Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Huyện Núi Thành
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá, là nhân tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển kinh tế – xã hội của một quốc gia nói chung và của từng địa phương nói riêng. Trong hoạt động kinh tế, đất đai cũng được xem là nguồn lực, một yếu tố đầu vào không thể thiếu của mỗi quốc gia, mỗi địa phương. Việc quản lý và sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong công tác Nhà nước (QLNN) về kinh tế – xã hội – môi trường. Công tác quản lý nhà nước về đất đai có ảnh hưởng quyết định sự phát triển bền vững của nền kinh tế, đảm bảo mục tiêu ổn định chính trị – xă hội. Các Mác đã khẳng định: “Lao động là cha, đất đai là mẹ sinh ra của cải vật chất”
Xã hội càng phát triển, dân số ngày càng tăng, tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và biến đổi khí hậu ngày một phức tạp theo chiều hướng xấu do đó đòi hỏi công tác quản lý và sử dụng đất càng phải có hiệu quả, tiết kiệm, đúng mục đích và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên không thể tái tạo này. Quản lý nhà nước về đất đai ngày càng trở nên cần thiết và là nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về kinh tế – xã hội – môi trường.
Nhận thấy được tầm quan trọng đó, ngay từ những ngày đầu thời kỳ đổi mới, Nhà nước đã ban hành Luật đất đai và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn nhằm giúp cho hoạt động quản lý đất đai phù hợp với tình hình đất nước. Luật đất đai năm 2013 đã xác định rõ: đất đai thuộc sở hữu của toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, thông qua đó Nhà nước thực hiện quyền định đoạt như: quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xem duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất; quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, định giá đất.
Núi Thành là huyện nằm phía Nam của tỉnh Quảng Nam, được thành lập năm 1983 trên cơ sở tách huyện Tam Kỳ, thành thị xã Tam Kỳ và huyện Núi Thành. Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, huyện Núi Thành cũng chuyển mình phát triển do đó nhu cầu sử dụng đất để phát triển kinh tế, xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, mở rộng đô thị ngày càng lớn đồng thời với sự phát triển của khoa học công nghệ đòi hỏi công tác QLNN về đất đai trên địa bàn phải theo kịp và làm động lực cho sự phát triển của kinh tế xã hội của huyện. Từ khi Luật Đất đai được ban hành, công tác quản lý Nhà nước về đất đai đã được cải thiện, huyện Núi Thành đã có những chính sách nhằm khai thác hiệu quả nguồn lực này như: triển khai thực hiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện theo từng năm và từng giai đoạn; chỉ đạo các xã triển khai thực hiện tốt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Xây dựng Nghị quyết HĐND huyện về kế hoạch thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất hàng năm; Đặc biệt, trong năm 2018, Chính phủ đã phê duyệt Nghị quyết số 45/NQ-CP ngày 09/5/2018 về việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất huyện Núi Thành tạo cơ sở để thực hiện công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, đáp ứng kịp thời nhu cầu và thu hút các dự án đầu tư của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài huyện, cơ cấu sử dụng đất bước đầu đã được chuyển đổi phù hợp, đáp ứng được mục tiêu, chương trình phát triển kinh tế – xă hội của huyện ; đóng góp thu ngân sách từ đất đai hàng năm ổn định trong tổng thu ngân sách của toàn Huyện .
Tuy nhiên, trên thực tế công tác quản lý đất đai vẫn bộc lộ những hạn chế trong khi thực hiện như: công tác quy hoạch chưa đồng bộ, sử dụng đất chưa đúng mục đích, công tác phát triển quỹ đất tuy đã được đẩy mạnh nhưng một số dự án triển khai còn chậm; công tác xác định giá đất cụ thể đến từng thửa đất mặc dù đã được phân cấp cho cấp huyện nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu do thiếu cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ và đặc biệt là kinh phí thực hiện; công tác giải phóng mặt bằng một số công trình, dự án vẫn còn gặp khó khăn, vướng mắc, tiến độ chậm do người dân khiếu kiện ảnh hưởng đến tiến độ thi công của một số công trình, các dự án được Nhà nước giao đất, cho thuê đất chậm tiến độ, các dự án nợ tiền thuê đất, không thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước còn rất nhiều. Ngoài ra, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vẫn còn chậm; công tác cập nhật biến động đất đai chưa kịp thời, đồng bộ. Tình trạng vi phạm pháp luật đất đai như lấn chiếm đất đai, sử dụng đất sai mục đích vẫn còn xảy ra; khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai vẫn diễn ra ở một số xã. Đứng trước thực trạng đó, Nhà nước phải có biện pháp để quản lý và sử dụng tài nguyên hiệu quả hơn, giảm bớt những khó khăn trong quá trình thực hiện.
Nhằm mục tiêu hoàn thiện công tác QLNN về đất đai, góp phần vào công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của luận văn là đánh giá thực trạng QLNN về đất đai trên địa bàn Huyện Núi Thành, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai tại địa bàn Huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
2.2. Mục tiêu cụ thể
– Hệ thống hóa các cơ sở lý luận quản lý Nhà nước về đất đai.
– Phân tích thực trạng quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn Huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
– Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn địa bàn Huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn Huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Quản lý Nhà nước về đất đai có nội dung rất rộng, theo quy định tại Điều 22, Luật Đất đai 2013 có 15 nội dung về quản lý và sử dụng đất. Tuy nhiên, luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu về các hoạt động quản lý cụ thể là: Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản; Công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Triển khai công tác kỹ thuật và nghiệp vụ địa chính; Công tác thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, tiến hành việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất; Công tác tài chính về đất đai và giá đất; Giám sát, thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
+ Về thời gian: Số liệu đánh giá thực trạng từ năm 2017 đến năm 2021. Các giải pháp đề xuất có ý nghĩa trong những năm đến
+ Về không gian: Công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn
Huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đề ra, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
+ Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Nguồn dữ liệu thứ cấp sẽ được thu thập trong 5 năm gần đây từ các báo cáo hàng năm, báo cáo tại Hội nghị của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam. Ngoài ra, còn khai thác và sử dụng các số liệu của Cục thống kê, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Núi Thành về Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; Thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất; đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Núi Thành.
Tìm hiểu các văn bản pháp luật như: các văn bản pháp luật, thông tư, nghị quyết về quản lý và sử dụng đất đai do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; Các báo cáo tổng hợp về đất đai của Phòng Tài Nguyên – Môi trường huyện Núi Thành từ năm 2017 đến năm 2021. Niên giám thống kê của Huyện Núi Thành qua các năm, từ năm 2017 đến năm 2021
+ Phương pháp xử lý số liệu: Từ các nguồn tài liệu thứ cấp, luận văn chọn lọc những số liệu cần thiết và trích dẫn nguồn các số liệu đó. Sử dụng phần mềm Excel để tiến hành thống kê và phân tích số liệu
4.2. Phương pháp phân tích
– Phương pháp thống kê mô tả: Được dùng để mô tả thực trạng tình hình quản lý đất đai trên địa bàn Huyện Núi Thành, thể hiện qua hệ thống số liệu đã được thống kê và phân tích như phân tích chỉ số, phân tích tỷ lệ, phân tích số trung bình; phương pháp so sánh giữa các năm và giữa các địa phương, các xã trong toàn Huyện. Từ đó thấy được sự biến động tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn và đề xuất giải pháp.
– Phương pháp so sánh: Đối chiếu các chỉ tiêu (tốc độ phát triển bình quân, tốc độ phát triển liên hoàn) có cùng nội dung, tính chất để xác định xu hướng biến động của tình hình quản lý và sử dụng đất đai, qua đó đánh giá việc thực hiện có hiệu quả hay không hiệu quả để tìm ra giải pháp cho mỗi vấn đề. Trong công tác quản lý đất đai các cơ quan quản lý sử dụng phương pháp so sánh để nắm được tình hình số lượng đất đai, việc nắm bắt đầy đủ các thông tin về đất đai cho phép các cơ quan có kế hoạch đúng đắn về quản lý đất đai.
+ Phương pháp kế thừa: Ngoài những phương pháp nêu trên, tác giả còn kế thừa, tham khảo những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý Nhà nước về đất đai.

5. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo thì nội dung chính của đề tài được trình bày trong 3 chương, cụ thể như sau:
– Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đất đai
– Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
– Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG QUẢN LÝ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI
1.1.1. Một số khái niệm
a. Khái niệm quản lý
Xuất phát từ những giác độ tiếp cận nghiên cứu khác nhau, nhiều tác giả đã đưa ra những quan điểm khác nhau về quản lý. Theo tác giả Fayel: “Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”. Để hình thành nên hoạt động quản lý cần có 3 yếu tố: Chủ thể quản lý, Đối tượng bị quản lý, mục tiêu quản lý. Có được 3 yếu tố trên nghĩa là có được điều kiện cơ bản để hình thành nên hoạt động quản lý. Quản lý bao giờ cũng gắn liền trong một môi trường nhất định.
Từ đó có thể đưa ra một khái niệm có tính chất tổng quát về quản lý như sau: “Quản lý là sự tác động của chủ thể lên đối tượng nhằm đạt được mục tiêu đặt ra trong một điều kiện nhất định của môi trường”.
b. Khái niệm quản lý nhà nước: QLNN xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước, gắn chức năng, vai trò của nhà nước trong xã hội có giai cấp. QLNN là một dạng quản lý đặc biệt, là hoạt động tổ chức, điều hành của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp, tư pháp.
QLNN ở Việt Nam có các đặc điểm cơ bản sau: thứ nhất, QLNN mang tính quyền lực đặc biệt, có tính tổ chức rất cao. Thứ hai, QLNN có mục tiêu chiến lược, chương trình kế hoạch để thực hiện mục tiêu. Thứ ba, QLNN theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Thứ tư, QLNN không có sự tách biệt tuyệt đối giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Thứ năm, QLNN đảm bảo tính liên tục và ổn định trong tổ chức.
Vậy “Quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước”[6].
b. Khái niệm đất đai
“Theo quan điểm kinh tế học thì đất đai không chỉ bao gồm mặt đất còn bao gồm cả tài nguyên dưới đất và tất cả mọi thứ sinh sôi trên mặt đất và dưới đất không do lao động và con người làm ra, tức là bao gồm nước mặt đất và nước ngầm, thổ nhưỡng, thực vật và động vật. Với nghĩa chung nhất, đó là lớp bề mặt của trái đất, bao gồm đồng ruộng, đồng cỏ, bãi chăn thả, cây rừng, bãi hoang, mặt nước, đầm lầy và bãi đá… Với nghĩa hẹp thì đất đai biểu hiện khối lượng và tính chất của quyền lợi hoặc tài sản mà một người có thể chiếm đối với đất”[6].
Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Thông tư số 14/2012/TT-BTNMT ngày 26 tháng 11 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường: “Đất đai là một vùng đất có ranh giới, vị trí, diện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi nhưng có tính chu kỳ, có thể dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc sử dụng đất trong hiện tại và tương lai của các yếu tố tự nhiên, kinh tế – xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chất, thuỷ văn, thực vật, động vật cư trú và hoạt động sản xuất của con người”.
Về mặt đời sống – xã hội, đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành sản xuất nông – lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá và an ninh quốc phòng. Nhưng đất đai là tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian. Ngày nay, dưới sự tác động của con người, xét ở góc độ kinh tế thị trường, đất đai đã trở thành hàng hóa đặc biệt. Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội như là một tư liệu sản xuất đặc biệt. Trong nông nghiệp, đất đai là chỗ tựa, chỗ đứng, là nguồn cung cấp thức ăn cho cây trồng. Trong công nghiệp, đất đai là nền tảng, làm cơ sở, làm địa điểm để tiến hành những thao tác, những hoạt động sản xuất kinh doanh.
Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật.”[7, tr. 11]
“Đất đai là một trong những của cải quý nhất của loài người, nó tạo điều kiện cho sự sống của động vật, thực vật và con người trên trái đất”. Đất là một tài sản của tự nhiên ban tặng loài người. Bằng sự sáng tạo và trí thông minh của mình, con người đã biết đón nhận đất đai và khai thác nguồn lợi mà thiên nhiên đã ban tặng để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống ngày càng tăng của con người.
Như vậy, “đất đai là tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia và là yếu tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đấ”[12].
Đất đai ở nước ta bao gồm nhiều loại. Điều 10 luật đất đai năm 2013 quy định: “Căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được phân loại như sau: Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; Đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; Đất rừng đặc dụng; Đất nuôi trồng thủy sản; Đất làm muối; Đất nông nghiệp khác…Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị; Đất xây dựng trụ sở cơ quan; Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; Đất xây dựng công trình sự nghiệp gồm đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự nghiệp; đất xây dựng cơ sở văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao, khoa học và công nghệ, ngoại giao và công trình sự nghiệp khác; … Nhóm đất chưa sử dụng gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng” [8]
c. Quản lý Nhà nước về đất đai
Khi nghiên cứu về quan hệ đất đai, ta thấy có các quyền sử dụng đất đai, quyền định đoạt đất đai. “Các quyền năng này được Nhà nước thực hiện trực tiếp bằng việc xác lập các chế độ pháp lý về quản lý và sử dụng đất đai. Nhà nước không trực tiếp thực hiện các quyền năng này mà thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước do Nhà nước thành lập ra và thông qua các tổ chức, cá nhân sử dụng đất theo những quy định và theo sự giám sát của Nhà nước. Quản lý Nhà nước về đất đai trở thành vấn đề sống còn của mỗi dân tộc. Quản lý Nhà nước đối với đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu Nhà nước về đất đai; đó là các hoạt động trong việc nắm chắc tình hình sử dụng đất; trong việc phân phối và phân phối lại vốn đất đai theo quy hoạch; trong việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất”[1].
Quản lý nhà nước về đất đai là hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền trong việc sử dụng các phương pháp, các công cụ quản lý thích hợp tác động đến hành vi, hoạt động của người sử dụng đất nhằm đạt mục tiêu sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương.
1.1.2. Đặc điểm quản lý nhà nước về đất đai
Nhà nước thống nhất QLNN về đất đai từ trung ương đến địa phương đảm bảo đất đai sử dụng đúng pháp luật, quy hoạch sử dụng đất nhằm khai thác và sử dụng đất ổn định, lâu dài thông qua các cơ quan QLNN về đất đai.
Trong Điều 18 của Hiến pháp cũng đã xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của người sử dụng đất đai: “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Tổ chức và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật”
Quản lý nhà nước về đất đai của chính quyền nhằm thực hiện việc nhà nước giao đất, cho thuê đất đối với các tổ chức, cơ quan, đơn vị kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài. Nhà nước tạo điều kiện cho người sử dụng đất có thể phát huy tối đa các quyền đối với đất đai. Có như vậy người sử dụng đất mới yên tâm, chủ động đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn vào việc bảo vệ, cải tạo cho đất; khai hoang, phục hóa, đưa diện tích đất trống, đồi trọc, đất có mặt nước hoang hóa vào sử dụng; đồng thời phát triển hạ tầng để làm tăng giá trị đất.
“Nhà nước đóng vai trò chính trong việc hình thành chính sách đất đai và các nguyên tắc của hệ thống QLNN về đất đai, bao gồm pháp luật đất đai và pháp luật liên quan đến đất đai. Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân. Chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn dân là Nhà nước mới có toàn quyền trong việc quyết định tình trạng pháp lý của đất đai. Qua đó, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của Nhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng”[7]. Ở Việt Nam, bản chất Nhà nước của chúng ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Vì vậy, Điều 17, Hiến pháp năm 1992 đã xác định “Ðất đai, rừng núi, sông hồ, nguồn nước, tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa và vùng trời, phần vốn và tài sản do Nhà nước đầu tư vào các xí nghiệp, công trình thuộc các ngành và lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, kỹ thuật, ngoại giao, quốc phòng, an ninh cùng các tài sản khác mà pháp luật quy định là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân
Điều 53 Hiến pháp 2013 quy định như sau: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.
Điều 4 Luật đất đai 2013 về sở hữu đất đai có quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Nên nhà nước có đầy đủ quyền năng về sử dụng đất. Để hình thành quan hệ pháp luật đất đai, Nhà nước cho phép các tổ chức và cá nhân sử dụng đất đai.
Nhà nước quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước: Chính phủ, Hội đồng nhân dân, UBND các cấp trong QLNN về đất đai trên phạm vi cả nước, cũng như tại địa phương.
1.1.3. Vai trò của quản lý Nhà nước về đất đai
Đất đai là được xem là một tư liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở để phát triển sản xuất, có ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế xã hội. Chính vì vậy, vai trò của nhà nước trong quản lý đất đai là một yêu cầu cần thiết để điều hoà các mối quan hệ giữa chủ thể quản lý là nhà nước và người sử dụng đất, đảm bảo quyền lợi và đúng quy định của pháp luật. Vai trò quản lý của nhà nước về đất đai như sau:
– Đất đai vốn là nguồn tài nguyên hữu hạn, chính vì vậy, việc quản lý và sử dụng đất đai đòi hỏi phải có sự cân nhắc hợp lý, đảm bảo yêu cầu và tiết kiệm nguồn tài nguyên, đảm bảo việc sử dụng đất đai tiết kiệm, hợp lý và hiệu quả. Đất được sử dụng để phục vụ hoạt động sống của con người, tuy hạn chế về mặt diện tích nhưng sẽ trở thành năng lực sản xuất vô hạn nếu biết sử dụng hợp lý. Pháp luật đóng vai trò rất quan trọng đối với đời sống xã hội, bất kì một lĩnh vực, một hoạt động kinh doanh nào cũng đều phải tuân theo quy định của pháp luật, lĩnh vực đất đai cũng không nằm ngoài ngoại lệ. Việc ban hành và triển khai thực hiện Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn có liên quan giúp hoạt động quản lý được ổn định, có nề nếp, vừa tạo sự công bằng, đảm bảo lợi ích chính đáng cho bên sử dụng đất đai. “Thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật đất đai, nhà nước tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cá nhân trong quan hệ về đất đai. Bằng hệ thống pháp luật và các văn bản pháp quy, nhà nước xác định địa vị pháp lý cho các đối tượng sử dụng. Trên cơ sở đó nhà nước điều chỉnh hành vi của các đối tượng sử dụng đất, hành vi nào là hợp pháp, hành vi nào là không hợp pháp”
Việc ban hành các chính sách, các quy định về đất đai tạo ra một hành lang pháp lý cho việc sử dụng, đảm bảo lợi ích chính đáng cho người sử dụng và lợi ích của nhà nước trong việc quản lý đất đai. Nhà nước thông qua chiến lược, chủ trương đã được ban hành xây dựng kế hoạch, quy hoạch sử dụng đất nhằm điều tiết các hoạt động liên quan đến việc quản lý và sử dụng tài nguyên này đúng mục đích, hợp lý và hiệu quả. Để đạt được điều đó, đòi hòi việc xây dựng, lập và ban hành các hoạch định chiến lược, các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, phân bổ chỉ tiêu đất đai phải đáp ứng được nhu cầu đời sống xã hội, điều kiện kinh tế của từng địa phương. Quy hoạch sử dụng đất hiệu quả sẽ là cơ sở để thực hiện tốt quản lý Nhà nước về quy hoạch, là cơ sở để thực hiện giao đất, cho thuê đất, đầu tư phát triển kinh tế, đồng thời là giải pháp hạn chế được tình trạng xâm lấn, sử dụng đất tự phát không theo quy hoạch, gây lãng phí nguồn tài nguyên
– Thông qua việc ban hành và thực hiện hệ thống chính sách về đất đai như chính sách giá cả, chính sách thuế, đầu tư… nhà nước kích thích các chủ thể kinh tế, các cá nhân sử dụng đầy đủ hợp lý đất đai, tiết kiệm đất nhằm nâng cao khả năng sinh lời cuả đất, để góp phần thực hiện mục tiêu kinh tế xã họi của cả nước và để bảo vệ môi trường. Các chính sách đất đai là những công cụ để nhà nước thực hiện vai trò quản lý trong từng giai đoạn nhất định. Nhà nước tạo môi trường thông thoáng, cải cách các thủ tục đầu tư, điều chỉnh các công cụ quản lý đó để tăng đầu tư vào đất
– Thông qua công tác thống kê, kiểm kê đất đai hàng năm giúp nhà nước đánh giá được hiện trạng sử dụng đất và là căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho kỳ tiếp theo, giúp nhà nước nắm được quỹ đất hiện có, biến động hiện trạng sử dụng đất qua từng năm, để từ đó xác định chất lượng đất, mức độ thích nghi, hiệu quả kinh tế xã hội, tiềm năng đất đai. Thông qua việc đánh giá, phân loại, phân hạng đất mà nhà nước nắm được cơ cấu từng loại đất và quỹ đất tổng thể. Trên cơ sở đó để đề ra các biện pháp cụ thể nhằm sử dụng đất có hiệu quả.
Thông qua việc kiểm tra, giám sát, nhà nước có thể nắm bắt được tình hình biến động trong việc sử dụng từng loại đất, phát hiện những mặt tích cực trong công tác quản lý làm cơ sở điều chỉnh và giải quyết kịp thời các sai phạm xảy ra. Nhờ việc kiểm tra, giám sát quản lý và sử dụng đất, nhà nước kịp thời nắm bắt tình hình về sử dụng đất đai, phát hiện những vi phạm tại địa phương và giải quyết nhũng vi phạm đó.
Bên cạnh đó, công tác quản lý Nhà nước về đất đai là nhân tố vô cùng quan trọng giúp Nhà nước ban hành các chính sách, quy định, thể chế, bổ sung và điều chỉnh những chính sách mà hiện tại còn chưa phù hợp, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống thực tiễn.
1.1.3. Nguyên tắc quản lý Nhà nước về đất đai
Trong quản lý Nhà nước về đất đai cần chú ý các nguyên tắc sau:
a. Công khai minh bạch
Đất đai là tài nguyên của quốc gia, là tài sản chung của toàn dân. Vì vậy, không thể có bất kỳ một cá nhân hay một nhóm người nào chiếm đoạt tài sản chung thành tài sản riêng của mình được. Chỉ có Nhà nước – chủ thể duy nhất đại diện hợp pháp cho toàn dân mới có toàn quyền trong việc quyết định số phận pháp lý của đất đai, thể hiện sự tập trung quyền lực và thống nhất của Nhà nước trong quản lý nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng. Vấn đề này được quy định tại Điều 54, Hiến pháp 2013 “Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả” và được cụ thể hơn tại Điều 4, Luật Đất đai 2013 “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này” Tuy nhiên, sự tập trung và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai cũng phải đảm bảo tính công khai minh bạch bằng việc công khai thông tin đất đai, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên cổng thông tin điện tử của các cơ quan có thẩm quyền quản lý.
b. Đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đất đai, giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của người sử dụng
Đất đai phản ánh mối quan hệ về lợi ích giữa cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội. Việc đảm bảo hài hòa giũa các lợi ích được thực hiện thông qua công tác quy hoạch hoặc các quy định tài chính về đất đai. Cùng các chính sách về quyền, nghĩa vụ của nhà nước và người sử dụng đất.
Điều 4 Luật Đất đai 2013 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.”Như vậy, chỉ có Nhà nước mới có quyền sở hữu đất đai và Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu. Đồng thời, Nhà nước thu thuế, thu tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ… từ những chủ thể trực tiếp sử dụng đất đai. Để phát huy vai trò của đất đai “Nhà nước phải giao đất cho các chủ thể trực tiếp sử dụng và phải quy định một hành lang pháp lý cho phù hợp để vừa đảm bảo lợi ích cho người trực tiếp sử dụng, vừa đảm bảo lợi ích của Nhà nước.”
Để sử dụng đất đai có hiệu quả Nhà nước phải giao đất cho các chủ thể trực tiếp sử dụng và phải quy định một hành lang pháp lý cho phù hợp để vừa đảm bảo lợi ích cho người trực tiếp sử dụng, vừa đảm bảo lợi ích của Nhà nước. Nhà nước với tư cách đại diện chủ sỡ hữu và thống nhất quản lý sẽ trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể sử dụng đất (người sử dụng đất) dưới các hình thức Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013. Muốn đảm bảo kết tốt quyền sở hữu toàn dân và quyền từng người sử dụng phải có cơ chế kết hợp, trong đó, quyền và trách nhiệm của các bên (Nhà nước và người sử dụng) phải được công nhận và thể chế hóa bằng các văn bản pháp luật.
c. Sử dụng đất đai tiết kiệm và hiệu quả
Đất đai vốn là nguồn tài nguyên hữu hạn, chính vì vậy, sử dụng đất đai hợp lý và tiết kiệm là điều tất yếu. Tuy nhiên, hiện nay nước ta vẫn còn tình trạng lãng phí trong việc khai thác và sử dụng đất đai như đất bỏ hoang, dự án xây dựng bị trì trệ, chậm tiến độ. Tiết kiệm và hiệu quả là nguyên tắc của quản lý kinh tế. Tiết kiệm là yếu tố then chốt quyết định hiệu quả. Nguyên tắc này trong quản lý đất đai được thể hiện bằng việc: Xây dựng tốt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, tính toán và lựa chọn các dự án có tính khả thi cao; Quản lý và giám sát tốt việc thực hiện các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất giúp cho đất đai được sử dụng một cách tiết kiệm mà vẫn đạt hiệu quả cao. Có như vậy, quản lý Nhà nước về đất đai mới phục vụ tốt cho chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Công tác quy hoạch, kế hoạch cần phải đi trước một bước, phân bổ chỉ tiêu đất hợp lý vừa đảm bảo đáp ứng được nhu cầu kinh tế xã hội của địa phương, vừa đảm bảo đất được sử dụng hiệu quả, tránh tình trạng lãng phí tiềm năng đất đai, đất được sử dụng đúng mục đích theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt.
Thực hiện nguyên tắc này đòi hỏi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với chiến lược, phù hợp quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế, vừa đảm bảo tính tổng thể vừa đảm bảo tính chi tiết; Đối với cơ quan quản lý phải căn cứ thực tế địa phương và tình hình kinh tế để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, phải xây dựng được nội dung quy hoạch; kỳ quy hoạch, kế hoạch, phải xác định rõ thẩm quyền của cơ quan lập quy hoạch, kế hoạch. Phải công bố quy hoạch sử dụng đất công khai, khi cần có thể điều chỉnh quy hoạch, tổ chức thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất. Thực hiện tốt đồng nghĩa với đảm bảo nguyên tắc sử dụng đất có hiệu quả và tiết kiệm
d. Đảm bảo yêu cầu kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế
Nhà nước ta đã tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới để đảm bảo nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong thời gian tới nhà nước cần phải có các nguyên tắc quản lý đất đai đảm bảo yêu cầu kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Xây dựng các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, có tính khả thi cao. Quản lý và giám sát tốt việc thực hiện các phương án quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Có như vậy, quản lý nhà nước về đất đai mới phục vụ tốt cho chiến lược phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế mà vẫn đạt được mục đích đề ra.
Xất phát từ vai trò vị trí của đất đai đối với phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia, mà đất đai đòi hỏi phải có sự quản lý của nhà nước. Đất đai là tài sản quốc gia thể hiện quyền lãnh thổ của quốc gia đó. Vì vậy, cần thiết có sự quản lý Nhà nước về đất đai. Ngoài các yếu tố trên trong điều kiện hiện nay khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, những yếu tố thị trường, trong đó có sự hình thành và phát triển của thị trường bất động sản. Đất đai và nhà ở là nhu cầu vật chất thiết yếu của con người, là những yếu tố quan trọng bậc nhất cấu thành thị trường bất động sản. Hiện nay, thị trường hàng hoá, dịch vụ phát triển nhanh nhưng còn mang nhiều yếu tố tự phát, thiếu định hướng, thị trường bất động sản, thị trường sức lao động chưa có thể chế rõ ràng, phát triển còn chậm chạp, tự phát, thị trường vốn và công nghệ còn yếu kém. Do vậy, việc hình thành đồng bộ các loại thị trường nói chung và hình thành, phát triển thị trường bất động sản nói riêng là tạo động lực phát triển cho nền kinh tế. Tăng cường năng lực và hiệu quả QLNN đối với đất đai được bắt nguồn từ nhu cầu khách quan của việc sử dụng có hiệu quả tài nguyên đất đáp ứng nhu cầu đời sống của xã hội, do tính định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta quy định.
Khi tham gia vào nền kinh tế thị trường, đất đai có sự thay đổi căn bản về bản chất kinh tế – xã hội: Từ chỗ là tư liệu sản xuất, là điều kiện sống chuyển sang là tư liệu sản xuất chứa đựng yếu tố sản xuất hàng hoá, phương diện kinh tế của đất trở thành yếu tố chủ đạo quy định sự vận động của đất đai theo hướng ngày càng nâng cao hiệu quả. Chính vì vậy, việc quản lý nhà nước về đất đai là hết sức cần thiết nhằm phát huy những yêu cầu của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và hạn chế những khuyết tật của thị trường khi sử dụng đất đai, ngoài ra cũng làm tăng tính pháp lý của đất đai.
1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI
Theo quy định tại Điều 22 Luật đất đai 2013, nội dung quản lý Nhà nước về đất đai gồm: (i) Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó; (ii) Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; (iii) Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất; (iv) Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; (v) Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất; (vi) Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất; (vii) Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; (viii) Thống kê, kiểm kê đất đai; (ix) Xây dựng hệ thống thông tin đất đai; (x) Quản lý tài chính về đất đai và giá đất; (xi) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; (xii) Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; (xiii) Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai; (xiv) Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai; (xv) Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, nội dung quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm những vấn đề sau:
1.2.1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó
Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai chính là tạo ra một hành lang pháp lý để cho các cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai và những người sử dụng đất thực hiện. Luật quy định những nguyên tắc lớn, những chính sách quan trọng và giao Chính phủ, Ủy ban nhân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định những chính sách cụ thể phù hợp với từng vùng, từng địa phương. UBND cấp huyện ban hành các văn bản về quản lý, sử dụng đất theo thẩm quyền như quyết định về thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư trên địa bàn. Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai là việc đưa những văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai áp dụng vào thực tiễn.
Tiêu chí đánh giá
– Số văn bản đã ban hành.
– Số buổi tuyên truyền.
– Tính đa dạng, phù hợp của hình thức, nội dung tuyên truyền.
1.2.2. Xây dựng, ban hành và quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Quy hoạch sử dụng đất là việc phân bổ và khoanh vùng đất đai theo không gian sử dụng cho các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu trên cơ sở tiềm năng đất đai và nhu cầu sử dụng đất của các ngành, lĩnh vực đối với từng vùng kinh tế – xã hội và đơn vị hành chính trong một khoảng thời gian xác định.
Kế hoạch sử dụng đất là việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian để thực hiện trong kỳ quy hoạch sử dụng đất.
a. Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất bao gồm: (i) Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh; (ii)Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải bảo đảm tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế – xã hội; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất của cấp xã; (iii)Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả; (iv)Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu; (v)Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh; (vi) Dân chủ và công khai; (vii) Bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường; (viii) Quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt.[1]
b. Quy hoạch sử dụng đất cấp huyện
– Căn cứ lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện: Để có thể lập quy hoạch sử dụng đất cấp huyện cần căn cứ vào các yếu tố như: Quy hoạch sử dụng đất cấp tỉnh được ban hành và công bố công khai; Quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội của huyện; Các yếu tố điều kiện về tự nhiên và kinh tế xã hội của Huyện; Biến động hiện trạng sử dụng đất, tiềm năng đất đai của Huyện, nhu cầu sử dụng đất và kết quả triển khai thực hiện quy hoạch sử dụng đất cấp Huyện của kỳ trước đó
– Nội dung quy hoạch sử dụng đất cấp huyện: Định hướng sử dụng đất 10 năm; Xác định diện tích các loại đất đã được phân bổ trong quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia và diện tích các loại đất theo nhu cầu sử dụng đất cấp huyện; Xác định các khu vực sử dụng đất theo chức năng sử dụng; Xác định diện tích các loại đất đến từng đơn vị hành chính cấp xã; Lập bản đồ quy hoạch sử dụng đất cấp huyện; Giải pháp thực hiện quy hoạch sử dụng đất.[2]
c. Kế hoạch sử dụng đất cấp huyện
– Căn cứ lập kế hoạch sử dụng đất cấp huyện: Kế hoạch sử dụng đất cấp Tỉnh 5 năm gần nhất; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện gần đây nhất; Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương; Nhu cầu sử dụng đất của địa phương; Kết qủa triển khai thực hiện kế hoạch sử dụng đất của địa phương kỳ trước.
– Nội dung kế hoạch sử dụng đất cấp huyện bao gồm: Phân tích, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất cấp huyện kỳ trước; Xác định diện tích các loại đất trong kỳ kế hoạch sử dụng đất theo từng năm và đến từng đơn vị hành chính cấp xã; Xác định diện tích các loại đất cần chuyển mục đích sử dụng đất trong kỳ kế hoạch sử dụng đất theo từng năm và đến từng đơn vị hành chính cấp xã; Xác định quy mô, địa điểm công trình, dự án cấp huyện sử dụng đất vào các mục đích thực hiện trong kỳ kế hoạch sử dụng đất theo từng năm và đến từng đơn vị hành chính cấp huyện; Đối với dự án hạ tầng kỹ thuật, xây dựng, chỉnh trang khu đô thị, khu dân cư nông thôn thì phải đồng thời xác định vị trí, diện tích đất thu hồi trong vùng phụ cận để đấu giá quyền sử dụng đất thực hiện dự án nhà ở, thương mại, dịch vụ, sản xuất, kinh doanh; Lập bản đồ kế hoạch sử dụng đất cấp huyện; Giải pháp thực hiện kế hoạch sử dụng đất.
d. Lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Việc lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện được thực hiện thông qua hình thức công khai thông tin về nội dung của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp huyện. Nội dung lấy ý kiến nhân dân về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất gồm các chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, các dự án công trình thực hiện trong kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Thời gian lấy ý kiến về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là 30 ngày kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định tổ chức lấy ý kiến.
e. Thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Nội dung thẩm định quy hoạch sử dụng đất bao gồm: Cơ sở pháp lý, cơ sở khoa học của việc lập quy hoạch sử dụng đất; Mức độ phù hợp của phương án quy hoạch sử dụng đất với chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh của quốc gia và địa phương; quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực; Hiệu quả kinh tế – xã hội, môi trường; Tính khả thi của phương án quy hoạch sử dụng đất.
Nội dung thẩm định kế hoạch sử dụng đất bao gồm:Mức độ phù hợp của kế hoạch sử dụng đất với quy hoạch sử dụng đất; Mức độ phù hợp của kế hoạch sử dụng đất với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội;Tính khả thi của kế hoạch sử dụng đất.
g. Thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Luật Đất đai năm 2013 quy định về thẩm quyền quyết định, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất như sau: “Chính phủ phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quốc phòng; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất an ninh; Ủy ban nhân dân cấp huyện trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện trước khi trình Chính phủ phê duyệt. Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện.”
h. Điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Việc điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất chỉ được thực hiện trong các trường hợp như: có sự thay đổi, điều chỉnh về quy hoạch sử dụng đất cấp huyện hoặc có sự điều chỉnh trong quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội của huyện; Các yếu tố điều kiện về tự nhiên và kinh tế xã hội của địa phương như thiên tai, lũ lụt cũng gây biến động hiện trạng sử dụng đất, ảnh hưởng đến quỹ đất và tiềm năng đất đai của địa phương, …
i. Công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp huyện tại trụ sở cơ quan và trên cổng thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấp huyện; Thời điểm, thời hạn công bố công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định sau đây: Việc công bố công khai được thực hiện trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt; Việc công khai được thực hiện trong suốt kỳ quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.[3]
Quy hoạch đất đai đảm bảo cho việc sử dụng đất đạt hiệu quả cao nhất phù hợp với các điều kiện về đất đai, khí hậu, thổ nhưỡng và từng ngành sản xuất. Kế hoạch hoá đất đai chính là việc xác định các biện pháp, các thời gian để sử dụng đất theo quy hoạch.
Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất là một nội dung hết sức quan trọng trong công tác quản lý nhà nước về đất đai. Đối với Nhà nước, nó đảm bảo việc sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm, đạt các mục đích nhất định và phù hợp với các quy định của Nhà nước. Đồng thời, giúp cho Nhà nước theo dõi, giám sát được quá trình sử dụng đất. Quy hoạch và kế hoạch hoá đất đai là công việc của tất cả các cơ quan quản lý đất đai và các tổ chức, cá nhân sử dụng đất của Nhà nước. Đồng thời, thông qua quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất tại địa phương, người sử dụng đất chủ động tuân thủ và thực hiện đúng các thủ tục về đất đai khi có nhu cầu.
Tiêu chí đánh giá
– Số lượng các văn bản hướng dẫn lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
– Sự phù hợp của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
– Tính kịp thời của các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
– Số lượng xã có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
1.2.3. Công tác kỹ thuật, nghiệp vụ địa chính và đăng ký, cấp giấy chứng nhận QSDĐ
a. Công tác kỹ thuật, nghiệp vụ địa chính
Công tác này gồm công tác xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; Công tác khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất; Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
“Địa giới hành chính là ranh giới các đơn vị hành chính kèm theo địa danh và một số yếu tố chính về tự nhiên, kinh tế, xã hội. Địa giới hành chính được xác định bằng các mốc giới cụ thể thể hiện toạ độ vị trí đó”.
Theo quy định hiện hành về địa giới hành chính như sau: (i) Chính phủ chỉ đạo việc xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính các cấp trong phạm vi cả nước. Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định về trình tự, thủ tục xác định địa giới hành chính, quản lý mốc địa giới và hồ sơ địa giới hành chính các cấp. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về kỹ thuật và định mức kinh tế – kỹ thuật trong việc cắm mốc địa giới hành chính, lập hồ sơ địa giới hành chính các cấp. (ii) Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức thực hiện việc xác định địa giới hành chính trên thực địa và lập hồ sơ về địa giới hành chính trong phạm vi địa phương. Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm quản lý mốc địa giới hành chính trên thực địa tại địa phương; trường hợp mốc địa giới hành chính bị mất, xê dịch hoặc hư hỏng phải kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh. (iii) Hồ sơ địa giới hành chính bao gồm tài liệu dạng giấy, dạng số thể hiện thông tin về việc thành lập, điều chỉnh đơn vị hành chính và các mốc địa giới, đường địa giới của đơn vị hành chính đó. Hồ sơ địa giới hành chính cấp dưới do Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp xác nhận; hồ sơ địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Bộ Nội vụ xác nhận. Hồ sơ địa giới hành chính cấp nào được lưu trữ tại Ủy ban nhân dân cấp đó và Ủy ban nhân dân cấp trên, Bộ Nội vụ, Bộ Tài nguyên và Môi trường.[4]
Việc xác định, lập và quản lý các mốc địa giới hành chính hết sức quan trọng, nó góp phần giữ ổn định biên giới giữa các đơn vị hành chính, đảm bảo cho công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện nhanh chóng. Trong quản lý hành chính nhà nước, nếu Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện tốt nội dung này sẽ tránh được tình trạng tranh chấp địa giới hành chính giữa các bên có liên quan.
Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất là biện pháp đầu tiên trong quản lý Nhà nước nhằm nắm chắc chất lượng và số lượng đất đai, thông qua việc đánh giá đất để nhận biết khả năng sinh lợi của từng thửa đất. Thực hiện tốt những nội dung này sẽ tạo cơ sở cho việc quản lý đất, phân bố đất vào nhu cầu sử dụng của xã hội và có căn cứ để theo dõi biến động đất đai, giải quyết các tranh chấp, tố cáo và khiếu nại liên quan đến đất đai.
b. Đăng ký đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất
Đăng ký đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.Thành phần hồ sơ đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: (i) Đơn đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (ii) Một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai 2013; (iii) Các giấy tờ quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định 43/2014/NĐ-CP đối với trường hợp đăng ký về quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Trường hợp đăng ký về quyền sở hữu nhà ở hoặc công trình xây dựng thì phải có sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng (trừ trường hợp trong giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng đã có sơ đồ phù hợp với hiện trạng nhà ở, công trình đã xây dựng); (iv) Bản sao các giấy tờ liên quan đến việc đã thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật.
Trình tự thực hiện đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: (i) Hộ gia đình, cá nhân hoặc UBND xã, thị trấn (chuyển hồ sơ của hộ gia đình, cá nhân) nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND huyện. (ii) Bộ phận một cửa của UBND huyện tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra hồ sơ, viết phiếu hẹn trả kết quả. Chuyển hồ sơ đến Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thực hiện các bước tiếp theo. (iii) Văn phòng Đăng ký đất đai thẩm tra hồ sơ, xác minh thực địa khi cần thiết; lấy ý kiến của UBND xã, thị trấn về tình trạng sử dụng đất, sở hữu nhà và tài sản trên đất, tình trạng tranh chấp đất đai. (iv) Văn phòng Đăng ký đất đai chuyển kết quả cho Bộ phận một cửa trả cho người sử dụng đất hoặc trả kết quả cho UBND xã để trả cho người sử dụng đất.[5]
Đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là một biện pháp quan trọng để xác định quyền sử dụng đất, quản lý biến động về đất đai.
Tiêu chí đánh giá
– Số lượng xã được hoàn thành đo đạc.
– Diện tích đất được đo đạc.
– Số lượng hồ sơ đăng ký thực hiện các quyền của người sử dụng đất
– Thời gian giải quyết hồ sơ đăng ký, cấp GCN QSD đất, quyền sử hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
– Số lượng GCN QSD đất đã được cấp
1.2.4. Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất
Nhà nước giao quyền sử dụng đất là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất. Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất. Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai. Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất. Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển.[6]
Nhà nước giao đất, cho thuê đất đều là các hoạt động trao quyền sử dụng đất từ Nhà nước cho người sử dụng. Các hoạt động này đều nhằm đảm bảo cho đất đai được phân phối và phân phối lại cho các đối tượng sử dụng được sử dụng hợp pháp, đúng mục đích mà Nhà nước đã quy định, đạt hiệu quả cao, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Đáp ứng được nhu cầu của mọi đối tượng sử dụng đất, kể cả trong nước và nước ngoài. Xác lập mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với người sử dụng làm cơ sở để giải quyết mọi mối quan hệ về đất đai và người sử dụng yên tâm thực hiện các quyền của mình trên diện tích đất đó.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, trong trường hợp cần thiết, Nhà
nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; lợi ích quốc gia; lợi ích công cộng và các mục đích phát triển kinh tế thì người bị thu hồi đất được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Các nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được quy định cụ thể tại Điều 74, Điều 88 Luật Đất Đai 2013, hướng dẫn thực hiện tại Nghị định 47/2014/NĐ-CP.
a. Quy trình, thủ tục công tác giao đất, cho thuê đất
+ Thành phần hồ sơ[7]:
Đối với dự án phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt hoặc phải cấp giấy chứng nhận đầu tư gồm: (i) Đơn xin giao đất, cho thuê đất; (ii) Bản sao giấy chứng nhận đầu tư hoặc văn bản chấp thuận đầu tư kèm theo bản thuyết minh dự án đầu tư; (iii) Văn bản thẩm định nhu cầu sử dụng đất; hẩm định điều kiện giao đất, cho thuê đất[8] (iv) Trích lục bản đồ địa chính thửa đất hoặc trích đo địa chính thửa đất.
– Đối với dự án không phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt; dự án không phải cấp giấy chứng nhận đầu tư; trường hợp không phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình gồm: (i) Đơn xin giao đất, cho thuê đất; (ii) Trích lục bản đồ địa chính thửa đất hoặc trích đo địa chính thửa đất; (iii) Bản sao bản thuyết minh dự án đầu tư; (iv) Bản sao báo cáo kinh tế – kỹ thuật”
+ Trình tự và thời gian thực hiện như sau: (i) Người xin giao đất, thuê đất nộp hồ sơ giao đất thuê đất tại Bộ phận giao dịch một cửa của phòng Tài nguyên và Môi trường. (ii)Trong thời gian không quá 05 ngày, Phòng Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm thẩm định hồ sơ, trình Ủy ban nhân dân Huyện quyết định giao đất, cho thuê đất. (iii) Trong thời gian không quá 02 ngày, Ủy ban nhân dân Huyện quyết định giao đất, cho thuê đất. (iv) Trong thời gian không quá 02 ngày, sau khi có quyết định giao đất, cho thuê đất, Văn phòng đăng ký Quyền sử dụng đất thuộc cung cấp thông tin địa chính cho Chi Cục Thuế để xác định nghĩa vụ tài chính theo quy định. Chi Cục Thuế có trách nhiệm thông báo cho đối tượng sử dụng đất việc thực hiện nghĩa vụ tài chính; (v) Trong thời gian không quá 02 ngày kể từ ngày xác định xong nghĩa vụ tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường ký hợp đồng thuê đất đối với trường hợp thuê đất; (vi) Trong thời gian không quá 03 ngày kể từ ngày người được giao đất, cho thuê đất nộp tiền sử dụng đất đối với trường hợp giao đất có thu tiền sử dụng đất, nộp tiền thuê đất đối với trường hợp cho thuê đất, Sở Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân tỉnh cấp Giấy chứng nhận; (vii) Trong thời gian không quá 03 ngày, Ủy ban nhân dân tỉnh ký Giấy chứng nhận; (viii) Trong thời gian không quá 03 ngày Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức giao đất trên thực địa và trao Giấy chứng nhận cho người được giao đất, cho thuê đất; chỉ đạo Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất cập nhật, chỉnh lý cơ sở dữ liệu đất đai, hồ sơ địa chính. [9]
b. Quy trình, thủ tục thu hồi đất
Trình tự và thời gian thực hiện thu hồi đất như sau: (i) Thông báo thu hồi đất; (ii) Ra quyết định thu hồi đất; (iii) Kiểm kê đất đai, tài sản có trên đất; (iv) Lấy ý kiến, lập và thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; (v) Quyết định phê duyệt và niêm yết công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; (vi) Tổ chức chi trả bồi thường
Tiêu chí đánh giá
– Diện tích đất được giao.
– Diện tích đất được thuê.
– Diện tích đất được thu hồi.
– Tính kịp thời của các diện tích đất được giao đất, cho thuê, thu hồi đất.
– Số quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
1.2.5. Công tác tài chính về đất đai và giá đất
a. Quản lý tài chính về đất đai
“Quản lý tài chính về đất đai là việc Nhà nước sử dụng công cụ tài chính
như giá đất, thuế, tiền thuê đất… để quản lý đất đai. Nội dung quản lý tài chính về đất đai gồm các công tác quản lý thuế và tiền thuê đất”[25]. Đây là chức năng rất quan trọng của Nhà nước vừa để thực hiện quyền lợi về mặt kinh tế của chủ sở hữu, đồng thời thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước, nó bao gồm các nội dung quản lý giá đất, quy định mức thu tiền thuê đất, tiền SDĐ, thuế đất các loại, quy định mức tiền bồi thường thiệt hại cho NSDĐ khi Nhà nước thu hồi đất, các khoản ngân sách đầu tư vào đất và quản lý ngân sách khi đấu giá QSDĐ… Quản lý tài chính về đất đảm bảo SDĐ có hiệu quả, hợp lý, tiết kiệm, đồng thời tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi để NSDĐ yên tâm đầu tư vào đất, được bảo vệ quyền lợi khi Nhà nước thu hồi đất.
Quản lý tài chính về đất đảm bảo sử dụng đất đai có hiệu quả, hợp lý, tiết kiệm, đồng thời tạo ra hành lang pháp lý thuận lợi để người sử dụng đất yên tâm đầu tư vào đất, được bảo vệ quyền lợi khi Nhà nước thu hồi đất
b. Quản lý về giá đất: .
Giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích đất. “Việc xác định giá đất là sử dụng làm căn cứ để tính thuế đối với việc sử dụng đất và chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; tính tiền sử dụng đất và tiền thuê. Đất khi giao đất có thu tiền sử dụng đất, tính giá trị quyền sử dụng đất khi giao đất không thu tiền sử dụng đất cho các tổ chức, cá nhân; xác định giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị tài sản của doanh nghiệp nhà nước khi doanh nghiệp cổ phần hóa, lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất; tính giá trị quyền sử dụng đất để thu lệ phí trước bạ khi chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; tính giá trị quyền sử dụng đất để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế; tính tiền bồi thường đối với người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước theo qui định của pháp luật. Tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất”[12]
“Chính phủ ban hành khung giá đất định kỳ 05 năm một lần đối với từng loại đất, theo từng vùng. Trong thời gian thực hiện khung giá đất mà giá đất phổ biến trên thị trường tăng từ 20% trở lên so với giá tối đa hoặc giảm từ 20% trở lên so với giá tối thiểu trong khung giá đất thì Chính phủ điều chỉnh khung giá đất cho phù hợp. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng và trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua bảng giá đất trước khi ban hành. Bảng giá đất được xây dựng định kỳ 05 năm một lần và công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 của năm đầu kỳ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể”[16].
“Quản lý tài chính về đất đai không chỉ đơn thuần là quản lý giá đất, quản lý các khoản thu từ đất để tăng thu cho ngân sách Nhà nước, mà còn là công cụ để Nhà nước khuyến khích sử dụng đất một cách hợp lý, tiết kiệm và ngày càng hiệu quả; đồng thời điều tiết và quản lý thị trường quyền sử dụng đất nói riêng, thị trường bất động sản nói chung nhằm phát triển thị trường này một cách lành mạnh, hiệu quả và bền vững, góp phần ngăn chặn nạn đầu cơ đất đai, đảm bảo công bằng về tài chính trong sử dụng đất và phân phối nguồn tài nguyên đất đai trong xã hội”[22].
Tiêu chí đánh giá
– Tỷ lệ người sử dụng đất chấp hành các quy định liên quan tới tài chính về đất đai.
– Tỷ lệ nợ đọng liên quan tới nghĩa vụ tài chính đất đai.
– Tính đa dạng từ các nguồn tiền liên quan đến đất.
– Nguồn thu từ đất.
– Tăng/giảm trong nguồn thu từ đất.
1.2.6. Giám sát, thanh tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
“Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai là việc cơ quan có thẩm quyền xem xét, xác minh, kết luận và ra quyết định về tính đúng đắn của các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai khi có khiếu nại của người sử dụng đất về quyết định, hành vi đó.Giải quyết tố cáo về đất đai là việc cơ quan có thẩm quyền xác minh, kết luận về nội dung tố cáo liên quan tới quản lý và sử dụng đất đai từ đó đưa ra quyết định xử lý của người giải quyết tố cáo. Xử lý vi phạm về đất đai là biện pháp giải quyết của cơ quan Nhà nước khi có hành vi vi phạm trong quản lý và sử dụng đất”[5].
Nhà nước ta luôn quan tâm tới việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong quản lý, sử dụng đất đai nói riêng.
“Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Người có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai mà gây thiệt hại cho Nhà nước, cho người khác, ngoài việc bị xử lý theo quy định của pháp luật”[11] còn phải bồi thường theo mức thiệt hại thực tế cho Nhà nước hoặc cho người bị thiệt hại.[10]
a. Nội dung Thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai.
Cơ quan Thanh tra tham mưu cho UBND huyện thành lập các đoàn thanh tra, kiểm tra theo định kỳ hay khi có đơn khiếu nại, tố cáo. Thời gian thanh tra, kiểm tra được đoàn thanh tra, kiểm tra thông báo cho đối tượng được thanh tra, kiểm tra biết được trong quyết định Thanh tra, kiểm tra. Thời gian giải quyết khiếu nại, tố cáo là 60 ngày, nếu nội dung có tính chất phức tạp có thể kéo dài nhưng thời gian kéo dài không quá 30 ngày.[11] Đối tượng thanh tra, kiểm tra là các đơn vị, cá nhân khi có kế hoạch của đoàn thanh tra, kiểm tra; Đối tượng giải quyết khiếu nại, tố cáo là các đối tượng có đơn khiếu nại, tố cáo gởi các cơ quan chức năng.
b. Quy trình giải quyết thanh tra, kiểm tra, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
+ Trình tự thủ tục giải quyết đơn khiếu nại bao gồm: (i) Xử lý đơn khiếu nại; (ii) Thụ lý đơn khiếu nại, yêu cầu báo cáo, giải trình, cung cấp hồ sơ, tài liệu; (iii) Tổ chức xác minh, đối thoại tại địa phương; (iv) Ra quyết định giải quyết khiếu nại
+ Quy trình về giải quyết đơn tố cáo bao gồm: (i) Thụ lý tố cáo; (ii) Xác minh nội dung tố cáo; (iii) Kết luận nội dung tố cáo; (iv) Xử lý kết luận nội dung tố cáo của người giải quyết tố cáo
Tiêu chí đánh giá
– Tổng số lần thanh tra, kiểm tra về quản lý đất đai.
– Số vụ vi phạm về quản lý đất đai sau khi thanh tra, kiểm tra.
– Số vụ tranh chấp và khiếu nại về đất đai được giải quyết hàng năm.
– Diện tích đất vi phạm.
– Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo.
– Số vụ được giải quyết.
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\TÀI LIỆU NĂM 2022\NĂM 2022 KHO SỐ 2/ Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Huyện Núi Thành Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Huyện Núi Thành Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Huyện Núi Thành Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn Huyện Núi Thành


