thông sử dụng vốn ngân sách theo các mục tiêu, nội dung, tiến độ, đảm bảo hiệu quả nguồn vốn đầu tư, tránh thất thoát, lãng phí.

– Nguồn vốn thực hiện ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN được phân bổ theo KHĐT hằng năm, đồng thời phải phù hợp khả năng cân đối NVNSNN trong KHĐT công trung hạn.

– ĐTXD hạ tầng giao thông thường sử dụng một phần tài nguyên đất đai. Trước khi triển khai ĐTXD, dự án phải được cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất. Do vậy, dự án ĐTXD công trình hạ tầng giao thông thường có tác động đến các đối tượng là người sử dụng đất trực tiếp chịu ảnh hưởng khi thu hồi đất phục vụ cho dự án. Theo đó, nhà nước phải tiến hành BTGPMB, tái định cư các hộ dân bị giải toả (nếu có). Quá trình này, phải tuân thủ các QĐPL về đất đai liên quan.

– Dự án ĐTXD hạ tầng giao thông phần lớn sử dụng các nguồn tài nguyên, khoáng sản như: Đất, đá, cát để thực hiện. Nhà nước phải quản lý để đảm bảo ít tác động đến môi trường; nguồn nguyên liệu, vật liệu xây dựng phải đảm bảo về tiêu chuẩn trước khi sử dụng xây dựng công trình.

Trong hoạt động ĐTXD hạ tầng giao thông chủ yếu là hoạt động ngoài trời, diễn ra trong thời gian nhất định theo quyết định được phê duyệt (tuỳ theo quy mô, tính chất công trình), chịu ảnh hưởng, tác động bởi các yếu tố khí hậu, thời tiết, thiên tai… Do vậy, công tác QLNN đặt ra trong quá trình thực hiện dự án phải đảm bảo về an toàn lao động; đảm bảo dự án hoàn thành theo đúng tiến độ, cũng như giảm thiểu thấp nhất những thiệt hại có thể phát sinh do ảnh hưởng của thiên tai.

Hoạt động ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN có tham gia nhiều chủ thể. Do vậy, trong công tác QLNN, cần có sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng của các chủ thể, nhất là đối với các cơ quan QLNN có liên quan (CĐT, cơ quan quản lý chuyên ngành, chính quyền cơ sở). Bên cạnh đó, cũng cần có sự đồng thuận cao của cộng đồng dân cư, Nhân dân, đặc biệt những hộ dân trực tiếp chịu ảnh hưởng bởi dự án.

1.1.3. Vai trò QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN

– NVNSNN đầu tư cho hạ tầng giao thông luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu đầu tư trên các ngành, lĩnh vực. Do vậy, QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN góp phần nâng cao hiệu quả nguồn vốn đầu tư cho phát triển KT-XH, tránh lãng phí trong điều kiện NVNSNN cho đầu tư còn hạn chế.

– ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN góp phần liên kết, kết nối liên vùng, miền, khu vực, địa phương, góp phần ngày càng hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông, thuận lợi cho việc lưu thông, vận chuyển hàng hoá và đi lại, đáp ứng sự phát triển nhanh chóng của các phương tiện cơ giới, lưu thông ngày một tăng cao.

– ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN là tiền đề quan trọng cho việc thu hút các DAĐT các lĩnh vực; nâng cao năng lực cạnh tranh trong thu hút đầu tư, tạo ra những ngành sản xuất, kinh doanh mới, thúc đẩy phát triển các ngành khác như: Công nghiệp, du lịch; góp phần tăng thêm việc làm, giải quyết lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, giảm sự chênh lệch phát triễn giữa các vùng, miền, động lực thúc đẩy tăng trưởng và phát triển KT-XH địa phương, đảm bảo an sinh xã hội, cũng cố quốc phòng, an ninh; đồng thời góp phần nâng cao chất lượng đời sống của Nhân dân.

– ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN sẽ rút ngắn khoảng cách, thời gian di chuyển, góp phần giảm giá thành vận chuyển, giảm chi phí đầu tư trong hoạt động ĐTXD.

Với những lý do nêu trên, vai trò QLNN về ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN cần thiết phải tăng cường nhằm đảm bảo sự tuân thủ các QĐPL trong hoạt động đầu tư công, sử dụng hợp lý, hiệu quả các nguồn lực nhằm đạt mục tiêu, hiệu quả KT-XH, chống thất thoát ngân sách, lãng phí trong đầu tư.

1.2 NỘI DUNG QLNN VỀ ĐTXD HẠ TẦNG GIAO THÔNG BẰNG NVNSNN

1.2.1. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN

Hoạt động ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN được điều chỉnh bởi hệ thống các QĐPL liên quan của nhà nước, bao gồm: Văn bản Luật của Quốc hội, Nghị định của Chính phủ, Thông tư, văn bản hướng dẫn của Bộ chuyên ngành; nghị quyết của HĐND, chỉ thị và văn bản của UBND các cấp.

Đối với chính quyền địa phương cấp huyện, căn cứ các QĐPL của cơ quan nhà nước cấp trên và tình hình, điều kiện thực tế của địa phương cấp mình, HĐND ban hành một số nghị quyết liên quan đến hoạt động ĐTXD bằng NVNSNN do địa phương quản lý như: Nghị quyết về KHĐT công trung hạn; nghị quyết về KHĐT công hằng năm, kế hoạch tài chính, dự toán thu – chi hằng năn, quyết toán ngân sách nhà nước hằng năm; quyết định CTĐT; một số nhiệm vụ, giải pháp thực hiện KHĐT công; cơ chế, chính sách khác liên quan. Để thực hiện công tác QLNN, UBND các cấp thường xuyên cập nhật, phổ biến và ban hành các văn bản chỉ đạo tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật có liên quan của các cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết HĐND cùng cấp cho các cơ quan, đơn vị, địa phương nhằm đảm bảo công tác quản lý, ĐTXD đảm bảo theo QĐPL hiện hành. Ngoài ra, căn cứ tình hình thực tế trong hoạt động ĐTXD của địa phương mình, UBND ban hành các văn bản chỉ đạo, đôn đốc, giải quyết những vấn đề có liên quan trong hoạt động ĐTXD sử dụng vốn ngân sách nhà nước như: Đôn đốc công tác chuẩn bị đầu tư, lập KHĐT, giải ngân vốn đầu tư, tiến độ dự án, thanh quyết toán dự án hoàn thành, tháo gở những vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai thi công xây dựng, GPMB, rà soát nguồn vốn không giải ngân hết để tổng hợp, trình HĐND tỉnh cho phép kéo dài qua năm sau; chỉ đạo thu hồi vốn ứng trước, tạm ứng vốn, tăng cường quản lý công tác đấu thầu, an toàn lao động…

Tiêu chí đánh giá:

Tính kịp thời ban hành các văn bản pháp luật về ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN.

Công tác ban hành văn bản đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền, hình thức, nội dung văn bản ban hành phù hợp với QĐPL.

Đối tượng nắm bắt được các văn bản, QĐPL về ĐTXD hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn NSNN.

Hiệu lực văn bản ban hành được triển khai thực hiện trong thực tế đảm bảo theo yêu cầu.

1.2.2. Công tác xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN

Đối với địa phương, quy hoạch hệ thống hạ tầng giao thông đường bộ được thực hiện ở cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Đối với khu vực đô thị, hệ thống mạng lưới giao thông, hệ thống hạ tầng giao thông được xác định ở quy hoạch chung đô thị, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết. Thời kỳ quy hoạch hạ tầng giao thông, quy hoạch chung được xác định là 10 năm, tầm nhìn từ 20 đến 30 năm. Yêu cầu đặt ra trong công tác QLNN trong phát triển KT-XH và bảo đảm quốc phòng, an ninh là phải quản lý theo quy hoạch được duyệt. Đồng thời, đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ giữa quy hoạch với chiến lược phát triển, kế hoạch phát triển KT-XH, đồng thời đảm bảo sự kết hợp giữa quản lý ngành với quản lý lãnh thổ theo quy định. Do đó, quy hoạch kết cấu hạ tầng giao thông có vai trò rất quan trọng, mang định hướng chiến lược nhằm cụ thể hoá mục tiêu phát triển KT-XH của địa phương trên lĩnh vực giao thông; xác định những mục tiêu, hệ thống mạng lưới đường, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông (quy mô, đặc điểm), nhiệm vụ, giải pháp, kinh phí, những danh mục công trình hạ tầng giao thông ưu tiên đầu tư trong kỳ quy hoạch. Quy hoạch hạ tầng giao thông là cơ sở quan trọng để cơ quan nhà nước đề xuất, xây dựng kế hoạch ĐTXD và quản lý các công trình giao thông theo quy hoạch được duyệt. Chính vì thế, yêu cầu đặt ra cho công tác quy hoạch hạ tầng giao thông của địa phương, gồm một số nội dung sau:

Quy hoạch phải đảm bảo tính đầy đủ và kịp thời nhằm kịp thời cụ thể hoá chiến lược, kế hoạch phát triển KT-XH của địa phương đó; cũng làm cơ sở để kịp thời xác định những công trình ưu tiên đưa vào KHĐT, cũng như phục vụ công tác quản lý quy hoạch. Một khi quy hoạch chưa được lập, hoặc lập không đầy đủ trong phạm vi không gian quản lý sẽ rất khó khăn cho việc định hướng phát triển, đề xuất danh mục dự án, quy mô DAĐT; cũng như khó khăn trong công tác QLNN, tiềm ẩn nguy cơ lãng phí nguồn vốn ngân sách khi đầu tư phát triển trong tương lai, nhất là chi phí BTGPMB và tái định cư.

Quy hoạch phải kịp thời rà soát để xem xét điều chỉnh: Đối với những quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì yêu cầu đặt ra trong kỳ quy hoạch cần phải theo dõi, rà soát. Định kỳ 05 năm, quy hoạch được rà soát để điều chỉnh phù hợp với tình hình phát triển KT-XH trong từng giai đoạn. Đối với quy hoạch phân khu, quy hoạch chung, thời hạn rà soát quy hoạch là 05 năm; đối với quy hoạch chi tiết, thời hạn rà soát quy hoạch là 03 năm. Việc định kỳ rà soát quy hoạch làm cơ sở để xem xét, điều chỉnh quy hoạch, nhất là trong trường hợp chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH, quy hoạch cao hơn đã điều chỉnh. Trong trường hợp quy hoạch không thực hiện được, hoặc quy hoạch không phù hợp, thực hiện đầu tư xây dựng có tác động xấu đến sự phát triển KT-XH… Việc rà soát, điều chỉnh quy hoạch là cần thiết, đảm bảo phù hợp với mục tiêu chiến lược, quy hoạch KT-XH trong từng giai đoạn, đồng thời đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân chịu ảnh hưởng trong phạm vi quy hoạch, khắc phục tình trạng “quy hoạch treo”.

Quy hoạch có chất lượng, đảm bảo tính bền vững, lâu dài, phù hợp với mục tiêu chiến lược, quy hoạch phát triển KT-XH của địa phương. Do vậy, yêu cầu quy hoạch quy hoạch hạ tầng giao thông phải đồng bộ với quy hoạch hạ tầng kỹ thuật khác, quy hoạch sử dụng đất, đảm bảo giải quyết các mục tiêu đặt ra trong ngắn hạn, trung hạn, đồng thời phải đảm bảo mục tiêu phát triển lâu dài, bền vững. Tránh trường hợp đã quy hoạch rồi lại phải điều chỉnh, bổ sung nhiều lần hoặc phải huỷ bỏ, tốn kém, lãng phí nguồn lực đầu tư. Quy hoạch kém chất lượng sẽ gây ra nhiều hệ luỵ trong quản lý, triển khai thực hiện đầu tư phát triển, nhiều hơn có thể kìm hãm sự phát triển kinh tế – xã hội của khu vực, địa phương đó.

Trong công tác quy hoạch quan tâm nhiều hơn nội dung thiết kế không gian kiến trúc cảnh quan. Đặc biệt, đối với khu vực đô thị thì yêu cầu thiết kế không giản kiến trúc cảnh quan càng trở nên quan trọng hơn. Những tuyến phố chính, trung tâm đô thị, những công trình cầu trong đô thị cần phải đặc biệt chú ý vì đây là điểm nhấn cho cả đô thị. Bên cạnh đó, công tác quản lý không gian kiến trúc cảnh quan các tuyến đường cần phải được ban hành quy định quản lý riêng như quy định về chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng, cao độ, tầng cao…; đồng thời, công tác cắm mốc lộ giới, mốc chỉ giới ngoài thực địa cũng phải được quan tâm nhằm đảm bảo cho công tác quản lý hiện trạng, quản lý quy hoạch được thuận lợi.

Đối với công tác xây dựng KHĐT:

– KHĐT công trung hạn của địa phương theo quy định được bắt đầu triển khai xây dựng vào cuối năm thứ tư của kỳ KHĐT công trung hạn giai đoạn trước, với chu kỳ giai đoạn là 05 năm; được cơ quan chuyên môn chủ trì tổ chức thực hiện để xác lập các danh mục chương trình, dự án sử dụng vốn đầu tư công; xác định các nguyên tắc, tiêu chí, định mức bố trí vốn trong KHĐT theo QĐPL; đảm bảo sự công bằng giữa các địa phương, sự hợp lý trong cơ cấu đầu tư các ngành, lĩnh vực. Đồng thời, xác định tổng NVNSNN được cân đối cho đầu tư công và dự kiến bố trí cho từng chương trình, dự án theo tiến độ hoàn thành chương trình, dự án. Các chương trình, dự án này phải đảm bảo điều kiện đã được cấp có thẩm quyền quyết định CTĐT. KHĐT công trung hạn cấp huyện chỉ được thông qua sau khi KHĐT công trung hạn cấp tỉnh thông qua. Thông thường, KHĐT công cấp huyện được thông qua vào năm thứ nhất của kỳ kế hoạch trung hạn.

– KHĐT công trung hạn của địa phương là sự cụ thể hoá chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương đó. Các dự án được đưa vào KHĐT công trung hạn đảm bảo phù hợp với quy hoạch ược phê duyệt; đồng thời đảm bảo nguyên tắc đầu tư tập trung. “Chương trình, dự án có thời gian thực hiện trong 02 kỳ KHĐT công trung hạn liên tiếp phải bảo đảm tổng số giá trị tổng mức đầu tư của các chương trình, dự án phải thực hiện trong KHĐT công trung hạn giai đoạn sau không vượt quá 20% tổng số vốn KHĐT công trung hạn giai đoạn trước của Bộ, cơ quan trung ương, địa phương đó”[1].

– Sau khi KHĐT công hằng năm là sự cụ thể hoá KHĐT công trung hạn. Dự án được đưa vào KHĐT công hằng năm phải nằm trong KHĐT công trung hạn và sau khi được cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư, bao gồm dự án chuyển tiếp và dự án khởi công mới. Dự án khởi công mới được xem xét trên cơ sở phải đảm bảo thời gian bố trí vốn theo tiến độ hoàn thành dự án theo quy định đối với từng nhóm dự án (nhóm A không quá 6 năm, nhóm B không quá 4 năm, nhóm C không quá 3 năm) sau khi đảm bảo khả năng cân đối vốn cho dự án đã hoàn thành, các dự án chuyển tiếp. KHĐT công hằng năm của địa phương được HĐND các cấp thông qua tại kỳ họp thường lệ cuối năm của năm trước, bao gồm danh mục chương trình, dự án và mức bố trí vốn cho từng danh mục chương trình, dự án.

Giữa kỳ KHĐT công trung hạn và hằng năm phải được đánh giá để xem xét điều chỉnh, bổ sung. Đồng thời, kết thúc kỳ kế hoạch phải được đánh giá rút kinh nghiệm, phân tích những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, làm cơ sở đề xuất kế hoạch trong kỳ tiếp theo.

Theo đó, kế hoạch ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN là một bộ phận của KHĐT công, là quá trình nghiên cứu, đề xuất các danh mục DAĐT hạ tầng giao thông trong một giai đoạn cụ thể trên cơ sở xác lập những nội dung về sự cần thiết, mục tiêu, tổng mức đầu tư, quy mô đầu tư, thời gian thực hiện, hiệu quả đầu tư của từng dự án, đảm bảo phù hợp với khả năng cân đối NVNSNN và dự kiến NVNSNN thực hiện, đảm bảo phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH, quy hoạch có liên quan được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Kế hoạch ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN gồm được thực hiện trong giai đoạn KHĐT công trung hạn (5 năm) và hằng năm. Việc xây dựng, thẩm định, quyết định KHĐT công trung hạn và hằng năm đảm bảo tuân thủ theo đúng trình tự, thủ tục và theo quy định của Luật Đầu tư công. Đồng thời, đảm bảo đầu tư tập trung, khắc phục dàn trải, phân tán nguồn vốn, giai đoạn sau phải trợ nợ cho giai đoạn trước.

Tiêu chí đánh giá:

– Quy hoạch hạ tầng giao thông phù hợp với mục tiêu phát triển, điều kiện KT-XH của địa phương;

– Lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch hạ tầng giao thông đảm bảo tính kịp thời và đầy đủ;

– Quy hoạch hạ tầng giao thông đảm bảo chất lượng, đồng bộ, hiện đại với quy hoạch hạ tầng kỹ thuật khác;

– Công tác quản lý quy hoạch hạ tầng quy thông được duyệt đảm bảo theo đúng quy chế quản lý.

– Kế hoạch ĐTXD hạ tầng giao thông từ NVNSNN xuất phát từ nhu cầu của địa phương, dựa trên chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.

– Kế hoạch ĐTXD hạ tầng giao thông đảm bảo phù hợp với quy hoạch được duyệt.

– Kế hoạch ĐTXD hạ tầng giao thông từ NVNSNN có trọng điểm, phù hợp với khả năng cân đối NVNSNN và đảm bảo nguyên tắc bố trí vốn.

– Kế hoạch ĐTXD hạ tầng giao thông từ NVNSNN đạt hiệu KT-XH cao.

1.2.3. Tổ chức thực hiện hoạt động ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN

a. Công tác lập, thẩm định, quyết định phê duyệt DAĐT, TKKT, tổng dự toán xây dựng dự án ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN

Sau khi dự án được quyền định CTĐT, đơn vị CĐT tiến hành tổ chức lập báo cáo nghiên cứu khả thi ĐTXD (hoặc lập báo cáo kinh tế – kỹ thuật đối với dự án có quy mô nhỏ) để trình cơ quan chuyên môn thẩm định, cấp có thẩm quyền phê duyệt dự án.

“Báo cáo nghiên cứu khả thi là tài liệu trình bày các nội dung nghiên cứu về sự cần thiết, mức độ khả thi và hiệu quả của việc đầu tư xây dựng theo phương án thiết kế cơ sở được lựa chọn, làm cơ sở xem xét, quyết định đầu tư xây dựng. Nội dung của báo cáo nghiên cứu khả thi gồm một số nội dung sau:

– Thiết kế cơ sở: Vị trí xây dựng, hướng tuyến công trình, quy mô, loại, cấp công trình thuộc tổng mặt bằng xây dựng; phương án công nghệ, kỹ thuật và thiết bị được lựa chọn (nếu có); giải pháp về kiến trúc, các kích thước, kết cấu chính của công trình xây dựng; giải pháp về xây dựng, vật liệu xây dựng chủ yếu được sử dụng, ước tính chi phí xây dựng cho từng công trình; phương án kết nối hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài công trình; tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được áp dụng.

– Các nội dung khác như: Sự cần thiết, mục tiêu ĐTXD, địa điểm xây dựng và diện tích sử dụng đất, quy mô và hình thức ĐTXD; khả năng bảo đảm các yếu tố để thực hiện dự án như sử dụng tài nguyên, lựa chọn công nghệ thiết bị, sử dụng lao động, hạ tầng kỹ thuật, tiêu thụ sản phẩm, yêu cầu trong khai thác sử dụng, thời gian thực hiện, phương án GPMB xây dựng, tái định cư (nếu có), giải pháp tổ chức quản lý thực hiện dự án, vận hành, sử dụng công trình và bảo vệ môi trường; đánh giá tác động của dự án liên quan đến việc thu hồi đất, GPMB, tái định cư; bảo vệ cảnh quan, môi trường sinh thái, an toàn trong xây dựng; tổng mức đầu tư và cơ cấu nguồn vốn; thời gian, tiến độ thực hiện dự án; đánh giá hiệu quả KT-XH của dự án”[2].

Dự án ĐTXD sử dụng NVNSNN trước khi phê duyệt phải được cơ quan chuyên môn về xây dựng theo phân cấp thẩm định theo quy định. Đây là quá trình xem xét một cách khách quan, kiểm tra, đánh giá toàn diện các nội dung báo cáo nghiên cứu khả thi do CĐT trình để xem xét dự án có đảm bảo tính khả thi hay không, cũng như tính hợp lý, phù hợp với các yêu cầu theo quy định của pháp luật và tình hình thực tiễn; đồng thời, đánh giá tính hiệu quả của dự án, đảm bảo các mục tiêu, hiệu quả về tài chính, KT-XH. Tổng mức đầu tư, cấu cấu nguồn vốn dự án trong báo cáo nghiên cứu khả thi không được vượt mức đã quy định trong quyết định CTĐT.

Báo cáo kết quả thẩm định là cơ sở quan trọng để cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền xem xét, quyết định đầu tư nếu dự án đảm bảo các yêu cầu; đồng thời loại bỏ những dự án không khả thi. Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách địa phương, Chủ tịch UBND các cấp quyết định phê duyệt DAĐT sử dụng vốn ngân sách do cấp mình quản lý.

Dự án sau được cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư, được tổng hợp, trình HĐND xem xét, đưa vào KHĐT công hằng năm để bố trí vốn thực hiện dự án. Trên cơ sở đó, CĐT triển khai thực hiện bước TKKT và tổng dự toán, trình cơ quan có chức năng thẩm định, phê duyệt. Công tác thẩm định bao gồm: sự hợp lý về quy mô, giải pháp TKKT, các tiêu chuẩn, quy chuẩn, chỉ tiêu kỹ thuật được áp dụng; sự phù hợp của TKKT so với nội dung dự án, thiết kế cơ sở được duyệt; tính đúng đắn về định mức, đơn giá, các chi phí liên quan; sự phù hợp về khối lượng, giá trị dự toán xây dựng; sự phù hợp về tổng dự toán so với tổng mức đầu tư dự án được duyệt.

Tiêu chí đánh giá:

Tính kịp thời trong công tác lập, thẩm định, phê duyệt DAĐT, TKKT, tổng dự toán.

Sự tuân thủ các quy trình, thủ tục, quy phạm tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế – kỹ thuật trong công tác lập, thẩm định, phê duyệt DAĐT, TKKT, tổng dự toán.

Công tác thẩm định DAĐT, TKKT, tổng dự toán đảm bảo yêu cầu và mục đích.

Quyết định phê duyệt dự án ĐTXD hạ tầng giao thông bằng NVNSNN ở địa phương đúng thẩm quyền được phân cấp.

b. Công tác đấu thầu và lựa chọn nhà thầu

Đấu thầu là quá trình CĐT thực hiện các thủ tục theo quy định để lựa chọn nhà thầu đảm bảo có năng lực phù hợp để ký kết và thực hiện hợp đồng nhà thầu dịch vụ tư vấn, mua sắm, xây lắp, đảm bảo nguyên tắc minh bạch, công bằng, cạnh tranh và hiệu quả kinh tế. “Mục tiêu của công tác đấu thầu là nhằm thực hiện tính cạnh tranh, công bằng và minh bạch trong quá trình đấu thầu để lựa chọn nhà thầu phù hợp, bảo đảm hiệu quả kinh tế của dự án. Việc đấu thầu được thực hiện trên cơ sở từng gói thầu”. [4, tr 304].

“Việc lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu đảm bảo theo các nguyên tắc: Kế hoạch lựa chọn nhà thầu được lập cho toàn bộ dự án, dự toán mua sắm. Trường hợp chưa đủ điều kiện có thể lập kế hoạch lựa chọn nhà thầu cho một hoặc một số gói thầu để thực hiện trước. Kế hoạch lựa chọn nhà thầu thể hiện rõ số lượng gói thầu và nội dung của từng gói thầu. Việc phân chia các gói thầu dựa trên cơ sở tính chất kỹ thuật của từng gói thầu, trình tự thực hiện, đảm bảo tính đồng bộ của dự án và quy mô hợp lý của từng gói thầu. Nội dung kế hoạch lựa chọn nhà thầu của từng gói thầu gồm: Tên gói thầu; giá gói thầu; nguồn vốn; hình thức và phương thức lựa chọn nhà thầu; loại hợp đồng; thời gian thực hiện hợp đồng”[3].

“Hình thức lựa chọn nhà thầu gồm: Đấu thầu rộng rãi; đấu thầu hạn chế; chỉ định thầu; mua sắm trực tiếp; chào hàng cạnh tranh; tự thực hiện; lựa chọn nhà thầu trong trường hợp đặc biệt. Phương thức lựa chọn nhà thầu gồm: Phương thức một giai đoạn môt túi hồ sơ; phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ; phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ”[4, tr.304-].

– Quá trình lựa chọn nhà thầu trong đấu thầu rộng rãi, hạn chế, chỉ định thầu thông thường được thực hiện như sau: “chuẩn bị đấu thầu; tổ chức xét thầu; xét thầu; thẩm định và phê duyệt; công bố trúng thầu; Thương thảo hoàn thiện hợp đồng và ký kết hợp đồng” [4,tr.304].

Trách nhiệm của người có thẩm quyền trong công tác đấu thầu: “phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu; giải quyết kiến nghị trong quá trình lựa chọn nhà thầu; xử lý vi phạm về đấu thầu theo quy định; hủy thầu theo quy định; đình chỉ cuộc thầu, không công nhận kết quả lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư hoặc tuyên bố vô hiệu đối với các quyết định của CĐT, bên mời thầu khi phát hiện có hành vi vi phạm về đấu thầu hoặc quy định khác của pháp luật có liên quan; tổ chức kiểm tra, giám sát, theo dõi công tác đấu thầu, thực hiện hợp đồng”[4, tr.305].

Kế hoạch lựa chọn nhà thầu thường do CĐT lập và trình cơ quan có chức năng thẩm định trước khi trình người có thẩm quyền phê duyệt để làm cơ sở lựa chọn nhà thầu sau khi dự án được duyệt. Quá trình lựa chọn nhà thầu phải đảm bảo về tính bảo mật. Theo đó, trách nhiệm của CĐT, bên mời thầu, tổ chuyên gia; tổ chức thẩm định phải bảo mật các hồ sơ, tài liệu, thông tin trong quá trình lựa chọn nhà thầu.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU NĂM 2023\TÀI LIỆU CHƯA ĐỔI TÊN/ Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông bằng NVNSNN trên địa bàn thành phố Tam Kỳ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *