Quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước tại huyện Hiệp Đức

Quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước tại huyện Hiệp Đức

Quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước tại huyện Hiệp Đức

MỞ ĐẦU

  1. Tính cấp thiết đề tài

Đầu tư“xây dựng cơ bản”(XDCB) từ“ngân sách nhà nước”(NSNN) có vai“trò quyết định trong việc tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế như hạ tầng giao thông cả đô thị và nông thôn, hệ thống hồ chứa nước, đập thủy lợi, kênh mương, đê điều, tưới tiêu, trường học, bệnh viện, cơ sở vật chất cho văn”hóa,… Đầu tư xây dựng cơ bản“là nhân tố quan trọng làm thay đổi chuyển dịch cơ cấu kinh tế của một quốc gia, địa phương, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, thu hút lao động, giải quyết việc làm, tăng năng suất sản xuất, tăng thu nhập xã hội, thúc đẩy phát triển công nghệ mới góp phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa đất”nước. Tuy nhiên, đầu tư xây dựng cơ bản ở Việt Nam“còn nhiều yếu kém, thiếu sót. Đáng kể nhất là trình trạng đầu tư dàn trải, kéo dài và kém hiệu quả, nợ đọng trong đầu tư tăng cao, đã trở thành vấn đề bức xúc hiện nay. Các hiện tượng tiêu cực còn khá phổ biến trong”xây dựng cơ bản“làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công trình, gây thất thoát, lãng phí lớn đang là vấn đề được quan tâm sâu sắc trong xã hội. Thất thoát ngân sách nhà nước trong xây”dựng cơ bản“không chỉ xảy ra ở một khâu nào đó, mà nó xảy ra ở tất cả các khâu: Chủ trương đầu tư, kế hoạch vốn, khảo sát, thiết kế, thẩm định thiết kế, thẩm định dự án đầu tư, đấu thầu, giám sát thi công và thanh quyết toán công trình. Do vậy thời gian qua, nhiều vụ việc tiêu cực, tham nhũng”trong xây dựng cơ bản“đã được đăng tải nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng. Những tin tức đó có thể chưa đầy đủ, toàn diện, nhưng đó là những địa chỉ cụ thể diễn ra tình trạng thất thoát trong”xây dựng cơ bản.

Quảng Nam nằm trong vùng Kinh tế trọng điểm miền Trung, là tỉnh tự cân đối ngân sách (từ năm 2017), có nhiều điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư, phát triển“kinh tế xã”hội. Nguồn vốn“đầu tư xây dựng cơ bản”do tỉnh quản lý tăng dần qua các năm, giai đoạn 2006-2010 là 12.325 tỷ đồng, chiếm 31,3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn, giai đoạn 2011-2015 là 22.853 tỷ đồng, chiếm 42,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và dự kiến“tổng vốn đầu tư xây dựng cơ bản giai đoạn”2016-2020 là 28.421 tỷ đồng, tăng 19% so với giai đoạn 2011-2015. Đây là nguồn vốn có ý nghĩa quan trọng trong đầu tư kết cấu hạ tầng, đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội của địa phương, cần phải được sử dụng hiệu quả.

Huyện“Hiệp Đức, là một trong 18 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Quảng Nam. Trong những năm”qua, huyện Hiệp Đức đã không ngừng nỗ lực phấn đấu đưa sự nghiệp xây dựng, đổi mới của huyện đạt được nhiều nhiều chuyển biến tích cực: Cơ“cấu kinh tế hợp lý”và chuyển dịch theo hướng hiện đại hoá; Các cơ sở kinh tế và hệ thống đô thị-trung tâm không ngừng phát triển, trong đó, đầu tư xây dựng cơ bản đã có những đóng góp quan trọng trong những thành tựu nói trên của huyện. Được thừa hưởng những thuận lợi của cơ chế tự chủ ngân sách, trong những năm gần đây nguồn vốn ngân sách Nhà nước phân bổ cho đầu tư xây dựng cơ bản của huyện không ngừng được gia tăng theo từng năm. Đây cũng là thuận lợi, mong muốn to lớn của toàn huyện và cũng đặt ra những khó khăn, thách thức đối với công tác quản lý đầu tư về xây dựng cơ bản của huyện. Công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn ngân sách Nhà nước hiện nay vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế trong tất cả các khâu của quá trình quản lý đầu tư.

Vì vậy, việc đánh giá“thực trạng công tác quản lý đầu tư cơ bản bằng nguồn ngân sách Nhà”nước, phân tích những tồn tại, hạn chế và từ đó tăng cường hiệu quả của công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn ngân sách nhà nước là việc hết sức quan trọng trong thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của huyện.

Xuất phát từ nhận thức nêu trên, cùng với mong muốn tìm hiểu và góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản của huyện, tôi chọn đề tài: “Quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam” làm luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế.

  1. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu chung

Trên cơ sở phân tích thực trạng của công tác quản lý về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại huyện Hiệp Đức trong giai đoạn 2014-2018, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác này trong thời gian đến.

2.2. Mục tiêu cụ thể

Hệ thống hóa cơ sở lý luận đối với“quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước”nói chung và trên địa bàn huyện nói riêng.

Phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại huyện Hiệp Đức, từ đó rút ra những mặt“hạn chế và nguyên nhân của những hạn”chế.

Đề xuất“giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại”huyện Hiệp Đức trong thời gian đến.

3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến“quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà”nước.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu về thực trạng và các giải pháp quản lý nhà nước về đầu tư xây cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.
  • Về không gian: Hoạt động quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.
  • Về thời gian: Hoạt động quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trong giai đoạn năm 2014 – 2018 và đề xuất giải pháp đến năm 2025.
  1. Phương pháp nghiên cứu

4.1. Nguồn dữ liệu nghiên cứu

Luận văn sử dụng nguồn số liệu chủ yếu là thứ cấp được thu thập từ các nguồn:

– Các văn bản pháp luật, chủ trương và chính sách, quy hoạch, kế hoạch, báo cáo liên quan của Trung ương, tỉnh Quảng Nam và huyện Hiệp Đức.

– Niên giám thống kê năm 2014-2018 của tỉnh Quảng Nam, huyện Hiệp Đức và các số liệu thống kê khác về đầu tư xây dựng cơ bản của tỉnh Quảng Nam và huyện Hiệp Đức.

– Các“tư liệu về lĩnh vực đầu tư XDCB đã được đăng tải trên các sách báo, tạp chí, các bài viết của các nhà khoa học, các chuyên gia kinh tế, các tài liệu đăng tải trên các phương tiện thông tin đại”chúng.

Ngoài dữ liệu thứ cấp nói trên, tác giả còn sử dụng bản câu hỏi sơ cấp nhằm thu thập thông tin quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại huyện Hiệp Đức thông qua điều tra, phỏng vấn trực tiếp 50 đối tượng là cán bộ thuộc các phòng, ban chức năng của huyện, Ban quản lý xây dựng cơ bản huyện, các đơn vị thi công, cán bộ tại UBND huyện, xã, thị trấn đang thực hiện công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản theo bảng hỏi được thiết kế sẵn (Phụ lục 1).

4.2. Phương pháp phân tích và xử lý thông tin

Vận“dụng lý luận chung về quản lý kinh tế và kinh tế học phát triển, lý luận về vốn đầu tư từ”NSNN. Kế“thừa có chọn lọc kết quả các công trình nghiên cứu trước đây. Đồng thời sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, cụ”thể:

– Phương pháp phân tích thống kê:“Phương pháp này được sử dụng để tổng hợp các dữ liệu nhằm phân tích những nội dung chủ yếu của đề tài, phân tích số liệu thống kê từ nhiều nguồn để rút ra những nhận xét, đánh giá mang tính khái quát cao làm nổi bật những nội dung chính của luận”văn. Trên cơ sở chuỗi“số liệu thu thập được từ năm 2014 đến năm 2018, luận văn sẽ phân tích và đưa ra những chỉ tiêu nhằm đánh giá tình hình quản lý chi đầu tư XDCB ngân sách nhà nước huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng”Nam.

– Phương pháp so sánh:“Sử dụng để phân tích và so sánh thực trạng chi đầu tư xây dựng cơ bản và thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản”qua các năm, so sánh các chỉ tiêu qua các năm, so sánh chéo“với các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước từ đó rút ra được những kinh nghiệm nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý đầu tư ngân sách nhà nước tại huyện Hiệp Đức, tỉnh”Quảng Nam.

– Phương pháp chuyên gia: Tác giả luận văn đã thu thập, khảo sát ý kiến của cán bộ quản lý các cấp về lĩnh vực nghiên cứu; cụ thể là tác giả tiến hành gửi bảng câu hỏi trực tiếp cho 50 cán bộ thuộc các phòng, ban chức năng của huyện, Ban quản lý xây dựng cơ bản huyện, các đơn vị thi công và cán bộ tại UBND huyện, xã, thị trấn đang thực hiện công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản nhằm tìm hiểu những đánh giá về thực trạng, khó khăn, vướng mắc về công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản của huyện. Những ý kiến của chuyên gia là nguồn thông tin quan trọng để luận văn đánh giá thực trạng, đồng thời, bảo đảm tính khả thi của các giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại huyện Hiệp Đức.

Quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước tại huyện Hiệp Đức
Quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước tại huyện Hiệp Đức

5. Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục các bảng, hình vẽ và tài liệu tham khảo. Nội dung nghiên cứu gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.

6. Tổng quan về tình hình nguyên cứu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC.

1.1. Những vấn đề chung về quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

1.1.1. Đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

1.1.1.1. Đầu tư xây dựng cơ bản

– Đầu tư: Theo mục 1 điều 3 của Luật đầu tư số 59/2005/QH11: “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư”.

Cụ thể hơn, đầu tư là việc sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. Các nguồn lực sử dụng có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, hoặc là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản tài chính hoặc là tài sản trí tuệ và nguồn lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn bộ xã hội.

– Xây dựng cơ bản: là hoạt động cụ thể tạo ra các tài sản cố định (khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị), kết quả của các hoạt động xây dựng cơ bản là các tài sản cố định, với năng lực phục vụ sản xuất nhất định. [28]

Sản phẩm hoạt động XBCD là những công trình xây dựng ,vật kiến trúc…có quy mô đa dạng kết cấu phức tạp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất sản phẩm xây lắp lâu dài. Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý và hạch toán sản phẩm xây lắp nhất thiết phải lập dự toán (dự toán thiết kế,dự toán thi công).

Thời gian tạo ra sản phẩm hoạt động XBCD thường kéo dài có thể vài tháng đến vài năm tùy thuộc và dự án. Do đó, quá trình thi công được chia thành nhiều giai đoạn,mỗi giai đoạn được chia thành nhiều công việc khác nhau,các công việc này thường diễn ra ngoài trời nên chịu tác động lớn của nhân tố môi trường như nắng,mưa,bão…Đặc điểm này đòi hỏi việc tổ chức quản lý,giám sát chặt chẽ sao cho đảm bảo chất lượng công trình đúng như thiết kế,dự toán.

– Đầu tư xây dựng cơ bản: là hoạt động đầu tư nhằm tạo ra các công trình xây dựng theo mục đích của người đầu tư, là lĩnh vực sản xuất vật chất tạo ra các tài sản cố định và tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho xã hội. Đầu tư xây dựng cơ bản là một hoạt động kinh tế. [28]

Như vậy, đầu tư XDCB trong nền kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát triển. Đầu tư XDCB là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định đưa vào hoạt động trong lĩnh vực kinh tế – xã hội, nhằm thu được lợi ích với nhiều hình thức khác nhau. Đầu tư XDCB trong nền kinh tế quốc dân được thông qua nhiều hình thức xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, nâng cấp, hiện đại hoá hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế.

1.1.1.2. Nguồn vốn ngân sách Nhà nước

– Ngân sách nhà nước: Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. [26]

Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Ngân sách địa phương gồm các cấp ngân sách: tỉnh, huyện, xã. Ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chi ngân sách; Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động trong thực hiện những nhiệm vụ được giao. Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) quyết định việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn.

– Nguồn vốn ngân sách nhà nước là nguồn vốn được“tích lũy của nền kinh tế được nhà nước bố trí trong kế hoạch ngân sách để cấp cho chủ đầu tư thực hiện các công trình theo kế hoạch hằng”năm.

Theo phân cấp quản lý NSNN, có thể chia nguồn vốn đầu tư từ NSNN thành:

  • Vốn đầu tư“của ngân sách trung ương được hình thành từ các khoản thu của ngân sách trung ương nhằm đầu tư cho các dự án phục vụ cho lợi ích quốc”gia.

Vốn đầu tư“của ngân sách địa phương được hình thành từ các khoán thu của ngân sách địa phương nhằm đầu tư cho các dự án phục vụ lợi ích của từng địa phương”đó. Nguồn vốn này thường được giao cho các cấp chính quyền địa phương quản lý và sử dụng.

– Chi đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước: là quá trình phân phối và sử dụng một phần vốn tiền tệ từ NSNN để đầu tư sản xuất tài sản cố định nhằm tăng cường, hoàn thiện và hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực sản xuất nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

– Đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước: là một bộ phận của đầu tư phát triển bằng ngân sách nhà nước được hình thành từ sự phân bổ của Nhà nước dùng để chi cho đầu tư XDCB nhằm xây dựng và phát triển cơ sở vật chất – kỹ thuật và kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội cho nền kinh tế quốc dân.

1.1.2. Vai trò và đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

1.1.2.1. Vai trò của đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

Đầu tư XBCD bằng nguồn vốn nhà nước có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội của một nền kinh tế quốc dân. Vai trò của đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN được thể hiện trên các mặt:

Một là, tạo ra hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng chung như: giao thông, thủy lợi, điện, y tế, trường học…, cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành tăng sẽ làm tăng sức sản xuất vật chất và dịch vụ của ngành. Phát triển và hình thành những ngành mới để phục vụ nền kinh tế quốc dân. Như vậy đầu tư XBCD đã làm thay đổi cơ cấu và quy mô phát triển của ngành kinh tế, từ đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn bộ nền kinh tế. Đây là điều kiện tăng nhanh giá trị sản xuất và tổng giá trị sản phẩm trong nước, tăng tích luỹ đồng thời nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân lao động , đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cơ bản về chính trị, kinh tế – xã hội.

Hai là, đầu tư XBCD bằng nguồn vốn nhà nước góp phần“quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội như xóa”đóa giảm nghèo, phát triền vùng xâu, vùng xa, hải đảo, góp phần tạo công bằng xã hội. Thông qua đầu tư XDCB đảm bảo sự phát triển ở các vùng khó khăn, giải quyết việc làm, thúc đẩy phát triển hàng hóa,“tăng thu nhập cho người dân, cải thiện đời sống”nhân dân.

Ba là, đầu tư XBCD bằng nguồn vốn nhà nước có vai trò định hướng hoạt động đầu tư trong nền kinh tế. Thông qua đầu tư Nhà nước thúc đẩy và định hướng các ngành, lĩnh vực mang tính chiến lược của nền kinh tế,“kích thích các chủ thể, lực lượng trong xã hội phát triển sản xuất kinh”doanh.

1.1.2.2. Đặc điểm của đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

Đầu“tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN”là hoạt động đặc thù,“có những đặc điểm riêng”biệt như sau:

Thứ nhất, vốn đầu tư XDCB từ NSNN thường có quy mô lớn, có tính chất cố định vốn cho hoạt động đầu tư XDCB lớn, do sản phẩm có khối lượng lớn, thời gian xây dựng và tồn tại của sản phẩm XDCB dài, chu kỳ sản xuất không lặp lại là đặc điểm nổi bật của đầu tư XDCB.

Thứ hai, vốn đầu tư XDCB từ NSNN“chủ yếu được sử dụng để hình thành nên cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và tài sản cố định trong nền kinh tế Các công trình hạ tầng kỹ thuật: đường sá, cầu cống, bến cảng, sân bay…”và“các công trình hạ tầng xã hội: trường học, bệnh viện, nhà văn hóa… đều”có ý nghĩa rất lớn về mặt kỹ thuật, kinh tế, chính trị xã hội,.. Các công trình đó đã góp phần tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho đất nước, làm thay đổi cơ cấu của nền kinh tế quốc dân từ đó đẩy mạnh tốc độ và nhịp điệu tăng năng suất lao động xã hội và phát triển nền kinh tế quốc dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng.

Thứ ba, các công trình xây dựng của hoạt động đầu tư XDCB sẽ hoạt động ở địa phương nơi thực hiện đầu tư cho nên các điều kiện tự nhiên, địa lý có ảnh hưởng lớn đến quá trình, chất lượng và phát huy hiệu quả của đầu tư. Vì vậy, cần đánh giá một cách tổng thể, khoa học và bố trí, phân bổ hợp lý vốn đầu tư nhằm phát huy hiệu quả đầu tư, khai thác lợi thế của từng địa phương, đảm bảo quốc phòng, an ninh, phù hợp với chiến lược tổng thể phát triển của đất nước.

Thứ tư,“vốn đầu tư XDCB dễ bị thất thoát, lãng”phí. Vốn đầu tư XDCB có quy mô lớn, thời gian đầu tư kéo dài, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, diễn ra không chỉ ở một địa phương mà còn nhiều địa phương với nhau, chủ“đầu tư thường không phải là người sử dụng”trực tiếp“nên rất dễ xảy ra tình trạng thất thoát, lãng”phí. Sự thất thoát,“lãng phí không những gây thiệt hại về kinh tế mà còn ảnh hưởng tiêu cực về chính trị. Tình trạng tham nhũng, bớt xén các khoản chi của Nhà nước cho đầu tư xây dựng có thể gây nhiễu loạn xã hội, làm thay đổi chủ trương đầu tư, làm giảm uy tín, vai trò của các cơ quản nhà nước, làm giảm lòng tin của nhân dân đối”với Nhà nước.

1.1.3. Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

1.1.3.1. Quản lý

Quản“lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý”và“khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của”sự vật.[12]

Chủ thể quản lý, là yếu tố tạo ta tác động trong quá trình hoạt động.“Chủ thể quản lý có thể là cá nhân”hay tổ chức. Chủ thể quản lý tác dộng lên đối tượng quản lý bằng các công cụ với phương pháp quản lý thích hợp theo các nguyên tắc nhất định. [12]

Đối tượng quản lý là yếu tố tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý. Khách thể quản lý có thể là những hành vi thực thể (cá nhân, tổ chức, sự vật hay môi trường …) nhưng cũng có thể là mối quan hệ giữa các thực thể trong quá trình vận động của chúng. [12]

Mục tiêu quản lý“là căn cứ để chủ thể quản lý đưa ra các tác động quản lý cũng”như lựa chọn các “phương pháp quản lý thích”hợp. Chủ thể và khách thể quản lý đều hướng tới mục tiêu quản lý vì đó là cái đích cần đạt được trong tương lai do chủ thể và khách thể thống nhất định trước. [12]

1.1.3.2. Quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

Quản“lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội”và“hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của”Nhà nước. [11]

– Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà nước được trao quyền, gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp. [11]

– Đối tượng quản lý của Nhà nước là tất cả cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, công dân làm việc bên ngoài lãnh thổ quốc gia. [11]

– Quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật nhà nước, chính sách để quản lý xã hội. [11]

– Mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của toàn xã hội. [11]

* Quản“lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước”là“sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước”đối với“các quá trình xã hội và hành vi hoạt động XDCB của con”người; do các cơ quan hành pháp thực hiện; nhằm đảm bảo hiệu quả kinh tế – xã hội cao và mục tiêu đề ra; đồng thời, ngăn ngừa các ảnh hưởng tiêu cực của các dự án; kiểm tra, kiểm soát,“ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong việc sử dụng vốn Nhà nước nhằm tránh thất”thoát, lãng phí NSNN.

– Chủ thể quản lý nhà nước về đầu tư XBCD bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước là cơ quan hành pháp Nhà nước được phân cấp theo thẩm quyền từ Trung ương đến địa phương. Trong đó:“Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng trong phạm vi cả”nước; Bộ Xây“dựng chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư xây”dựng; các bộ và cơ quan ngang bộ“có trách nhiệm phối hợp với Bộ Xây dựng”thuộc phạm vi quản lý được phân công; UBND các“cấp thực hiện quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng trên địa bàn theo sự phân”cấp; các sở, ban, ngành ở tỉnh, phòng ban ở huyện, BQL, UBND xã thực hiện chức năng liên quan đến quản lý nhà nước về đầu tư XDCB theo sự phân công của UBND cấp tỉnh, huyện.

– Đối“tượng quản lý chính là vốn đầu tư”và tổ chức thực hiện đầu tư XBCD bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước.

– Mục tiêu“quản lý đầu tư”XBCD bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước là bảo đảm đúng nguyên tắc,“quy định của pháp luật, đúng”mục đích đầu tư và hiệu quả của việc sử dụng vốn.

– Các nguyên tắc của quản lý đầu tư XBCD:

+ Tuân thủ“quy định của pháp luật về quản lý và sử dụng vốn đầu”tư công.

+ Phù hợp với chiến lược và kế hoạch“phát triển kinh tế – xã hội”và“quy hoạch có liên quan theo quy định của pháp luật về quy”hoạch.

+ Thực“hiện đúng trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức,“cá nhân liên quan đến quản lý và sử dụng vốn đầu tư”công.

+ Quản lý“việc sử dụng vốn đầu tư công theo đúng quy định đối với từng nguồn vốn; bảo đảm đầu tư tập”trung, đồng bộ, chất lượng, tiết kiệm, hiệu quả và khả năng cân đối nguồn lực; không để thất thoát, lãng phí.

+ Bảo đảm“công khai, minh bạch trong hoạt động”đầu tư.

1.2. Nội dung quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

1.2.1. Ban hành các văn bản và các chính sách liên quan đến quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

Quốc hội ban hành các luật liên quan đến đầu tư XDCB gồm Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Thuế, Luật Đấu thầu. Chính phủ ban hành các Nghị định hướng dẫn thi hành các luật trên đồng thời các văn bản dưới luật khác nhằm khuyến khích đầu tư, đảm bảo cho các dự án đầu tư thực hiện đúng pháp luật và đạt hiệu quả kinh tế – xã hội cao.

Để đáp ứng được yêu“cầu về QLNN trong lĩnh vực này, hệ thống văn bản của Nhà nước giải quyết những vấn đề cơ bản”là:

Thứ nhất, phân định mức độ QLNN về đầu tư đối với“từng loại dự án, từng nhóm dự án có những nhóm dự án Nhà nước quản lý toàn diện, có những nhóm dự án chỉ quản lý một giai đoạn hay một quá trình”của công việc đầu tư,“những vấn đề này thường được quy định trong Luật Xây dựng hay Nghị định về đầu tư xây dựng.

Thứ hai,“quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp, các ngành trong quản lý”và“thực thi hoạt động đầu tư và xây dựng, quy định trách nhiệm của từng cơ quan trong việc quyết định chủ trương đầu”tư; quyết định đầu tư;“phê duyệt quy hoạch ngành; quy hoạch địa phương và vùng lãnh thổ; phê duyệt thiết kế – tổng dự toán và“dự toán công trình tương ứng với nhóm dự án được đầu”tư; trách nhiệm“của chủ đầu tư trong việc thực thi pháp luật trong đầu tư; trách nhiệm của nhà thầu tham gia đầu tư; trách nhiệm của các cơ quan tư vấn đấu thầu, thiết kế, giám sát”thi công…“trách nhiệm của các cấp các ngành trong việc tổ chức đấu thầu các dự án đầu”tư.“Đồng thời quy định việc phối hợp của các cấp, các ngành trong việc quản lý những vấn đề xây dựng có liên quan đến các ngành, các cấp”đó.

Thứ ba,“quy định trình tự các bước thực hiện đầu tư, những thủ tục cơ bản trong quá trình thực hiện đầu”tư.

Thứ tư,“quy định hệ thống kiểm tra giám sát hoạt động đầu tư và xây dựng ở các khâu, tránh sự chồng chéo và bỏ sót”nhiệm vụ.

Trên cơ sở các Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Thuế, Luật Đấu thầu, các nghị định, thông tư của Chính phủ, nghị quyết, quyết định của HĐND, UBND tỉnh, HĐND, UBND huyện ban hành nghị quyết về phân bổ vốn hằng năm, chủ trương đầu tư, phê duyệt quy hoạch, kế hoạch theo thẩm quyền, quyết định mời thầu, quyết định phê duyệt đầu tư … ngoài ra còn nhiều văn bản khác liên quan nhằm triển khai công tác quản lý nhà nươc về đầu tư XBCD được hiệu quả.

* Tiêu chí đánh giá công tác ban hành văn bản:

– Phải“bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống”nhất.

– Phải phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, điều kiện phát triển của địa phương.

– Phải toàn diện, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, đảm bảo phát huy vai trò và hiệu lực.

– Phải đảm bảo về quy trình ban hành văn bản, hợp lý, kịp thời,cụ thể, chặt chẽ.

1.2.2. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

1.2.2.1. Xây dựng quy hoạch trong đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

Quy hoạch“là việc sắp xếp, phân bố không gian các hoạt động kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh gắn với phát triển kết cấu hạ tầng, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên lãnh thổ xác định để sử dụng hiệu quả các nguồn lực của đất nước phục vụ mục tiêu phát triển bền vững cho”thời kỳ xác định. [27]

Xây dựng quy hoạch là quy trình“bao gồm việc tổ chức lập, thẩm định, quyết định hoặc phê duyệt, công bố, thực hiện, đánh giá và điều chỉnh”quy hoạch. [27]

Các dự án đầu tư XBCD từ nguồn vốn ngân sách nhà nước cần đảm bảo phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, huyện, quy hoạch ngành và kế hoạch sử dụng đất đã được cấp thẩm quyền phê duyệt. Đối với các dự án không có trong quy hoạch của tỉnh, huyện, ngành đã được phê duyệt thì chủ đầu tư cần báo cáo cấp có thẩm quyền theo quy định xem xét chấp thuận và phê duyệt bổ sung quy hoạch trước khi lập kế hoạch đầu tư.

Quy trình lập quy hoạch đối với cấp huyện được thực hiện theo các bước như sau: [27]

– Cơ“quan lập quy hoạch chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan, Ủy ban nhân dân cấp huyện xây dựng nhiệm vụ lập quy hoạch, báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét trình Thủ tướng Chính phủ”phê duyệt;

– Cơ“quan lập quy hoạch lựa chọn tổ chức tư vấn lập quy hoạch; chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan, Ủy ban nhân dân cấp huyện nghiên cứu, xây dựng quy”hoạch; phân“tích, đánh giá, dự báo về các yếu tố, điều kiện, nguồn lực, bối cảnh phát triển, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, đề xuất các quan điểm chỉ đạo và mục tiêu, các định hướng ưu tiên phát triển làm cơ sở lập”quy hoạch;

– Các“cơ quan, tổ chức liên quan, Ủy ban nhân dân cấp huyện đề xuất nội dung đưa vào quy hoạch thuộc lĩnh vực phụ trách và gửi cơ quan lập”quy hoạch;

– Cơ“quan lập quy hoạch chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan, Ủy ban nhân dân cấp huyện xem xét, xử lý các vấn đề liên ngành, liên huyện nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và hiệu quả của”quy hoạch; đề xuất“điều chỉnh, bổ sung nội dung quy hoạch do các cơ quan, tổ chức, Ủy ban nhân dân cấp huyện xây”dựng;

– Các“cơ quan, tổ chức liên quan, Ủy ban nhân dân cấp huyện điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện nội dung quy hoạch được phân công gửi cơ quan lập quy”hoạch;

– Cơ“quan lập quy hoạch hoàn thiện quy hoạch và gửi lấy ý kiến”theo quy định;

– Cơ quan lập quy hoạch tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý và hoàn thiện quy hoạch trình Hội đồng thẩm định quy hoạch;

– Cơ“quan lập quy hoạch hoàn thiện quy hoạch theo kết luận của Hội đồng thẩm định quy hoạch trình Ủy ban nhân dân cấp”tỉnh;

– Ủy“ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh xem xét, thông qua quy hoạch trình Thủ tướng Chính phủ phê”duyệt.

* Tiêu chí đánh giá xây dựng quy hoạch:

– Phù hợp với“chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, chiến lược phát triển ngành, lĩnh vực; phù hợp”với quy“hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh; bảo”đảm quốc phòng, an ninh,“tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội bền vững; công khai, minh bạch, kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia, cộng đồng và”cá nhân;

– Tổ“chức, sắp xếp không gian lãnh thổ trên cơ sở khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và các đặc điểm khác theo từng giai đoạn phát”triển;

– Đáp ứng“nhu cầu sử dụng hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật; bảo đảm sự kết nối, thống nhất công trình hạ tầng kỹ”thuật;

– Bảo“vệ môi trường, phòng, chống thiên tai và ứng phó với biến”đổi khí hậu;

– Xác lập cơ sở cho công tác kế hoạch, quản lý đầu tư và thu hút đầu tư xây dựng, quản lý, khai thác và sử dụng các công trình xây dựng.

1.2.2.2. Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

Kế hoạch đầu tư“ là một tập hợp các mục tiêu, định hướng, danh mục chương trình, dự án đầu tư; cân đối nguồn vốn đầu tư, phương án phân bổ vốn, các giải pháp huy động”nguồn lực và triển khai thực hiện. [25]

Kế hoạch vốn đầu tư XDCB là“công cụ quản lý nhà nước”quan trọng trong dự toán chi NSNN hàng năm. Đối với dự án đầu tư sử dụng vốn NSNN, kế“hoạch vốn đầu tư hàng năm là điều kiện tiên quyết để được thanh”toán vốn, đồng thời là mức vốn tối đa được phép thanh toán cho dự án trong năm kế hoạch. Do đó, lập kế hoạch đầu tư là một công tác quan trọng trong quản lý nhà nước về đầu tư XBCD, công tác này đòi hỏi lập kế hoạch vốn đầu tư hàng năm phù hợp với quy hoạch đã được duyệt và đảm bảo được tiến độ theo quy định giúp cho quá trình giải ngân nhanh gọn, tăng cường hiệu quả quản lý vốn đầu tư bằng NSNN.

Quy trình thực hiện kế hoạch vốn đầu tư để giao kế hoạch vốn từ NSNN, thông thường phải tiến hành các bước sau: [25]

Hàng năm,“căn cứ vào chỉ thị của Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội”và“dự toán NSNN năm sau, hướng dẫn của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội”và“kế hoạch đầu tư phát triển năm sau và Bộ Tài chính thông báo số kiểm”tra. UBND cấp trên chỉ đạo và“thông báo số kiểm tra về dự toán ngân sách cho các đơn vị, ban ngành trực thuộc và UBND cấp dưới lập dự toán”NSNN. Sau khi lập dự toán xong, UBND cấp tỉnh lập, tổng hợp dự toán NSĐP năm sau gửi Bộ Tài chính, Bộ KH-ĐT xem xét, thẩm tra dự toán.

Bộ“Tài chính chủ trì, tổng hợp và lập dự toán thu, chi NSNN, phương án phân bổ NSTƯ năm sau báo cáo Chính phủ để trình”Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Trên“cơ sở ý kiến thẩm tra của các cơ quan của Quốc hội, Bộ Tài chính chủ trì hoàn thiện các báo cáo về thu, chi NSNN. Sau khi Quốc hội quyết định dự toán NSNN, phương án phân bổ NSTƯ, Thủ tướng Chính phủ giao dự toán NSNN cho các đơn vị, các”cơ quan.

HĐND“cấp tỉnh quyết định dự toán NSĐP, phân bổ ngân sách cấp tỉnh năm sau cho các ngành, địa phương cấp dưới, HĐND cấp dưới quyết định dự toán NSĐP, phân bổ dự toán năm sau ngân sách”cấp mình. Sau khi HĐND quyết định dự toán ngân sách, UBND“cùng cấp giao dự toán NSNN năm sau cho các cơ quan, đơn vị thuộc cấp mình, cấp dưới; đồng thời báo cáo với UBND”và“cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp, UBND cấp tỉnh tổng hợp báo cáo Bộ Tài chính về dự toán ngân sách đã được HĐND cấp tỉnh quyết”định.

Phương án“xây dựng phân bổ vốn đầu tư của UBND các cấp” phải trình lên“HĐND cùng cấp thông qua và quyết”định.

– Đối với cấp tỉnh,“Sở Tài chính có trách nhiệm phối hợp với Sở kế hoạch và đầu tư”dự kiến mức“phân bổ vốn đầu tư cho từng dự án do cấp tỉnh quản lý báo cáo với UBND cấp tỉnh quyết”định.

– Đối với cấp huyện,“Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan của huyện”tham mưu cho“UBND huyện phân bổ vốn đầu tư cho từng dự án do huyện”quản lý.

– Đối với cấp xã,“bộ phận quản lý tài chính ngân sách ở xã, thị trấn lập phương án phân bổ vốn đầu tư”XDCB“cho các dự án thuộc phạm vi cấp xã quản lý được phân”cấp.

Sau khi“vốn đầu tư được phân bổ cho từng dự”án; UBND“cấp xã gửi kế hoạch vốn đầu tư XDCB cho Phòng Tài chính – Kế”hoạch; UBND“cấp huyện gửi kế hoạch vốn đầu tư XDCB cho Sở Tài chính, Sở kế hoạch và đầu tư; UBND cấp tỉnh, thành phố gửi kế hoạch đầu tư”XDCB cho“Bộ Tài chính để kiểm tra theo các quy định. Sau khi kiểm tra, nếu kế hoạch phân bổ vốn đầu tư XDCB chưa bảo đảm theo đúng quy định thì phải thực hiện điều”chỉnh. Trên cơ sở kế hoạch vốn đầu tư đã được phân bổ hoặc sau khi điều chỉnh phù hợp với các quy định,“UBND các cấp giao chỉ tiêu kế hoạch chính thức cho các Chủ đầu tư để thực hiện, đồng gửi KBNN nơi Chủ đầu tư mở tài khoản của dự án để theo dõi và làm căn cứ kiểm soát thanh toán vốn đầu”tư.

* Tiêu chí đánh giá công tác lập kế hoạch:

– Kế hoạch đầu tư hằng năm phải phù hợp với kế hoạch đầu tư trung hạn đã được phê duyệt.

– Phù hợp chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và các quy hoạch đã được phê duyệt.

– Phù hợp với khả năng cân đối nguồn vốn đầu tư.

– Đảm bảo công khai, minh bạch, công bằng.

– Việc phân bổ vốn đầu tư XDCB phải tuân thủ nguyên tắc, tiêu chí, định mức phân bổ vốn đầu tư công trong từng giai đoạn đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

1.2.3. Quản lý quy trình đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

1.2.3.1 Quản lý về lập dự án, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư

Lập dự án đầu tư“xây dựng gồm việc lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng”(nếu có),“Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế – kỹ thuật đầu tư xây dựng”và“thực hiện các công việc cần thiết để chuẩn bị đầu tư xây”dựng. [28]

Thẩm định là việc kiểm tra, đánh giá của người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, cơ quan chuyên môn về xây dựng đối với những nội dung cần thiết trong quá trình chuẩn bị và thực hiện dự án đầu tư xây dựng làm cơ sở xem xét, phê duyệt. [28]

Thẩm“định dự án đầu tư xây dựng gồm thẩm định thiết kế cơ sở và nội dung khác của Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây”dựng. Thẩm quyền thẩm định dự án tùy thuộc vào phân loại và cấp công trình theo quy định. Thẩm định dự án nhằm mục đích đánh giá sự phù hợp, khả năng kết nối hạ tầng kỹ thuật, sự cần thiết của đầu tư, đảm bảo về quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, đáp ứng nhu cầu về sử dụng đất, giải phóng mặt bằng … cơ sở để cấp có thẩm quyền phê duyệt và quyết định đầu tư.

Phê duyệt dự án đầu tư là hành động xem xét và đồng ý của người hoặc cơ quan có thẩm quyền về dự án đầu tư của cơ quan chuyên môn trình lên.

Thẩm quyền thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước đối với cấp huyện: [28]

– Cơ quan chuyên môn về xây dựng cấp huyện“chủ trì thẩm định báo cáo kinh tế – kỹ thuật đầu tư xây dựng”có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng đối với các dự án có nguồn vốn thuộc thẩm định“quyết định đầu tư của cấp huyện và các dự án có sử dụng vốn ngân sách”tỉnh, ngân sách Trung ương do cấp huyện làm chủ đầu tư (trừ phần thiết kế công nghệ). Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện thẩm định các nội dung khác (nếu có) của dự án có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng do UBND cấp huyện, cấp xã quyết định đầu tư và làm chủ đầu tư sử dụng vốn ngân sách Trung ương, vốn ngân sách tỉnh.

– Chủ tịch UBND cấp huyện phê duyệt các dự án đầu tư có nguồn vốn thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của HĐND và UBND cấp huyện theo Luật Đầu tư công. UBND cấp huyện phê duyệt các dự án đầu tư có yêu cầu lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật sử dụng nguồn vốn ngân sách tỉnh, ngân sách Trung ương có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng, theo thông báo danh mục đầu tư của UBND tỉnh, quyết định chủ trương đầu tư của cấp có thẩm quyền, văn bản thẩm định nguồn vốn và khả năng của Bộ, ngành, Trung ương, mức hỗ trợ của UBND tỉnh; sau khi có kết quả thẩm định của cơ quan chuyên môn về xây dựng cấp huyện, Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện chủ trì thẩm định các nội dung khác của dự án và tổng hợp kết quả thẩm định trình UBND huyện phê duyệt.

Chủ đầu tư lập:

– Báo cáo khả thi

– Báo cáo kinh tế – kỹ thuật đối với dự án dưới 15 tỷ

– Đánh giá tác động môi tường, PCCC, nước, quy hoạch ….

Quyết định phê duyệt chủ trương đầu tư

Phòng KT-HT & Phòng TC-KH huyện tổ chức thẩm định

Tổng hợp kết quả thẩm định báo cáo UBND huyện

UBND huyện xem xét ra quyết định phê duyệt dự án

Chủ đầu tư tiến hành tổ chức lựa chọn nhà thầu

Hình 1.1. Quy trình lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư XDCB cấp huyện

* Tiêu chí đánh giá công tác thẩm định, phê duyệt, quyết định đầu tư

– Phù“hợp về quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch xây dựng; khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng đất, giải phóng mặt”bằng; kinh nghiệm“quản lý của chủ đầu tư; các giải pháp bảo vệ môi”trường; phòng chống cháy nổ; bảo đảm quốc phòng – an ninh và các yếu tố khác;

– Bảo“đảm tính hiệu quả của dự án gồm tổng mức đầu tư, tiến độ thực hiện dự”án; chi phí khai thác vận hành; khả“năng huy động vốn theo tiến độ, phân tích rủi ro, hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế – xã hội của dự”án;

– Đáp“ứng nhu cầu tăng thêm về quy mô, công suất, năng lực khai thác sử dụng trong từng”thời kỳ.

1.2.3.2. Quản lý về lựa chọn nhà thầu xây dựng

Nhà thầu“trong hoạt động đầu tư xây dựng (sau đây gọi là nhà thầu) là tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện năng lực hoạt động”xây dựng,“năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động đầu tư”xây dựng. [28]

Đấu thầu (lựa chọn nhà thầu) là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế. [23]

Các hình thức tổ chức lựa chọn nhà thầu được quy đinh tại Luật Đấu thầu 2013 như sau:

– Đấu thầu rộng rãi là hình thức lựa chọn nhà thầu trong đó không hạn chế nhà thầu tham dự.

– Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu được áp dụng trong trường hợp gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù mà chỉ có một số nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu.

– Chỉ định thầu là hình thức lựa chọn nhà thầu được áp dụng trong các trường hợp: Gói thầu khắc phục sự cố ngay; liên quan đến bí mật nhà nước; phòng chống dịch bệnh; các yếu tố do bản quyền, công nghệ, đặc thù mà không thể mua được từ nhà thầu khác.

– Chào hàng cạnh tranh là hình thức lựa chọn được áp dụng đối với gói thầu có giá trị trong hạn mức theo quy định của Chính phủ: Gói thầu dịch vụ phi tư vấn hoặc xây lắp công trình thông dụng, đơn giản; Gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng, sẵn có trên thị trường và tương đương nhau về chất lượng.

– Mua“sắm trực tiếp được áp dụng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa tương tự thuộc cùng một dự án, dự toán mua sắm hoặc thuộc dự án, dự toán mua sắm”khác.

– Tự thực“hiện áp dụng đối với gói thầu thuộc dự án, dự toán mua sắm trong trường hợp tổ chức trực tiếp quản lý, sử dụng gói thầu có năng lực kỹ thuật, tài chính và kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu của gói”thầu.

– Lựa chọn“nhà thầu trong trường hợp đặc biệt áp dụng trong trường hợp gói thầu có yếu tố đặc thù, riêng biệt mà không thể áp dụng các”hình thức lựa chọn ở trên và“được cấp có thẩm quyền quyết”định.

-Tham“gia thực hiện của cộng đồng là hình thức lựa chọn nhà thầu áp dụng với các gói thầu thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia có quy mô nhỏ, yêu cầu kỹ thuật đơn giản”và“cộng đồng dân cư, tổ nhóm thợ tại địa phương có thể tham gia thực hiện được và có nhu cầu thực”hiện.

Các“phương thức đấu thầu theo quy định của Luật Đấu thầu”gồm:“Một giai đoạn, một túi hồ”sơ; một giai đoạn, hai túi hồ sơ;“hai giai đoạn, một túi hồ sơ; hai giai đoạn, hai túi”hồ sơ. Tùy thuộc vào từng gói thầu cụ thể mà cơ quan có thẩm quyền quyết định hình thức và phương thức lựa chọn nhà thầu.

Bảng 1.1: Phương thức lựa chọn nhà thầu

STTPhương thứcTrường hợp áp dụng
1Một giai đoạn, một túi hồ sơ– Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn; gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ;

– Chào hàng cạnh tranh đối với gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp;

– Chỉ định thầu đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp;

– Mua sắm trực tiếp đối với gói thầu mua sắm hàng hóa;

– Chỉ định thầu đối với lựa chọn nhà đầu tư.

2Một giai đoạn, hai túi hồ sơ– Đấu thầu“rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ”phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp;

– Đấu thầu rộng rãi đối với lựa chọn nhà đầu tư.

3Hai giai đoạn, một túi hồ sơ– Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô lớn, phức tạp.
4Hai giai đoạn, hai túi hồ sơ– Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, có tính đặc thù.

* Tiêu chí đánh giá công tác lựa chọn nhà thầu:

– Việc lựa chọn nhà thầu phải đảm bảo quy định, quy trình của pháp luật.

– Khách quan, công khai, minh bạch, công bằng; nhà thầu phải đủ điều kiện hoạt động, năng lực thực hiện.

– Giá trị trúng thầu phải đảm bảo đúng và đầy đủ các nội dung chi phí công trình, dự án đầu tư XDCB được phê duyệt.

– Việc thẩm định, phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu phải đúng theo thẩm quyền.

1.2.3.3. Quản lý về đền bù giải phóng mặt bằng

Giải“phóng mặt bằng là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng”và“một bộ phận dân cư trên một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình”mới.

Quá“trình giải phóng mặt bằng được tính từ khi bắt đầu hình thành hội đồng giải phóng mặt bằng đến khi giải phóng xong”và“giao cho chủ đầu”tư mới. Đây là“một quá trình đa dạng và phức tạp thể hiện sự khác nhau giữa các dự án và liên quan đến lợi ích trực tiếp của các bên tham gia”và cả của xã hội.

Công“tác giải phóng mặt bằng mang tính quyết định đến tiến độ của các dự án, là khâu đầu tiên thực hiện dự”án. Trong đó“đền bù thiệt hại là khâu quan trọng quyết định tiến độ giải phóng mặt”bằng.

Công“tác đền bù giải phóng mặt bằng khi Nhà nước”thu hồi“đất phục vụ mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng trong quá trình”hiện nay không chỉ đơn thuần là“sự đền bù về mặt vật chất mà còn phải đảm bảo lợi ích của người dân phải”di chuyển. Đó là“họ phải có được chỗ ở ổn định, điều kiện sống bằng hoặc tốt hơn nơi cũ, nhưng chắc chắn phải tốt hơn nơi cũ về mọi mặt thì mới tạo điều kiện cho người dân sống”và ổn định.

* Các tiêu chí đánh giá đối với công tác giải phóng mặt bằng:

– Phải đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân có liên quan;

– Chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của Nhà nước phù hợp từng địa phương, đối tượng

– Đảm bảo tiến độ giải phóng mặt bằng.

1.2.3.4. Quản lý về tạm ứng, thanh toán, quyết toán dự án hoàn thành

a. Công tác tạm ứng, thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước:

Tạm ứng, thanh toán vốn đầu tư là quá trình Kho bạc nhà nước (KBNN) thực hiện đề nghị của chủ đầu tư tạm ứng, thanh toán vốn đầu tư đến tay các nhà thầu (tư vấn, xây dựng, cung ứng thiết bị) và chi tiêu cho việc quản lý của chủ đầu tư.

Bản chất của việc cấp vốn là Nhà nước (chủ đầu tư là người đại diện) mua lại sản phẩm xây dựng, lắp đặt, thiết bị công nghệ và các sản phẩm XBCD khác của các nhà thầu. Do đó, việc cấp đúng, cấp đủ tức là cấp đúng giá trị của bản thân hàng hoá XDCB mà nhà thầu bán cho chủ đầu tư.“Cơ chế kiểm soát thanh toán vốn đầu tư từ NSNN”là khâu quan trọng trong việc giảm thất thoát, tiêu cực trong đầu tư xây dựng, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.

Để thanh toán, chủ đầu tư phải mở tài khoản ở KBNN.“Để phục vụ cho công tác quản lý, kiểm soát thanh toán vốn đầu tư, chủ đầu tư phải gửi đến KBNN các tài liệu cơ sở của dự án”(văn bản phê duyệt của cơ quan có thẩm quyền, dự án đầu tư xây dựng công trình, văn bản lựa chọn nhà thầu, hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu,…).

Cấp phát thanh toán vốn đầu tư XDCB từ NSNN bao gồm: cấp phát và thu hồi vốn tạm ứng; cấp phát thanh toán khối lượng XDCB hoàn thành.

* Các tiêu chí đánh giá công tác tạm ứng, thanh toán vốn:

– Phải phù hợp với tiến độ của công trình theo kế hoạch đã được duyệt, trong đó phải xây dựng kế hoạch cam kết chi.

– Đảm bảo vốn cấp không được vượt quá kế hoạch vốn đầu năm phân bổ cho dự án.

– Đảm bảo giá trị cấp phát mỗi quý trong một năm kế hoạch (cấp theo tiến độ) phải phù hợp với khối lượng nghiệm thu của công trình.

– Bảo đảm tiết kiệm và hiệu quả sử dụng nguồn vốn của NSNN cho đầu tư XDCB.

b. Công tác quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước:

Kết“thúc năm ngân sách, các đơn vị chủ đầu tư lập bảng báo cáo tổng hợp quyết toán vốn đầu tư có đối chiếu số liệu thanh toán”VĐT từng dự án về số thanh toán trong năm theo biểu mẫu quy định và“tổng số vốn đã thanh toán đến hết niên độ NSNN gửi KBNN xác”nhận. KBNN“có trách nhiệm kiểm tra, đối chiếu, xác nhận số vốn đã cấp phát trong năm và lũy kế từ khởi công đến hết niên độ NSNN cho từng dự án do Chủ đầu tư”lập. Chủ đầu tư gửi báo cáo thực hiện vốn đầu tư trong năm của từng dự án đến cấp quyết định đầu tư, KBNN và cơ quan tài chính đồng cấp.

Quyết toán vốn đầu tư phải xác định đầy đủ, chính xác số vốn đầu tư đã thực hiện hàng năm và tổng mức vốn đầu tư đã thực hiện dự án; phân định rõ nguồn vốn đầu tư;“giá trị tài sản cố định, tài sản lưu động hình thành qua đầu tư; giá trị tài sản bàn giao đưa vào sản xuất, sử”dụng;“quy đổi vốn đầu tư đã thực hiện về mặt bằng giá trị tại thời điểm bàn giao đưa dự án vào vận hành để xác định giá trị tài sản mới tăng”và“giá trị tài sản bàn giao nếu dự án kéo dài trong nhiều”năm;“phân định rõ trách nhiệm của chủ đầu tư, nhà thầu, KBNN, cơ quan quản lý Nhà nước liên quan trong quá trình”đầu tư.

Chủ“đầu tư có trách nhiệm lập hồ sơ quyết toán vốn đầu tư công trình, hạng mục công trình hoàn thành để trình người quyết định đầu tư”phê duyệt chậm nhất là 12 tháng đối với dự án quan trọng Quốc gia và“dự án nhóm A, 9 tháng đối với dự án nhóm B và 6 tháng đối với dự án nhóm C”kể từ khi công trình hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng. Sau 6 tháng kể từ khi có quyết định phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành,“chủ đầu tư có trách nhiệm giải quyết công nợ, tất toán tài khoản của dự án tại cơ quan”thanh toán, cho vay, cấp phát vốn đầu tư. Riêng các dự án do Thủ tướng Chính phủ quyết định đầu tư thì Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt quyết toán.

Bên giao thầu và bên nhận thầu có trách nhiệm quyết toán hợp đồng xây dựng trong vòng 30 ngày sau khi bên nhận thầu hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng (trừ nghĩa vụ bảo hành công trình theo quy định) và đề nghị quyết toán hợp đồng.

Bên nhận thầu có trách nhiệm lập quyết toán hợp đồng gửi bên giao thầu để xác định rõ giá hợp đồng đã ký kết, giá đã thanh toán, giá được thanh toán và các nghĩa vụ khác mà bên giao thầu cần phải thực hiện theo quy định của hợp đồng. Bên giao thầu có trách nhiệm kiểm tra và quyết toán với bên nhận thầu và chịu trách nhiệm về giá trị hợp đồng đã quyết toán.

* Tiêu chí đánh giá công tác quyết toán vốn đầu tư theo niên độ ngân sách hằng năm:

– Quyết toán vốn đầu tư XDCB đúng thời gian quy định.

– Số quyết toán vốn đầu tư phản ánh đúng giá trị khối lượng thực hiện của vốn đầu tư trong năm.

– Việc thẩm định, phê duyệt quyết toán phải đúng theo thẩm quyền bảo đảm cho số liệu quyết toán có đầy đủ cơ sở pháp lý nâng cao hiệu quả công tác quản lý vốn đầu tư XDCB.

1.2.4. Thanh tra, kiểm tra, giám sát đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

Để quản lý chặt chẽ dự án đầu tư XDCB từ NSNN, công tác thanh tra, kiểm tra giám sát cần phải được đề cao nhằm góp phần hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý dự án đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN, phát hiện và có biện pháp ngăn chặn kịp thời những thất thoát, lãng phí và những vấn đề tiêu cực khác có thể xảy ra; đồng thời, là cơ sở để xử lý các vi phạm trong hoạt động đầu tư XBCD tạo sự ren đe, đấu tranh ngăn ngừa tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, góp phần đảm bảo chất lượng, hiệu quả của đầu tư.

Công tác giám sát, kiểm tra thanh tra trong hoạt động quản lý đầu tư XDCB bằng nguồn vốn NSNN được thực hiện ở tất cả các khâu trong quy trình đầu tư, trong đó tập trung một số khâu như: lập, thẩm định, phê duyệt đầu tư; cấp phép xây dựng; lựa chọn nhà thầu; quản lý thi công, chất lượng công trình; nghiệm thu bàn giao dự án hoàn thành.

* Tiêu chí đánh giá công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát:

– Khách quan, công tâm, công khai, minh bạch.

– Thu thập và phân tích thông tin từ các giai đoạn của đầu tư để kịp thời phát hiện sai sót, vi phạm và sớm đưa ra những cảnh báo sớm và biện pháp can thiệp cần thiết khắc phục, đồng thời tạo sự răn đe, phòng ngừa.

– Có“sự phối hợp với các ngành, các cấp, các đơn vị để nắm đối tượng quản lý”thực hiện“thanh tra có trọng điểm, tránh chồng chéo, trùng”lặp.

1.3. Những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước tại địa bàn huyện.

1.3.1. Các cơ chế, chính sách, quy định của Trung ương và của tỉnh

Hệ thống các văn bản pháp luật, chính sách, quy định từ Trung ương đến địa phương là cơ sở pháp lý để các cấp quản lý hoạt động đầu tư XBCD, quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ và cơ chế xử lý vi phạm của từng cơ quan, đơn vị và cá nhân trong thực hiện quản lý đầu tư. Hệ thống văn bản pháp luật đầy đủ, chặt chẽ, khoa học, hợp lý sẽ nâng cao được hiệu quả của công tác đầu tư, tạo thuận lợi cho từng đơn vị thực hiện nhiệm vụ của mình, thúc đẩy tiến độ thực hiện và tránh được tình trạng chồng chéo, đùn đẩy, né tránh. Đồng thời, nó góp phần hạn chế, ngăn ngừa tình trạng thất thoát, lãng phí vốn đầu tư về XBCD.

1.3.2. Chất lượng công tác quy hoạch

Công tác quy hoạch ảnh hưởng quan trọng đến hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đầu tư XBCD bằng nguồn vốn ngân sách. Quy hoạch nhằm định hướng chính xác những danh mục đầu tư, chi phí ít nhất để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, phù hợp với định hướng phát triển, đồng thời, khai thác được các lợi thế về địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của địa phương. Vì vậy, công tác quy hoạch cần được đầu tư thực hiện một cách đồng bộ, tổng thể, khoa học, có tầm nhìn chiến lược.

1.3.3. Tổ chức bộ máy và năng lực, phẩm chất của cán bộ quản lý

Tổ chức bộ máy quản lý ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến công tác quản lý nhà nước về đầu tư XBCD. Mô hình tổ chức bộ máy trong quản lý nhà nước về đầu tư XBCD bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước được hệ thống từ Trung ương đến cơ sở theo sự phân cấp, phân quyền, gắn liền với trách nhiệm trong quản lý đầu tư, các mối quan hệ được quy định và có tính thống nhất quản lý từ cấp Trung ương đến cơ sở. Vì thế sự vận hành của tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đầu tư XBCD hoạt động có sự phối hợp chặt chẽ lẫn nhau. Tuy nhiên, quá trình vận hành bộ máy quản lý là con người cho nên không thể tránh khỏi những yếu tố chủ quan. Chính vì vậy, cần tổ chức bộ máy khoa học, hiệu lực, hiệu quả; quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu, của từng cơ quan, đơn vị.

Năng lực chuyên môn và phẩm chất của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy quản lý nhà nước về đầu tư XBCD có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý. Vì vậy xây dựng đội ngũ cán bộ giỏi về năng lực, trình độ chuyên môn, giàu đạo đức, trách nhiệm, luôn đề cao tính kỷ luật, lợi ích tập thể sẽ là tiền đề để hoạt động đầu tư XBCD có hiệu quả.

1.3.4. Thời gian, phương thức giải ngân và tạm ứng vốn

Nội dung này có ảnh hưởng quyết định đến việc triển khai dự án đầu tư XDCB. Mặc dù việc cải cách các thủ tục hành chính đã triển khai nhiều giải pháp triệt để, tuy nhiên do các văn bản thường xuyên thay đổi, nôi dung thiếu sự đồng nhất giữa các bộ, ngành trung ương nên thời gian để thực hiện việc tạm ứng hoặc giải ngân các nguồn vốn XDCB thường bị kéo dài so với thời gian quy định, nhiều hồ sơ phải làm lại nhiều lần, sinh ra nhiều kẻ hở có thể gây phiền phức, nhũng nhiễu trong việc tiếp nhận các hồ sơ để tạm ứng hoặc thanh toán vốn. Trung ương bố trí vốn chậm (tháng 3 mới phân bổ kế hoạch vốn Trái phiếu chính phủ, vốn chương trình mục tiêu Quốc gia đến cuối tháng 6 mới phân bổ vốn cho địa phương), vốn về đến địa phương lại mất thêm một thời gian nữa mới triển khai xuống các cấp dưới, gây chậm trễ trong việc triển khai và thực hiện kế hoạch đầu tư.

Vừa qua, Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, Công văn số 622/TTg-KTTH ngày 26/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ ra kết quả công tác giải ngân vốn đầu tư công 04 tháng đầu năm chỉ đạt 19%, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, việc làm, thu nhập người lao động, môi trường kinh doanh. Những hạn chế của công tác giải ngân chủ yếu là do yếu kém trong công tác quản lý, điều hành tổ chức như: chậm hoàn thiện thủ tục đầu tư, giao chỉ tiêu vốn, chậm giải phóng mặt bằng, lựa chọn nhà thầu tổ chức thi công … Đồng thời, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 đã đưa ra các nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công trong tình hình hiện nay.

1.3.5. Tiến độ giải phóng mặt bằng

Các công trình XBCD thường có quy mô lớn, yêu cầu nhiều diện tích về đất đai, cho nên công tác đền bù, phải phóng mặt bằng thường được thực hiện ở đa số các công trình đầu tư XBCD. Việc di dời, tái định cư gây ảnh hưởng lớn đến đời sống, sinh hoạt, công việc hoặc các mất mất điều kiện sinh hoạt và sản xuất của người dân trong diện ảnh hưởng khiến công tác giải phóng mặt bằng thường khó khăn. Một mặt, các quy định, định mức bồi thường, hỗ trợ chưa theo kịp được giá cả thị trường, thiếu khoa học, cơ chế tái định cư một số nơi chưa đảm bảo được quyền lợi cho người thiệt hại. Vì vậy công tác giải phóng mặt bằng rất khó khăn, phức tạp.

Tiến độ giải phóng mặt bằng có ảnh hưởng quyết định rất lớn đến tiến độ thực hiện các dự án đầu tư. Tiến độ giải phóng mặt bằng chậm sẽ làm phát sinh các vấn đề phức tạp cho cả các khâu trong quy trình quản lý đầu tư XDCB: lập và thực hiện kế hoạch bị đảo lộn, đội vốn công trình, tồn đọng thanh quyết toán, gây thất thoát, lãng phí ngân sách nhà nước, ảnh hưởng lớn đến tiến độ thực hiện các công trình, dự án đầu tư.

1.4. Kinh nghiệm thực tiễn trong quản lý Nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước

1.4.1. Kinh nghiệm thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

Thành phố Tam Kỳ là một thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam, nằm trong chuỗi đô thị ven biển miền Trung, có quốc lộ 1A đi qua, có đường Nam Quảng Nam đi Cửa khẩu Bờ Y (Kon Tum) nối đường Hồ Chí Minh. Có ga Tam Kỳ gần như là điểm giữa của tuyến đường sắt Bắc Nam. Hai phần ba diện tích tự nhiên của thành phố (6200 m2) nằm trong Khu kinh  tế mở Chu Lai. Tam Kỳ là thành phố có tuổi đời còn khá trẻ (năm 2006 mới được nâng cấp lên thành phố), xuất phát về cơ sở hạ tầng đô thị thấp. Vì vậy, trong suốt những năm qua, địa phương đã quan tâm dành rất nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển đô thị để đạt mục tiêu đô thị loại II vào năm 2020. Trong 5 năm (giai đoạn 2016-2020), thành phố Tam Kỳ đã tập trung nhiều nguồn lực cho đầu tư xây dựng, nâng cấp, chỉnh trang đô thị, nhiều dự án được đầu tư như: đường Hùng Vương, Điện Biên Phủ, Nguyễn Hoàng, dự án kè, đường cảnh quan ven sông Tam Kỳ, tuyến đường N24 (đoạn từ Huỳnh Thúc Kháng đến Điện Biên Phủ), nâng cấp nút giao thông đường Điện Biên Phủ – quốc lộ 40B, đường Hồ Xuân Hương nối dài, nâng cấp đường nối đường Tam Kỳ – Tam Thanh đi Tân Phú,… Về Hạ tầng kinh tế cũng sẽ được đẩy mạnh nhằm thu hút các nguồn lực đầu tư, phát triển kinh tế – xã hội. Trong đó, tăng cường công tác xúc tiến, thu hút các dự án đầu tư vào khu công nghiệp Tam Thăng, Thuận Yên, các dự án du lịch vùng đông, các khu đất có giá trị thương mại dịch vụ. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế đô thị theo hướng thương mại – dịch vụ.

Trong bức tranh kinh tế – xã hội nhiều điểm sáng, vẫn còn những tồn tại, hạn chế kìm hãm quá trình phát triển như: chưa thu hút được những dự án động lực để tạo ra giá trị mang tính đột phá cho thành phố. Công tác bồi thường – giải phóng mặt bằng, tiến độ thi công một số dự án đầu tư XBCD quá chậm. Trong khi đó, nổi lên tình trạng xây dựng trái phép, chưa giải quyết dứt điểm. Công tác quản lý đất công, trật tự đô thị còn hạn chế; cải cách hành chính, nhất là giải quyết hồ sơ ở một số lĩnh vực như đất đai, quản lý đô thị chưa đáp ứng yêu cầu. Năm 2019, thành phố Tam Kỳ chi cho đầu tư phát triển đạt khá thấp, chiếm tỷ trọng 29% trong tổng chi ngân sách (379 tỷ/1.307 tỷ đồng), bằng 64% kế hoạch vốn, dự kiến chuyển nguồn sang năm 2020 là quá lớn với 311 tỷ đồng. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư XBCD khá chậm, có đến 57/134 dự án, đối với các dự án có bố trí vốn cho công tác bồi thường – giải phóng mặt bằng hầu như không giải ngân được.

Những tồn tại trên xuất phát từ một số nguyên nhân như sau: hệ thống văn bản, các quy định về quản lý đầu tư XBCD đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước còn chồng chéo, chưa đầy đủ; chất lượng công tác quy hoạch, kế hoạch chưa đạt yêu cầu đề ra; phương thức giải ngân chậm đổi mới; năng lực đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về đầu tư XBCD còn chưa cao; công tác đền bù giải phóng mặt bằng còn nhiều vướng mắc, chính sách tái định cư chưa thỏa đáng chưa tạo được động lực thúc đẩy tiến độ giải phóng mặt bằng. Từ những thực trạng, nguyên nhân trên, chính quyền thành phố đã đưa ra một số giải pháp như: đẩy mạnh công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch, tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung kịp thời các đồ án đã được phê duyệt trên địa bàn, đáp ứng yêu cầu phát triển; thực hiện tốt công tác quản lý Nhà nước về đát đai, thực hiện quyết liệt công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư; đổi mới phong cách tư duy lãnh đạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức từ thành phố đến xã phường; xây dựng bộ tiêu chí đánh giá để lựa chọn nhà thầu đảm bảo điều kiện, trình độ; đẩy nhanh tiến độ giải quyết thủ tục hành chính thông qua Trung tâm hành chính công của thành phố và các cơ quan, đơn vị liên quan của tỉnh.

1.4.2. Kinh nghiệm huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam

Huyện Đại Lộc là huyện phía bắc tỉnh Quảng Nam, có vị trí địa lý khá thuận lợi cho việc giao lưu, phát triển: là vùng vành đai, cách Trung tâm thành phố Đà Nẵng 25 km về phía Tây Nam, cách tỉnh lỵ Tam Kỳ 70 km; nằm trên trục hành lang kinh tế Đông – Tây, nối các tỉnh Tây Nguyên, cửa khẩu Quốc tế Bờ Y – Kom Tum, Đắc Tà Oóc – Nam Giang về Đà Nẵng và các tỉnh duyên hải miền Trung. Phía Đông giáp huyện Điện Bàn, phía Đông Nam giáp huyện Duy Xuyên, phía Nam giáp huyện Quế Sơn, phía Tây Nam giáp huyện Nam Giang, phía Tây Bắc giáp huyện Đông Giang.

Trước đây, Đại Lộc là một huyện thuần nông nghiêp. Trong những năm qua, huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực, tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm đạt hơn 14%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng các ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp – xây dựng và dịch vụ đạt hơn 90%, huyện có 11/17 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Đến năm 2019, Đại Lộc đã có 13/15 cụm công nghiệp (CCN) đi vào hoạt động, định hướng của huyện sẽ tiếp tục tập trung nguồn vốn đầu tư kết cấu hạ tầng CCN như đường nội bộ, đường gom, xây dựng các công trình xử lý nước thải tập trung để thu hút vốn đầu tư của doanh nghiệp vào huyện. Nhiều công trình giao thông qua địa bàn huyện Đại Lộc đã được tỉnh bố trí nguồn vốn đầu tư nâng cấp, mở rộng hoặc xây dựng mới, góp phần khơi mạch giao thông mang tính chất liên vùng. Điển hình là việc nâng cấp, mở rộng một số đoạn tuyến trên các tỉnh lộ (ĐT) gồm ĐT609, ĐT609B hay đường huyện (ĐH) như tuyến ĐH3.ĐL. Đặc biệt, cầu Giao Thủy hoàn thành đưa vào sử dụng đã kết nối thông suốt quốc lộ (QL) 14H với ĐH609B, QL14B ra Đà Nẵng và ngược lại, dự án đường tránh phía tây Ái Nghĩa đã được phê duyệt với tổng mức đầu tư 100 tỷ đồng.

Bên cạnh những thành tựu tích cực huyện đã đạt được trong thời gian vừa qua, công tác quản lý nhà nươc về đầu tư XBCD của huyện Đại Lộc còn những tồn tại nhất định như: công tác quy hoạch còn chưa được đồng bộ; giải quyết thủ tục hành chính còn chậm đổi mới; nguồn vốn phân bổ còn thấp so với nhu cầu phát triển của huyện; tình trạng nợ đọng vốn trong XBCD vẫn còn cao; còn nhiều vướng mắc trong xác định nguồn gốc đất, bồi thường thiệt hại.

Để khắc phục tình trạng trên, huyện Đại Lộc đã kiến nghị tỉnh tăng cường nguồn vốn đầu tư XBCD tương xứng với tiềm năng và lợi thế của huyện; đẩy mạnh thực hiện công tác quy hoạch lại các khu dân cư, đô thị, giao thông trên địa bàn huyện; đẩy mạnh cải cách hành chính, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính; thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về đất đai, thực hiện số hóa bản đồ địa chính.

1.4.3. Bài học rút ra cho huyện Hiệp Đức

Qua nghiên cứu QLNN về đầu tư XBCD bằng nguồn vốn NSNN của một số địa phương, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho huyện Hiệp Đức như sau:

Thứ nhất, xây dựng và điều hành tốt chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đảm bảo nhu cầu phát triển của vùng, tính khoa học, tính khả thi, có lộ trình giai đoạn đầu tư phù hợp, tập trung và có hiệu quả.

Hai là, đẩy mạnh thực hiện phân cấp, phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng phòng, ban, giữa huyện với xã; nêu cao trách nhiệm người đứng đầu trong thực hiện nhiệm vụ; đồng thời xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm theo quy định pháp luật.

Ba là, nâng cao năng lực quản lý chi ngân sách nhà nước trong lĩnh vực đầu tư XBCD. Triển khai thực hiện chặt chẽ quy trình quản lý vốn theo quy định, đẩy mạnh cải cách hình chính, đảm bảo kịp thời, chính xác trong cấp phát vốn, thanh toán, quyết toán dự án.

Bốn là, nâng cao năng lực quản lý nhà nước về đất đai, thực hiện tốt chính sách đền bù thiệt hại kết hợp với các chính sách về tái định cư, hỗ trợ chuyển đổi việc làm, khen thưởng nhằm đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng.

Năm là, Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động quản lý đầu tư XDCB trong thời gian thực hiện, có kế hoạch chỉ đạo thanh tra, kiểm tra kịp thời những công trình có biểu hiện tiêu cực được nhân dân (giám sát cộng đồng) và công luận phản ánh.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận khoa học về đầu tư XDCB nguồn vốn ngân sách nhà nước và công tác quản lý nhà nước về đầu tư XDCB bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Trong đó, luận văn đã tập trung làm rõ các khái niệm: đầu tư XDCB, vai trò và đặc điểm của đầu tư XDCB, nội dung và tiêu chí đánh giá công tác quản lý nhà nước về đầu tư XDCB bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước, các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý về đầu tư XDCB bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Đồng thời, luận văn đã tham khảo kinh nghiệm thực hiện quản lý nhà nước về đầu tư XDCB bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước của một số địa phương trong tỉnh Quảng Nam, qua đó rút ra bài học kinh nghiệm có thể nghiên cứu tại huyện Hiệp Đức. Nội dung chương này là cơ sở lý luận cho việc phân tích đánh giá cho những chương sau.

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG NGUỒN VỐN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI HUYỆN HIỆP ĐỨC

2.1. Giới thiệu chung về huyện Hiệp Đức

Hiệp Đức là huyện miền núi của tỉnh Quảng Nam, được thành lập theo Quyết định số 289-HĐBT ngày 31/12/1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Quyết định trên được chính thức công bố ngày 25/02/1986.

Huyện“Hiệp Đức nằm về phía Tây Bắc tỉnh Quảng”Nam,“cách thành phố Tam Kỳ 80”km;“nằm trên trục tọa độ địa lý”từ 15022’12’’ đến 15038’40’’ vĩ độ Bắc; từ 107084’40’’ đến 108000’08’’ kinh độ Đông.

Description: http://hiepduc.quangnam.gov.vn/Portals/1/Anh%20Tin/bando.jpg

    1. Hình 2.1. Bản đồ hành chính huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam

Huyện Hiệp Đức có 11 xã, 01 thị trấn (71 thôn, khối phố), với diện tích tự nhiên toàn huyện: 496,88 km2. Dân số khoảng 39.394 người. Trong đó, có hơn 8% là đồng bào dân tộc thiểu số, chủ yếu là người Kdoong ) và người Mơ nông, sống ở 3 xã vùng cao: Phước Gia, Phước Trà và Sông Trà..

2.1.1. Điều kiện tự nhiên huyện Hiệp Đức

– Về Địa hình:

Địa hình chung của huyện Hiệp Đức có dạng chuyển tiếp giữa trung du và“miền núi, địa hình, địa thế khá phức tạp, độ chênh lớn”(từ 100-200m trong khoảng 2 km).“Độ cao trung bình toàn huyện 200-300m, độ dốc”bình quân 16-250.“Nằm trong một thung lũng tạo bởi các dãy núi cao che chắn ở 3 phía: nam, bắc và”tây.“Địa hình Hiệp Đức bị chia cắt ở bởi sông Tranh và hai nhánh của nó là sông Chang và sông Trường”(ngọn Thu Bồn) tạo nên hệ phân thủy lớn,“có hướng thấp dần về phía sông”Tranh.“Núi cao phân bố tập trung ở tây nam và đông bắc, bị chia cắt bởi một hệ thống khe suối”và hợp thủy nhỏ. Huyện có“3 dạng địa hình chủ yếu là dạng núi, dạng gò đồi và dạng đồng bằng thung lũng”hẹp.

Có thể chia 3 dạng địa hình như sau:

+ Địa hình núi cao:“chiếm 50% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở xã Phước Gia, Phước Trà, và phía bắc các xã”Hiệp Hòa, Hiệp Thuận.

+ Địa hình đồi núi thấp: Chiếm khoảng 30% tổng diện tích tự nhiên, tập trung ở các xã Quế Thọ, Quế Bình, Quế Lưu, Bình Sơn. Địa hình phổ biến là những dãy núi thấp, có độ cao trung bình từ 200m đến 300m, là vùng tiếp giáp với địa hình núi cao và thung lũng. Đa số diện tích là đất rừng trồng, đất trồng cao su và đất hoang đồi chưa sử dụng.

+ Địa hình bậc thang, thung lũng: Tập trung chủ yếu ở phía Đông, ven các sông suối, dọc Quốc lộ 14 E và lưu vực sông Tranh, sông Trường, dạng địa hình này chiếm khoảng 20% tổng diện tích tự nhiên, mức độ chia cắt nhỏ, độ dốc thấp. Thảm thực vật chính là các loại cây trồng nông nghiệp và rừng trồng.

– Về khí hậu:

Khí hậu Hiệp Đức mang nét đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa khu vực Trung Trung Bộ.

+ Nhiệt độ trung bình năm: 250 (cao nhất khoảng 380; thấp nhất khoảng 18o);

+ Lượng mưa trung bình năm: 2.270 mm;

+ Độ ẩm trung bình năm: 84%;

+ Hướng gió chính là gió mùa Đông-Bắc và Đông-Nam, ngoài ra còn có gió Tây – Nam thường xuất hiện trong tháng 5 đến tháng 7.

+ Từ tháng 2 đến tháng 7 ít mưa, lại chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam khô nóng nên thường gây hạn hán kéo dài. Từ tháng 9 đến tháng 11 mưa nhiều (chiếm 50-72% lượng mưa cả năm).

+ Gió, bão: Hướng gió chính là gió mùa Đông-Bắc và Đông-Nam, ngoài ra còn có gió Tây – Nam thường xuất hiện trong tháng 5 đến tháng 7, vận tốc gió lớn nhất là 25m/s. Số lượng bão ảnh hưởng trực tiếp đến huyện Hiệp Đức hằng năm không nhiều, trung bình dưới 1 cơn, gây gió mạnh cấp 6.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ ĐÂU TƯ XDCB

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *