Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện Ngọc Hồi
MỞ ĐẦU
- Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm giải quyết việc làm cho lao động, đặc biệt là lao động nông thôn. Điều đó được thể hiện ở nhiều chính sách như chính sách đất đai, chính sách tín dụng, chính sách phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá và đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp, chính sách khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn…
Ngọc Hồi là huyện miền núi, biên giới nằm ở phía Bắc tỉnh Kon Tum, với cơ cấu các ngành kinh tế chủ yếu là trồng cây lương thực, trồng rừng phòng hộ, trồng cây công nghiệp như: cao su, cà phê, lúa nước; phát triển chăn nuôi gia súc như bò, lợn, dê… có thể thấy, đa phần người dân sống bằng nghề làm nông. Trước những cơ hội cũng như thách thức, lao động tại huyện Ngọc Hồi bộc lộ những hạn chế nhất định, đó là: số người thiếu việc làm trên địa bàn huyện còn cao, trình độ học vấn của một số bộ phận lao động còn thấp, chưa đồng đều nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số; hoặc có việc làm nhưng chưa ổn định, thu nhập thấp; đời sống vật chất còn nhiều khó khăn; nhiều lao động trong độ tuổi thanh niên còn thiếu ý thức trách nhiệm, thiếu đạo đức, lười lao động, thích hưởng thụ, thụ động, chưa có ý chí vươn lên để lập thân lập nghiệp… Từ đó dẫn đến tình trạng, việc nhiều nhưng không tuyển được lao động và lao động nhiều nhưng không đáp ứng được yêu cầu công việc.
Nguyên nhân của tình trạng trên là do nền kinh tế nói chung và kinh tế nông nghiệp nói riêng tại địa còn chậm phát triển, quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm nên chưa tạo ra nhiều việc làm cho lao động nông thôn; trình độ của lao động nông nghiệp còn hạn chế, tỉ lệ lao động nông thôn không có việc làm, thiếu việc làm đang có xu hướng gia tăng. Hơn nữa, công tác đào tạo nghề cho lao động ở nông thôn được triển khai còn chậm. Ở nhiều địa phương, cán bộ và xã hội nhận thức chưa đầy đủ về đào tạo nghề cho lao động, coi đào tạo nghề chỉ là cứu cánh, có tính thời điểm, không phải là vấn đề quan tâm thường xuyên, liên tục và có hệ thống.
Xuất phát từ phân tích lý luận và thực tiễn trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình.
- Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu tổng quát
Luận văn trên cơ sở khái quát lý luận quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động, thực hiện phân tích đánh giá và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
- Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum giai đoạn 2017 – 2021.
Đề xuất giải pháp và kiến nghị thực hiện giải pháp để hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum gồm các nội dung chủ yếu: Hoạch định chính sách giải quyết việc làm; Tuyên truyền, phổ biến chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm; Đào tạo người lao động; Huy động và sử dụng nguồn vốn giải quyết việc làm; Thanh tra, giám sát các chương trình giải quyết việc làm; Xử lý sai phạm các chương trình giải quyết việc làm và một số nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về giải quyết việc làm: Bộ máy tổ chức giải việc làm; Điều kiện tự nhiên; Điều kiện kinh tế – xã hội; Quy mô, cơ cấu lao động của địa phương.
Về không gian nghiên cứu: trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
Về thời gian nghiên cứu: từ năm 2017 – 2021.
- Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, tác giả đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như sau:
– Phương pháp thống kê: để thu thập và xử lý dữ liệu, phục vụ nghiên cứu định lượng và để tóm tắt thông tin, hỗ trợ cho việc tìm hiểu rõ vấn đề nghiên cứu.
– Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu để tìm hiểu, xem xét những nghiên cứu trước đây về nội dung đề tài. Qua đó, rút ra những nội dung cần bổ sung, làm sáng tỏ mà nghiên cứu trước chưa đề cập.
– Phương pháp so sánh: để tìm ra điểm giống và khác nhau của những vấn đề cần nghiên cứu, giúp việc phân tích, đánh giá vấn đề một cách toàn diện, khoa học và chính xác hơn.
– Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn: trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn của cả nước và của các địa phương, từ đó phân tích, vận dụng hoàn thiện vấn đề nghiên cứu.
- Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, các danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 03 chương
Chương I: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động.
Chương II: Thực trạng quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.”
Chương III: Giải pháp quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
- Tổng quan các công trình nghiên cứu
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.1.1. Khái niệm về giải quyết việc làm
* Việc làm
Trước đây trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp người lao động được coi là có việc làm là những người làm việc trong thành phần kinh tế quốc doanh, khu vực kinh tế Nhà nước và kinh tế tập thể, ngoài ra không có sự thừa nhận các hoạt động ở lĩnh vực khác. Trong cơ chế đó Nhà nước bố trí việc làm cho người lao động do đó chứ có khái niệm về thiếu việc làm hay việc làm không đầy đủ.
Ngày nay trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần thì quan niệm về việc làm có sự thay đổi về căn bản.
- Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm việc làm: Việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật.
- Theo điều 33 của Bộ luật lao động Việt Nam: Khái niệm việc làm là những hoạt động có ích không bị pháp luật ngăn cấm và đem lại thu nhập cho người lao động. Việc làm là nhu cầu, quyền lợi nhưng đồng thời cũng là nghĩa vụ và trách nhiệm đối với mọi người. Theo đại hội Đảng lần thứ VII: “Mọi việc mang lại thu nhập cho người lao động có ích cho xã hội đều được tôn trọng”.
Việc làm có thể coi là sự tham gia của một cá thể vào tập hợp các hoạt động có liên quan đến việc sản xuất ra một sản phẩm hay dịch vụ nào đó mà người khác có của cái và mong muốn mua được nó. Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm. Hiểu một cách ngắn gọn, việc làm là các hoạt động lao động, tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập và việc làm là dạng hoạt động của mỗi cá nhân nhưng lại luôn gắn liền với xã hội và được xã hội công nhận.

* Việc làm đầy đủ
Việc làm đầy đủ được hiểu là sự thoả mãn nhu cầu đầy đủ về nhu cầu việc làm cho mọi thành viên có khả năng lao động và họ chấp nhận làm việc đó với một mức tiền công nhất định. Việc làm đầy đủ chỉ tồn tại khi thị trường lao động ở trạng thái cân bằng, tức là khi nền kinh tế đạt được sản lượng tiềm năng. Khi đó, nền kinh tế tuy vẫn có thể có người lao động không có việc làm đầy đủ nhưng đó là do họ không muốn chấp nhận mức lương hiện tại đối với công việc đó (hay còn gọi đó là những người thất nghiệp tự nguyện).
* Thiếu việc làm
Thiếu việc làm, hay việc làm không đầy đủ là khái niệm chỉ tình trạng người lao động có việc làm nhưng họ chỉ làm việc ở mức ít hơn so với nhu cầu của họ. Đó là tình trạng có việc làm nhưng họ làm việc không hết thời gian theo luật định, hoặc làm những công việc với tiền công thấp không đủ đáp ứng nhu cầu cuộc sống, và họ có nhu cầu tìm thêm việc làm để có thu nhập bổ sung. Thực chất thiếu việc làm là tình trạng người lao động bị thất nghiệp trá hình, hay bán thất nghiệp.
* Giải quyết việc làm
Theo nghĩa hẹp, GQVL là biện pháp chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp hay thiếu việc làm, nhằm tạo cho người lao động duy trì tỷ lệ thời gian thất nghiệp ở mức thấp nhất. Hiểu một cách đơn giản thì GQVL là biện pháp chủ yếu hướng vào đối tượng thất nghiệp hay thiếu việc làm, nhằm tạo cho người lao động duy trì tỷ lệ thời gian thất nghiệp ở mức thấp nhất. Còn hiểu một cách đầy đủ, thì GQVL là quá trình tạo ra môi trường hình thành các chỗ làm việc và sắp xếp người lao động phù hợp với chỗ làm việc đó để có việc làm chất lượng. đảm bảo nhu cầu của cả người lao động và người sử dụng lao động, đồng thời đáp ứng mục tiêu phát triển đất nước. Nói cách khác, giải quyết việc làm là việc tạo ra các cơ hội để người lao động có việc làm và thu nhập, phù hợp với lợi ích của bản thân, gia đình và xã hội. Điều này đã được ghi rõ trong Bộ Luật Lao động (2013) của Việt Nam, là: “Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm”.
Trong thời đại các mạng khoa học – công nghệ và kinh tế tri thức, giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng đội ngũ người lao động càng có ý nghĩa quan trong đối với phát triển kinh tế xã hội và củng cố quốc phòng an ninh. Bởi, xét về mặt kinh tế, thất nghiệp gắn liền với nghèo đói. Tỷ lệ thất nghiệp tỷ lệ thuận với những thiệt hại về kinh tế và tiểm ẩn sự mất ổn định xã hội.
Giải quyết việc làm không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội, các doanh nghiệp và ngay cả người lao động. Hiện nay, các chính sách của Nhà nước luôn quan tâm chú trọng đến việc tạo công ăn việc làm cho người lao động thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, chính sách hỗ trợ tới tận hộ gia đình, các cá nhân sẵn sàng làm việc. Bên cạnh đó, các chương trình, chiến lược phát triển, các hoạt động cụ thể của các doanh nghiệp tác động trực tiếp đến giải quyết việc làm cho người lao động như đào tạo nghề, tuyển dụng, bố trí sản xuất phù hợp với nguồn lực và yêu cầu.
Vai trò của việc giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ bản của mọi quốc gia, nhằm góp phần đẩm bảo an toàn, ổn định và phát triển xã hội. Đối với nước ta, giải quyết việc làm cho người lao động, hạn chê thất nghiệp ở tỷ lệ thấp là một trong những mục tiêu kinh tế vĩ mô mà Nhà nước thường xuyên quan tâm thực hiện.
Giải quyết việc làm vừa có ý nghĩa về mặt kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt chính trị và xã hội, bởi lẽ:
– Tạo việc làm đầy đủ cho người lao động không những tạo điều kiện để người lao động tăng thu nhập, nâng cao đời sống đồng thời giảm các tệ nạn xã hội, làm cho xã hội ngày càng văn minh hơn.
– Tạo việc làm đầy đủ cho người lao động còn có ý nghĩa quan trọng ở chỗ: tạo cơ hội cho người lao động thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, trong đó quyền cơ bản nhất của họ là quyền được làm việc nhằm nuôi sống bản thân và gia đình, góp phần xây dựng đất nước.
– Khi giải quyết việc làm sẽ có điều kiện nâng cao mức sống của người dân, đây là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế; là điều kiện quan trọng hình thành nguồn nhân lực có chất lượng cao cung cấp cho nền kinh tế quốc dân.
1.1.2. Khái niệm về quản lý nhà nước về giải quyết việc làm
Quản lý nhà nước là chức năng quan trọng nhất vận hành thường xuyên bằng bộ máy nhà nước bảo đảm mọi hoạt động của xã hội cũng như trên từng lĩnh vực đời sống xã hội vận động theo một hướng, đường lối nhất định do Nhà nước định ra.
Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước. Quản lý nhà nước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử. Ngày nay quản lý nhà nước bao gồm hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành pháp của Chính phủ và hoạt động tư pháp của cơ quan tư pháp.
Có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh các hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
Như vậy, quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất. Theo nghĩa hẹp là hướng dẫn chấp pháp, điểu hành, quản lí hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.
* Đặc trưng của quản lý nhà nước
– Một là, quản lý nhà nước có tính quyền lực nhà nước;
– Hai là, quản lý nhà nước là hoạt động thực hiện hàng ngày, tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của công dân bằng việc ra các quyết định quản lý hành chính và thực hiện các hành vi hành chính.
– Ba là, quản lý nhà nước được thực hiện bởi các pháp nhân công quyền. Trong hệ thống này đứng đầu là Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, các cơ quan hành chính nhà nước Trung ương, các cấp quản lý hành chính nhà nước địa phương.
Vấn đề giải quyết việc làm là một lĩnh vực quan trọng trong quản lý nhà nước về xã hội. Trên cơ sở lý luận ở trên, tác giả cho rằng: “Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động là sự tác động điều chỉnh của nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, kế hoạch, chính sách và các biện pháp nhằm đảm bảo cho người lao động có việc làm; đồng thời sử dụng có hiệu quả và phát triển nguồn nhân lực”.
1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.2.1. Xây dựng tổ chức thực hiện các chương trình đề án hỗ trợ tạo việc làm
Trong thời gian qua, Nhà nước đã có rất nhiều cơ chế chính sách về tạo việc làm được bổ sung và sửa đổi phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập, đảm bảo quyền và lợi ích của người lao động cũng như người sử dụng lao động. Hệ thống các văn bản quản lý nhà nước về lao động – việc làm ngày càng hoàn thiện, nhiều luật mới ra đời và đi vào cuộc sống.
Bên cạnh việc ban hành các quy định, chính sách pháp luật về việc làm, thị trường lao động, bảo hiểm thất nghiệp và quản lý lao động, Chính phủ còn ban hành và chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện nhiều chương trình, đề án nhằm đẩy mạnh hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động như: Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm qua các giai đoạn, Chương trình mục tiêu giáo dục nghề nghiệp – việc làm và an toàn lao động; các Đề án hỗ trợ phụ nữ, thanh niên học nghề và tạo việc làm; Đề án xác định thiệt hại, thực hiện bồi thường, hỗ trợ; khôi phục sản xuất và đảm bảo an sinh xã hội cho người dân bị ảnh hưởng do sự cố môi trường biển;…
Các tiêu chí đánh giá hoạt động xây dựng, ban hành pháp luật và các chính sách trong lĩnh vực giải quyết việc làm được thể hiện:
- Các văn bản liên quan đến lĩnh vực giải quyết việc làm phải có nội dung phù hợp với chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, phù hợp với ý chí, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của đối tượng chịu sự tác động trực tiếp và phù hợp với thực tiễn. Yêu cầu này đặt ra nhằm bảo đảm tính khả thi của văn bản pháp luật sau khi được ban hành, đồng thời là hình thức thể hiện tính dân chủ trong quá trình ban hành văn bản pháp luật; thu hút trí tuệ tập thể đóng góp vào dự thảo văn bản làm cho văn bản sau khi được ban hành sẽ có nội dung phù hợp với đối tượng thi hành của chính văn bản đó.
- Hệ thống văn bản pháp luật về giải quyết việc làm phải toàn diện, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, bảo đảm phát huy vai trò và hiệu lực.
– Văn bản pháp luật về giải quyết việc làm được ban hành đúng thẩm quyền; đúng căn cứ pháp lý và tuân thủ các quy định của pháp luật về thủ tục xây dựng, ban hành, quản lý văn bản; tuân thủ đúng những quy định của pháp luật về thể thức, kĩ thuật trình bày.
Tiêu chí đánh giá:
– Xây dựng các chính sách, chương trình đề án về giải quyết việc làm một cách kịp thời.
– Các chính sách, chương trình, đề án phù hợp với điều kiện của địa phương.
– Các chính sách, chương trình, đề án phải được đảm bảo nguồn lực.
– Các chính sách, chương chình đề án có tác dụng giải quyết việc làm hoặc hỗ trợ giải quyết việc làm.
1.2.2. Tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về việc làm
Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm đóng vai trò đầu mối quan trọng trong quá trình thực thi có hiệu quả các cơ chế chính sách ban hành. Kịp thời phổ biến để NLĐ được tiếp cận, hướng dẫn, hỗ trợ các nguồn lực đảm bảo đủ điều kiện và đúng quy trình.
Về nội dung, tập trung tuyên truyền, phổ biến pháp luật về GQVL, các chính sách đang áp dụng hiện hành đối với từng đối tượng lao động (phụ nữ, thanh niên, nông dân,…); thông tin về nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng lao động theo quy định… Đối tượng ưu tiên tiếp cận thông tin, giáo dục, truyền thông về GQVL bao gồm người sử dụng lao động, người quản lý, điều hành các cơ sở sản xuất, kinh doanh, người lao động và những người đang có nhu cầu lao động.
Về hình thức tuyên truyền, các ngành liên quan phối hợp tổ chức các chiến dịch truyền thông nhằm tạo mối quan tâm và thúc đẩy sự thay đổi về nhận thức của xã hội đối với công tác GQVL. Công tác truyền thông hướng về cộng đồng cần được quan tâm, chú trọng, đặc biệt là sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng như: Đài phát thanh, Đài truyền hình, các loại hình báo chí, biểu trưng panô, áp phích, băng rôn. Ngoài ra các hình thức tuyên truyền bao gồm nói chuyện chuyên đề; sinh hoạt dưới các hình thức câu lạc bộ của hội; tổ chức tập huấn cho cán bộ hội ở cơ sở; tọa đàm, tuyên truyền qua các hội thi, hội diễn, giao lưu… cũng cần được triển khai khai phù hợp vói tình hình chung. Đồng thời, mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật về định hướng nghề nghiệp cho nhiều đối tượng phù hợp với độ tuổi.
Tiêu chí đánh giá:
– Công tác triển khai các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn.
– Nội dung các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn giáo dục pháp luật về việc làm.
– Tính kịp thời của các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn.
– Sự phổ biến và lan truyền rộng rãi của các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn.
1.2.3. Quản lý lao động, thông tin thị trường lao động và bảo hiểm thất nghiệp
Quản lý lao động, thông tin thị trường lao động và bảo hiểm thất nghiệp với mục đích nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý lao động nói riêng, quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam nói riêng.
Hiện nay có thể thấy song song với việc hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý lao động làm việc tại Việt Nam, tuyên truyền, phổ biến các quy định, chính sách pháp luật về quản lý lao động, việc chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương tăng cường quản lý, nắm thông tin về lao động làm việc trên địa bàn, lao động di cư tìm kiếm việc làm, lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, lao động Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, tăng cường công tác đào tạo, huấn luyện kỹ năng, ý thức thái độ và tác phong làm việc của người lao động Việt Nam, từng bước đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Đặc biệt, nhằm tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và cải cách hành chính trong quản lý lao động nước ngoài.
Theo Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam, Quỹ BH thất nghiệp sử dụng vào các mục đích như: Chi trả trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động (NLĐ); hỗ trợ học nghề; hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm; đóng BHYT cho người hưởng trợ cấp thất nghiệp; chi phí quản lý BH thất nghiệp thực hiện theo quy định của Luật BHXH…
Tổ chức BHXH thực hiện việc thu, chi, quản lý và sử dụng quỹ BH thất nghiệp; hoạt động đầu tư từ quỹ BH thất nghiệp phải bảo đảm an toàn, minh bạch, hiệu quả và thu hồi được khi cần thiết.
Tiêu chí đánh giá:
- Hiểu rõ và tuyên truyền rộng rãi các quy định, chính sách pháp luật về quản lý lao động
- Thông tin thị trường được cập nhật thường xuyên
- Các thông tin thị trường có tác dụng trong việc định hướng việc làm cho NLĐ
- Chế độ bảo hiểm thất nghiệp được hướng dẫn cụ thể
1.2.4. Quản lý tổ chức và hoạt động của trung tâm dịch vụ việc làm, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm
Quản lý tổ chức và hoạt động của trung tâm dịch vụ việc làm, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm nhằm mục đích nâng cao hiệu quả kết nối cung – cầu lao động.
Hiện nay để thực hiện chủ trương của Chính phủ, của Bộ, việc thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp cụ thể như: đầu tư vào cơ sở vật chất và chỉ đạo hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm phối kết hợp với các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm, từng bước thực hiện tốt mối quan hệ phối hợp công – tư trong dịch vụ việc làm để chia sẻ kinh nghiệm, kết nối thông tin, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ việc làm.
Tiêu chí đánh giá:
- Các trung tâm, đơn vị dịch vụ việc làm thường xuyên kết nối với các doanh nghiệp, tổ chức về nhu cầu việc làm
- Các trung tâm, đơn vị dịch vụ việc làm tư vấn có hiệu quả việc làm phù hợp với năng lực NLĐ
- Các trung tâm, đơn vị dịch vụ việc làm định kỳ tổ chức các phiên giao dịch việc làm
- Các trung tâm, đơn vị dịch vụ việc làm
1.2.5. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về việc làm
Kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách giải quyết việc làm cho người lao động là việc các cơ quan chức năng thực hiện việc theo dõi, kiểm soát đối với các hoạt động liên quan đến giải quyết làm tại địa phương, nhằm bảo đảm pháp luật và chính sách giải quyết việc làm cho người lao động được thực thi nghiêm chỉnh, có tác dụng tích cực đến đời sống kinh tế- xã hội.
Kiểm tra, giám sát là khâu cuối cùng và là nội dung quan trọng của hoạt động quản lý lĩnh vực việc làm và giải quyết việc làm tại mỗi địa phương, nhằm nâng cao hiệu quả của chính sách. Bởi lẽ:
Thứ nhất, thông qua việc kiểm tra, giám sát để nâng cao tính tự giác làm việc của những người có chức trách, để họ hoàn thành trách nhiệm được giao một cách tốt nhất.
Thứ hai, thông qua kiểm tra, giám sát sẽ kịp thời phát hiện các biểu hiện sai trái, tiêu cực trong quản lý điều hành
Thứ ba, trên cơ sở những phát hiện của giám sát, cơ quan chủ quân sẽ sớm có biện pháp ngăn ngừa và chấn chỉnh các vi phạm đối với các hoạt động giải quyết việc làm, đưa chúng vận động theo đúng quỹ đạo của chủ thể vạch ra.
Thứ tư, công tác thanh tra, kiểm tra còn là cách để phát hiện những nội dung không phù hợp trong các văn bản pháp qui về giải quyết việc làm so với thực tiễn cuộc sống, cũng như những điểm không phù hợp về công tác tổ chức hệ thống bộ máy quản lý, về các vấn đề nghiệp vụ của công tác điều hành. Từ những phát hiện đó, với chức năng của mình các cơ quan quản lý sẽ kịp thời có biện pháp xử lý thích hợp, hoặc kiến nghị các cơ quan chức năng cấp trên sửa đổi, bổ sung kịp để không ngừng nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho người lao động.
Tiêu chí đánh giá:
– Quy trình thanh tra kiểm tra của cơ quan chức năng
– Sự minh bạch trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về việc làm
– Năng lực chuyên môn của cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra
– Đạo đức, thái độ của cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra
– Hiệu quả của công tác thanh tra, kiểm tra
Để thực hiện tốt nội dung này cần thực hiện các biện pháp để hướng dẫn các địa phương giám sát, đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động, dự án về việc làm trong các Chương trình mục tiêu quốc gia, Chương trình mục tiêu trên địa bàn; phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức các đoàn giám sát, đánh giá trực tiếp tại các địa phương; tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị đánh giá tình hình thực hiện các chính sách, chương trình, dự án trong lĩnh vực việc làm, thị trường lao động, quản lý lao động, bảo hiểm thất nghiệp theo chuyên đề, sơ kết, giữa kỳ, tổng kết … góp phần đảm bảo việc thực hiện chính sách, chương trình theo đúng quy định, mục tiêu.
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.3.1. Năng lực của bộ máy QLNN về GQVL
Đây là nhân tố vô cùng quan trọng đối với công tác giải quyết việc làm cho người lao động, bởi vì cho dù có cơ chế chính sách đúng nhưng năng lực quản lý yếu kém, luôn có xu hướng tìm kẽ hở trong chính sách để tham nhũng thi công tác quản lý sẽ không đạt được hiệu quả mong muốn. Chẳng hạn, nếu các nhà quản lý đưa ra các quyết định vội vàng, thiếu chính xác và thiểu trách nhiệm thì chất lượng công tác giải quyết việc làm thấp. Biểu hiện của tỉnh trạng này là hoạch định chính sách không sát thực tế, các biện pháp giải quyết việc làm mang tính nhất thời, số người tái bị mất việc làm lớn, và chi phí cho công tác giải quyết việc làm cao.
Cùng với năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý cũng có ảnh hưởng đến kết quả giải quyết việc làm cho người lao động. Nếu những cán bộ chịu trách nhiệm thực thi chính sách mà khách quan, có tầm nhìn chiến lược, giao việc đúng người, thì hiệu quả giải quyết việc làm cho người lao động sẽ rất cao. Ngược lại, nếu nhà quản lý thiếu cái tâm, làm việc mang nặng tính chủ quan, dành việc cho người không đủ năng lực và trình độ vì là người thân quen, thì sớm muộn người lao động đó cũng sẽ bị thị trường đào thải. Nói khác đi, những người quản lý, nếu không có phẩm chất đạo đức trong giải quyết công việc, thì kết quả giải quyết việc làm sẽ thiếu tính bền vững.
1.3.2. Điều kiện tự nhiên
Trong những nhân tố ảnh hưởng đến việc mở rộng nguồn công việc, tạo việc làm cho người lao động, trước hết phải nói đến nhân tố có tính chất tự nhiên, vốn có sẵn ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương, đó là nhân tố tài nguyên thiên nhiên.
Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất vì nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động, là cơ sở quan trọng hàng đầu của sản xuất vật chất, tạo ra việc làm cho người lao động.
Giải quyết việc làm vừa là nhiệm vụ bức xúc, vừa là chiến lược lâu dài. Vấn đề đặt ra là phải đảm bảo cho môi trường nhân tạo hòa hợp với môi trường tự nhiên, coi đây là mục tiêu quan trọng trong giải quyết việc làm, đồng thời có những giải pháp giảm thiểu tác hại và khắc phục tác động thiên tai, sự biến đổi khí hậu bất lợi và hậu quả chiến tranh còn lại đối với môi trường sinh thái nước ta. Vấn đề này cần được xuyên suốt trong toàn bộ chiến lược về việc làm thể hiện trong từng vùng, từng ngành, từng lĩnh vực, từng cộng đồng dân cư để con người thực sự làm chủ được môi trường sống của mình hoặc hạn chế thấp nhất những tác động xấu của sự biến đổi môi trường.
Điều kiện tự nhiên, khí hậu, thời tiết đã tạo ra các đặc điểm con người khác nhau giữa các địa phương, vùng, miền dẫn đến có những đặc điểm khác nhau giữa LĐ các vùng, miền như LĐ thuộc các dân tộc khác nhau, LĐ ở các vùng sinh thái khác nhau, LĐ ở đồng bằng và miền núi, hải đảo,…. đều có những đặc trưng về tập quán, phương thức sản xuất khác nhau. Điều kiện về khí hậu, thời tiết giữa các vùng dẫn đến hệ sinh thái khác nhau, cây trồng, vật nuôi khác nhau, tạo ra nghề nghiệp, cách thức canh tác khác nhau của người LĐ. Vùng đồng bằng thường giỏi về nghề trồng lúa, vùng ven biển thường giỏi nghề thủy sản, vùng miền núi, trung du lại giỏi về nghề trồng cây CN, lâm nghiệp…Điều kiện về khí hậu, thời tiết cũng tạo ra tính chất mùa vụ khác nhau dẫn đến công việc và thời gian của LĐ làm nghề nông cũng khác nhau. Điều kiện khí hậu, thời tiết làm một số vùng thường xuyên gặp bão lụt, thiên tại làm cho sản xuất hay gặp rủi ro, hơn nữa ngày công bảo vệ đẻ, chống bão lũ lớn. Tất cả các yếu tố về điều kiện tự nhiên đều ảnh hưởng đến việc xây dựng kế hoạch, lựa chọn hình thức, danh mục nghề đào tạo… cho NLĐ.
Như vậy, các yếu tố như điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế, tạo việc làm của mỗi quốc gia, mỗi địa phương. Vì vậy, các địa phương cần chú trọng đến sự ảnh hưởng của các yếu tố này, cần biết khai thác tận dụng những ưu thế mà thiên nhiên ban tặng cho mỗi vùng địa phương đồng thời đẩy mạnh thu hút vốn, phát triển những máy móc thiết bị và công nghệ hiện đại để nâng cao khả năng khai thác, chế biến sản phẩm để tạo việc làm.
1.3.3. Điều kiện kinh tế – xã hội
Trong quá trình phát triển nền kinh tế- xã hội, cơ cấu kinh tế luôn thay đổi theo hướng tang tỷ trọng GDP ở khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, giảm hợp lý khu vực nông- lâm nghiệp. Sự thay đổi cơ cấu GDP giữa ba khu vực kinh tế cơ bản dẫn đến cơ cấu nguồn việc cũng thay đổi tương ứng. Các nước phát triển có tỷ trong GDP của khu vực dịch vụ là cao nhất, kế đến là công nghiệp – xây dựng và cuối cùng là nông nghiệp. Sự thay đổi nà tất yêu do nhu cầu của xã hội nông nghiệp tang chậm hơn sự thay đổi nhu cầu công nghiệp, dịch vụ; mặt khác, chính sự phát triển của công nghiệp, dịch vụ là cơ sở quan trọng để tang năng suất lao động và phát triển nông nghiệp.
Sự phát triển kết cấu hạ tầng cũng là một trong những điều kiện quan trọng mà các nhà đàu tư quan tâm khi quyết định mở cơ sowe sản xuất kinh doanh hay không. Thực tế cho thấy, nơi nào có kết cấu hạ tầng tốt thì nơi đó có tốc độ phát triển kinh tế nhanh. Đầu tư càng nhiều, tạo việc làm càng nhiều. Măt khác, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng hợp lý trên diện rộng là điều kiện phát triểnđồng đều giữa các khu vực, các vùng kinh tế từ đó giảm áp lực về việc làm cho các vùng kinh tế.
Bất kì một quốc gia nào, khi ban hành các chính sác nhằm phát triển kinh tế – xã hội đều cân nhắc kỹ lưỡng giữa phát triển kinh tế với ổn định xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Theo đó, tùy từng thời kỳ mà việc lựa chọn áp dụng khoa học công nghệ vào các lĩnh vuewcj hoạt động là khác nhau. Những lĩnh vực then chốt, quan trọng là nền tảng để phát triển thì cần luwajchonj công nghệ cao, những lĩnh vực hoạt động khác thì tùy theo điều kiện về vốn, về lực lượng lao động mà sử dụng công nghệ phù hợp vừa đảm bảo không làm tang thất nghiệp và phát triển bền vững. Nếu lựa chọn công nghệ cao thì vốn đầu tư nhiều, năng suất cao nhưng ít tạo ra việc làm mới và đồi hỏi chất lượng lao động cao. Ngược lại, nếu sử dụng công nghệ thấp thì vốn đầu tư ít, năng suất tháp nhưng lại thu hút được nhiều người làm việc.
1.3.4. Quy mô, cơ cấu lao động của địa phương
Lực lượng lao động: Lực lượng lao động bao gồm tất cả những người đang ở trong độ tuổi lao động (thường là lớn hơn một độ tuổi nhất định (trong khoảng từ 14 đến 16 tuổi) và chưa đến tuổi nghỉ hưu (thường trong khoảng 65 tuổi) đang tham gia lao động. Những người không được tính vào lực lượng lao động là những sinh viên, người nghỉ hưu, những cha mẹ ở nhà, những người trong tù, những người không có ý định tìm kiếm việc làm
Lực lượng lao động dồi dào sẽ có nhiều lợi thế trong việc thu hút đầu tư góp phần phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, về phía QLNN sẽ áp lực hơn trong việc giải quyết việc làm
Cơ cấu lao động phản ánh tình trạng việc làm và nhu cầu sử dụng lao động trong các ngành, các thành phần kinh tế.
Sự dịch chuyển cơ cấu lao động trong các lĩnh vực kinh tế phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có 3 nhóm yếu tố chính tác động bao gồm: i) Nhóm các yếu tố liên quan đến đặc điểm của bản thân cá nhân người chuyển dịch; ii) Nhóm các yếu tố về đặc điểm của hộ gia đình của người lao động, và iii) Nhóm các yếu tố liên quan đến những đặc điểm của địa phương nơi hộ gia đình đó đang sinh sống.
Hướng chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành cần phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của địa phương
Tình hình giải quyết việc làm của địa phương: Đánh giá, phân tích các phương án, cách thức giải quyết việc làm của địa phương trong thời gian qua sẽ tìm được hướng đi đúng trong vấn đề giải quyết việc làm trong thời gian tới.
1.4. MỘT SỐ BÀI HỌC KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở CÁC ĐỊA PHƯƠNG
1.4.1. Một số bài học kinh nghiệm giải quyết việc làm tại Thành phố Kon Tum
Để thực hiện chuyển mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá với quy mô lớn và tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động, thành phố Kon Tum đã quy hoạch những vùng sản xuất cây, con theo mô hình tập trung như: vùng sản xuất cao su, cà phê; vùng trồng rau, củ quả. Nhờ vậy, giá trị sản phẩm thu được trên ha canh tác đã nâng lên đến 35 triệu đồng/ ha, đồng thời cũng đã giải quyết việc làm cho trên 1800 lao động việc làm.
Thành phố Kon Tum có tiềm năng rất lớn với diện tích bãi đất và đồng cỏ rộng, định hướng khai thác về lợi thế trêm, đã chủ trương đẩy mạnh phát triển đàn bò, nhìm, dúi và chăn nuôi lợn nạc, chăn thả cá.
Thành phố Kon Tum đã tích cực xây dựng, triển khai các cụm công nghiệp, các nhà đầu tư, công ty xây dựng về địa phương . Hàng năm giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động như Khu công nghiệp Hoà Bình, công ty Cao su Kon Tum, công ty cổ phần Đường Kon Tum,…
Để đạt được những con số đáng kể trên, thành phố Kon Tum đã rút ra một số bài học kinh nghiệm trong hoạt động QLNN về GQVL như sau:
– Công tác GQVL là sự nghiệp lâu dài, gắn với quá trình phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Tùy thuộc vào mục tiêu phát triển mà các giải pháp GQVL cũng phải phù hợp và kiên trì thực hiện.
– Đẩy mạnh công tác phổ biến các mô hình điển hình tự tạo công việc làm có hiệu quả để hộ gia đình noi theo trong quá trình phát triển sản xuất; đồng thời lên án các hiện tượng còn trông chờ, ý lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước.
– Các chính sách hỗ trợ GQVL cần được tổ chức đầy đủ, kịp thời và phù hợp với từng nhu cầu của đối tượng; đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, có chính sách GQVL chung, có chính sách GQVL đặc thù cho từng vùng khó khăn.
– Công tác kiển tra, giám sát, đánh giá thực hiện các chính sách,chương trình cần được tổ chức thường xuyên qua đó hạn chế các tiêu cực, lời dụng chính sách, đồng thời phát hiện những hạn chế, bất hợp lý để kiến nghị sửa đổi, bổ sung kịp thời.
1.4.2. Một số bài học kinh nghiệm giải quyết việc làm tại huyện Đăk Hà
Các chương trình phát triển nông nghiệp đã tập trung cải tạo đồng ruồng, mở rộng diện tích, thâm canh, tăng vụ, xây dựng các công trình thuỷ lợi, kiên cố hoá hệ thống kênh mương, phục vụ sản xuất. Cùng với hồ thuỷ lợi Đăk Uy là 46 công trình thuỷ lợn kiên cố với nguồn vốn đầu tư hàng trăm tỷ đồng đã góp phần tăng tổng diện tích gieo trồng từ đó giải quyết được hơn 3000 lao động.
Từ việc đánh giá những kết quả đạt được, những ưu và nhược điểm trong quá trình thực hiện các chính sách GQVL, huyện Đăk Hà đã rút ra một số bài học sau:
– Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, sự tham gia của MTTQ và các đoàn thể.
– Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; tạo sự chuyển biến tiwchs cực trong nhận thức và ành động của các cấp và Nhân dân về vai trò, ý nghĩa của công tác GQVL
– Tăng cường phối hợp chặt chẽ cac cấp, các ngành, thực hiện phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm; thực hiện lồng ghép các iệu quả các chương trình, dự án, đẩy mạnh công tác xã hội hóa nguồn lực từ các tổ chức, doanh nghiệp và phát huy vai trò chủ động của người dân trong tham gia thực hiện chính sách việc làm.
1.4.3. Một số bài học kinh nghiệm giải quyết việc làm tại huyện Ngọc Hồi
Từ thực tiễn GQVL trên địa bàn huyện Ngọc Hồi trong những năm qua và từ bài học kinh nghiệm của một số địa phương có thể rút ra một số kinh nghiệm trong hoạt động QLNN về GQVL cho người lao động trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, như sau:
Một là, Thực hiện công tác theo dõi, thống kế, cung cấp thông tin về cung cầu và sự biến động cung cầu lao động; có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực, dạy nghề và sự dụng lao động toàn xá hội
Hai là, Phải có sự chỉ đạo sát đúng, quyết liệt các các ủy Đảng, chính quyền; sự phối hợp chặt chẽ của các sở, ban ngành, Mặt trận, đoàn thể và sự nỗ lực của chính người lao động. Phân công các ngành trực tiếp chỉ đạo, giupx đỡ từng xã; theo dõi, hướng dẫn thực hiện GQVL tại từng xã, thị trấn, thôn, làng.
Ba là, Biết phát huy nội lực của từng địa phương; đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân để đầu tư phát triển. Tổ chức lồng ghép có hiệu quả các chính sách, chương trình, dự án GQVL tạo thu nhập ổn định; lồng ghép các dự án đầu tư cơ sỏ hạ tầng đồng bộ để thúc đẩy phát triển sản xuất.
Bốn là, Thực hiện kịp thời các chính sách hỗ trợ tài chính, cho vay vốn và các biện pháp khuyến khiach để người có khả năng lao động tự GQVL, để các tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển nhiều ngành nghề mới nhằm tạo nhiều viecj làm cho NLĐ.
Năm là, Là cửa ngõ Đông Dương, huyện cần tang cường hoạt động hợp tác quốc tế để mở rộng thị trường lao động; đồng thời tuyên truyền, vận đông người dân tích cực học nghề, ngoại ngữ, mạnh dạn tham gia XKLĐ.
Sáu là, Thanh tra, kiểm tra giám sát việc thực thi các chính sách về GQVL cho lao động, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về GQVL.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, cơ sở lý luận về giải quyết việc làm đã tập trung làm rõ: Các khải niệm về việc làm, giải quyết việc làm, quản lý nhà nước về giải quyết việc làm.
Cũng tại chương này, luận văn đã làm rõ lý luận thế nào là quản lý, quản lý nhà nước về giải quyết việc làm; nội dung quản lý nhà nước về giải quyết việc làm; các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhà nước về giải quyết việc làm; các bài học kinh nghiệm của một số địa phương, từ đó sẽ hoạch định và thực thi các cơ chế, chính sách, giải pháp, biện pháp sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội.
Việc nghiên cứu vấn đề lý luận quản lý nhà nước về giải quyết việc làm là vấn đề mang tính khoa học và có tính ứng dụng trong thực tiẽn, là cơ sở để nhà nước quản lý tổng thể trong đó có quản lý nhà nước về việc làm và giải quyết việc làm
Với nội dung trên, luân văn đã hệ thống hóa được các cơ sở lý luận quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động theo nhiệm vụ đặt ra,cho việc phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giải quyết việc làm trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\TÀI LIỆU NĂM 2022\NĂM 2022 KHO SỐ 2/ Quản lý nhà nước về giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum


